Chủ Nhật, 28 tháng 3, 2021

NHỮNG ANH HÙNG TRẺ TUỔI

 1. Lý Tự Trọng (1914-1931), tên thật Lê Hữu Trọng, quê gốc ở Hà Tĩnh nhưng sinh ra ở Thái Lan và từng học tập ở Trung Quốc. Năm 1929, anh về nước hoạt động với nhiệm vụ thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và làm liên lạc cho xứ uỷ Nam Kỳ với Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 9/2/1931, trong buổi kỷ niệm một năm cuộc bạo động Yên Bái, Lý Tự Trọng bắn chết tên thanh tra mật thám Lơ Gơrang rồi bị bắt. Tại phiên tòa xét xử, anh tuyên bố: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác”. Ngày 21/11 cùng năm, trước khi lên máy chém, chàng trai 17 tuổi đã hô tên Việt Nam và hát bài Quốc tế ca, giữ vững tinh thần cách mạng đến phút cuối đời.

2. Nguyễn Văn Cừ (1912-1941), quê Bắc Ninh, tham gia cách mạng từ năm 15 tuổi.

Ông từng bị Pháp bắt, đày đi Côn Đảo. Năm 1936, sau khi được thả tự do, Nguyễn Văn Cừ tiếp tục hoạt động bí mật ở Hà Nội. Ông được bầu làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương khi mới 26 tuổi. Tháng 6/1940, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án tử hình và bị xử tử vào ngày 28/8/1941. Hy sinh khi còn rất trẻ, nhưng Nguyễn Văn Cừ đã có những đóng góp quan trọng vào cách mạng Việt Nam. Tác phẩm Tự chỉ trích của ông góp phần lớn trong công tác sửa đổi lối làm việc, khơi dậy ý thức tự tu dưỡng và tự rèn luyện của thanh niên lúc bấy giờ.

3. Nguyễn Văn Trỗi (1940-1964), quê Quảng Nam, tham gia Biệt động thành khi gia đình chuyển vào Sài Gòn. Ngày 2/5/1964, anh thay đồng đội nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý ám sát phái đoàn quân sự chính trị cao cấp của Mỹ. Việc bại lộ, anh bị bắt ngày 9/5/1964. Tòa án quân sự chính quyền Việt Nam Cộng hòa kết án tử hình, ra lệnh xử bắn Nguyễn Văn Trỗi vào ngày 15/10/1964 tại khám Chí Hòa. Trong những phút cuối đời, anh không đồng ý bịt mắt, xưng tội và hô vang khẩu hiệu quyết chiến.

4. Võ Thị Sáu (1933-1952) sinh ra trong gia đình nghèo ở tỉnh Bà Rịa.

Trải qua nhiều thử thách, năm 14 tuổi, chị được kết nạp vào Đội Công an xung phong quận Đất Đỏ. Trong quá trình hoạt động, chị Sáu luồn sâu vào vùng địch tạm chiếm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên lạc, nắm tình hình, cung cấp và báo cáo kịp thời cho tổ chức nhiều tin tức quan trọng.

Tháng 2/1950, Võ Thị Sáu dùng lựu đạn tấn cônghai tên ác ôn thất bại và bị bắt. Chị bị đày ra Côn Đảo chờ ngày xử tử. Tại đây, chị Sáu được Chi bộ nhà tù Côn Đảo kết nạp chính thức vào Đảng Lao động Việt Nam. Ngày 23/1/1952, trên pháp trường, Võ Thị Sáu vẫn giữ vững khí thế hiên ngang, nhìn thẳng vào họng súng kẻ thù, hô to: “Đả đảo thực dân Pháp, Việt Nam muôn năm, Hồ Chí Minh muôn năm!”.

5. Nguyễn Viết Xuân (1933-1964) là con gia đình nghèo ở Vĩnh Phúc.

Năm 1952, anh nhập ngũ, trở thành chiến sĩ trinh sát, từng giữ chức vụ tiểu đội trưởng trinh sát, trung đội trưởng pháo cao xạ trước khi làm chính trị viên đại đội. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Nguyễn Viết Xuân anh dũng chiến đấu, cùng đồng đội giành chiến thắng. Năm 1964, Mỹ ném bom miền Bắc.

Bất chấp nguy hiểm, Nguyễn Viết Xuân lao ra khỏi công sự, đứng bên khẩu đội 3 đĩnh đạc hô lớn: “Nhằm thẳng quân thù, bắn!”.

Bị thương nặng, thiếu úy trẻ thản nhiên bảo y tá cắt chân, chỉ định người thay thế, bình tĩnh phân công nhiệm vụ trước khi hy sinh.

6. Trần Văn Ơn (1931-1950) là con của một công chức nghèo ở tỉnh Bến Tre.

Năm 16 tuổi, anh tham gia phong trào học sinh yêu nước, là thành viên chủ chốt trong phong trào học sinh yêu nước của trường Pétrus Ký. Ngày 9/1/1950, lính Pháp nổ súng vào cuộc biểu tình của học sinh. Anh dũng cảm che chở cho các bạn chạy thoát và anh dũng hy sinh. Hàng chục nghìn người dân Sài Gòn đã xuống đường dự đám tang Trần Văn Ơn. Sau này, ngày 9/1 được lấy làm ngày truyền thống học sinh, sinh viên Việt Nam.

7. Vừ A Dính (1934-1949) sinh ra trong gia đình người Mông ở tỉnh Lai Châu.

Anh giác ngộ cách mạng từ rất sớm, trở thành đội viên liên lạc của đội vũ trang huyện Tuần Giáo khi mới 13 tuổi.Trong một lần làm nhiệm vụ, Vừ A Dính bị giặc bắt. Đòn roi tra tấn dã man không thể khiến chiến sĩ nhỏ tuổi khuất phục. Ngày 15/6/1949, quân Pháp bắn chết Vừ A Dính.

8. Cù Chính Lan (1930-1951) sinh ra ở Nghệ An.

Năm 1946, anh gia nhập Vệ quốc đoàn. Ngày 13/12/1951, trong trận tấn công cứ điểm Giang Mở, tiểu đội trưởng Cù Chính Lan dũng cảm đuổi theo, thả lựu đạn đã rút chốt vào xe tăng địch.Ngày 29/12/1951, trong trận đánh đồn Cô Tô, anh bị thương nặng nhưng vẫn phá mở hàng rào thép gai, dốc hết tinh thần chiến đấu và hy sinh ngay khi trận đánh kết thúc. Năm đó, anh vừa tròn 20 tuổi, là tiểu đội trưởng bộ binh, Đại đoàn 304, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

9. Đặng Thùy Trâm (1942-1970) sinh ra trong gia đình trí thức ở Hà Nội.

