Thứ Ba, 2 tháng 3, 2021

Cuộc cải cách dưới thời Trần

 

Nhận xét triều Lý lúc suy vong, Ngô Sĩ Liên đã khái quát: “Vua chơi bời vô độ, hình chính không rõ ràng, giặc cướp nổi như ong, đói kém liên miên, nhà Lý suy từ đấy”. Nhân cơ hội ấy ngoại xâm đến quấy rối biên cương. Đây chính là thời điểm mà lịch sử cần có các cuộc cải cách để giữ vững và phát triển đất nước. 

    Trần Thủ Độ nhận ra rằng quan trọng nhất là đổi mới kinh tế xã hội trước hết là chuyển dần công hữu ruộng đất thành tư hữu nhằm đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế hàng hóa – tiền. Không có lệnh nhà nước ban hành cho phép tư hữu hóa ruộng đất thì không thực hiện được. 

Ngoài quyết định cơ bản ấy còn có hàng loạt biện pháp kinh tế khác như phát triển nông nghiệp : Đắp đê ngăn lũ, ngăn mặn, khai kênh tưới, tiêu. Không chỉ coi trọng việc tăng sản xuất lúa gạo, mà còn chú ý cả tới trồng cây ăn quả, cây phòng hộ. Đẩy mạnh phát triển công, thương; – Định ra các phường buôn bán, sản xuất ở thủ đô Thăng Long… (quy hoạch 61 phường ở kinh thành Thăng Long để tiện quản lý công, thương…). “Khoan sức cho dân”, nhà nước không đánh thuế thân mà chỉ đánh thuế đinh theo sở hữu ruộng đất…

Đổi mới kinh tế có tác động tích cực tới đổi mới văn hóa. Tuy Phật giáo vẫn là quốc giáo nhưng Khổng giáo ngày càng có tác dụng tích cực đối với một xã hội mà pháp trị đang từng bước nâng cao. Về học hành, khoa cử, vua xuống chiếu mời nho sĩ trong nước đến Quốc học viện giảng tứ thư, lục kinh. Thi cử được đổi mới, tăng thêm các học vị trong khoa bảng. Trước đây chưa chọn tam khôi thì nay đặt ra lệ chọn tam khôi là trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa. Công bố thể lệ tổ chức thi các khoa thông tam giáo. Thừa nhận tam giáo (Nho, Phật, Lão) “đồng nguyên”. Đó là một tiến bộ về tư tưởng tôn giáo so với thế giới đương thời. Bởi vì ở thế kỷ XIII, kỳ thị tôn giáo, chiến tranh tôn giáo trên thế giới vẫn nặng nề, nhưng ở Việt Nam thì “tam giáo” đó vẫn song song tồn tại và phát triển. Nhà nước lại cho mở các khoa thi thông tam giáo để khích lệ sự đoàn kết, thống nhất. Tư tưởng pháp trị biểu hiện về mặt văn hóa, khoa học là cho soạn thảo luật pháp thành văn,  khảo xét các luật lệ của triều trước soạn thành Quốc triều thống chế và sửa đổi hình luật, lễ nghi.. Múa hát trong cung đình và vui chơi hát xướng trong dân gian phát triển, biểu hiện những cuộc vui chung sau những yến tiệc của anh em tông tộc Trần triều cũng như vua quan trong cung đình. Nhân dân thì vui với thơ, ca, đấu vật, múa rối… Sử chép: “Bấy giờ, quốc gia vô sự, nhân dân yên vui”.

Nhìn chung lại: Kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển, nhân dân được yên vui – tất cả đã biểu hiện bước tiến bộ của xã hội đầu Trần do “đổi mới” mang lại mà Trần Thủ Độ là người có công đầu. Đó là nguyên nhân chính khiến khi giặc Nguyên Mông đến xâm phạm bờ cõi (lần thứ nhất năm 1257), Trần Thủ Độ đã có thể tin tưởng và quyết tâm đánh thắng giặc Nguyên Mông xâm lược

MLN

Nhận diện và đấu tranh với các hoạt động chống phá bầu cử

 


Hiện nay, công tác chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND đang được các cơ quan chức năng tích cực tiến hành. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá bầu cử, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đang tiến hành nhiều hoạt động chống phá với tính chất hết sức quyết liệt.

“Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” bài học đắt sau việc lật đổ chính phủ ở Myanmar

     Sáng 1/2/2021, Quân đội Myanmar đã bắt giữ Tổng thống và một loạt nhân vật cấp cao khác của đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD), ban bố tình trạng khẩn cấp và tuyên bố quyền lực được giao lại cho Tổng tư lệnh Min Aung Hlaing. Quân đội Myanmar cũng tuyên bố sẽ kiểm soát chính quyền trong vòng 1 năm. Binh lính đã được triển khai bên ngoài tòa nhà chính quyền Thủ đô Naypyitaw và tòa thị chính thành phố Yangon. Hệ thống viễn thông, truyền hình, Internet ở Myanmar gián đoạn. Việc quân đội Myanmar tiến hành đảo chính được xem là hệ quả tất yếu của những mâu thuẫn kéo dài giữa quân đội với chính phủ dân sự cầm quyền ở quốc gia này. Một điều dễ nhận thấy rằng, tương tự như ở Thái Lan, quân đội ở Myanmar có vị thế đặc biệt và rất hay chấp chính. Tại Thái Lan, quân đội đã nhiều lần làm đảo chính và thiết lập chính quyền quân sự lâm thời. Trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, quân đội Myanmar không thực hiện nhiều cuộc đảo chính như Thái Lan nhưng thời gian họ nắm giữ chính quyền nhà nước lại kéo rất dài. Sau khi tiến hành đảo chính vào năm 1962, quân đội Myanmar đã duy trì chính quyền quân sự suốt từ năm đó đến năm 2011. Điểm chung giữa quân đội Thái Lan và quân đội Myanmar là không nằm dưới sự lãnh đạo của bất kỳ một chính đảng nào. Họ có quyền lực rất to lớn và được phép nắm quyền trong trường hợp khẩn cấp.

Từ sự kiện vửa xảy ra ở Myanmar nhìn lại vấn đề “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang đang được các thế lực thù địch, phản động rêu rao ở Việt Nam.

Trong thời gian qua, lợi dụng quá trình đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật, nhiều cá nhân, tổ chức, đối tượng thù địch trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu đòi đa nguyên, đa đảng, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013; đòi tam quyền phân lập; đòi “phi chính trị hóa” các lực lượng vũ trang nhân dân,… Trong đó, luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an được chúng xác định là một nội dung trọng tâm. Những người này cho rằng, Công an, Quân đội phải “trung lập”, “đứng giữa”, không thuộc một đảng phái nào, “Quân đội phải đứng ngoài chính trị”… Họ còn cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã “hoàn thành sứ mệnh cao cả” là giải phóng dân tộc, nay nên trao lại quyền lãnh đạo đất nước cho “lực lượng dân chủ cấp tiến”. Có thể thấy rằng, đây là những luận điệu sai trái, nhằm thực hiện âm mưu thâm độc là tách Công an và Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Công an, Quân đội; làm cho lực Công an, Quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, dẫn đến suy yếu về chính trị, tiến tới làm cho lực lượng vũ trang bị vô hiệu hóa. Với thủ đoạn này, các thế lực thù địch, phản động không có gì khác là muốn làm cho lực lượng vũ trang nhân dân ta dần dần biến chất, từ lực lượng vũ trang của nhân dân, mang bản chất của giai cấp công nhân, trở thành một đội quân phản bội lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, bảo vệ cho lợi ích của các tầng lớp, giai cấp tư sản.

Thực tiễn khẳng định, không có một lực lượng vũ trang nào là "đứng ngoài chính trị", là "trung lập". Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển quân đội các nước tư bản đều cho thấy, giai cấp tư sản không hề coi nhẹ quân đội, trái lại, rất coi trọng xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần cho lực lượng vũ trang của họ. Trong khi đó, thực tiễn cũng đã cho chúng ta những bài học rất sâu sắc về vấn đề này. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô tuyên bố xóa bỏ Điều 6 Hiến pháp (quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô), chấp nhận đa nguyên, đa đảng đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin và sau đó là chấp nhận xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với lực lượng vũ trang, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đó là một trong những nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối năm 1991.

