Thứ Năm, 21 tháng 1, 2021
NIỀM TIN.
DẤU CHÂN ANH.
VỮNG BƯỚC TRÊN CON ĐƯỜNG ĐÃ CHỌN, KHÔNG NGẢ NGHIÊMG, DAO ĐỘNG
Không cho phép ai ngà nghiêng, dao động, nghĩa là mục tiêu trước sau như một, là chân lý đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng của đất nước sẽ bắt đầu vào tuần tới. Đại hội diễn ra vào thời điểm có tính bước ngoặt lịch sử khi đất nước đã trải qua 35 năm đổi mới, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020.
Đại hội cũng diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo. Không ít sự kiện, biến cố trên quy mô toàn cầu đang tác động đa chiều, trực tiếp đến người dân trong nước, cả tích cực và tiêu cực. Đất nước đứng trước những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức với rất nhiều vấn đề mới đặt ra.
Trong bối cảnh đó, Đảng ta xác định nhiệm vụ quan trọng là tiếp tục lãnh đạo đất nước tiến lên, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đồng thời tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trước thềm Đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Đảng ta phải thật sự vững vàng, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai ngả nghiêng, dao động.
Không cho phép ai ngà nghiêng, dao động, nghĩa là mục tiêu trước sau như một, là chân lý đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn.
Sau gần 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa. Dù rất khiêm tốn nhưng người lãnh đạo cao nhất đất nước vẫn phải khẳng định: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".
Nếu như năm 1989, quy mô GDP của Việt Nam mới đạt 6,3 tỷ USD/năm, thì đến năm 2020, theo dự báo của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), GDP của Việt Nam sẽ đạt quy mô hơn 340,6 tỷ USD, vượt Singapore gần 1%, trở thành nền kinh tế lớn thứ tư ở khu vực Đông Nam Á. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Nếu như năm 1985 bình quân thu nhập đầu người mới đạt 159 USD/năm, thì đến năm 2020 đạt khoảng 2.750 USD/năm, gấp khoảng 1,3 lần so với năm 2015.
Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2016 - 2020 ước đạt khoảng 5,9%, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới. Các cân đối lớn của nền kinh tế về tích lũy - tiêu dùng, tiết kiệm - đầu tư, năng lượng, lương thực, lao động - việc làm,… tiếp tục được bảo đảm, góp phần củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô. Về đối ngoại, vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, thể hiện rõ nhất là trên vai trò ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (HĐBA) Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu 192/193, cao nhất trong hơn 70 năm kể từ ngày LHQ ra đời.
Năm 2020, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước khó khăn, nhất là đại dịch COVID-19, lũ lụt thiên tai ở miền Trung và Tây Nguyên, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng dương với mức 2,91%. Đây là con số cực kỳ có ý nghĩa trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tăng trưởng âm 4%. Việt Nam được bạn bè quốc tế đánh giá cao, được coi là điểm sáng về phòng, chống dịch bệnh và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân; giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tiếp tục thực hiện có hiệu quả các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế bằng nhiều hình thức linh hoạt, phù hợp với bối cảnh đại dịch Covid-19.
Cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam hôm nay là bằng chứng thuyết phục để khẳng định con đường mà chúng ta đang đi là đúng đắn, hợp quy luật, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Những thành tựu mà chúng ta đạt được càng khẳng định tính ưu việt của CNXH, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và của nhân dân vào con đường đi lên CNXH của Việt Nam. Và thực tiễn đó cũng khẳng định một chân lý: Ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Nhiều học giả quốc tế đánh giá, thực tế biến động trên thế giới trong những năm gần đây và đại dịch Covid-19 từ đầu năm 2020 đến nay cho thấy, mô hình Đảng Cộng sản lãnh đạo thống nhất, toàn diện ở Việt Nam là đúng đắn, giúp Việt Nam đạt được thành tựu trên tất cả các mặt, từ phát triển kinh tế -xã hội đến chống đỡ hiệu quả với dịch bệnh.
Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch vẫn luôn tìm mọi cách tấn công, phá hoại sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam, phủ nhận con đường đi lên CNXH và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận nền tảng tư tưởng mà Việt Nam theo đuổi. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, chúng triệt để lợi dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, vin vào những hạn chế, khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên để chống phá Đảng, Nhà nước. Trong bối cảnh đó, càng đòi hỏi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân giữ vững niềm tin, không ngả nghiêng, dao động. Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định sẽ giúp chúng ta chuyển hóa nguy cơ thành thời cơ, thành động lực thúc đẩy quyết tâm và hành động.
Một dân tộc đã đi qua những năm tháng gian khổ của chiến tranh, đi qua phong ba, bão táp của thời cuộc, vẫn tồn tại, phát triển và khẳng định vị thế, chỗ đứng của mình. Trên chặng đường ấy không tránh khỏi những sai lầm, vấp váp nhưng chúng ta vẫn vững vàng, kiên định với con đường đã chọn, tiếp tục lập nên những kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”./.
TẠI SAO MỸ VÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LẠI ĐẨY MẠNH XUYÊN TẠC LỊCH SỬ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN TA?
Gần đây trên MXH xuất hiện nhiều bài viết tẩy não người Việt Nam (VN) về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước rất tinh vi, xảo trá. Một mặt, họ cố tình bôi nhọ tính chính nghĩa trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại này, mặt khác chúng cố gắng xuyên tạc bản chất chế độ tay sai bán nước, rằng "VN đã đuổi đi 2 nền văn minh Pháp - Mỹ" hay "VN Cộng hòa (ngụy - VNCH) là một chính thể, quốc gia đã tồn tại ở miền Nam", hay "gọi ngụy quyền Sài Gòn là miệt thị"... thực tế đây là một chiến dịch “lật sử” nhằm rửa mặt cho ngụy, rửa nhục cho Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược VN bằng một dự án quy mô lớn của CIA với tên gọi "Dự án tưởng niệm chiến tranh VN" do Obama phát động bởi 1 đạo luật, khởi động năm 2012. Dự án này chia 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 ( 2012-2014): Tổ chức các hoạt động tưởng niệm ở Mỹ.
- Giai đoạn 2 (2014-2017): Xây dựng chân rết ở Mỹ và các quốc gia khắp Thế giới (tất nhiên VN là chính).