Năm 1966, sau khi tốt nghiệp loại ưu, chị xung phong vào chiến trường miền Nam. Sau 3 tháng hành quân, tháng 3/1967, Thùy Trâm đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ. Ngày 27/9/1968, chị được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 22/6/1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, Đặng Thùy Trâm bị địch phục kích và hy sinh khi chưa đầy 28 tuổi. Cuộc đời chị qua những dòng nhật ký là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ phấn đấu noi theo.

10. 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc là các nữ thanh niên xung phong tuổi từ 17 đến 24.

Các cô thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552, có nhiệm vụ canh giữ giao điểm, phá bom và sửa đường thông xe khi bị bom đánh phá trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh đoạn qua xã Đồng Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Ngày 24/7/1968, 10 cô làm nhiệm vụ như mọi ngày.

16h30, trận bom thứ 15 trong ngày dội xuống Đồng Lộc, một quả bom rơi xuống ngay sát miệng hầm, nơi 10 cô gái trẻ đang tránh bom. Tất cả đã chết khi tuổi đời còn rất trẻ, phần lớn trong số họ chưa lập gia đình.

QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ TÔN GIÁO

 


Mác - Ăngghen chỉ rõ: “sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực vừa là sự phản kháng chống lại sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[1].

 Theo quan điểm của Mác thì chính con người đã sinh ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sinh ra con người. Tôn giáo giống như “thuốc phiện” - bởi cả hai tác dụng của chất này: gây nghiện và giảm đau. Tôn giáo dễ làm đầu óc nhân dân mụ mị, mê muội song nó cũng là “chất giảm đau” xoa dịu nỗi thống khổ của nhân dân.

Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” Ăngghen khẳng định: tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con người-những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó các lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế.

Đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật - lịch sử, có thể hiểu tôn giáo là trên phương diện nghĩa rộng và nghĩa hẹp

- Theo nghĩa rộng: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và súng bái những lực lượng siêu tự nhiên"

 Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội; sinh ra từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.

Tôn giáo phản ánh xã hội một cách hư ảo, sùng bái lực lượng siêu tự nhiên.

Các hiện tượng sấm, chớp, mây mưa được thần thánh hóa.

Đạo Phật cho rằng vạn vật biến đổi theo chu trình bất tận:sinh-trụ-dị-diệt, bất tận không có điểm khởi đầu không có điểm kết thúc, giống như một vòng tròn luân hồi. Do  vậy chết không phải là hết mà là một sự tái sinh, đầu thai ở một kiếp khác theo vòng luân hồi.

Công giáo cho rằng con người là do Chúa tạo ra. Con người có hai phần, thể xác và linh hồn. Thể xác là tạo vật như mọi tạo vật khác, linh hồn là phần sinh khí do Thiên chúa giáo truyền vào. Con người khi chết đi về với cát bụi, linh hồn tồn tại vĩnh viễn.

- Theo nghĩa hẹp: Tôn giáo là hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý thức về lực lượng siêu nhiên tổ chức, hoạt động tôn thờ lực lượng siêu nhiên.

Tôn giáo là một thực thể xã hội, một thiết chế xã hội- một lực lượng xã hội có tổ chức. Nó có hệ thống giáo lý, giáo luật, cơ sở thờ tự, giáo dân, tín đồ....

Chú ý phân biệt:

Tín ngưỡng: Có nghĩa là sự ngưỡng mộ, niềm tìn đến mức sùng bái vào một hay một số đấng siêu nhiên, lực lượng siêu tự nhiên nào đó và những sức mạnh có thể thu nhận được từ các đấng siêu nhiên được tin tưởng, ngưỡng mộ đến mức sùng tín.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ các vị anh hùng có công với dân tộc, cộng đồng…

Tín ngưỡng gồm có: tín ngưỡng dân tộc (truyền thống) là loại hình tín ngưỡng của từng dân tộc hoặc quốc gia dân tộc, hoặc vùng miền, địa phương; và tín ngưỡng tôn giáo là một loại hình tín ngưỡng phát triển đến trình độ cao, thể hiện ở chỗ có hệ thống giáo lý, hệ thống tổ chức, lễ nghi và hệ thống cơ sở vật chất phục vụ các sinh hoạt tôn giáo.

Mê tín dị đoan: Mê tín là niềm tin mê muội, viển vông quá mức, không dựa trên một cơ sở khoa học nào. Dị đoan là sự suy đoán một cách nhảm nhí, tùy tiện, sai lệch những điều xảy ra trong cuộc sống. Mê tín dị đoan là chỉ những hành động sai lệch quá mức, gây tổn hại cho cá nhân và cộng đồng, được tạo ra bởi niềm tin mù quáng, nhảm nhí, mê muội… Đây là một biến tướng của tín ngưỡng.

Các hiện tượng: bói toán, lên đồng, gọi hồn, chữa bệnh bằng gọi thầy cúng, trừ tà ma…

Như vậy, tín ngưỡng tôn giáo và mê tín dị đoan đều là niềm tin vào những lực lượng siêu nhiên, là vấn đề thuộc về đời sống tâm linh của con người. Nhưng đây là các hiện tượng tâm linh có nội dung, hình thức, đặc điểm và vai trò xã hội khác nhau, cần phải được phân biệt để có chính sách, biện pháp phù hợp



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, tt, t.1, Nxb CTQG, H.2004, tr. 570

 

Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở Việt Nam hiện nay

 


Thứ nhất, nhận thức, tổ chức thực hiện đường lối, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ở một số vùng dân tộc thiểu số chưa đây đủ, chưa hiệu quả.  Nhận thức của các cấp, các ngành và của nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân ở một số vùng dân tộc thiểu số về đường lối, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước còn chưa sâu sắc, chưa toàn điện. Một số chính sách dân tộc chưa được cụ thể hóa và chưa. được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế tại các địa phương. Một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân tại một số địa bàn vẫn còn tư tưởng ý lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động khơi đậy và phát huy tối đa các nguồn lực của địa phương trong tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.

Thứ hai, vẫn còn sự chồng chéo trong hệ thống chính sách, pháp luật về dân tộc.

Thực tế cho thấy, do chưa có sự phân định rõ trong thiết kế các chương trình, dự án giữa các bộ, ngành nên hệ thống chính sách, pháp luật về dân tộc được nhiều bộ, ngành đề xuất ban hành và nhiều cơ quan cùng thực hiện nhưng thiếu sự phối hợp. Vì vậy, trong một văn bản quyết định ban hành thường quy định nhiều chính sách; một nội dung chính sách có khi lại được quy định trong các quyết định khác nhau, có chính sách ban hành theo đối tượng, có chính sách ban hành theo lĩnh vực, có chính sách ban hành theo vùng địa lý... Điều này dẫn tới sự chồng chéo trong hệ thống chính sách, pháp luật về dân tộc ở Việt Nam, làm hạn chế hiệu quả của hệ thống chính sách, pháp luật và quản lý nhà nước về công tác dân tộc.