Cuộc chính biến ở Myanmar có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng sự kiện này có liên quan trực tiếp tới vấn đề “phi chính trị hóa” Công an, Quân đội. Từ cuộc chính biến ở Myanmar, một bài học sâu sắc được rút ra với chúng ta, đó là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong các lực lượng vũ trang. Tuyệt đối không bao giờ được sa vào bẫy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch, phản động. Để thực hiện vấn đề này, trước hết phải luôn giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, CAND nói riêng; không ngừng chăm lo xây dựng các tổ chức đảng các cấp trong lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức. Qua đó, xây dựng tổ chức đảng các cấp trong lực lượng vũ trang thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Cảnh giác với hiện tượng gieo mầm, nuôi dưỡng đối tượng phản biện xã hội tiêu cực

 

Mở rộng dân chủ, tăng cường phản biện tích cực, lắng nghe những ý kiến đóng góp tâm huyết của nhân dân là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.

Học tập và làm theo phương pháp luận Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước

(TG) - Điều còn lại mãi, tức là điều trường tồn đối với Đảng Cộng sản Việt Nam khi lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, là ở vấn đề phương pháp luận.

PHƯƠNG PHÁP LUẬN HỒ CHÍ MINH

Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời là một nhà tư tưởng; là người khai lập và tham gia sáng lập nhiều tổ chức chính trị - xã hội. Ở Hồ Chí Minh có nhiều vị thế trong một con người: vừa là người sáng lập các tổ chức chính trị, xã hội, vừa là người giữ các chức vụ cao nhất của dân tộc - quốc gia và của Đảng Cộng sản Việt Nam, lại vừa là người trên thực tế chứng tỏ được tư chất lãnh tụ của mình và thực sự được toàn dân yêu nước và toàn Đảng Cộng sản Việt Nam tôn vinh là lãnh tụ.

Thực tế lịch sử chính trị của nhân loại cho thấy, không phải cứ sáng lập tổ chức chính trị, xã hội, giữ nhiều chức vụ cao và quan trọng thì cứ thế nghiễm nhiên được gọi là lãnh tụ. Lãnh tụ là một chuyện, còn lãnh tụ đó có phải là nhà tư tưởng hay không lại là một chuyện khác. Đã là một con người bình thường thì ai cũng có tư tưởng, chỉ với nghĩa là ý tưởng, thậm chí cao hơn là quan điểm. Nhưng, để được gọi là nhà tư tưởng, thì người đó phải đạt được một tổ hợp gồm những tiêu chí: 1) Có được một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề chính trị - xã hội đối với một cộng đồng quốc gia - dân tộc hoặc đối với cộng đồng quốc tế. 2) Có một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề chính trị - xã hội mang tính khoa học và cách mạng, khả thi, có ý nghĩa dẫn đường cho xã hội phát triển theo hướng văn minh, tiến bộ. 3) Người đó phải dấn thân vào cuộc sống thực tế, trở thành một nhân vật cốt yếu nhất thực thi một cách tích cực nhất, có hiệu quả nhất những quan điểm của mình đã nêu ra. 4) Hệ thống quan điểm của người đó trên thực tế được cộng đồng thừa nhận và tổ chức thực hiện với tư cách là cơ sở tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.

Đối chiếu với những tiêu chí, yêu cầu trên đây thì Hồ Chí Minh xứng đáng được gọi là nhà tư tưởng. Và, với ý nghĩa như vậy thì hoàn toàn đúng khi nhiều người đặt tên là “Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Thật đúng khi Đảng Cộng sản Việt Nam ghi vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991, bổ sung, phát triển năm 2011) cụm từ “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin làm thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Như vậy, trên thực tế, có “tư tưởng Hồ Chí Minh” chứ không phải là không có, thậm chí một số người cho rằng, phải gọi là “học thuyết Hồ Chí Minh”, với nghĩa, theo họ, “học thuyết” lớn hơn “tư tưởng”.

Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng thì dẫn đến một vấn đề là có phương pháp luận Hồ Chí Minh. Phương pháp luận Hồ Chí Minh nằm trong phương pháp luận Mác - Lênin. Bởi vì chủ nghĩa Mác - Lênin là một cơ sở để hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Và như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin có quan hệ khăng khít với nhau. Nếu không có yếu tố “chủ nghĩa Mác - Lênin” thì không thể có “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Nói một cách khác, nếu Hồ Chí Minh không tiếp thu được chủ nghĩa Mác - Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần khẳng định một cách chắc chắn điều này bởi vì có một số người muốn đem tư tưởng Hồ Chí Minh tách rời, thậm chí đối lập, với chủ nghĩa Mác - Lênin. Nếu tách rời hoặc đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin thì hoàn toàn không đúng về mặt lý luận và cả về mặt thực tế.

Cũng giống như chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không nên được vận dụng một cách giáo điều, mà vẫn rất cần được vận dụng và phát triển sáng tạo. Cái còn lại vĩnh viễn của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở phương pháp luận, ở bản chất vấn đề chứ không nằm trong hành vi, bởi vì hành vi chỉ là cái cụ thể trong một hoàn cảnh cụ thể, nó có thể phù hợp ở lúc này mà không phù hợp ở lúc khác. Cũng như bản thân C.Mác, Ph.Ăngghen nhiều lần tự cho rằng, những luận điểm của các ông nêu ra không phải là học thuyết (với nghĩa là đừng giáo điều) mà chính là nằm ở phương pháp biện chứng duy vật thống nhất trong chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác. Chỉ có trên cơ sở nắm vững phép biện chứng duy vật này thì mới có những hành động đúng, tương thích với mọi biến đổi nhanh chóng của thời gian. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận mở, bởi vì nó luôn luôn nhận nạp thêm năng lượng mới từ cuộc sống.

Những vấn đề về phương pháp mà Hồ Chí Minh thể hiện nhiều khi chứa đựng cả những vấn đề lý luận và thực tiễn kết hợp nhau khó mà tách bạch. Những vấn đề thuộc về lý luận nhận thức của phương pháp luận lại là những vấn đề của phương pháp cụ thể mang tính lý luận hoặc đúc kết thành lý luận. Vì vậy, trong thực tế nghiên cứu phương pháp luận và phương pháp Hồ Chí Minh, có thể gọi một số nội dung vừa có tính phương pháp luận vừa là phương pháp. “Dĩ bất biến ứng vạn biến” chẳng hạn, đó là nội dung của cả phương pháp luận và phương pháp cụ thể Hồ Chí Minh.

Có hai cách trình bày: hoặc trình bày riêng ra những nội dung phương pháp luận Hồ Chí Minh rồi mới trình bày những nội dung vận dụng phương pháp luận Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước hiện nay; hoặc trình bày xen lẫn vào. Trong bài viết này, tôi chọn cách thứ hai.

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Có nhiều nội dung cần vận dụng phương pháp luận Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước hiện nay. Trong phạm vi bài viết, xin nêu lên bốn vấn đề.

1. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Một số người cho rằng, Hồ Chí Minh không phải là nhà lý luận mà chỉ là người hoạt động thực tiễn có tài. Nhận định này không đúng, vì ở Hồ Chí Minh, tư duy và hành động kết hợp một cách nhuần nhuyễn với nhau, lý luận luôn luôn đi cùng thực tiễn, trong lý luận có chất thực tiễn đúc kết ở đó và trong thực tiễn có sự chỉ đạo của lý luận. Hồ Chí Minh hay nêu lên những cặp chỉnh thể, như học đi đôi với hành, nói đi đôi với làm, lý luận kết hợp với thực tiễn, v.v.

Hồ Chí Minh nêu lên quan niệm về mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính. Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế… Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi… Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ… Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách… Thực hành phải nhằm theo lý luận. Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên”.

Hồ Chí Minh vừa coi trọng lý luận vừa coi trọng thực tiễn vì thực tiễn khái quát nên lý luận và chính lý luận lại chỉ đạo thực tiễn. Ở Hồ Chí Minh, chúng ta thấy không có sự tuyệt đối hóa mặt nào giữa chúng. Thậm chí, nhìn xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh thì trong lý luận đã có thực tiễn, trong thực tiễn đã có lý luận; chỉ khi muốn nghiên cứu thật sâu với tư cách là một yếu tố chuyên biệt thì chúng ta mới có thể cắt lát riêng ra, nhưng việc cắt lát cũng chỉ là tạm thời trong một động thái nào đó của thao tác nghiên cứu, còn về bản chất của nội dung phương pháp luận này là sự thống nhất biện chứng “2 trong 1”.