- Giai đoạn 3 (2017-2025): Là giai đoạn cao điểm. Nội dung chính là nhằm tôn vinh lính Mỹ, ngụy; xoá bỏ "hội chứng VN", sửa đổi lịch sử, tẩy xoá sự thật cuộc chiến ở VN.
Tiền ngân sách ban đầu là 5 triệu đô/năm, sau nâng lên 180 triệu/13 năm nhưng thực tế số tiền còn lớn hơn nhiều và dự án Obama đang trong giai đoạn 3, sẽ kết thúc vào năm 2025. Đó là lý do tại sao nhiều kẻ điên cuồng xuyên tạc lịch sử, thậm chí xuyên tạc cả Nghị quyết 15 của BCT về những nhiệm vụ cơ bản của Cách mạng miền Nam (1959) và hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước... Thế mới hiểu chúng nham hiểm mức nào!
Ai cũng biết chế độ ngụy quyền Sài Gòn là chế độ bán nước, do Mỹ lập ra để cai trị miền Nam (VN) giai đoạn 1954-1975, một chế độ tàn ác nhất lúc bấy giờ. Chỉ cần gõ trên Google "tội ác Mỹ - ngụy" sẽ cho ta rất nhiều kết quả về tội ác của chúng. Tuy nhiên gần đây 1 số bài viết trên Google cũng không thấy xuất hiện nữa, thay vào đó là chúng tăng tần suất xuyên tạc lịch sử cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước trên Youtube, facebook...
Chúng ta đừng bao giờ quên những lời người Mỹ nói: "Hai mươi năm sau chúng ta sẽ trở lại VN. Không phải với xe tăng, đại bác, chiến hạm hay pháo đài bay mà bằng xấp đô la. Khi đó, cờ Mỹ sẽ bay không chỉ ở Sài Gòn mà còn hiên ngang giữa lòng Hà Nội. Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô la sẽ giải quyết. Người VN sẽ đón chúng ta như những vị ân nhân"...
Chính trong tuyên bố bình thường hoá quan hệ Hoa Kỳ - VN (11/7/1995), Tổng thống Bill Clinton nhấn mạnh: “I believe normalization and increased contact between Americans and Vietnamese will advance the cause of freedom in Vietnam just as it did in Eastern Europe and the former Soviet Union. I strongly believe that engaging the Vietnamese on the broad economic front of economic reform and the broad front of democratic reform will help to honor the sacrifice of those who fought for freedom's sake in Vietnam”. Nghĩa là mục tiêu bình thường hoá quan hệ của Mỹ là để thay đổi chế độ tại VN “như nó đã thành công tại Liên Xô và Đông Âu”.
Và đó là mục tiêu mà Washington không bao giờ từ bỏ với việc đầu tiên là tẩy xóa sự thật cuộc chiến tranh xâm lược VN của Mỹ, bằng những đồng USD dơ bẩn đẩy mạnh xuyên tạc sự thật lịch sử cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc ta... Để thực hiện việc “lật sử” hiệu quả mà không tốn kém, bọn chúng đã lôi kéo những người tham gia biên soạn, thẩm định cuốn sử và sách giáo khoa, tài trợ cho việc giáo dục, đào tạo… (Đại học Fulbright ở VN đang là cái ổ lật sử & rửa mặt cho Mỹ - ngụy)!
Hơn lúc nào hết, mỗi người dân Việt Nam cần tỉnh táo, cảnh giác, kiên quyết đấu tranh vạch trần, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, "lật sử" của kẻ thù./.
KỶ LỤC VIỆT NAM CHO NGƯỜI LÍNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ.
Nhận diện những tác động của internet
Internet và các tiện ích, công nghệ của tự bản thân nó đã và đang phát triển với tốc độ nhanh chưa từng có trong lịch sử. Kéo theo sự phát triển đó là quá trình phát triển mạnh mẽ của các mạng xã hội. Tất nhiên đi liền với nó là tính chất hai mặt, bao gồm cả tích cực và tiêu cực. Mặt tích cực là sự phong phú, đa dạng, nhiều màu, nhiều vẻ của các thông tin được cập nhật liên tục với lượng dữ liệu khổng lồ, giúp ích cho công chúng khai thác, tìm kiếm thông tin. Mặt tiêu cực của nó là các thông tin xấu độc, trong đó rất đáng quan ngại là các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng và chế độ. Với tính đặc thù tự bản thân mạng Internet khó có thể kiểm soát, ngăn chặn các thông tin xấu độc.
Vì vậy, cuộc đấu tranh trên không gian mạng của trận địa tư tưởng tuy thầm lặng
nhưng ngày càng khốc liệt hơn. Đối phó, đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai
trái trên mạng xã hội là lâu dài. Chúng ta cũng cần khách quan, nhìn nhận nó
theo hướng tăng cường đối phó, đấu tranh, ngăn chặn để giảm thiểu tác hại, chứ
không thể tiêu diệt nó một cách triệt để trong thời gian ngắn. Nhận thức như vậy, để thấy, chúng ta
trong môi trường thông tin số, “sống chung với lũ”, thích ứng với nó và có giải
pháp căn cơ, bền vững, lâu dài là tư duy đúng đắn nhất. Tư duy đó cần phải được
mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân với tư cách công dân mạng của chúng ta hiểu
đúng, chỉ có hiểu đúng mới giúp chúng ta có chiến lược, có giải pháp khả thi, hữu
hiệu để đẩy lùi quan điểm sai trái, thông tin xấu độc trên không gian mạng. Từ đó tạo ra sức đề kháng cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch; để kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.
Bầu những đại biểu tiêu biểu, thật sự có đức, có tài, xứng đáng đại diện cho nhân dân
Ngày 21-1, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Toàn văn bài phát biểu:
Để cán bộ, chiến sĩ tuyệt đối vững vàng về tư tưởng trước thềm Đại hội XIII của Đảng
Chỉ còn vài ngày nữa, Đại hội lần thứ XIII (Đại hội XIII) của Đảng sẽ diễn ra tại Hà Nội. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tích cực chuẩn bị và náo nức chờ đón sự kiện chính trị trọng đại này; đồng thời kỳ vọng đây sẽ là tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ hơn của đất nước trong giai đoạn sắp tới.
Triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026
Sáng 21/1, tại Nhà Quốc hội, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.