Thứ ba, các định mức chính sách chưa sát hợp với từng vùng, từng dân tộc thiểu số.

Mặc dù các định mức chính sách cho các vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã được xây đựng, làm căn cứ xác định mức đầu tư của từng địa phương, từng bước công khai, minh bạch nguồn vốn đầu tư cho từng địa phương, tuy nhiên, nhiều định mức chưa hợp lý còn gây nên thắc mắc giữa các địa phương. Hiện nay, trong các chính sách về vấn đề dân tộc đều có quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn nhưng các quy định này lại không đầy đủ về nội dung, nhiều tiêu chuẩn chưa bao quát được tất cả các lĩnh vực, không sát thực tế, tính khả thi không cao, địa phương khó thực hiện; có quy định phù hợp với địa phương này nhưng lại không phù hợp với địa phương khác. Vì vậy, nhiều địa phương đã tự quy định một số chế độ riêng, ngoài quy định của Trung ương (tập trung trong các lĩnh vực giáo dục, y tế và cán bộ xã, chủ yếu là: chế độ để thu hút cán bộ công tác ở vùng khó khăn, chế độ thu hút và khuyến khích đội ngũ trí thức, cán bộ khoa học; chế độ đối với cán bộ xã, phường ngoài diện Chính phủ quy định) và mức chi cũng khác nhau tùy thuộc khả năng thu ngân sách của địa phương. Điều đó đáp ứng những đòi hỏi của địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Nhưng về mặt pháp lý, quy định như vậy là không đúng thẩm quyền và dẫn đến tình trạng không thống nhất giữa các địa phương trong cả nước, gây phức tạp trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc, làm ảnh hưởng đến vấn đề công bằng xã hội. Thậm chí còn làm phức tạp quan hệ giữa các dân tộc do chưa tính đến đầy đủ những vấn đề đặc thù của dân tộc và quan hệ dân tộc của từng vùng (cùng một địa bàn, cùng điều kiện, hoàn cảnh tương tự nhưng có dân tộc được hưởng chính sách, có dân tộc lại không được hưởng chính sách).

Thứ tư, tổ chức bộ máy nhà nước quản lý về công tác dân tộc chưa thống nhất từ Trung ương đến địa phương.

Theo Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14-1-2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về công tác đân tộc ở ba cấp (Trung ương - tỉnh - huyện), nghĩa là ở địa phương có hai cấp (tỉnh và huyện). Ở nhiều vùng dân tộc thiểu số và miền núi, địa bàn một số xã rất rộng, giao thông không thuận lợi nhưng theo quy định cũng chưa có cán bộ chuyên trách làm công tác quản lý về công tác dân tộc. Vì vậy, việc nắm bắt thông tin về công tác đân tộc của các cấp quản lý ở địa phương nhiều khi không kịp thời, dẫn đến công tác báo cáo thông tin tới các bộ, ngành có liên quan còn nhiều hạn chế.

Thứ năm, công tác đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc (nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số) chưa được quan tâm đúng mức.

Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc (nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số) có vai trò vô cùng quan trọng trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Hiện nay, mới chỉ có Học viện Dân tộc mở các khóa đào tạo ngắn hạn cho cán bộ đã làm công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc, vì vậy số lượng cán bộ được đào tạo chuyên sâu còn ít.

Bên cạnh đó, ở một số địa phương, việc bố trí, sử dụng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc còn nhiều vấn đề cần quan tâm. Mức độ bố trí, sử dụng đạt hiệu quả thấp, nhiều người trình độ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu công việc nhưng chưa được bố trí công việc phù hợp, song nhiều người không có trình độ chuyên môn vẻ dân tộc lại được bố trí làm quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Ở nhiều địa phương, vùng dân tộc thiểu số và miền núi có địa bàn rất rộng, đi lại khó khăn, có nhiều tộc người sinh sống nhưng chỉ tiêu biên chế cho quản lý nhà nước về công tác dân tộc cũng chỉ như các địa bàn khác (lại chưa bao giờ có chỉ tiêu cụ thể cho từng tộc người), nên cán bộ nhiều nơi chưa đi sâu, đi sát cơ sở. Một số địa phương chưa coi trọng đúng mức việc quản lý, theo dõi, kiểm tra cán bộ sau khi đã bế trí công việc, do đó, thiếu thông tin về chất lượng công tác của cán bộ, thiếu căn cứ để đề bạt hoặc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, sắp xếp lại cán bộ.

Thứ sáu, công tác thanh tra, kiểm tra, giảm sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về vấn đề dân tộc vẫn còn nhiều hạn chẻ.

Hiện nay, ở cấp Trung ương, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về vấn đề dân tộc chủ yếu do Thanh tra Ủy ban Dân tộc thực hiện. Tuy nhiên, số lượng cán bộ làm công tác này còn ít, một số cán bộ lại chưa được đào tạo chính quy chuyên ngành thanh tra, hơn nữa, kinh phí hàng năm bố trí cho công tác thanh tra cũng rất hạn chế, trong khi nhiệm vụ nhiều, địa bàn thực hiện lại trải rộng hầu hết các tỉnh trong cả nước. Ngoài việc thanh tra tại các địa phương, Thanh tra Ủy ban Dân tộc còn tổ chức thanh tra thực hiện một số chính sách do các bộ, ngành trực tiếp quản lý. Chính những lý đo này đã làm hạn chế hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về vấn đề dân tộc của Thanh tra Ủy ban Dân tộc.

Ở cấp địa phương, chỉ có thanh tra viên trong cơ cấu tổ chức của Ban Dân tộc và cũng do hạn chế về số lượng công chức, chuyên môn, nghiệp vụ, kinh phí nên số lượng các cuộc thanh tra, kết quả thanh tra chưa phục vụ được nhiều cho công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở địa phương. Hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về vấn đề dân tộc được thực hiện thông qua hai hình thức: dân chủ trực tiếp (người dân/cộng đồng) và dân chủ đại điện (Quốc hội và _ Hội đồng nhân dân các cấp). Đối với hoạt động giám sát của Quốc hội, đã được Hội đồng Dân tộc của Quốc hội triển khai khá mạnh và có hiệu quả. Đối với Hội đồng nhân dân các cấp, hoạt động giám sát hầu như chưa tác động đến công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc của các cơ quan Trung ương. Đối với công tác giám sát của người dân/cộng đồng cũng còn nhiều hạn chế, một mặt đo công tác tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện chính sách dân tộc chưa tốt nên người dân/cộng đồng không biết/không hiểu được đầy đủ chính sách nên khó/không có điều kiện để giám sát. Mặt khác, do phương thức tô chức xây dựng chính sách hiện nay vẫn chưa phát huy được vai trò của người dân/cộng đồng trong việc trực tiếp tham gia vào việc để xuất và xây dựng chính sách, đo vậy người dân/cộng đồng cũng không có điều kiện và hiểu biết cần thiết để giám sát chính sách.