Điều này phải được thể hiện ngay trong cương lĩnh, đường lối, nghị quyết, chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đường lối đúng đắn của Đảng bao giờ cũng phản ánh sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn. Trong khoảng hơn ba chục năm trở lại đây, ở Việt Nam lý luận chính trị đã có một số biểu hiện của sự lạc hậu so với thực tiễn. Không ít những vấn đề thực tiễn không được lý luận soi sáng; nhiều vấn đề thực tiễn chưa được tổng kết hoặc tổng kết một cách chưa thấu đáo. Điều đó một mặt phản ánh sự biến chuyển nhanh chóng, khó lường của tình hình thực tiễn; mặt khác phản ánh thực trạng của công tác nghiên cứu lý luận còn nhiều hạn chế. Ở đây, cần nghiêm khắc nhìn về phía nguyên nhân chủ quan, tức là ở nhận thức tầm quan trọng của công tác này; ở việc tổ chức bộ máy; ở xây dựng đội ngũ nghiên cứu, tham mưu; ở phương pháp nghiên cứu thực tế, tổng kết thực tiễn chưa phù hợp, chưa đạt yêu cầu. Vận dụng phương pháp luận Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước hiện nay cần chú ý đặc biệt đến công tác này để khắc phục cho được tình trạng đó; đặc biệt có cả việc hoạt động của tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong từng cá nhân, cũng phải luôn luôn kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giai đoạn hiện nay đang đứng trước những yêu cầu lớn. Đó là khắc phục tình trạng dạy chay, học chay, chạy theo kiến thức, ít dạy và học về kỹ năng. Cần trở lại quan điểm có tính phương pháp luận mà Hồ Chí Minh ghi trong quyển sổ của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương tháng 9/1949: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích, thì phải Cần, kiệm, liêm, chính, Chí công, vô tư”(4). Có như thế mới khắc phục được tình trạng đào tạo, bồi dưỡng chưa thiết thực, còn nặng về lấy chứng chỉ, bằng cấp, mà chưa chú trọng đúng mức tới việc học để hiểu biết lý luận, vận dụng lý luận vào thực tế; tổng kết thực tiễn để bổ sung cho lý luận trong sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2. Tính bao quát, có trọng điểm

Hồ Chí Minh nhìn sự vật và hiện tượng trong một tổng thể vận động với những cái chung và cả những cái riêng, những đặc điểm trong sự vận động cụ thể của điều kiện hoàn cảnh nhất định nào đó và xem xét chúng trong xu thế chung. Trong cuộc sống, Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ điều đó khi đặt con người nằm chung trong một thực thể của tự nhiên để hòa đồng với thiên nhiên, thân thiện với thiên nhiên, tác động thuận cho thiên nhiên tươi tốt hơn chứ không vùi dập, làm xấu, làm hỏng thiên nhiên. Hồ Chí Minh cũng đặt mọi hoạt động của con người vào sự vận động chung của xã hội mà con người cần là và thực tế là một thực thể tác động tích cực vào xã hội để tạo ra sự tiến bộ xã hội. Vì coi tính bao quát là một nguyên tắc tư duy và hành động, như là một phương pháp luận, cho nên Hồ Chí Minh xem xét cách mạng Việt Nam trong quan hệ tổng thể với cách mạng thế giới. Cũng chính vì thế mà Hồ Chí Minh rất ghét căn bệnh địa phương chủ nghĩa, cá nhân chủ nghĩa, biệt phái, hẹp hòi, cục bộ và hàng loạt căn bệnh khác nữa nói lên sự tách rời cái riêng ra khỏi cái chung. Người coi một con người như là một bộ phận trong một cỗ máy khi vận động tương tác nhau.

Trong khi nhìn bao quát, phương pháp luận Hồ Chí Minh còn chỉ rõ điểm nhấn, cái bộ phận nào có tính trọng điểm để hướng hành động một cách tập trung ưu tiên vào đó. Trọng điểm này có khi không phải là trọng điểm của cả một quá trình dài mà chỉ là trọng điểm của một giai đoạn, một thời kỳ nào đó mà thôi. Khi nhìn lực lượng cách mạng, Hồ Chí Minh nhìn thấy trước hết là lực lượng lãnh đạo, lực lượng “gốc” là công nông rồi nhìn bao quát cả “đồng bào”. Hồ Chí Minh hay có cách nói, cách viết chỉ ra cho mọi người rõ cái “gốc”, cái nền tảng của vấn đề, chẳng hạn: cán bộ là cái gốc của mọi công việc; huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng; gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân; dân là gốc của nước; đạo đức cách mạng là gốc của cây, là nguồn của sông, là cái căn bản của con người, v.v. Với phương pháp luận này, Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn cho những người cách mạng giải quyết một cách biện chứng, đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp ở Việt Nam qua các thời kỳ. Đồng thời, với phương pháp luận này, Hồ Chí Minh đã tìm thấy điểm tương đồng, từ đó nhân lên điểm tương đồng, hạn chế điểm khác biệt trong các giai cấp, tầng lớp của xã hội Việt Nam để tạo ra lực lượng cách mạng tổng hợp giành thắng lợi. Khi nhìn nhiệm vụ thì Hồ Chí Minh thấy rõ những việc “cần kíp”, “cần thiết” trong từng giai đoạn để tập trung nguồn lực vào giải quyết cho có hiệu quả.

Học tập và làm theo phương pháp luận Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước hiện nay đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam, cả tổ chức và cả từng cán bộ, đảng viên phải:

1) Có tầm nhìn xa và sâu về mục tiêu, con đường phát triển. Đó là yêu cầu về tính bao quát. Muốn như vậy thì phải có tầm trí tuệ, nghĩa là phải có năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền. Năng lực này không tự nhiên mà có, nó được tích lũy qua quá trình hoạt động của Đảng và sự phấn đấu bền bỉ của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực tế.

2) Cần chú trọng hơn nữa việc tổng kết quá trình thực thi những nhiệm vụ đã đặt ra. Trong tổng kết, cần chú trọng tìm tòi những quy luật vận động của tình hình. Có như thế Đảng mới có những quyết sách phù hợp thực tế, có cái nhìn bao quát, không những cho cả một thời kỳ dài mà còn cho cả những nhiệm vụ trước mặt của từng giai đoạn nhỏ. Quy luật cần được tôn trọng, nếu vi phạm thì sẽ bị quy luật trừng phạt. Đại hội VI của Đảng tháng 12/1986 và nhiều Đại hội tiếp theo đều nhấn mạnh vấn đề phải tôn trọng quy luật khách quan. Ở đây thuộc về bản lĩnh chính trị và tầm trí tuệ. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Người lúc nào, bao giờ cũng bình tĩnh, thanh thản, và do như thế cho nên Người có những quyết sách đúng. Sở dĩ như vậy là Người có bản lĩnh chính trị cao cường, có tầm nhìn xa, rộng, sâu, nắm được quy luật, chiều hướng phát triển của sự vật và hiện tượng, làm chủ được bản thân mình. Phương pháp luận này giúp cho Hồ Chí Minh chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao thác gềnh, hiểm nguy để tới đích quang vinh. Đảng Cộng sản Việt Nam đã có cương lĩnh là tầm nhìn xa. Cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết những vấn đề lý luận - thực tiễn trong nước và thế giới để bổ sung và phát triển nó như đã từng bổ sung và phát triển năm 2011. Đảng đã có những nghị quyết cho từng khóa đồng thời có chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ít nhất từng chặng 10 năm. Đó cũng có thể coi là sự phản ánh tầm nhìn bao quát và có trọng tâm, trọng điểm. Nhưng, quan trọng hơn là cần xác định, làm rõ thêm những vấn đề tầm nhìn như thế đã đúng chưa, đồng thời cần điều chỉnh ở khâu nào, có phải do chủ quan duy ý chí như Đảng đã tự phê bình không. Hơn nữa, nhiều chính sách quốc gia (phần nhiều là biểu hiện trọng tâm, trọng điểm ở từng giai đoạn nhỏ - thường được hiểu là các giải pháp đột phá) cần được xem xét cho phù hợp và mang tính hiệu quả.

3. Luôn luôn giải phóng, đổi mới và phát triển

Hồ Chí Minh nhìn sự vật và hiện tượng trong một trạng thái vận động không ngừng. Đó là một quá trình giải phóng mọi trở lực: trở lực bên ngoài, trở lực bên trong, thậm chí trở lực nằm ngay trong mỗi tổ chức của hệ thống chính trị, trong mỗi con người, để phát triển bền vững. Phương pháp luận Hồ Chí Minh về điểm này là ở chỗ tổ chức chính trị - xã hội và con người phải luôn luôn thích nghi với mọi hoàn cảnh. Muốn thích nghi, phải luôn luôn tự đổi mới để phát triển. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn luôn nhanh nhạy với cái mới. Quá trình phát triển là quá trình phủ định biện chứng cái cũ, nhân lên yếu tố mới. Đó cũng là quá trình luôn luôn giải phóng, giải phóng mọi sự ràng buộc lạc hậu để bắt kịp những điều tiến bộ.