Không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin
Gần đây, âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng của các thế lực thù địch ngày càng xảo quyệt và nguy hiểm. Những quan điểm sai trái mà các thế lực thù địch đã tung ra đều có chung bản chất và mục đích, nhưng hình thức thể hiện ngày càng thay đổi đa dạng.
Kiên định bản lĩnh chính trị và nâng cao cảnh giác trước các luận điệu phản động của thế lực thù địch
Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đang đến gần. Một trang sử mới của hành trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ thu hút sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân mà còn "hấp dẫn" cả những người/nhóm người nhân danh dân chủ, giả danh dân chủ, để nhân sự kiện này tăng cường các hoạt động chống phá, với các luận điệu/"thư ngỏ" nhằm xuyên tạc, bịa đặt, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung, các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng nói riêng.
HỒNG PHÚC CHO DÂN TỘC
Trước thềm đại hội XIII của Đảng, dù biết rằng công tác nhân sự, chức danh Tổng Bí thư là do Đại hội quyết định, nhưng nhân dân vẫn mong muốn bác Nguyễn Phú Trọng tiếp tục ở lại, chèo lái con thuyền đất nước trong 5 năm tới.
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Mối quan tâm lớn nhất, sâu sắc nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh.
Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc tổ chức, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam là vô cùng to lớn. Song, vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là Người đã xây dựng và rèn luyện Đảng ta thành một đảng kiên cường, giàu bản lĩnh và kinh nghiệm trong lãnh đạo cách mạng cũng như trong sạch, vững mạnh./.
Mai Năm Mới (ST)
Thủ tướng phát động 5 nội dung Thi đua yêu nước giai đoạn mới
Tại Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ X, sáng 10/12, phát động thi đua yêu nước trong giai đoạn mới, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho biết, với chủ đề “Đoàn kết sáng tạo thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, phong trào thi đua hướng tới 5 nội dung trọng tâm.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát động thi đua giai đoạn mới
Thứ nhất, các phong trào thi đua xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước..., khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới, đột phá mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Các ban, bộ, ngành Trung ương thi đua đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, hiện đại, hội nhập, đảm bảo khả thi, hiệu quả, nghiêm minh, theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu đổi mới sáng tạo và phát triển; xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số. Các địa phương thi đua xây dựng cơ chế, chính sách đủ mạnh, đồng bộ, khả thi, mang tính đột phá để thu hút mạnh mẽ các nguồn lực, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
Thứ hai, thi đua phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo bứt phá nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tái cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ mới, ưu tiên công nghệ số. Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo vào thị trường khoa học công nghệ. Đẩy mạnh hội nhập và hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ, phát triển mạng lưới kết nối nhân tài người Việt Nam. Xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ tạo nền tảng thúc đẩy sự phát triển của những ngành mới, lĩnh vực mới.
Trong thời gian đầu của giai đoạn 2021-2025 khi còn dịch bệnh, cần tiếp tục thực hiện Lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về thực hiện quyết liệt, hiệu quả các biện pháp phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại do đại dịch COVID-19 nhằm tập trung thực hiện “mục tiêu kép”: vừa phòng chống dịch bệnh hiệu quả, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa tận tụng tốt các cơ hội, nỗ lực phục hồi và phát triển kinh tế xã hội trong trạng thái bình thường mới. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, hợp tác quốc tế trong phát triển vaccine và giải pháp để nhân dân tiếp cận, sử dụng vaccine phòng dịch sớm nhất.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả, sáng tạo các phong trào thi đua, trong đó trọng tâm là 4 phong trào thi đua đã được Thủ tướng Chính phủ phát động: “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau” và “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”.
![]() |
| Các đại biểu tại Đại hội |
Thứ ba, thi đua xây dựng và phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh Phong trào thi đua “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và các phong trào trên các lĩnh vực giáo dục, khoa học công nghệ, y tế, an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa, phong trào khuyến học khuyến tài và các phong trào phong phú khác, đảm bảo quyền làm chủ và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, đặc biệt nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục đào tạo. Tạo chuyển biến mạnh mẽ căn bản về chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo, phát triển mạnh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học xã hội, tận dụng và phát triển cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và hội nhập quốc tế. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc. Xây dựng và thực hiện hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với phát huy ý chí, khát vọng phát triển và sức mạnh con người Việt Nam trong thời kỳ mới.
Thứ tư, tiếp tục phát động các phong trào thi đua trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, vun đắp niềm tin, niềm tự hào, hướng về Tổ quốc, chung tay, chung sức xây dựng quê hương, đất nước.
Thứ năm, tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua trong lĩnh vực xây dựng Đảng, Nhà nước và toàn hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Hướng các phong trào thi đua vào việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, gắn phong trào thi đua với việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, trong đó tập trung xây dựng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thi đua thực hiện cải cách hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tâm, có tầm, có phẩm chất tốt và trình độ chuyên môn cao, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Phục vụ tốt nhất người dân và doanh nghiệp. Ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
![]() |
| Các đại biểu dự Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ X. |
Thủ tướng đề nghị sau Đại hội hôm nay, các ban, bộ ngành Trung ương, các địa phương, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, căn cứ chủ đề của Đại hội, phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2021-2025 và tình hình thực tế của đơn vị, địa phương mình để phát động mạnh mẽ phong trào thi đua với nhiều nội dung đổi mới, sáng tạo, sôi nổi, rộng khắp, thiết thực. Trước mắt, tổ chức đợt thi đua đặc biệt sôi nổi, rộng khắp trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân lập thành tích cao nhất, thiết thực chào mừng Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
Trước dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, Thủ tướng nhấn mạnh, bối cảnh đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới phức tạp hơn, thách thức hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tiếp tục tăng cường đoàn kết, chung sức, đồng lòng, đổi mới mạnh mẽ, năng động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu cao nhất để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025 và Chiến lược phát triển 10 năm 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để phấn đấu đến năm 2025, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, phấn đấu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao./.
Đặc nhiệm Bộ đội Biên phòng triệt phá đường dây ma túy xuyên quốc gia
Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Đồng Tháp cho biết, thực hiện kế hoạch đấu tranh chuyên án phòng chống tội phạm và ma túy, lúc 2 giờ 45 phút, ngày 17-1, tại khu vực khóm Thượng 1, thị trấn Thường Thới Tiền, huyện Hồng Ngự (tỉnh Đồng Tháp), lực lượng chức năng triệt phá vụ vận chuyển ma túy với số lượng lớn nhất từ trước đến .nay tại Đồng Tháp.