Bên cạnh đó, ở một số địa bàn vùng dân tộc thiểu số, các tổ chức xã hội (các hội nghề nghiệp, các hợp tác xã), cộng đồng dân cư (làng, xã) tổ chức thiếu chặt chẽ, hoạt động còn mang tính hình thức. Do đó, không có khả năng đáp ứng và hoàn thành các yêu cầu về hoạt động phát triển ở các cộng đồng. Điều này dẫn tới việc kiểm tra, giám sát xã hội đối với các chương trình, dự án phát triển trên địa bàn cũng khó khăn hơn.

Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, đa tín ngưỡng, tôn giáo.

 


Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, đa tín ngưỡng, tôn giáo. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đồng bào các dân tộc, tôn giáo luôn luôn đoàn kết, chung tay đấu tranh chống “thiên tai, địch hoạ”, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo và công tác dân tộc, công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, phát huy truyền thống và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một đảm bảo quan trọng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống Việt Nam với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự.

Vì vậy chúng ta phải thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, coi nhiệm vụ thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo vừa cơ bản lâu dài, nhưng cũng rất cấp bách hiện nay. Đồng thời chúng ta phải tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái lợi dụng dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền chống phá cách mạng nước ta.

Nâng cao cảnh giác với âm mưu chống phá bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp

 Sau mưu đồ chống phá Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XV và Hội đồng nhân dân (HĐND) nhiệm kỳ 2021 - 2026. Chính vì vậy, cán bộ, chiến sĩ cần nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động; góp phần tích cực vào thành công ngày hội của toàn dân.

Tuần này, Quốc hội miễn nhiệm Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội; bầu Chủ tịch Quốc hội mới

 

Hôm nay, ngày 29-3, Quốc hội khóa XIV bước sang tuần làm việc thứ 2 tại Kỳ họp thứ 11. Theo chương trình dự kiến, tuần này, Quốc hội sẽ tiến hành miễn nhiệm Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, các Phó chủ tịch Quốc hội; bầu Chủ tịch Quốc hội và các Phó chủ tịch Quốc hội mới.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và triển khai thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

 

Thực hiện Chỉ thị số 01- CT/TW của Bộ Chính trị, khóa XIII “Về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, trong hai ngày 27 và 28-3-2021, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng theo hình thức trực tuyến toàn quốc từ điểm cầu Trung ương tại Phòng họp Diên Hồng (Nhà Quốc Hội) kết nối với 67 điểm cầu các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và đường truyền mở rộng đến hơn 7.300 điểm cầu cơ sở.

Mưu đồ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

 

Trong lúc Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng đang gấp rút tiến hành những bước cần thiết theo quy định của pháp luật để chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, thì trên mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc, sai trái hòng làm suy giảm niềm tin của cử tri và nhân dân, phá hoại cuộc bầu cử.

 

THANH NIÊN YÊU NƯỚC GỬI THƯ CHO TỔ CHỨC KHỦNG BỐ VIỆT TÂN

Đừng dạy thanh niên Việt Nam về tinh thần yêu nước

Tình cờ đọc được trên mạng bức tâm thư của một Thanh niên Việt nam hiện đang lao động và học tập ở Đất nước Mặt Trời Mọc gửi tới tổ chức khủng bố Việt Tân.

Bài viết rất chân thành, chứa đựng tình cảm sâu sắc, biết ơn của hầu hết Thanh niên Việt nam dành cho thế hệ Cha Ông đi trước đã hy sinh xương máu để thống nhất non sông. Bài viết cũng bày tỏ sự tin tưởng tuyệt đối vào Nhà nước CHXHCN Việt nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

 Xin trân trọng giới thiệu bức thư của thanh niên yêu nước này đến quý độc giả:

Gửi tổ chức khủng bố Việt Tân!

Tôi xin có vài lời gửi đến các người!

*Thứ nhất, các người hãy thôi nói về tự do ngôn luận.

Thật là kì quặc khi các người – những kẻ cầm súng bắn gục những nhà báo Việt Nam chân chính ở Mỹ, lại mở mồm rao giảng về tự do ngôn luận. Phải chăng da mặt các người dày hơn da trâu?
Tự do ngôn luận là khái niệm có tính tương đối. Xã hội loài người luôn có nhiều người xấu hơn là người tốt, nếu để tự do ngôn luận tuyệt đối, ai muốn nói gì thì nói, chắc chắn những dư luận xấu sẽ tràn ngập khắp mọi nơi và làm băng hoại đạo đức loài người. Đó là lý do nước nào cũng có những cơ quan kiểm duyệt thông tin.

*Thứ hai, các người hãy thôi dạy người Việt Nam về tình yêu nước.

Thật là xảo trá khi các người – những kẻ đã từng khom lưng cúi đầu làm tôi mọi, làm tay sai cho Pháp, cho Mỹ để bức hại đồng bào, phản bội lại khát vọng độc lập, tự do, thống nhất của nhân dân, giờ đây lại rao giảng về tình yêu nước?

Thế thì khác gì Lê Chiêu Thống dạy Quang Trung về lòng trung thành, khác gì Trần Ích Tắc dạy Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn về tình thần dân tộc?

Các người không có tư cách dạy nhân dân Việt Nam về tình yêu nước. Các người càng không có tư cách dạy Việt Cộng về tình yêu nước.

Hãy tìm Bảy Nhu – người cai ngục ở nhà tù Phú Quốc để biết Việt Cộng yêu nước như thế nào. Có rất nhiều người yêu nước không phải là Việt Cộng: có thể kể đến như Nguyễn An Ninh, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, sinh viên Nguyễn Thái Bình… Nhưng Việt Cộng là những người gan góc nhất, kiên cường nhất, bất khuất nhất trước sự dã man, tàn bạo của kẻ thù. Lịch sử nhà tù Phú Quốc và Côn Đảo đã chứng minh.
Chỉ có những kẻ mù lương tri, điếc lẽ phải và ung thư dối trá, mới phủ nhận điều đó.