Từ sớm, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời, Hồ Chí Minh đã không ít lần tuyên bố chính sách “mở cửa và hợp tác”, tức là có ý thức chủ động đổi mới và phát triển. Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc năm 1946, Hồ Chí Minh nêu:

“Trong chính sách đối ngoại của mình, nhân dân Việt Nam sẽ tuân thủ những nguyên tắc dưới đây:

1 - Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền.

2 - Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực.

a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.

b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.

c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.

d) Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”.

Thật đáng ngạc nhiên về tầm nhìn xa và rộng của Hồ Chí Minh, vì quan điểm đổi mới để phát triển, mở cửa và hợp tác trên đây được đặt ra từ rất sớm và có tính nhất quán ở Hồ Chí Minh. Điều này nói lên tính phương pháp luận của sự phát triển. Phát triển là một quá trình tiếp nhận cái mới, cái tiến bộ và luôn luôn sửa đổi bản thân mình, biết kế thừa những yếu tố tiến bộ đã và đang có. Cũng trên tinh thần đó, đối với công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, ở Hồ Chí Minh thể hiện quan điểm Đảng Cộng sản Việt Nam phải luôn luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn bản thân mình, coi đó là quy luật tồn tại và phát triển của bản thân Đảng.

Đất nước Việt Nam đang tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhưng trong điều kiện giai đoạn hiện nay là mở cửa, hội nhập quốc tế trong khi quốc tế có những biến chuyển nhanh chóng, khó lường, phức tạp, vừa có những thời cơ để phát triển, vừa có những thách thức, nguy cơ. Với phương pháp luận Hồ Chí Minh, đất nước càng cần có sự đổi mới lớn hơn, cập nhật tình hình nhanh hơn và cần chú ý tới tính hiệu quả lớn hơn để cho đất nước phát triển bền vững. Đổi mới, giải phóng và phát triển, theo phương pháp luận Hồ Chí Minh phải bảo đảm cho thế chân vạc của đất nước thật vững, đó là: 1) Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; 2) Chủ nghĩa xã hội; 3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Thế đứng đó muốn vững phải luôn luôn được phát triển sáng tạo. Giáo điều là con đường chết của sự nghiệp đổi mới và phát triển. Đương nhiên, sáng tạo ở đây không phải là thoát ly bản chất của thực thể mà từ đó sáng tạo. Tiếp cận mục tiêu phát triển của đất nước Việt Nam, theo phương pháp luận Hồ Chí Minh, là ở sự phát triển bền vững, chứ tuyệt nhiên không phải ở chỗ tăng trưởng kinh tế, đành rằng, tăng trưởng kinh tế là một trong nhiều tiêu chí bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Nếu chỉ chú trọng tới tăng trưởng kinh tế thôi, thậm chí tăng trưởng bằng mọi giá, thì sẽ sa vào kinh tế phiệt - điều trái hoàn toàn với phương pháp luận Hồ Chí Minh. Một vấn đề nữa là, ở đây đổi mới, giải phóng và phát triển còn là giữ được chủ quyền. Chủ quyền ở đây không chỉ là lãnh thổ mà chủ quyền còn bao hàm cả nhận thức, ở đường lối, quan điểm, không bị sức ép từ bên ngoài, không lệ thuộc bên ngoài, không làm theo bên ngoài mà không chịu nhìn vào thực tế đất nước.

4. Mọi suy nghĩ và hành động đều thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn     

Giải phóng cho con người theo chủ nghĩa nhân văn mácxít là mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản. Ở xã hội cộng sản, mà Hồ Chí Minh đã ghi thành mục tiêu của cách mạng Việt Nam khi xác lập cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930, thì con người được giải phóng khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, con người làm chủ xã hội, ở đó con người sống trong tự do thật sự. Vấn đề có tính phương pháp luận Hồ Chí Minh là ở chỗ, mọi suy nghĩ và hành động, mọi lúc, mọi nơi, người cách mạng đều phải hướng tới mục tiêu giải phóng đó. Mọi công cuộc giải phóng trước đó, như giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, đều chỉ là mục tiêu của từng chặng đường, chỉ có con người được giải phóng toàn diện, được ngự trị ở vương quốc tất yếu của tự do, thì đó mới thực sự là mục tiêu cuối cùng và cao cả nhất.

Chính vì thế, thước đo duy nhất cho hiệu quả tư duy và hành động của người cách mạng, của tổ chức cách mạng Việt Nam là ở chỗ đưa lại quyền lợi chính đáng cho nhân dân. Mọi suy nghĩ và hành động trái với lợi ích đó đều là những yếu tố có tính chất đi ngược lại với nguyên tắc phương pháp luận Hồ Chí Minh.

Nội dung phương pháp luận này của Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu cho cách mạng Việt Nam hiện nay cần vận dụng là:

1) Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Xã hội xã hội chủ nghĩa chính là một xã hội đi tới giải phóng con người. Mọi suy nghĩ và hành động hiện nay làm tổn hại tới mục tiêu và con đường đó đều trái với phương pháp luận Hồ Chí Minh. Không vì hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không còn; không vì trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trước đây và hiện nay có một số tiêu cực, thậm chí nảy sinh một số quái thai; không vì trong thực tế ở Việt Nam có điều này điều nọ tiêu cực mà đi đến phủ nhận mục tiêu và con đường đó để đi theo con đường khác.

2) Lấy hiệu quả phục vụ nhân dân làm thước đo cho trình độ lãnh đạo của Đảng cũng như hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị. Với nội dung phương pháp luận này của Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội nói chung, cán bộ, đảng viên phải hành động trên tinh thần phục vụ nhân dân. Tất cả vì con người, mà cụ thể ở đây là tất cả vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, đó chính là chương trình hành động lớn nhất của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay. Khác với C.Mác, Ph.Ăngghen khi coi đảng cộng sản là bộ phận tinh túy nhất của giai cấp vô sản đại công nghiệp; khác với V.I.Lênin khi coi đảng cộng sản là đội tiên phong có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh coi Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị từ trong xã hội mà ra, là Đảng con nòi, xuất thân từ giai cấp lao động; vì thế Đảng chính là con của dân, là có quan hệ máu thịt với nhân dân. Vì vậy, Đảng phải làm tròn chữ Hiếu đối với nhân dân.

3) Đảng và hệ thống chính trị nói chung cũng như cán bộ, đảng viên phải “nâng cao dân chúng”, nghĩa là phải làm cho dân giác ngộ cách mạng, để luôn luôn trở thành “dân tiên tiến”. Đảng không được coi mình là một nhóm tách rời nhân dân để đi đến nhận thức và hành động cho lợi ích nhóm. Bản chất vấn đề ở đây là ở chỗ: mục đích của Đảng và của nhân dân, của Tổ quốc là một. Đồng thời, tránh thói mị dân, tránh “theo đuôi quần chúng”. Sự nghiệp giải phóng con người, tức là theo chủ nghĩa nhân văn, do chính bản thân con người gánh lấy, nhưng hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, phải là tổ chức luôn luôn tiên phong dẫn lối đưa đường. Đảng phải là tổ chức tiêu biểu cho “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại chúng ta”.

4) Vấn đề vị trí, vai trò của nhân dân ở Việt Nam đã được Hiến pháp, pháp luật quy định rõ ràng. Trách nhiệm của Đảng đối với dân cũng đã được ghi rõ trong nhiều nghị quyết của Đảng. Vấn đề là ở chỗ thực hiện trong thực tế như thế nào cho có hiệu quả. Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân vẫn là yêu cầu số một hiện nay.

5) Muốn bồi đắp và luôn luôn thấm đượm chủ nghĩa nhân văn, trước hết, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên phải làm gương trong cuộc sống, trong mọi lĩnh vực công tác. Phải hy sinh cho lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của cách mạng, của nhân dân, như quan điểm của Hồ Chí Minh: “Giàu sang không thể quyến rũ/Nghèo khó không thể chuyển lay/Uy lực không thể khuất phục”, như yêu cầu tư cách của người cách mạng được Hồ Chí Minh ghi trong trang đầu cuốn sách Đường cách mệnh: “Ít lòng tham muốn về vật chất”. Đó cũng là điều Hồ Chí Minh gửi gắm trong Di chúc: “Về việc riêng. Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Không phải tiếc vì chưa có vật chất đủ đầy, chưa có cuộc sống cao sang, mà tiếc là không còn sống lâu hơn nữa để phục vụ nhân dân. Đó là sự nuối tiếc đong đầy chủ nghĩa nhân văn của bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Điều này, chúng ta cũng thấy trong bài trả lời phỏng vấn của Hồ Chí Minh với các nhà báo nước ngoài đầu năm 1946: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành...”.