Theo đó đoàn đặc nhiệm miền nam, thuộc cục phòng chống ma túy và tội phạm( Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng) chủ trì phối hợp với Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Đồng Tháp, Công an tỉnh Đồng Tháp và Công an huyện Hồng Ngự bắt giữ 3 đối tượng có hành vi vận chuyển gần 90kg ma túy các loại. Đây cũng là trong chuyên án lớn của mở đầu cho đợt ra quân tấn công trấn áp các loại tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021.
Theo VTV
Tư tưởng, phương pháp dân vận của Hồ Chí Minh trong tác phẩm "Dân vận"
C ách đây tròn 70 năm, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn cam go, quyết liệt nhất, tác phẩm "Dân vận" được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và đăng trên Báo Sự thật số 120, ra ngày 15-10-1949, với bút danh X.Y.Z.
Chỉ với hơn 620 từ, được chia thành 4 phần: I- Nước ta là nước dân chủ. II - Dân vận là gì? III- Ai phụ trách dân vận? IV - Dân vận phải thế nào?, 70 năm qua, tác phẩm "Dân vận" vẫn mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, là cương lĩnh, kim chỉ nam về công tác vận động quần chúng của Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên; đồng thời giải đáp những vấn đề có tính chất căn bản, cấp thiết của công tác dân vận (CTDV) trước yêu cầu nhiệm vụ của Đảng và của cách mạng.
1. Thấm nhuần tư tưởng “lấy dân làm gốc”
Tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh được kế thừa từ truyền thống của cha ông, nhất là về vai trò, sức mạnh của nhân dân, như các bậc tiền nhân đã dạy. Kế thừa tư tưởng “trọng dân”, “thân dân” theo truyền thống của dân tộc, đồng thời Hồ Chí Minh tiếp thu lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, nên Người đặc biệt đánh giá cao vai trò, sức mạnh của nhân dân. Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”; “Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân"; “dân là gốc của nước”; “dân là quý nhất, là quan trọng nhất”. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh: “Dân là gốc của nước”, là lực lượng chủ yếu của cách mạng, vì dân có số lượng đông, vì “mọi lực lượng đều ở nơi dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm HTX nông nghiệp Tân Lập, Quốc Oai, Hà Tây (tháng 7-1958)/ Ảnh tư liệu
Trong tác phẩm "Dân vận", Người khẳng định: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”… và “Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.
Xuất phát từ quan điểm sự nghiệp cách mạng là của nhân dân nên suốt cuộc đời cách mạng, Người đã hy sinh, phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân. Năm 1946, khi nước nhà mới giành được độc lập, trả lời một phóng viên nước ngoài, Người khẳng định: "Tôi tuyệt nhiên không ham công danh phú quý chút nào... Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành".
Tư tưởng Hồ Chí Minh “Lấy dân làm gốc”, để nhân dân hăng hái tham gia, ủng hộ sự nghiệp cách mạng thì phải phát huy dân chủ, tức là để “dân làm chủ” và “làm lợi cho dân”. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: Dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ". Người nhấn mạnh: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng... Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Người nhấn mạnh: “Kinh nghiệm trong nước và các nước đã cho chúng ta biết: Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.
Gốc rễ của tư tưởng “lấy dân làm gốc” còn là vấn đề quan hệ máu thịt, gắn bó giữa Đảng với dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”. Đó là bài học xương máu của các đảng chính trị nói chung, nếu phạm vào sai lầm vừa xa dân, vừa che giấu khuyết điểm. Vì vậy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên đánh giá kết quả công tác, thực hiện phê bình và tự phê bình, kịp thời nhận ra khuyết điểm để sửa chữa sai lầm. Gắn công tác phê bình với việc kiểm tra và giám sát chặt chẽ từ chương trình hành động, kế hoạch của cấp ủy đến của mỗi cán bộ, đảng viên để xây dựng tổ chức, cơ quan, đơn vị.
Và để phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, trong tác phẩm "Dân vận", Người khẳng định: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh v.v..) đều phải phụ trách dân vận”.
2. “Dân vận khéo” là phải biết phát huy dân chủ
Hồ Chí Minh khẳng định, phát huy dân chủ không có nghĩa là: “Không phải ở chỗ chào hỏi kính thưa lễ phép mà đủ. Không được phung phí nhân lực, vật lực của dân... Phải khôn khéo tránh điều gì có hại cho đời sống nhân dân. Biết giúp đỡ nhân dân cũng là biết tôn trọng dân”.
Theo Bác, trong quan hệ với nhân dân, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ làm CTDV phải sâu sát, tìm hiểu kỹ càng: “Hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân... Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân”. Để có thể: “Nói dân tin, ở dân quý, làm dân theo”, người cán bộ dân vận phải khiêm tốn học hỏi nhân dân, thành thực lắng nghe sự góp ý, phê bình của nhân dân.
Trong tác phẩm "Dân vận", để trả lời câu hỏi “Dân vận là gì?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ rõ: “Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít-tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ. Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được.
Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành.
Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân. Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”.
Tròn 24 năm trên cương vị đứng đầu Đảng, Nhà nước, dù bận rất nhiều công việc, nhưng để gần dân, hiểu dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn bố trí tiếp dân tại Phủ Chủ tịch và dành nhiều thời gian đi về cơ sở, tìm hiểu, “lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người không quan trọng”. Những chuyến công tác về địa phương trực tiếp làm việc với nhân dân, đã giúp Người nắm sát công việc, hiểu đúng tình hình, từ đó đưa ra những quyết định chỉ đạo đúng đắn, phù hợp thực tiễn. Mặt khác, các cuộc gặp gỡ giữa Người với các tầng lớp đồng bào, là dịp để đồng bào trao đổi, bày tỏ tâm tư nguyện vọng với người đứng đầu Nhà nước, đồng thời là nguồn động viên to lớn đối với nhân dân, là cơ sở thắt chặt hơn niềm tin giữa Đảng với dân.