 *Thứ ba, các người hãy thôi dạy người Việt Nam về cách chiến đấu bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông.

Thật là nực cười khi những kẻ tụt quần đu càng, bán Hoàng Sa cho Trung quốc lại lên tiếng chỉ trích những người đã từng đánh bại thực dân Pháp, quét sạch Phát xít Nhật và tống cổ Đế quốc Mỹ về nước, tiêu diệt bè lũ Po lpot – Ieng Sary ở biên giới Tây nam (tay sai của Mỹ – Trung) cũng như hoàn thành nhiệm vụ Quốc tế cao cả là giải phóng Đất nước Cam-pu-chia, tiếp đến là thần tốc đập tan Tập đoàn bành trướng Bắc Kinh ở biên giới phía Bắc, rằng phải làm thế nào để bảo vệ chủ quyền lãnh hải.

Xin lỗi, kinh nghiệm đu càng hay nghệ thuật đu càng sao cho đu không rớt, càng không gãy, khi đu tè không ướt quần, các người cứ dạy lại cho con cháu các người học tập và làm theo. Còn chúng tôi thì không cần đâu nhé.

*Thứ tư, các người hãy thôi nói về nhân quyền.

Những người đã từng đập vỡ cổ chai thuỷ tinh, đâm xoáy cổ chai thuỷ tinh vào cửa mình của thiếu nữ Nguyễn Thị Mai, sẽ là người mang đến nhân quyền cho phụ nữ Việt Nam? (Mời đọc Bài ca hi vọng, NXB Tổng hợp Tp.HCM).

Những người đã từng cưa sống 6 lần đôi chân của thanh niên Nguyễn Văn Thương, sẽ là người mang đến nhân quyền cho thanh niên Việt Nam? (Mời đọc Người bị CIA cưa chân 6 lần). Nếu không tin hãy tìm hiểu từ báo chí nước ngoài nữa nhé!

Cũng không nên dựa hơi vào Bố Mỹ của các thím để đòi hỏi làm người như các thím đang ngày đêm khản cổ trên các trang mạng xã hội, các thím hãy nhìn vào Đất nước Sirya để hiểu về NHÂN QUYỀN CỦA NGƯỜI MỸ.

 Việt Tân à!

Cái được gọi là CÁC NHÀ HOẠT ĐỘNG DÂN CHỦ (CUỘI) trong nước à!

Tôi khuyên các bạn nên dừng lại những trò lố bịch, kệch cỡm và vô liêm sỉ.

Chúng tôi, những người Việt Nam yêu nước, những người Việt Cộng yêu Tổ quốc thương giống nòi tự biết phải làm gì để thay đổi những cái chưa tốt, phát huy những cái tốt ở Quê hương chúng tôi. Chúng tôi không có cái khoái cảm đặc biệt khi làm tay sai cho ngoại bang như các bạn, nên các bạn đừng phiền công cuộc xây dựng, đổi mới của Đất nước chúng tôi nữa nhé.

Nếu các bạn dừng lại, sám hối với Tổ Quốc, với Nhân dân, chúng tôi vẫn xem các bạn là đồng bào. Nếu các bạn tiếp tục ngoan cố, thì chúng tôi đành xem các bạn là giặc vậy.

Thanh niên yêu nước


TIN TƯỞNG NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG SẼ TRỞ THÀNH HIỆN THỰC

 

Thực hiện chỉ thị số 01 của Bộ Chính trị và hướng dẫn số 03 của Ban Tuyên Giáo Trung ương, Trong 2 ngày (27 và 28/3/2021) Ban Bí thư đã tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đây là dịp để toàn Đảng, toàn Quân và toàn dân ta thể hiện ý chí đồng thuận cao để đưa Nghị quyết vào cuộc sống và trở thành hiện thực.

Với tinh thần gương mẫu, trách nhiệm cao của mọi đảng viên từ Trung ương đến địa phương, có cả các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, trong 2 ngày với số lượng gần 1 triệu Đảng viên chiếm tỷ lệ khoảng 1/5 số Đảng viên trong cả nước đã thể hiện trách nhiệm chính trị, với ý chí, quyết tâm cao quán triệt và học tập nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Hội nghị lần này đã tổ chức chặt chẽ, có chất lượng cao khắc phục được tình trạng ngại học, không nghiêm túc, không hiệu quả. Cùng với sự tuyên truyền sâu rộng của thông tấn, báo chí, đội ngũ báo cáo viên và tổ chức triển khai học tập, quán triệt các đợt tiếp theo cho số Đảng viên còn lại với nội dung, hình thức phù hợp. Chúng ta tin tưởng rằng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng sẽ sớm đưa vào cuộc sống, tạo sự thống nhất và hành động cao để Nghị quyết nhanh chóng và trở thành hiện thực.

Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2021

Lính mục chống đối Nguyễn Hồng Lĩnh kêu gọi giáo dân không làm căn cước công dân




Trong khi toàn quốc và các Bộ ngành, địa phương đều phối hợp với lực lượng Công an để tiến hành làm căn cước công dân mới nhằm tiến tới xây dựng hệ thống dữ liệu dân cư đồng bộ, hiện đại đáp ứng xây dựng Chính phủ điện tử trong tình hình mới... thì linh mục Nguyễn Hồng Lĩnh quản nhiệm Đông Sơn, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh lại rao giảng kêu gọi giáo dân không nên đi làm CCCD với lý do việc làm sẽ lộ thông tin cá nhân và bị theo dõi...


Điều đáng nói ở đây linh mục Lĩnh là người đứng đầu giáo xứ, được đào tạo qua các trường lớp, thường xuyên sử dụng CMND, hộ chiếu để giao dịch cá nhân và đi nước ngoài thường xuyên nhưng lại đi cản trở việc thực hiện chủ trương của Quốc hội, Nhà nước và Bộ Công an.


Linh mục Lĩnh cho rằng việc làm CCCD bị lộ thông tin cá nhân, bị theo dõi nhưng trên thực tế các nước đã làm từ rất lâu việc sử dụng mã định danh cá nhân và đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu và giúp công tác quản lý hành chính xã hội được tốt hơn, giảm các thủ tục hành chính không cần thiết.


Mặt khác linh mục Lĩnh lại chia sẻ bài viết từ linh mục Nguyễn Văn Hùng - bí thư chi bộ Việt Tân khủng bố phụ trách tại Đài Loan.


Trước đó từ năm 2016-2017 linh mục Nguyễn Hồng Lĩnh cũng đã cùng các linh mục chống đối gặp gỡ số Việt Tân tại Đài Loan, Mỹ nhằm kêu gọi chống phá Nhà nước Việt Nam.