Gương sáng của cán bộ, đảng viên là cực kỳ quan trọng đối với giáo dục con người, là điểm quy chiếu cho mọi suy nghĩ và hành động hướng tới chủ nghĩa nhân văn. Hồ Chí Minh đã dạy: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”; “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu (...) nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”; “Lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên ta mà giáo dục lẫn nhau, đó chính là một cách tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin thiết thực nhất”...

Muốn học tập và làm theo những vấn đề phương pháp luận Hồ Chí Minh, ít nhất phải có ba điều: có tâm thế chủ động, tích cực; hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có nội dung phương pháp luận; làm cho phù hợp. Những nội dung phương pháp luận Hồ Chí Minh cần được vận dụng sát hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới giai đoạn hiện nay để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Vận dụng cho đúng là yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay để làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn là một tổ chức chính trị xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của toàn dân tộc.

 

GS.TS. Mạch Quang Thắng

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


CHIẾN THẮNG 30-4, NIỀM TỰ HÀO CỦA DÂN TỘC

 

 

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với sự kiện Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30-4, đã kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của quân và dân ta. Chiến thắng 30-4 tạo bước ngoặt trong lịch sử dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới đối với nước ta - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thể hiện sâu sắc sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đánh dấu mốc son lịch sử kết thúc cuộc trường chinh suốt 30 năm của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, chống lại giặc ngoại xâm, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Vậy mà, thời gian qua vẫn còn những blog đăng tải tin bài sai sự thật về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc ta, làm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.

Cảnh giác thủ đoạn lợi dụng “xã hội dân sự” để chống phá chế độ

 


Nhằm chống phá chế độ, những năm qua, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng XHDS để thực hiện “diễn biến hòa bình”; trong đó, lợi dụng các quyền cơ bản của con người như: Quyền lập hội, quyền công dân, quyền tự do báo chí..., các thế lực thù địch bên ngoài câu kết với phần tử thoái hóa, biến chất ở trong nước dùng XHDS để gây sức ép, tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; đòi Nhà nước phải đảm bảo tự do vô giới hạn trong các lĩnh vực xã hội.

Bộ mặt thật của "Hội anh em dân chủ"

 


Được thành lập từ năm 2013, tổ chức “Hội anh em dân chủ” ra tuyên ngôn: cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm, kiến thức trong quá trình đấu tranh bảo vệ các quyền con người và vận động xây dựng một xã hội dân chủ, tiến bộ, công bằng và văn minh.

NẾU ĐÃ KHÔNG THỂ CỔ VŨ, ĐỘNG VIÊN, XIN HÃY LẶNG IM

 Để nói về câu chuyện bé gái bị rơi từ tầng 13 một toà nhà chung cư ở Hà Nội và anh Nguyễn Ngọc Mạnh trèo lên mái tôn để hứng và cứu cháu bé may mắn thoát chết, mình nghĩ rằng chúng ta chỉ cần ghi khắc trong tâm mình những điều tốt đẹp, đẹp đến mức kỳ diệu, thay vì ngồi soi video, phân tích từng khung hình xem anh Mạnh có thực sự hứng được, cứu được cháu bé hay không...

Nhận diện và đấu tranh với hoạt động chống phá công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng

 

Về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ quan điểm: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa "xây" và "chống"; "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; "chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách” (Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII).

CÁN BỘ CD-CL PHẢI THỰC SỰ GƯƠNG MẪU TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

 


Phát triển xã hội bền vững và quản lý phát triển xã hội là vấn đề lớn và là yêu cầu khách quan của thời đại. Quản lý xã hội bao gồm nhiều nội dung, nhiều bước, có tính liên hoàn, tác động ảnh hưởng lẫn nhau, không thể xem nhẹ một bước nào. Tuy vậy, vấn đề xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch, chính sách, pháp luật về phát triển xã hội có ý nghĩa quyết định.

Trong hơn 30 năm đổi mới, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phải quan tâm hơn nữa đến quản lý phát triển xã hội bên cạnh việc quản lý các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Thực tiễn đang đòi hỏi xây dựng các chính sách xã hội phải gắn với chính sách phát triển kinh tế và quan trọng hơn là tổ chức thực hiện trên thực tế nhằm bảo đảm mỗi bước tăng trưởng và phát triển kinh tế phải đưa lại hiệu quả thiết thực trong phát triển xã hội. Là cán bộ CD-CL trong Quân dội nhân dân Việt Nam, cần thực hiện tốt những vấn đề sau đây:

Một là, nhận thức đúng ví trí, ý nghĩa, nội dung quản lý phát triển xã hội

Hai là, quán triệt và vận dụng quan điểm của Đảng về quản phát triển xã hội trong lãnh đạo, chỉ huy đơn vị

Ba là, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng các giải pháp quản lý phát triển xã hội.

Bốn là, tích cực đấu tranh với quan điểm sai trái của Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá trong quản lý phát triển xã hội.

 

 

                                                                                                          

QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 


 Khái niệm xã hội có thể được tiếp cận ở những phạm vi khác nhau. Theo nghĩa rộng, xã hội là một kết cấu vật chất đặc thù, là tổng hòa các mối quan hệ giữa người với người. Tiếp cận xã hội dưới góc độ hệ thống cấu trúc thì xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng…Theo nghĩa hẹp, xã hội là một lĩnh vực của xã hội theo nghĩa rộng.

Phát triển xã hội có thể được nghiên cứu ở các phạm vi khác nhau:

Theo nghĩa rộng, phát triển xã hội là sự phát triển về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực kinh tế; chính trị; văn hóa; xã hội; an ninh quốc phòng…Theo nghĩa rộng, phát triển xã hội đồng nghĩa với sự vận động, phát triển trong một hình thái kinh tế - xã hội, hoặc từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái khác cao hơn, tiến bộ hơn. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là quá trình lịch sử - tự nhiên của sự vận động phát triển.

Theo nghĩa hẹp, phát triển xã hội là phát triển mặt xã hội trong mối quan hệ hữu cơ với kinh tế, chính trị, văn hóa. Phát triển xã hội theo nghĩa hẹp là một mặt của phát triển xã hội theo nghĩa rộng. Theo đó, phát triển xã hội  không chỉ thuần túy là sự phát triển của riêng lĩnh vực xã hội, mà là sự phát triển đồng thời của phương diện xã hội thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa, y tế, môi trường, an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế,...) nhằm bảo đảm cho con người được phát triển toàn diện và xã hội phát triển bền vững.

Định nghĩa: Phát triển xã hội là quá trình phát triển con người xã hội, con người cộng đồng, con người trong sự tự do và bình đẳng về quyền và cơ hội; là làm cho con người được sống trong những điều kiện ngày càng đầy đủ về vật chất và tinh thần trong một môi trường tự nhiên và xã hội trong sạch, lành mạnh, an toàn; làm cho con người có đủ sức khỏe, tri thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để sống, lao động và hoàn thiện mình, xứng đáng là Con người, trong các quá trình lịch sử của một quốc gia dân tộc và của toàn nhân loại.

Phát triển xã hội bền vững là tất yếu khách quan của thời đại ngày nay. Vấn đề này đã được thế giới bắt đầu quan tâm từ những năm 60 của thế kỷ XX. Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Rio de Janeiro đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển bền vững được xác định là: “Sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai”.

Phát triển xã hội bền vững là tất yếu khách quan xuất phát từ những lý do:

Một là, nhân loại sẽ phải đối mặt với những mâu thuẫn ngày càng thêm căng thẳng giữa những nhu cầu đang tăng lên của chính mình với tính hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên và đòi hỏi không được phá vỡ sinh thái.

Hai là, từ nhu cầu phải giải quyết các vấn đề chung, toàn cầu đang ngày càng bức thiết và có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ đời sống xã hội của mỗi quốc gia, cũng như của cộng đồng quốc tế.

Ba là, việc lựa chọn con đường phát triển xã hội bền vững ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia, khu vực, bởi chính nó sẽ là một trong những yếu tố quy định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, các định hướng ưu tiên của sự phát triển, cũng như khả năng, triển vọng và sự thành bại của các nước và các khu vực nói chung.

Quản lý phát triển xã hội là sự tác động, tổ chức, điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với quá trình phát triển xã hội bảo đảm thực hiện được các mục tiêu và yêu cầu phát triển xã hội bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Quản lý phát triển xã hội là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm điều tiết các quan hệ xã hội, hoàn thiện các thiết chế xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm cho con người phát triển toàn diện, xã hội phát triển bền vững. Nếu phát triển xã hội được thể hiện qua việc xây dựng và thực thi các chính sách thì quản lý phát triển xã hội là những hoạt động bảo đảm cho xã hội phát triển theo đúng quy luật, bảo đảm công bằng, tiến bộ và bình đẳng xã hội.