Với Hồ Chí Minh, không bao giờ Người coi mình đứng cao hơn nhân dân mà chỉ tâm niệm suốt đời là người phục vụ trung thành và tận tụy của nhân dân, “Như một người lính vâng mệnh quốc dân ra trước trận”. Đối với nhân dân, từ các vị nhân sĩ trí thức đến bà con lao động, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức mẫu mực, là tượng đài tỏa ra ánh sáng của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế luôn thấy ở Người sự gần gũi, ấm áp tình thương và sự bao dung, nếp sống giản dị và đức tính khiêm nhường, một sự giản dị thật vĩ đại, bởi vì Người đã hy sinh tất cả cho Tổ quốc, cho nhân dân; đặc biệt là lời căn dặn của Người với cán bộ, đảng viên trong bản Di chúc thiêng liêng: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".
3. Cán bộ dân vận phải nêu gương từ lời nói, đến hành động
Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, “nêu gương” là một trong những phương pháp vận động nhân dân hữu hiệu nhất. Để tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng, được quần chúng tin tưởng, sẵn sàng tham gia và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, thì người đảng viên, người cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là những cán bộ trực tiếp làm CTDV phải là những tấm gương sống. Cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu phải thực sự là tấm gương “nói đi đôi với làm”; “nói ít, làm nhiều”, hướng về dân, gần dân, hiểu dân, trọng dân, tin dân, học dân, dựa vào dân để đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân. Đội ngũ cán bộ, đảng viên làm CTDV phải luôn thấu triệt tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh: “Đảng cầm quyền, nhưng nhân dân là chủ, quyền là do nhân dân ủy nhiệm, nên phải dốc lòng phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân”.
Thực hiện phương pháp nêu gương trong CTDV, Hồ Chí Minh nhấn mạnh, không gì thuyết phục hơn là bằng hành động thực tiễn, bằng việc làm cụ thể. Người nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”; “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". Người là tấm gương mẫu mực trong việc khởi xướng, gương mẫu thực hiện phong trào “Hũ gạo cứu đói” (năm 1945). Người đề xuất và tự mình mỗi tuần nhịn ăn một bữa, góp phần gạo vào hũ gạo cứu đói, được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng, trở thành phong trào rộng lớn trong cả nước. Nêu gương bằng hành động để thuyết phục nhân dân nghĩa là người cán bộ phải đi đầu, xông pha vào những nơi ác liệt nhất, gánh vác những công việc khó khăn nhất; giải quyết mọi công việc, từ vận động, tập hợp lực lượng, đến chỉ đạo triển khai thực thi nhiệm vụ.
Nêu gương bằng hành động là “Nói đi đôi với làm”, cán bộ cấp trên gương mẫu, trách nhiệm cao trước cấp dưới và quần chúng; kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế, xa rời cơ sở, xa rời quần chúng; kiên quyết phê phán những cán bộ, đảng viên không dám nói, không dám hành động, hoặc “nói nhiều làm ít”, “nói mà không làm”, “nói một đàng, làm một nẻo”, thậm chí thụ động, ngồi chờ, ỷ lại, sợ trách nhiệm.
Hồ Chí Minh khẳng định, dùng phương pháp “nêu gương” để vận động nhân dân đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên ở bất kỳ vị trí công tác nào cũng phải nêu cao tính chiến đấu tự phê bình và phê bình. Người quán triệt: "Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân". Theo Người, để thực hành nêu gương, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải luôn coi trọng rèn luyện tác phong lãnh đạo, tác phong công tác; sâu sát thực tiễn, gần gũi nhân dân, thực hành dân chủ, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn. Người cán bộ dân vận phải có tác phong: ...“Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”-như Người chỉ rõ trong tác phẩm "Dân vận".
Vận động nhân dân, thông qua kết quả làm việc của cán bộ, đảng viên trong thực thi nhiệm vụ cũng chính là để xây dựng, củng cố quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Niềm tin đó chỉ được xây dựng và củng cố khi luôn có sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa lời nói và việc làm, nhất là sự nêu gương của cán bộ, đảng viên, hướng tới mục tiêu cao nhất là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, làm việc theo tinh thần “dĩ công vi thượng”. Đó cũng chính là để chúng ta tiếp tục học tập, thấm nhuần và thực hiện tốt nhất lời căn dặn của Người trong tác phẩm "Dân vận" cách đây tròn 70 năm: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.
Cảnh giác với âm mưu lợi dụng vấn đề “nhân
quyền”
chống phá Nhà nước Việt Nam
Một số tổ chức nước ngoài như “Người Bảo vệ nhân quyền”, “Theo dõi nhân
quyền thế giới” (HRW), “Tổ chức Bảo vệ ký Giả” (CPJ), “Ân xá quốc tế”… đã đưa
ra những luận điệu xuyên tạc, vu cáo rằng Việt Nam “Đàn áp nhân quyền Việt Nam
2020 gia tăng”.
Lý do được tổ chức trên đưa ra để minh chứng
cho luận điệu “Việt Nam gia tăng đàn áp nhân quyền” là trong năm 2020, chính
quyền đã gia tăng đàn áp, bắt giữ các “nhà hoạt động nhân quyền” như Nguyễn Tường
Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Thành, Đinh Thị Thu Thủy. Những
đối tượng này trên thực tế vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam. Các đối tượng
này không phải là “nhà dân chủ”, hay “nhà hoạt động nhân quyền” mà chỉ là những
kẻ lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền”, giả danh “dân chủ”, “nhân quyền” để chống
phá Đảng, Nhà nước. Khi vi phạm pháp luật đều phải được xử lý nghiêm minh là một
tất yếu khách quan.
Vì vậy, mọi tổ chức, cá nhân cần tỉnh táo, nhận
rõ bản chất của sự việc, không nghe theo, đấu tranh phản bác những những luận
điệu giả dối nhằm gây bất ổn ở trong nước, mất uy tín của nước ta trên trường
quốc tể của các tổ chức thiếu thiện chí này. Bởi vì, bản chất của sự việc là bắt,
xử lý những đối tượng vi phạm pháp luật, chứ không hề liên quan đến việc “gia
tăng đàn áp nhân quyền”.
Nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá cương lĩnh, đường lối của Đảng
Cương lĩnh, đường lối của Đảng hình thành trên nền tảng lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn Việt Nam. Trong lịch sử lãnh đạo, đấu tranh của Đảng, nhiệm vụ xây dựng, phát triển, bổ sung, hoàn thiện Cương lĩnh, đường lối luôn luôn được đặt lên hàng đầu để bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn và cách mạng đi đến thắng lợi. Đảng đã phải nhiều lần chống lại sự xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch nhằm vào Cương lĩnh, đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng, nhất là ở cuối những năm 30, những năm 1945-1946, những năm 60, những năm 1989-1991 và ở thời điểm hiện nay. Trong các cuộc đấu tranh đó, Đảng có được những kinh nghiệm cần thiết để chủ động, kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh, đường lối, bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng vì lợi ích quốc gia, dân tộc và sự phát triển bền vững của đất nước.