Đây là những hành động không thể chấp nhận đối với tư cách một linh mục, lợi dụng tình hình để kích động chống đối, gây rối ANTT.


Theo chỉ đạo của Quốc hội thì việc làm căn cước công dân Bộ Công an cần phải hoàn thiện trước tháng 7/2021. Do vậy việc các cơ quan chức năng, địa phương thu thập và yêu cầu người dân làm CCCD mới là đúng chủ trương và đúng quy định pháp luật, không có việc làm CCCD để theo dõi người dân.


Bộ Công an cũng đang trình dự Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thời gian tới để tiếp tục bảo vệ các quyền cơ bản của công dân.


Ph.

TRUYỀN THỐNG VẺ VANG - KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG

      Ngày 05/9/1945, ba ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong bức thư gửi các em học sinh, nhân ngày khai trường đầu tiên dưới chế độ mới, Bác Hồ đã nói về khát vọng xây dựng đất nước hùng cường. Bác đã viết: “Dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

     Trong thời đại ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ kính yêu, sự tổ chức của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, thanh niên Việt Nam đã đứng lên cùng với toàn thể dân tộc làm nên một giai đoạn lịch sử hào hùng với cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, lần lượt đánh bại đế quốc Pháp và Mỹ, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.

     Khi Tổ quốc gọi tên mình, thế hệ trẻ Việt Nam là lực lượng đi đầu xung phong ra trận với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Nhiều phong trào đã trở thành những ngọn đuốc soi đường cho những thế hệ thanh niên Việt Nam xung kích, tình nguyện, xả thân vì độc lập tự do của Tổ quốc. Tinh thần xung kích, tình nguyện ấy tiếp tục được trao truyền, tiếp nối trong công cuộc tái thiết, xây dựng đất nước, đổi mới và hội nhập.

     Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, vai trò xung kích, tinh thần tình nguyện, sáng tạo của thanh niên tiếp tục được phát huy mạnh mẽ. Trong quá trình đó, phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ dưới sự dẫn dắt và lãnh đạo Trung ương Đoàn đã trở thành một đặc trưng, là phương thức hữu hiệu để Đoàn thực hiện chức năng “trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên”, mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên, thu hút thanh niên rèn luyện, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Thứ Sáu, 26 tháng 3, 2021

PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TRONG THANH NIÊN

 Sáng 27-12 tại Đồn Biên phòng Cửa khẩu Ma Lù Thàng (thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Lai Châu), đã diễn ra lễ khởi công xây dựng Nhà bia tưởng niệm các Anh hùng - Liệt sĩ thuộc các lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc, đã chiến đấu anh dũng và hy sinh trong cuộc kháng chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, tháng 2-1979.

Thổi bùng lên những ý chí khát vọng, quyết tâm mới




Sáng nay, 27/3, Ban Bí thư triệu tập Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Dưới hình thức truyến, đảng viên trên mọi miền Tổ quốc có cơ hội kết nối trực tiếp với Phòng họp Diên Hồng, nằm trong trung tâm Tòa nhà Quốc hội, số 1 đường Độc Lập, quận Ba Đình, Thủ đô Hà Nội.

HOÀN THÀNH XUẤT SẮC TRỌNG TRÁCH VÌ LỢI ÍCH CỦA NHÂN DÂN

 Sáng 26-3, tiếp tục chương trình làm việc, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự thảo Báo cáo công tác nhiệm kì khóa XIV của Quốc hội; các báo cáo công tác nhiệm kì khóa XIV của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC VÀ PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; đặc biệt là từ khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đến nay, các thế lực thù địch luôn coi Việt Nam là một trọng điểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Có thể thấy, mục tiêu của chúng là chống phá, ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, nhằm lập nên một chính quyền đồng minh hoặc tay sai ở Việt Nam. Để đạt mục tiêu này, các thế lực thù địch đã coi mặt trận tư tưởng, chính trị là trọng tâm và chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là mũi đột phá. Vì thế, sự lan truyền các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận Hồ Chí Minh, bôi nhọ, nhằm "hạ bệ" Người dường như chưa bao giờ dừng lại, hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản thay thế/tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Những quan điểm, đánh giá về Hồ Chí Minh được khẳng định rõ trong các văn kiện chính trị và cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh luôn in đậm trong khối óc và trái tim của nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên thế giới. “Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, Triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên” bình dị và gần gũi”. Mỗi khi nói về Hồ Chí Minh, nhớ về Hồ Chí Minh, mỗi người đều tìm thấy từ cảm nhận của Épghênhi Côbêlép trong bài viết "Hồ Chí Minh - Nhà yêu nước, nhà cách mạng và một con người" những suy nghĩ giống mình, của mình, đó là: “Hồ Chí Minh là một trong những vị lãnh tụ cách mạng, mà khi Người còn sống tên tuổi đã được hàng triệu người biết đến, và đã trở thành huyền thoại. Mọi người khâm phục Người, đã nói về Người và mỗi người đều nhận thấy nét đặc trưng nổi bật trong hình ảnh của Người. Inđira Ganđi (Ấn Độ) đã gọi Hồ Chí Minh “là một nhà lãnh đạo mềm dẻo mà vĩ đại và kiên định”. Rotnây Arixmenđi (Urugoay) coi “Hồ Chí Minh là biểu tượng cho sự uyên bác cộng sản chủ nghĩa ở châu Á”. Còn ở Liên Xô, người ta ngưỡng mộ gọi Hồ Chí Minh là “hiệp sĩ cách mạng”, và những từ này thể hiện sự khâm phục đối với ý chí sắt đá, lòng dũng cảm bất khuất của người chiến sĩ và đồng thời tính giản dị và nhân đạo của Người".

Các thế lực thù địch, phản động dù có dùng âm mưu, thủ đoạn và chiêu trò gì đi chăng nữa cũng không thể phủ nhận và xuyên tạc được giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh và hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng dân tộc. Nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh phản bác những giọng điệu lạc lõng hòng bôi xấu lãnh tụ Hồ Chí Minh, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hải Đăng ST

 

“LÒNG DÂN" - ĐIỂM TỰA VỮNG CHẮC

ĐỂ XÂY DỰNG, BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Xuyên suốt cuộc đời cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến việc quy tụ lòng dân, nhất là nhân dân lao động. Bởi, theo Người “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân... Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”. Lòng dân được củng cố, “thế người tăng cao” là điểm tựa vững chắc để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước cường thịnh, hạnh phúc.