Chủ thể quản lý phát triển xã hội

Quản lý phát triển xã hội là tổng hợp các tác động quản lý của nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý và sự tham gia của các chủ thể ngoài nhà nước. Như vậy, chủ thể quản lý phát triển xã hội bao gồm: Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý và các tổ chức, cá nhân tham gia quản lý phát triển xã hội.

+ Nhà nước là chủ thể quan trọng của quản lý phát triển xã hội với tư cách là chủ thể sử dụng quyền lực Nhà nước để tổ chức, điều hành giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh, bảo đảm sự phát triển xã hội bền vững.

Nhà nước có trách nhiệm hoạch định thể chế, chiến lược, kế hoạch cho phát triển xã hội; bảo đảm bằng pháp luật cho mọi thành viên xã hội bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và phát huy cao nhất năng lực của mình; điều tiết các mất cân đối do thị trường tạo ra; trực tiếp chăm lo và dẫn dắt ở những khâu mà thị trường không làm; hỗ trợ phát triển các đối tượng, cộng đồng, vùng, miền thua thiệt về cơ hội phát triển; khuyến khích tư nhân và cộng đồng tham gia phát triển xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau.

+ Các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức xã hội, tổ chức cộng đồng đa dạng khác là chủ thể nòng cốt của quản lý phát triển xã hội.

Các tổ chức này được thiết lập và vận hành theo nguyên lý lợi ích, nghề nghiệp, giới, địa vực, sở thích, tín ngưỡng,... mà pháp luật không cấm, hoạt động theo thể chế xã hội do từng tổ chức này ban hành không trái với pháp luật. Tính đa dạng của các tổ chức xã hội, tổ chức cộng đồng làm phong phú các hình thức quản lý phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu quản lý phát triển xã hội ở nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống vi mô mà nhà nước gặp giới hạn. Xã hội càng phát triển thì nhà nước dần chuyển giao cho các tổ chức xã hội nhiều chức năng quản lý phát triển xã hội. Các tổ chức xã hội, tổ chức cộng đồng vận hành theo các nguyên tắc tự lập, tự quản, đồng thời có thể nhận ủy quyền của Nhà nước cung ứng một số dịch vụ xã hội dưới hình thức đặt hàng, đấu thầu, tham gia giám sát và phản biện các chính sách của nhà nước để bảo vệ quyền lợi của thành viên.

+ Nhân dân là chủ thể quyết định của quản lý phát triển xã hội

Nhân dân là chủ thể quyết định trong quản lý phát triển xã hội thông qua hai hình thức trực tiếp và gián tiếp. Quyền lực nhà nước do nhân dân ủy quyền, nhà nước sinh ra là để thay mặt nhân dân quản lý những công việc mà nhân dân không tự mình làm được. Bên cạnh đó, có những nội dung nhân dân trực tiếp quản lý, ở đây có sự đồng nhất giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Xã hội càng phát triển thì các hoạt động tự quản ngày càng phổ biến trong quản lý phát triển xã hội. Nhân dân thực hiện vai trò quản lý phát triển xã hội không chỉ thông qua các cơ cấu đại diện, mà còn hiện diện trực tiếp với tư cách thể nhân (chủ thể cá nhân) để thực hiện quyền công dân, quyền con người.

Tính đa dạng nêu trên của chủ thể quản lý phát triển xã hội đòi hỏi nhà nước phải tạo ra khung thể chế, môi trường cho các chủ thể ngoài nhà nước thực hiện tốt nhất vai trò, chức trách và lợi thế của nó, khắc phục tình trạng bao sân hoặc thoái lui vai trò, trách nhiệm của nhà nước trong quản lý phát triển xã hội.

- Khách thể quản lý phát triển xã hội bao gồm: con người, cộng đồng, các quan hệ xã hội, hoạt động xã hội, cơ cấu xã hội, chức năng xã hội...

Khách thể của quản lý xã hội là các quan hệ, hoạt động và quá trình xã hội của con người: con người, các quan hệ xã hội (các nhóm xã hội, gia đình; hội; giai cấp, dân tộc, tôn giáo), các hoạt động xã hội…với những lợi ích, tâm lý và tập quán  không giống nhau.

Báo cáo quốc gia của Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về phát triển xã hội tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội năm 1995 xác định 10 vấn đề xã hội cần phải được quản lý phát triển hiện nay ở Việt Nam là: (1) Giải quyết việc làm; (2) Xoá đói giảm nghèo; (3); Hoà nhập xã hội; (4) Tăng cường vai trò của gia đình; (5) Phát triển giáo dục; (6) Dân số - kế hoạch hoá gia đình; (7) Chăm sóc sức khoẻ nhân dân; (8) Bảo trợ xã hội; (9) Môi trường; (10) Hạn chế và ngăn ngừa các hành vi phạm tội.

- Mục tiêu của quản lý phát triển xã hội

Quản lý phát triển xã hội luôn mang tính định hướng, tính mục đích, lấy con người làm điểm xuất phát, là trung tâm và mục tiêu cuối cùng. Do đó, quản lý phát triển xã hội nhằm: Bảo đảm phát triển chất lượng cuộc sống của nhân dân; nhân dân là chủ thể phát triển xã hội và bảo đảm quyền làm chủ xã hội của nhân dân được tôn trọng và bảo vệ; bảo đảm môi trường xã hội an toàn, lành mạnh; con người phát triển toàn diện, có cơ hội cống hiến và hưởng thụ thành quả của sự phát triển.

Đối với nước ta hiện nay là, bảo đảm thực hiện được các mục tiêu và yêu cầu phát triển xã hội bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Phát triển xã hội ở Việt Nam vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển

 

Giải quyết tốt vấn đề quản lý xã hội phát triển, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là quan điểm xuyên suốt của Đảng CSVN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm góp phần đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Trong thời gian vừa qua, những thành tựu phát triển kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết các vấn đề xã hội. Bên cạnh đó, đã phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc, nếu không giải quyết tốt thì những thành tựu về phát triển kinh tế có lúc dường như trở thành vô nghĩa.

Lần đầu tiên khái niệm quản lý phát triển xã hội được Đảng ta đưa vào văn kiện ĐH XII, thể hiện cách tiếp cận mới trong quản trị phát triển quốc gia và xuất phát từ 3 lý do:

1 - Yêu cầu phát triển triển xã hội bền vững, hài hòa;

2 - Từ nhu cầu khỏa lấp những khiếm khuyết của quản lý phát triển xã hội chưa đồng bộ với quản lý phát triển các lĩnh vực khác của đời sống;

3 - Xuất phát từ yêu cầu quản trị biến đổi xã hội, nhất là những vấn đề xã hội mới phát sinh.

Chính vì vậy, nghiên cứu lý luận, thực tiễn và tổ chức thực hiện tốt quản lý phát triển xã hội là yêu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay của cách mạng Việt Nam

 

NHẬN DIỆN NHỮNG CHIÊU TRÒ CHỐNG PHÁ BẦU CỬ QUỐC HỘI NƯỚC TA HIỆN NAY

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVvà đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 được tổ chức vào ngày 23/5/2021, đây là sự kiện chính trị to lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với cả nước, mọi cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ bầu cử của mình; chọn những người có đức, có tài xứng đáng đại diện cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Đây cũng là lúc những kẻ núp bóng “dân chủ, nhân quyền” không từ mọi thủ đoạn để suy diễn, xuyên tạc. Những chiêu trò đó cần nhận diện như sau:

Thứ nhất, họ ra sức xuyên tạc vị trí, vai trò, chức năng của Quốc hội. Mặt khác, phủ nhận mối quan hệ giữa Đảng với Quốc hội, đòi hỏi Quốc hội là tổ chức độc lập. Thậm chí, họ cho rằng Đảng hoạt động ngoài hiến pháp và pháp luật, yêu cầu phải xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp nước ta.

Thứ hai, hạ thấp uy tín, bôi nhọ danh dự, phủ nhận những đóng góp của các đại biểu Quốc hội, nhất là đại biểu Quốc hội giữ các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước.

Thứ ba, lợi dụng các phiên chất vấn, trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội để cố gắng làm “méo mó”, “biến dạng” các vấn đề thảo luận giữa các đại biểu, hướng lái, công kích dư luận theo cách diễn giải theo mưu đồ của họ. Tìm mọi cách khoét sâu vào những khó khăn để vu khống, với phương châm: “Nói không thành có, đổi trắng thay đen”, lấy hiện tượng để quy thành bản chất và quy kết đó là do những hạn chế hoạt động của Đảng, Nhà nước.