1. Sự thống nhất trong Đảng về Cương lĩnh, đường lối, về nền tảng tư tưởng, về các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật Đảng và về tư cách người cách mạng đã được khẳng định ngay từ quá trình chuẩn bị thành lập Đảng. Những nội dung căn bản đó bảo đảm bản chất cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng đã bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Điều đó không có gì lạ trong cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc mà Đảng là lãnh tụ chính trị, luôn luôn trung thành và nêu cao mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã từng phải chống lại nhiều kẻ thù về chính trị, tư tưởng và cả về tổ chức.
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, ở Việt Nam xuất hiện thế lực tơrốtxkít (những người theo chủ nghĩa Tơrốtxky-chủ nghĩa “tả” khuynh chống lại lý luận của V.I.Lênin) gồm Hồ Hữu Tường, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, v.v. Nhóm tơrốtxkít đã đưa ra khẩu hiệu “tả” để lừa bịp, lôi kéo quần chúng chống lại đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản lập Mặt trận dân chủ, đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ; phản đối Đảng Cộng sản lập Mặt trận dân chủ với luận điệu giai cấp vô sản không cần lo cho các giai cấp khác. Họ còn chủ trương ở nước thuộc địa phải làm ngay cách mạng vô sản, không cần phải làm cách mạng tư sản dân quyền (cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân). Để phê phán tơrốtxkít, năm 1937, Tổng Bí thư Hà Huy Tập viết tác phẩm Tơrốtxky và phản cách mạng. Năm 1939, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ viết tác phẩm Tự chỉ trích. Các tác phẩm quan trọng đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối, chính sách của Đảng phù hợp với thực tiễn Việt Nam và lợi ích của nhân dân, phê phán thủ đoạn cơ hội chính trị của các phần tử tơrốtxkít. Tác phẩm Tự chỉ trích còn làm rõ kinh nghiệm đấu tranh chống các luận điệu sai trái, thù địch và sự mơ hồ, vô nguyên tắc của một số đồng chí trong Đảng. Năm 1939, trong ý kiến gửi các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh: “Đối với bọn tờrốtxkít, không thể có thoả hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”1. Đó là kinh nghiệm thành công trong đấu tranh chống thế lực thù địch về tư tưởng và chính trị.
Đầu những năm 40, Đảng phải chống lại những phần tử A.B. “A.B là bọn khiêu khích làm tay sai cho giặc đế quốc, đội lốt cộng sản chui vào Đảng để dò xét và phá hoại Đảng. A.B tức là chữ Anti-bolchévik viết tắt, nghĩa đen của nó là phản Bônsêvich, phản cộng”2. Ngày 25-12-1944, trên báo Cờ giải phóng, Tổng Bí thư Trường-Chinh viết bài “Kinh nghiệm công tác, làm thế nào nhận biết một phần tử A.B?”.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đường lối chiến lược của Đảng là xây dựng chính quyền nhân dân, củng cố nền độc lập thống nhất. Trong hoàn cảnh phải chống giặc ngoài, thù trong, Đảng phải lựa chọn sách lược thích hợp, lúc thì tạm hòa hoãn với quân Tưởng (của chính quyền Trung Hoa Dân quốc) ở miền Bắc để tập trung kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ, lúc lại hòa hoãn, nhân nhượng với Pháp để thúc đẩy quân Tưởng về nước. Chính sách của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là Hòa để tiến và đã ký Hiệp định Sơ bộ, ngày 6-3-1946 với Pháp. Các thế lực thù địch gồm tơrốtxkít và phản động khác đã kích động dân chúng, vu cáo Nhà nước cách mạng và Hồ Chí Minh là bán nước cho Pháp. Đảng phải tiến hành công tác tư tưởng giải thích cho nhân dân hiểu rõ chính sách đúng đắn, đồng thời phê phán luận điệu và hành vi kích động, phản động. Thực dân Pháp mưu mô tách Nam Bộ khỏi nước Việt Nam. Đồng bào Nam Bộ thật sự lo lắng về số phận của Nam Bộ. Trước khi lên đường thăm nước Pháp (31-5-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào Nam Bộ khẳng định đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”3, “Tôi xin hứa với đồng bào rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước”4.
Những năm 60 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội “tả” và hữu khuynh tác động tiêu cực tới các nước XHCN, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Bất đồng và mâu thuẫn nghiêm trọng giữa một số nước XHCN. Đảng, Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu cao chủ nghĩa quốc tế, chân thành đoàn kết, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin. Một số người thiếu bản lĩnh đã làm trái đường lối của Đảng, gây chia rẽ, lôi kéo phe nhóm theo nước này để chống nước kia. Quan điểm sai trái đó đã bị phê phán và khắc phục tại HNTƯ 9 khóa III (12-1963), bảo đảm sự thống nhất trong đường lối xây dựng CNXH ở miền Bắc và tiến hành chiến tranh cách mạng chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Có những người trên thế giới đã hiểu sai, xuyên tạc hoặc xét lại chủ nghĩa Mác dẫn tới lộn xộn, sai lầm trong quan điểm, đường lối gây hậu quả tiêu cực. Trong bối cảnh đó, năm 1968, kỷ niệm 150 năm ngày sinh C.Mác, đồng chí Trường-Chinh viết tác phẩm nổi tiếng: Đời đời nhớ ơn Các Mác và đi theo con đường Các Mác đã vạch ra. Tác phẩm đã góp phần quan trọng phê phán đấu tranh chống những luận điệu sai trái về tư tưởng và lý luận, bảo vệ đường lối của Đảng và con đường đúng đắn của cách mạng Việt Nam, bảo vệ giá trị khoa học, cách mạng và sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận đó đã khẳng định vị thế của Đảng và những người cộng sản Việt Nam trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và trong phe XHCN.