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, việc xây dựng và phát huy “lòng dân” luôn được ông cha ta đặt lên vị trí hàng đầu và có nhiều tư tưởng, giải pháp bồi dưỡng sức dân, tiêu biểu như “khoan thư sức dân”, “chúng chí thành thành”, “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”... Đó là cơ sở, tiền đề tạo “rễ sâu, gốc bền” để quốc gia, dân tộc trường tồn. Thực tiễn lịch sử dân tộc cũng đã minh chứng, ở những triều đại mà khi đất nước thanh bình không quan tâm, chăm lo bồi dưỡng sức dân, tất dẫn đến “sức nước suy yếu, thế nước lung lay, vận nước nguy ngập”, thậm chí “thế người cũng suy”, dẫn đến không bảo vệ được nền độc lập dân tộc trước sự xâm lăng của ngoại bang.

Phát huy truyền thống dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, nhất là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết: “Cách mạng là việc chung của cả dân chúng”, “nước lấy dân làm gốc”, “dân là chủ”, “lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”, “có dân là có tất cả”...; nhưng nhân dân cần phải được tổ chức chặt chẽ, đặt dưới sự lãnh đạo của một Đảng với nền tảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Người nhắc nhở: “Muôn người như một. Quân tốt dân tốt, muôn sự đều nên. Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm và chú trọng yếu tố lòng dân. Bởi được lòng dân là có tất cả, mất lòng dân là mất hết. Người luôn yêu cầu: Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh dù khó khăn đến đâu cũng phải hết sức chăm lo, bồi dưỡng sức dân, luôn luôn sẵn sàng phục vụ nhân dân, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Đây là chân lý, bí quyết thành công của cách mạng Vỉệt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện những chỉ dạy quý báu của Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị cần thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, thường xuyên chăm lo, bồi dưỡng nâng cao dân trí, nhất là với thế hệ trẻ. Đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của quốc gia, dân tộc, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị phải vào cuộc một cách quyết liệt.

Trước đây, với “chính sách ngu dân”, bọn thực dân, đế quốc làm cho dân ta không có đủ tri thức nhận biết thời cuộc, truyền thống hào hùng của dân tộc, tiếp cận văn hóa thế giới... hòng biến dân ta chấp nhận cuộc đời nô lệ, triệt tiêu đấu tranh để dễ bề cai trị. Ý thức sâu sắc điều đó, ngay sau cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến nhiệm vụ “diệt giặc dốt” nhằm nâng cao dân trí, tạo nguồn lực, động lực kiến quốc. Theo Người, “muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”.

Thực hiện những chỉ dạy của Người, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đối với nền giáo dục; xác định đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục là một trong ba khâu đột phá. Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người; đồng thời, chỉ đạo các cấp, các ngành liên quan khẩn trương xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ, tạo động lực then chốt xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Cùng với đó, chúng ta cần tiếp tục thực hiện đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong giáo dục - đào tạo, chú trọng một số vấn đề, như đạo đức, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ này phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện nội dung, phương pháp bồi dưỡng, giáo dục phù hợp với từng đối tượng, chú trọng thể hệ trẻ. Trước hết, cần tập trung đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, xây dựng xã hội học tập, từng bước hình thành triết lý giáo dục Việt Nam, trên cơ sở, nền tảng triết lý giáo dục Hồ Chí Minh. Nội dung giáo dục cần tập trung vào tri thức khoa học hiện đại, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống nghìn năm văn hiến, lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, thành quả cách mạng, sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật,... Trong giáo dục cần kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, xã hội, lấy nhà trường làm trung tâm, nhằm không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, tri thức khoa học hiện đại, lòng yêu nước... của các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, góp phần xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Hai là, xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam. “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” - “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Để phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Đảng ta chủ động xây dựng Đề cương văn hóa Việt Nam (năm 1943), thế hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng về văn hóa. Có văn hóa soi đường và sự chèo lái vĩ đại của Đảng, nhân dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ từ chiến tranh cách mạng đến đổi mới, xây dựng đất nước và gần đây trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, Việt Nam đã viết lên “Bản hùng ca thời đại”. Những thắng lợi đó bắt nguồn từ sức mạnh văn hóa Việt Nam - văn hóa chính trị vì con người mà Đảng, Bác Hồ tìm tòi, vận dụng từ kho báu truyền thống dân tộc và thẩm thấu từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Để xây dựng, phát huy giá trị văn hóa, phát triển con người Việt Nam, cấp ủy, chính quyền các cấp, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội cần nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa trong đổi mới và phát triển bền vững. Trước hết, Đảng, Nhà nước cần sớm nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển văn hóa trong tình hình mới. Phát triển văn hóa, xây dựng con người phải được chú trọng tương xứng, hài hòa và đặt ngang hàng với phát triển kinh tế - xã hội. Cấp ủy, chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở cần phải đổi mới tư duy lãnh đạo văn hóa, nghệ thuật, xây dựng con người Việt Nam dân chủ, cởi mở, chủ động, sáng tạo, đáp ứng vai trò chủ thể văn hóa; quản lý văn hóa phải bằng Hiến pháp, pháp luật, thông qua các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; tăng cường kiểm tra, giám sát, tổng kết, đánh giá thực tiễn. Các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học đều phải hướng vào xây dựng con người Việt Nam - chủ thể văn hóa phát triển toàn diện, có đạo đức, trí tuệ, sức khỏe, nhân văn, nhân ái; ý thức lao động tự giác, sáng tạo. Đề cao vai trò giáo dục, cảm hóa của văn học, nghệ thuật, hướng con người tới chân - thiện - mỹ. Đẩy mạnh các chương trình giáo dục nghệ thuật truyền thống làm cho văn hóa Việt Nam thẩm thấu sâu vào tâm hồn và tình cảm của các thế hệ “con Lạc cháu Hồng”, tạo bản lĩnh và khả năng miễn dịch trước mọi sự tấn công, hội nhập và lan tỏa ra ngoài biên giới quốc gia.

Bên cạnh đó, cần nâng cao vai trò của gia đình, nhà trường, xã hội trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển con người Việt Nam đầy đủ phẩm chất: đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ cũng như thể lực, tầm vóc. Chú trọng phát triển ngành công nghiệp văn hóa theo hướng chuyên nghiệp, chuyên môn hóa cao để khai thác và phát huy triệt để những tiềm năng, thế mạnh của vãn hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và ổn định chính trị của đất nước, theo đúng quy luật phát triển của công nghiệp văn hóa thế giới, đáp ứng nhu cầu tiếp nhận, thụ hưởng không những của nhân dân trong nước, hướng tới vươn ra thị trường ngoài nước. Để các giá trị văn hóa dân tộc đi vào đời sống chính trị, tinh thần của nhân dân, cần giải quyết hợp lý, hài hòa, bền vững giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hóa tiêu biểu cả vật thể và phi vật thể, nhất là các di sản được xếp hạng bảo đảm trường tồn phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế du lịch, nâng cao đời sống nhân dân.