Thứ tư, sử dụng các trang mạng xã hội như: YouTube, Facebook, Blog… tác động tiêu cực đến nhận thức nhân dân; phát tán các bài viết, hình ảnh, video với thông tin sai lệch, trái chiều, không đúng sự thật. Đặc biệt họ cố tình cắt ghép, pha trộn, chỉnh sửa các bài tranh luận, phát biểu của các đại biểu Quốc hội để tuyên truyền chống phá các hoạt động của Đảng, Nhà nước.

Vì vậy, cần nhìn nhận các vấn đề trên như sau:

Trước hết, chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội được Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Quốc hội do nhân dân bầu ra, là cơ quan nhà nước cao nhất thực hiện quyền lực của nhân dân. Chỉ Quốc hội mới có quyền thể chế ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành Hiến pháp và pháp luật, thành các quy định chung mang tính chất bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi tầng lớp trong xã hội.

Ở nước ta:“tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”. Nhân dân là chủ thể mang quyền lực Nhà nước. Quốc hội chính là cơ quan Nhà nước cao nhất, thông qua đó nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước của mình. Quốc hội là nơi ý chí của nhân dân trở thành ý chí của Nhà nước thể hiện bằng các đạo luật mang tính bắt buộc chung.

Hai là, ĐCSVN là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và XH. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được quy định rõ trong Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam (Điều 4 của Hiến pháp năm 2013).

Thứ ba, Hiến pháp khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Điều này không hề làm mất đi vai trò của Quốc hội. Bởi quyền lực Nhà nước ở nước ta là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nhưng đó là sự lãnh đạo có nguyên tắc và theo quy định. 

“Các tổ chức của Đảng và đảng viên ĐCSVN hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013). Như vậy, mối quan hệ giữa Đảng và Quốc hội là mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ, hai chiều, nghĩa là Đảng lãnh đạo hoạt động của Quốc hội, nhưng sự lãnh đạo đó vẫn phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, Đảng không thể đứng trên, đứng ngoài Hiến pháp và pháp luật. 

Đảng lãnh đạo nhưng luôn tôn trọng và phát huy vai trò của Quốc hội, không áp đặt, không làm thay, mà định hướng nội dung và phương thức hoạt động của Quốc hội. Đảng lãnh đạo, chứ Đảng không điều hành công việc của Quốc hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng thông qua phát huy vai trò của tổ chức Đảng, đảng viên hoạt động trong bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương.

Thứ tư, thực tiễn đã chứng minh, từ khi ra đời đến nay, Quốc hội đã xây dựng và ban hành 5 bản Hiến pháp. Đặc biệt Hiến pháp năm 2013. Đây là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản của Nhà nước, quy định những vấn đề quan trọng nhất về quyền lực Nhà nước; chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, XH, QP, AN; cơ cấu tổ chức và cách thức hoạt động của bộ máy Nhà nước; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. 

Tại các kỳ họp Quốc hội, nhiều vấn đề quan trọng, cấp thiết được tranh luận, chất vấn và trả lời sôi nổi, có chất lượng. Sau phiên chất vấn, Quốc hội ra Nghị quyết, từ đó có cơ sở để theo dõi vấn đề đã được đặt ra và giám sát lời hứa hẹn của những người trả lời chất vấn. Việc Quốc hội tăng cường hoạt động chất vấn khiến cho những người giữ các chức danh mà Quốc hội bầu, phê chuẩn luôn phải nỗ lực thể hiện rõ trách nhiệm của mình, không thể lơ là.

Thứ năm, trong quá trình trình thực hiện trọng trách dân tộc giao phó, đại biểu không đáp ứng được sự kỳ vọng của nhân dân sẽ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và cử tri cả nước, có thể bị miễn nhiệm, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Quốc hội luôn tự đổi mới, tự chính đốn, làm cho vị thế, uy tín của Quốc hội ngày càng được nâng cao trong lòng nhân dân.

Tất cả những vấn đề trên đã khẳng định vị trí, vai trò của Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Mọi chiêu trò hạ thấp, bôi nhọ uy tín, danh dự của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội hiện nay không ngoài mục đích phá hoại sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay./.

 

ĐÔI LỜI GỬI VỀ ĐÀI CHÂU Á TỰ DO

 

​Ngày 28/01/2021 đài Châu Á Tự do (RFA) có đăng một số ý kiến xung quanh phát biểu của Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa về Quân đội Nhân dân Việt Nam thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trên Không gian mạng. Các ý kiến được đài RFA đưa ra là hoàn toàn bịa đặt và không phản ánh đúng nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trên không gian mạng mà quân đội đang thực hiện. Hay nói cách khác đây là những nội dung mang tính chất vu khống, chống phá cách mạng Việt Nam.

​Trước hết, xin lỗi nhà đài RFA, tôi không biết Nhà hoạt động Trần Bang là ai, song khi nhà đài dẫn lời của Trần Bang với nội dung: “Thế còn nếu ông Nguyễn Trọng Nghĩa nói Quân đội sẽ tham gia hoạt động mạnh trên không gian mạng để trấn áp các tiếng nói đối lập, thì đó là hại nhân dân, hại đất nước... chứ không phải tốt. Bởi vì chính các tiếng nói đối lập mới tốt cho chủ quyền đất nước, tốt cho lợi ích của người dân... Tuy không nhìn nhận việc kiểm soát các tiếng nói đối lập, nhưng Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa cũng cho biết, khi đỉnh điểm đại dịch Covid-19 xảy ra ở Việt Nam, quân đội đã kịp thời xử lý nghiêm các trường hợp bị cho là xuyên tạc thông tin về đại dịch” thì cả Trần Bang lẫn nhà đài đang bị lẫn (lú lẫn) bởi Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa không nói như vậy, xin trích ra đây nguyên văn lời nói của Thượng tướng: "Chúng ta có thế trận rộng rãi, vừa qua khi đại dịch Covid-19 xảy ra, cả hệ thống chính trị và người dân đã nhanh chóng vào cuộc, hành động rất quyết liệt để chống dịch. Việt Nam là điểm sáng phòng, chống dịch hiệu quả, dù khi đó kẻ xấu tìm cách xuyên tạc song chúng ta đã bác bỏ kịp thời, xử lý nghiêm các trường hợp đi ngược lại lợi ích của nhân dân". Trong câu trả lời đó Thượng tướng có đề cập đến từ nào là trấn áp các tiếng nói đối lập hay quân đội xử lý nghiêm các trường hợp bị cho là xuyên tạc thông tin về đại dịch đâu. Nếu các người cố tình xuyên tạc và áp đặt như vậy thì xin hỏi tại sao ở một nơi được tung hô là “dân chủ” như Mỹ, các nhà mạng đang khóa các tài khoản mạng xã hội của cựu Tổng thống Trum ngay khi ông đang tại vị, và giờ đây cả hạ viện và Thượng viện Mỹ đang xem xét luận tội nguyên Tổng thống Trum vì kích động người dân gây bạo loạn tại toàn nhà Quốc hội Mỹ đầu tháng 1 vừa qua. Bất cứ kẻ nào làm những điều đi ngược lại lợi ích của nhân dân, quốc gia, vùng lãnh thổ thì đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật nước sở tại. Việc một số kẻ do ghen ăn tức ở, tâm địa độc ác luôn tìm cách nói xấu, chống phá Việt Nam ở các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực thông tin, xuyên tạc tình hình Việt Nam thời gian qua là có thật. Mỗi công dân dù mang quốc tịch nào thì đầu phải chịu sự quy định của pháp luật nước sở tại, nên việc bác bỏ thông tin xuyên tạc, xử lý nghiêm các trường hợp đi ngược lại lợi ích của nhân dân là việc làm đúng đắn và cần thiết đối với mỗi quốc gia dân tộc. Cả Trần Bang và đài RFA cần thức tỉnh điều này.