Năm 1989-1991, CNXH trên thế giới lâm vào khủng hoảng toàn diện, sâu sắc dẫn tới sự sụp đổ của mô hình CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Nguyên nhân cơ bản là sự phá hoại của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội chính trị, của các thế lực chống cộng, chống CNXH; âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của CNĐQ; đặc biệt là sai lầm về đường lối của các Đảng Cộng sản cầm quyền, sự rút lui, đầu hàng của các Đảng trước sự lấn tới, tiến công của các thế lực thù địch. Đó là tổn thất nặng nề và đau đớn của CNXH, mà những Đảng, những người cộng sản chân chính phải rút ra bài học cho đến ngày nay.
Ở thời điểm 30 năm trước, Việt Nam đang thực hiện những bước đi khởi đầu của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, lãnh đạo và đã có được những thành công. Lợi dụng sự biến động của tình hình các nước XHCN, các thế lực thù địch đã lớn tiếng nói rằng CNXH đã hết thời, đòi từ bỏ con đường XHCN; đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng. Đảng đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường XHCN, phát triển đường lối đổi mới và hoạch định Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đảng nhận thức rõ rằng bảo đảm tính đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước có ý nghĩa quyết định để đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và phát triển đất nước theo con đường XHCN.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, đã chỉ rõ: “Cuộc khủng hoảng toàn diện, sâu sắc của các nước xã hội chủ nghĩa đặt chủ nghĩa xã hội trước sự phê phán gay gắt chưa từng thấy, từ nhiều hướng. Đáng tiếc là ngay trong hàng ngỹ những người cộng sản cũng có hiện tượng dao động về lập trường, những khuynh hướng phủ định các thành tựu, từ đó dẫn đến phủ định con đường xã hội chủ nghĩa”5. Tổng Bí thư khẳng định ý chí của toàn Đảng, kiên định mục tiêu CNXH mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn. Đối với Việt Nam “không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”6. Cách mạng Việt Nam đang phát triển trên con đường đúng đắn đã lựa chọn với những thành tựu to lớn, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với nền độc lập, thống nhất trọn vẹn, đang quá độ tiến lên CNXH, không có lý do gì rẽ sang con đường TBCN hay lùi lại thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.
Hiện nay, việc phản bác những quan điểm sai trái, thù địch về cơ bản vẫn phải nhận diện đúng bản chất và ý đồ của các thế lực đó như những năm trước đây. Điều cần lưu ý là thủ đoạn của họ tinh vi, phức tạp, xảo quyệt hơn và triệt để sử dụng công nghệ thông tin để đạt được ý đồ nhanh nhất, quy mô và diện phá hoại rộng lớn và do đó mức độ nguy hại không thể xem thường.
Quan điểm sai trái, thù địch về chính trị hiện nay vẫn là phủ nhận con đường XHCN, đòi Việt Nam từ bỏ con đường đó; đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò lãnh đạo và cầm quyền, thực hiện đa nguyên chính trị và chế độ đa đảng đối lập. Đó là hai vấn đề căn cốt để họ lấn tới xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Họ cố chứng minh rằng chế độ XHCN mà những người cộng sản, các Đảng Cộng sản cố công xây dựng nhiều chục năm đã không thành hiện thực, phải chấp nhận sự thất bại như ở Đông Âu, Liên Xô. Cố đi theo con đường không có tương lai đó là sai lầm, ảo tưởng. Có người cho rằng, một số nước theo con đường XHCN hiện nay, trong đó có Việt Nam, chỉ là hình thức, trên thực tế là đang phát triển CNTB.
Để phê phán, phản bác những quan điểm sai trái, điều quan trọng hàng đầu là phải trở lại đúng bản chất của CNXH trong học thuyết Mác-Lênin, hiểu rõ giá trị khoa học và tính hiện thực của lý luận ấy. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (2-1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng phê phán những quan điểm không đúng về CNXH khi các ông đề cập tới các loại của Chủ nghĩa xã hội phản động, đó là Chủ nghĩa xã hội phong kiến, Chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản, Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không tưởng-phê phán7.
Phản bác việc phủ nhận con đường XHCN cần thiết phải hướng tới chứng minh cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn-hiện thực của CNXH đã được xây dựng và có vai trò không thể phủ nhận trong thế kỷ XX và đang được nhận thức rõ hơn và từng bước hiện thực hóa. Cần phải tổng kết sâu sắc thực tiễn xây dựng CNXH cả trước và từ khi tiến hành đổi mới, làm rõ những nhận thức mới và thực tiễn đã và đang diễn ra. Hơn 30 năm qua, Việt Nam xây dựng CNXH theo đường lối đổi mới do Đại hội VI (12-1986) của Đảng đề ra và thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Đó là quá trình đổi mới tư duy lý luận, từ thực tiễn mà sửa chữa những sai lầm nhận thức không đầy đủ, không đúng về CNXH và thời kỳ quá độ lên CNXH. Thực tiễn đổi mới đã khẳng định quyết tâm đi theo con đường XHCN là đúng đắn với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có thành tựu về phát triển lý luận. Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn. Sáng tỏ hơn về mục tiêu, mô hình của xã hội XHCN: về những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, con người của thời kỳ quá độ; về những vấn đề điều kiện, khả năng bỏ qua CNTB để tiến lên CNXH; về sự cần thiết phải kế thừa, phát triển những thành tựu mà loài người đã đạt được dưới chế độ tư bản, nhất là khoa học, công nghệ và tổ chức quản lý kinh tế, xã hội.
Đối với các thế lực thù địch về chính trị, chống cộng, chống CNXH từ trước tới nay, dù có trao đổi, tranh luận như thế nào họ cũng không từ bỏ lập trường, quan điểm của họ. Cần chú ý rằng, phê phán, phản bác quan điểm sai trái để đi tới nhận thức đúng đắn trong nội bộ Đảng và trong xã hội. Từ cái đúng được khẳng định, được thừa nhận mà đẩy lùi cái sai. Để đi tới nhận thức đúng đắn là vấn đề lớn đặt ra cả về phương diện tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, tổng kết lý luận. Nhận thức đúng về CNXH và con đường XHCN là vô cùng quan trọng đối với Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên.
Phải thấy rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý để tăng cường giáo dục, thống nhất nhận thức trong Đảng. NQTƯ 4 khóa XII (10-2016) của Đảng đã nêu rõ những biểu hiện “Phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, “Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; Không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; Phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái”8.