Ba là, chú trọng phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội ngày càng tốt hơn. Suốt cả cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có “một ham muốn tột bậc”: “đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Thực hiện mong ước của Người, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện đậm nét qua các kỳ Đại hội của Đảng, nhất là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045,... góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế cả ở vĩ mô và vi mô, cả kinh tế Nhà nước và tư nhân. Vừa qua, thể hiện rõ nét của thành công trong thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế gắn với bảo đảm xã hội, là việc Việt Nam không những đứng vững trước đại dịch COVID-19 và một loạt biến cố thiên tai dài ngày, như bão chồng bão, lũ chồng lũ ở miền Trung, mà còn là một trong số ít các nền kinh tế có tăng trưởng dương. Đường lối phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an sinh xã hội tiếp tục được phát triển với yêu cầu cao hơn trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; thể hiện rõ qua những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2021 - 2025) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030. Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đó, cần tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động; xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật; triển khai nghiêm các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đặc biệt là các đột phá chiến lược, bảo đảm phát huy lợi thế và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực nâng cao đời sống nhân dân.

Cùng với việc không ngừng hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, bảo đảm nhân dân tiếp cận nhanh các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu trong nước, quốc tế, cần thực hiện tốt chính sách đối với người có công; hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội chú trọng vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống của nhân dân. Các chính sách bảo đảm an sinh xã hội đều lấy “sức khỏe và tính mạng nhân dân” làm trọng - mục tiêu tối thượng của chế độ chính trị ở nước ta. Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân là sứ mệnh cao cả của Đảng; mục tiêu và bản chất của Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Để hoàn thành sứ mệnh cao cả này, cấp ủy, chính quyền các cấp cần ghi nhớ thật sâu sắc lời Bác dạy: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Bốn là, khơi dậy tinh thần yêu nước và khát vọng hòa bình, thịnh vượng, hạnh phúc. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam bắt nguồn từ tinh thần bất khuất, bản lĩnh, trí tuệ, khí phách, nền văn hiến lâu đời và chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.... Thấy rõ giá trị to lớn của tinh thần ấy, trong mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta chủ động nghiên cứu nắm chắc tình hình, đòi hỏi của thực tiễn, phát động các phong trào thi đua yêu nước nhằm động viên, cổ vũ cá nhân, tập thể hăng hái tham gia. Trong mỗi phong trào đều biểu dương, khen thưởng kịp thời cá nhân, tập thể có thành tích cao, tạo sự lan tỏa sâu rộng toàn xã hội. Vì thế, phong trào thi đua yêu nước ngày càng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, tạo động lực quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước. Nhờ đó, nhiều cá nhân, tập thể ở các lĩnh vực, mọi vùng, miền của đất nước ngày, đêm nỗ lực, hăng say lao động sản xuất xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt trong phòng, chống đại dịch COVID-19 và khắc phục hậu quả thiên tai, hỗ trợ đồng bào, cứu hộ, cứu nạn, ổn định đời sống nhân dân... xuất hiện nhiều tấm gương điển hình tiên tiến, tiêu biểu trên mọi miền Tổ quốc - ngời sáng tình đồng bào - đồng chí - đồng đội, chất liệu hội tụ cộng đồng các dân tộc và sức sống trường tồn của dân tộc Việt Nam.

Thời gian tới, để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, Đảng, Nhà nước cần khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Theo đó, cần nghiên cứu phát động một số phong trào để khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới, đột phá mới cho sự phát triển nhanh, bền vững, như: 1- Thi đua phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; 2- Thi đua xây dựng và phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; 3- Thi đua nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vãn hóa” và phong trào ở các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại và xây dựng Đảng, Nhà nước. Nội dung các phong trào thi đua cần hướng vào việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, gắn phong trào thi đua với việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, trong đó tập trung xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tích cực đổi mới phong trào thi đua của các tổ chức, đoàn thể, ngành, nghề, địa phương nhằm huy động đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia; tạo hiệu ứng tích cực xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước.

Năm là, tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Thấm nhuần lời Bác dạy,
“Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”, vì thế, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước đều xuất phát vì nhân dân, do nhân dân, phục vụ nhân dân, vì mục tiêu tối thượng là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Muốn hiện thực hóa, cần phải xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xác định rõ vai trò, chức năng của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, bảo vệ cuộc sống bình an của nhân dân. Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững. Chú trọng xây dựng nền hành chính: dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, quốc gia, dân tộc.

Chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng luôn xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Mỗi đảng viên, tổ chức đảng phải thường xuyên tự phê bình và phê bình; tự soi, tự sửa, gột rửa những lỗi lầm, sai phạm, ham muốn tầm thường... xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đầy đủ phẩm chất, năng lực phục vụ nhân dân, thật sự “gần dân, tin dân, trọng dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”. Các cơ quan, tổ chức nhà nước phải tinh, gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả; thực hiện tốt phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hường”; bảo vệ cán bộ “dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”,... /.

Youtuber Lê Chí Thành và sự "nhân danh" trên mạng xã hội

 Thời gian qua, Lê Chí Thành (nguyên đại uý công an, công tác tại trại giam Thủ Đức, cục Cảnh sát Quản lý trại giam Bộ Công an) bị kỷ luật. Đúng sai chưa rõ nhưng quá trình khiếu nại Thành đã kèm luôn tố cáo với những chứng cứ không rõ ràng và quy kết.  

Bắt khẩn cấp đối tượng dùng mạng xã hội xâm phạm an ninh Quốc gia

 Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Nghệ An cho biết đã thi hành lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Duy Hướng (SN 1987), trú tại huyện Yên Thành (Nghệ An) để điều tra về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, theo Điều 117 Bộ luật Hình sự.

Xử lý fanpage “Cảnh Sát Hình Sự” giả mạo kênh thông tin của Bộ Công an

 Ngày 25-3, Trung tâm Xử lý tin giả Việt Nam - VAFC (Cục Phát thanh - Truyền hình và Thông tin điện tử) cho biết, qua rà soát phát hiện trang fanpage CẢNH SÁT HÌNH SỰ đưa thông tin là trang thuộc quản lý của Bộ Công an Việt Nam; trên trang đăng tải nhiều thông tin về đời sống, trật tự xã hội, dịch bệnh Covid-19 chưa qua kiểm chứng.