  ​Dựa vào cơ sở nào để Trần Bang khẳng định: “...tiếng nói đối lập có lợi cho chủ quyền đất nước, tốt cho lợi ích người dân”? Làm gì có chuyện tiếng nói đối lập lại có lợi cho nước, cho dân. Tất cả mọi người đều có quyền tham gia phản biện xã hội, nhưng không được lợi dụng quyền này để làm những điều phản tặc, việc luận tội cựu Tổng thống Trum vẫn đang còn đó. Tại sao trong lời tuyên thệ nhận chức của Tổng thống Mỹ Binden ông lại kêu gọi “...đoàn kết nước Mỹ, đoàn kết người dân, đoàn kết quốc gia. Và tôi yêu cầu mỗi người dân Mỹ hãy tham gia cùng tôi trong quá trình này... Đoàn kết để đấu tranh với những kẻ thù chúng ta phải đối mặt, sự tức giận, sự bất bình và hận thù, chủ nghĩa cực đoan, tình trạng vô pháp luật... Với đoàn kết, chúng ta có thể làm được nhiều điều lớn lao và quan trọng...”. Tại sao các viện của Mỹ không xem xét luận tội Binden vì đã can thiệp vào quyền tự do dân chủ Mỹ như quyền được đạp phá, vác súng đi gây bạo loạn ở nước Mỹ nhỉ? Trần Bang đã nhầm hay cố tình muốn tạo ra sự đối lập với lợi ích của dân tộc, lợi ích của nhân dân. Đừng lợi dụng dân chủ để kêu gọi tạo dựng tiếng nói và lực lượng đối lập với lợi ích của quốc gia, dân tộc. Với tư cách là một công dân có trách nhiệm với Tổ quốc, tôi lên án mọi suy nghĩ và hành động tạo ra sự đối lập để chống phá lợi ích quốc gia dân tộc.

Thứ hai, xin hỏi ông Vũ Minh Trí, được giới thiệu nguyên Trung tá công tác ở Tổng cục 2 là ai? Sao ông hỏi những câu ngớ ngẩn vậy: “quân đội chỉ nên thực hiện trong phạm vi của mình, tức là bảo vệ an ninh cho mạng của quân đội, chứ không phải bảo vệ mạng cả nước”, thế kẻ thù nó sang cướp bóc, bắn giết nhân dân thì quân đội đứng nhìn hoặc lo bảo vệ vùng biên, còn để công an chiến đấu bảo vệ nhân dân à? Một suy nghĩ có thể nói là “điên rồ”. Khẳng định để ông Trí hiểu: Với chức năng và nhiệm vụ của mình, lực lượng vũ trang cùng với Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông... làm nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là tất yếu khách quan.

Còn mấy người Trần Đình Thu hay Đinh Văn Hải ở Sài Gòn thì xin làm rõ với nhà đài là hiện nay ở Việt Nam không có địa danh nào mang tên Sài Gòn, tên gọi Sài Gòn chỉ tồn tại trước tháng 7 năm 1976 và không gian mạng chưa được hình thành vào thời điểm ấy, nên mấy người tên Trần Đình Thu hay Đinh Văn Hải làm sao mà hiểu được không gian mạng là gì và bảo vệ tổ quốc trên không gian mạng là gì. Xin miễn đề cập đến phát biểu của 2 vị này.

Các ý kiến cho rằng việc thực hiện Luật An ninh mạng, là xâm phạm đến quyền tự do ngôn luận của công dân thì xin nêu rõ lại một lần nữa, mọi công dân đều phải tuân thủ quy định của hiến pháp và pháp luật. Nếu Võ Minh Đức hoặc bất kỳ ai bị xúc phạm trên mạng xã hội thì có thể báo cáo với cơ quan chức năng để được bảo vệ danh dự và nhân phẩm của mình theo quy định của pháp luật, còn những việc làm vi phạm pháp luật cả đời thực và trên không gian mạng đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Dẫn chứng về vấn đề này Trung tướng Hoàng Phước Thuận, nguyên Cục trưởng Cục ANM (nay là Cục ANM và phòng chống tội phạm công nghệ cao, Bộ Công an) cho biết Luật ANM không ảnh hưởng đến quyền tự do ngôn luận. Theo ông: “Khẳng định đầu tiên của tôi là không có gì cản trở ngôn luận, nếu chúng ta trình bày đúng quan điểm của chúng ta mà không vi phạm. 29 nội dung Bộ Luật Hình sự cấm, thì trên “không gian mạng” cũng phải cấm. Không thể nào đe dọa giết người trên mạng lại được tự do, trong khi đó đe dọa giết người ở đời thực thì bị bắt. Tương tự, không thể nào kích động biểu tình ngoài đời bị xử lý còn trên mạng thì không…”. Người dân được nói, được phản biện các vấn đề, miễn là không vi phạm pháp luật hình sự đã được quy chiếu.

Vì vậy, một lần nữa phải khẳng định: không cơ quan, tổ chức nào ngăn cấm việc phản biện xã hội ở cả đời thực và trên mạng xã hội, nhưng lợi dụng phản biện xã hội để lôi kéo, kích động chống phá lợi ích quốc gia, dân tộc thì phải bị trừng trị theo quy định của pháp luật. Đài RFA là tổ chức của ai, hoạt động vì mục đích gì thì chính RFA hiểu rõ hơn ai hết. Đừng lấy giá trị Mỹ để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác khi trong lòng nước Mỹ còn rối bời như canh hẹ bởi dịch bệnh, tranh giành quyền lực, bất ổn...

 

VẪN CHIÊU BÀI VU KHỐNG LỐ BỊCH!

-------------

Những ngày trước và trong Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021, cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương và quân dân ta đều chung sức, đồng lòng, nỗ lực tham gia phòng, chống dịch (PCD) Covid-19.

Nhiều đồng chí lãnh đạo họp xuyên đêm để chỉ đạo PCD; Bộ đội Biên phòng tăng cường lực lượng trực tại các tổ, chốt trên biên giới trong dịp Tết để ngăn chặn xuất, nhập cảnh trái phép phòng dịch bệnh xâm nhập vào nội địa; hàng vạn cán bộ, chiến sĩ LLVT và nhân viên y tế cùng nhiều lực lượng túc trực, phục vụ tại các khu cách ly, khu phong tỏa và phun khử trùng, điều trị cho người nhiễm Covid-19...

Thế nhưng một số trang mạng nước ngoài, một số cá nhân có tâm địa xấu xa lại rêu rao rằng “việc PCD Covid-19 lần này ở Việt Nam có vẻ chủ quan” hoặc “lần này "toang" rồi”; thậm chí chúng còn “mong có lãnh đạo nhiễm Covid-19 thì vui biết mấy”... Đây vẫn là những chiêu bài rất cũ kỹ của những “anh hùng bàn phím” có tư tưởng bất mãn, phản động nhằm đánh lạc hướng, lung lạc niềm tin của nhân dân đối với công tác PCD ở nước ta.

Trực tiếp tham gia cùng các lực lượng PCD của quân đội tại tỉnh Gia Lai và Bình Định, tôi thấy rõ quyết tâm cao độ từ chính quyền địa phương đến người dân. Tính từ khi có ca nhiễm đầu tiên ở Gia Lai đến nay, với sự chỉ đạo quyết liệt từ Trung ương, sự hỗ trợ từ các cơ quan chuyên môn, sự sâu sát của cán bộ các cấp và ủng hộ của nhân dân, dịch Covid-19 trên địa bàn đã cơ bản được khống chế, hàng nghìn trường hợp F1, F2, F3... được truy vết, đưa đi cách ly tập trung hoặc vận động cách ly tại nhà. Hằng ngày, các cơ quan truyền thông, báo chí kịp thời thông tin những ca nhiễm mới để người dân được biết, phòng tránh...

 

Tại những địa phương khác trên cả nước có người nhiễm Covid-19, dù trong dịp Tết nhưng cán bộ các cấp vẫn duy trì họp PCD thường xuyên và trực tiếp đến những khu vực có người nhiễm, nghi nhiễm để chỉ đạo khoanh vùng, phun dung dịch khử khuẩn. Hàng nghìn y sĩ, bác sĩ, cán bộ, chiến sĩ LLVT đã gác lại việc riêng, chấp nhận khó khăn, rủi ro xung phong vào tâm dịch làm nhiệm vụ... Những việc làm cụ thể đó là minh chứng sinh động, đập tan những luận điệu phản động vu khống rằng “Việt Nam chỉ lo đại hội đảng, không lo PCD”, “không kiểm soát được tình hình dịch bệnh”... nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, xóa nhòa thành quả của cả hệ thống chính trị cùng tinh thần đoàn kết của dân tộc ta.

Tết cổ truyền vừa qua, người dân nước ta vẫn vui xuân, đón Tết trong trạng thái bình thường mới; vẫn đến chợ hoa, đi siêu thị mua sắm, tham quan vãn cảnh... mà không lo sợ dịch Covid-19 khi thực hiện đầy đủ "5K" (khẩu trang-khử khuẩn-không tụ tập đông người-khai báo y tế-khoảng cách). Thực tế, nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế uy tín vẫn đánh giá Việt Nam là một trong những nước và vùng lãnh thổ xử lý đại dịch Covid-19 hiệu quả nhất.

Những luận điệu phản động, cố tình xuyên tạc công tác PCD Covid-19 ở nước ta thật là lố bịch!