Quan điểm sai trái, thù địch là nằm trong âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của kẻ địch. Thủ đoạn đó tác động đến cán bộ, đảng viên dẫn tới làm trái đường lối, Cương lĩnh của Đảng và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Cần phải nhận diện những biểu hiện và kiên quyết đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Điều cần nhấn mạnh là 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lại chính là quan điểm của các thế lực thù địch, được một bộ phận cán bộ, đảng viên phụ họa, làm theo. Trong 9 biểu hiện đó, cần chú ý biểu hiện thứ 6: “Móc nối, câu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước”9. Đó là điều “nguy hiểm khôn lường” và là một “nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Vì vậy, nhận diện những phần tử thoái hóa, biến chất, nhất là suy thoái về tư tưởng chính trị là công việc bức thiết hiện nay để có giải pháp xử lý thích hợp, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh.
Một quan điểm sai trái mà các thế lực thù địch nêu ra từ nhiều năm nay là: Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không hề đổi mới chính trị, vẫn giữ nguyên bộ máy lãnh đạo chuyên quyền của Đảng Cộng sản. Họ phủ nhận nền dân chủ XHCN, phủ nhận Nhà nước pháp quyền XHCN, đòi thực hiện “tam quyền phân lập”. Thực chất là phủ nhận và đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự thật là, khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng đã chủ trương kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Xác định nhiệm vụ đổi mới, phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Từ thành tựu đổi mới kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Nhận thức rõ rằng, chính trị là lĩnh vực rất quan trọng đối với một quốc gia, một chế độ, lại là vấn đề rất nhạy cảm; vì vậy, đổi mới chính trị, phải tiến hành từng bước vững chắc, thận trọng, không thể hấp tấp, vội vàng. Vấn đề nào đã rõ thì quyết tâm đổi mới, vấn đề chưa rõ phải tiếp tục nghiên cứu, tổng kết. Đó chính là bài học thành công trong đổi mới chính trị ở Việt Nam, bảo đảm giữ vững sự ổn định chính trị trong mọi hoàn cảnh. Ổn định chính trị là vấn đề hệ trọng của đất nước, là cuộc sống và nguyện vọng của nhân dân.
2. Sự nghiệp đổi mới càng phát triển, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trở thành mối quan hệ lớn phải được nhận thức và xử lý đúng đắn tạo động lực cho sự phát triển. Từ năm 1989, xây dựng hệ thống chính trị được đặt ra rất cơ bản thay cho quan niệm trước đó về hệ thống chuyên chính vô sản. Từ những năm 90, việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN trở thành vấn đề rất quan trọng của hệ thống chính trị. Việc sửa đổi Hiến pháp năm 1980 và ban hành Hiến pháp năm 1992 và gần đây sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và ban hành Hiến pháp năm 2013 là sự phát triển quan trọng lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Đó là đổi mới rất cơ bản hệ thống chính trị. Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương tiếp tục đổi mới căn bản, đồng bộ hệ thống chính trị cả về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và phương thức lãnh đạo, quản lý và đội ngũ cán bộ, công chức. Cải cách hành chính và cải cách tư pháp ngày càng làm rõ hơn mô hình và phương thức vận hành của Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quan điểm được xác định: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan làm chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp, là phù hợp với thực tiễn Việt Nam, không thể áp đặt mô hình, cơ chế vận hành của nước này vào nước khác.
Các thế lực thù địch cho rằng ở Việt Nam không có dân chủ, quyền con người bị vi phạm. Họ luôn luôn lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo để đả kích sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Sự thật là, khi xây dựng Nhà nước pháp quyền trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, cần phải nhận thức và xử lý mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền, Nhà nước pháp quyền và quyền làm chủ của nhân dân, tức là quan hệ: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đây là vấn đề lớn về lý luận về thực tiễn trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị trong xã hội văn minh, hiện đại mà con người và nhân dân là trung tâm.
Những thế lực phản động, thù địch đã từng công khai phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế là sự lãnh đạo của Đảng không ngừng được đổi mới. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng không những được nhân dân, toàn xã hội khẳng định mà còn được cộng đồng thế giới và khu vực, các đối tác thừa nhận. Các đảng chính trị cầm quyền trên thế giới kể cả không cùng ý thức hệ và chế độ chính trị đều có quan hệ tốt với Đảng Cộng sản Việt Nam. Thước đo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là kinh tế phát triển, chính trị, xã hội ổn định, văn hóa, giáo dục, khoa học phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao về mọi mặt, quốc phòng-an ninh được giữ vững, ngoại giao rộng mở, vị thế uy tín Việt Nam ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Đó là sự thật mà bất kỳ thế lực đen tối nào cũng không thể phủ nhận.
Việc phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch chống lại Cương lĩnh, đường lối của Đảng luôn luôn được đặt ra trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng từ năm 1930 đến nay. Đảng đã có được những kinh nghiệm quý báu trong cuộc đấu tranh đó. Một là, trong mọi hoàn cảnh, cần phải công khai làm rõ quan điểm, đường lối đúng đắn của Đảng, giải thích rõ để đồng chí trong Đảng thống nhất nhận thức, hành động, tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ, ủng hộ, đồng thuận với Đảng, không bị kẻ xấu lôi kéo, thao túng. Hai là, không bao giờ được rút lui, rời bỏ mặt trận tư tưởng lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, và về chính trị thì không có bất cứ sự nhân nhượng, thỏa hiệp nào, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. Phản bác quan điểm sai trái, thù địch dựa trên cơ sở khoa học, hiện thực từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, bảo đảm tính thuyết phục. Ba là, thẳng thắn tự phê bình để thấy rõ những sai lầm, khuyết điểm, tự sửa chữa, hoàn thiện đường lối và sự lãnh đạo là chủ động làm thất bại ý đồ của địch lợi dụng khuyết điểm của Đảng, của cán bộ, đảng viên để xuyên tạc, phá hoại. Từ sự Tự chỉ trích của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ (1939), tự phê bình của Trung ương tại Đại hội VI (1986) đến tự phê bình theo NQTƯ 4 khóa XI và NQTƯ 4 khóa XII của Đảng chính là theo tinh thần ấy. Không bao giờ được ngủ quên trên vòng nguyệt quế như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở. Đó cũng là cách nâng cao khả năng tự bảo vệ, chống lại mọi sự xâm nhập phá hoại từ bên ngoài, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.










