Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

Cần hiểu đúng luận điểm “đấu tranh chống tôn giáo” và “làm cho tôn giáo đi đến chỗ tiêu vong thực sự” của Chủ nghĩa Mác - Lênin

Khi bàn về tôn giáo, chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhận được sự quan tâm rất lớn của nhiều học giả từ các lập trường tư tưởng, ý thức hệ, lĩnh vực khác nhau trên toàn thế giới. Bên cạnh số học giả ủng hộ, đồng tình và làm rõ thêm các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo thì cũng có khá nhiều học giả, đảng phái, lực lượng phủ nhận một phần hoặc toàn bộ quan điểm về tôn giáo của chủ nghĩa Mác - Lênin. Một trong số những luận điểm phủ nhận, phê phán cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chủ trương tuyên chiến với tôn giáo và thủ tiêu tôn giáo. Quan điểm “tôn giáo tiêu vong” đã lạc hậu, lỗi thời và sai lầm ngay trong chính thời đại của C.Mác, V.I.Lênin. Bài viết dưới đây sẽ phân tích, làm rõ luận điểm “đấu tranh chống tôn giáo” và “tôn giáo tiêu vong” để hiểu đúng chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, chống lại các luận điệu xuyên tạc, chia rẽ người cộng sản và người tôn giáo.

Cần hiểu đúng luận điểm “đấu tranh chống tôn giáo” và “làm cho tôn giáo đi đến chỗ tiêu vong thực sự” của Chủ nghĩa Mác - Lênin

Từ khóa: chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo tiêu vong, chống tôn giáo.

1. Đấu tranh chống tôn giáo không phải là để xóa bỏ tôn giáo, thiết lập một xã hội không có chỗ cho tôn giáo mà là để giải phóng triệt để quần chúng nhân dân lao động

Trong các tác phẩm kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin như: Tình cảnh nước Anh; Tomat Caclailơ, quá khứ và hiện tại; Chiến tranh nông dân ở Đức; Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức; Chống Đuy Rinh; B.Bauơ và bản chất đạo Kitô giáo nguyên thủy; Gia đình thần thánh; Hệ tư tưởng Đức; Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo; Về thái độ của Đảng Công nhân đối với tôn giáo; Thái độ của các giai cấp và của các đảng phái đối với tôn giáo và giáo hội; Những nhà triết học duy tâm; Các đảng phái trong triết học và các nhà triết học không đầu não; Giới tu hành và chính trị; Bệnh ấu trĩ tả khuynh và tính tiểu tư sản,... Các nhà kinh điển đã đặt vấn đề, xét cho đến cùng mọi lý luận hay phong trào cách mạng đều phải đi đến đích cuối cùng là giải phóng triệt để nhân dân lao động khỏi ách áp bức về giai cấp, về kinh tế, về chính trị và cả ách áp bức về tinh thần mà tôn giáo là một nguyên nhân. Vì sao?

Trong lịch sử, tôn giáo đã từng “xóa sổ” nền triết học, chính trị, luật học cổ đại để bắt đầu một nền văn minh Kitô giáo độc quyền trí dục và một nền giáo dục cũng mang một tính chất thuần túy thần học, “Trong tay bọn giáo sĩ, chính trị và luật học, cũng như tất cả những khoa học khác, vẫn chỉ là những ngành của khoa thần học, và những nguyên lý thống trị trong thần học cũng được áp dụng cho chính trị và luật học. Những giáo lý của giáo hội đồng thời cũng là những định lý chính trị, và những đoạn kinh thánh cũng có hiệu lực trước mọi tòa án như là luật pháp,... Và sự thống trị tối cao ấy của thần học trong tất cả các lĩnh vực hoạt động tinh thần đồng thời cũng là hậu quả tất yếu của cái vị trí mà giáo hội đã chiếm với tính cách là sự tổng hợp chung nhất và sự phê chuẩn chung nhất của chế độ phong kiến hiện tồn”(1). Thời của C.Mác, nhà nước Đức, đứng đầu là vua Phổ đã lợi dụng triệt để tôn giáo để chống lại những xu hướng chính trị tiến bộ, lấy tôn giáo làm liều thuốc ru ngủ người dân trong ảo tưởng và nhẫn nhục về ách áp bức để họ quên đi đấu tranh, quên đi những điều họ có quyền đòi hỏi để được sống một cuộc đời xứng đáng là một con người. Ở nước Nga, đạo Chính thống giữ vị trí quốc giáo, nhà nước Nga Sa hoàng đã sử dụng tôn giáo để củng cố quyền uy. Các đảng phái ở Nga khi đó đang cố gắng tuyên truyền cho tôn giáo, nâng nhu cầu tôn giáo của người dân lên để kéo quần chúng ra khỏi cuộc đấu tranh cách mạng, chú ý về phía tôn giáo mà quên đi các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội lúc bấy giờ. Chứng kiến ở châu Âu, lãnh tụ tôn giáo đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính trị của giai cấp tư sản thống trị nhân dân lao động bằng sự thể chế hóa tôn giáo. Một thời gian dài, giáo hội thực thi quyền “thống trị tất cả chỉ thuộc về Thiên chúa” để phán xử những ai không cùng quan điểm với mình, kể cả vương triều và vương quốc chính trị cũng có thể bị giáo hội xử “tuyệt thống”. Các nhà nước Tây Âu nằm dưới sự thống trị và chịu sự chi phối hoàn toàn bởi Giáo hội La Mã, hoàng đế phải nhận sắc phong của giáo hoàng mới có chính danh để cai quản, thống trị ở vùng đất của mình. Và do vậy, hoàng đế phải ủng hộ giáo hoàng không chỉ bằng niềm tin mà còn bằng cả sức mạnh kinh tế và quân sự. Nhờ đó, giáo hoàng được coi là “vua của các vị vua” ở Tây Âu, giáo hoàng không chỉ có quyền lực thần quyền mà có cả thế quyền. Các nhà lập pháp trong giáo hội đã đặt đức tin của mình lên trên tất thảy để đưa ra những luật lệ thách thức các quyền dân sự khác, nhiều quyết định của giáo hội đã ảnh hưởng quá mức tới thiết chế nhà nước, phản đối các quyết định chính trị mà nhà nước buộc phải chấp hành.

Với hiện trạng đó, các nhà kinh điển mác xít đã ví tôn giáo như thứ “gông cùm” trói buộc tinh thần con người trong một vòng hào quang thần thánh khiến họ đang bị gông cùm vẫn tự cảm thấy mình được tự do, đang bất hạnh nhưng vẫn cảm thấy mình hạnh phúc, đang bất bình đẳng vẫn cảm thấy mình được bình đẳng, nhưng đó chỉ là thứ hạnh phúc (hay thứ tự do) trên “thiên đường tưởng tượng” mà thôi. Sự bình đẳng (dù chỉ là trước Chúa) cũng chẳng tồn tại bao lâu, khi giáo hội xác lập sự đối lập giữa giáo sĩ và tín đồ thì tư tưởng bình đẳng phôi thai ban đầu của tôn giáo cũng chấm dứt. Nói chung, tôn giáo đã xoa dịu, an ủi con người bằng cách tạo ra một “vương quốc thiên đàng toàn mỹ” mà ở đó “người tín đồ luôn luôn gặp lại - dưới một dạng cải biến - những cái đã làm cho cuộc sống của họ ở trên cõi trần này được ngọt ngào hơn”(2).

Như vậy, chủ nghĩa duy linh là kẻ thù của chủ nghĩa nhân đạo cần phải bóc trần và phê phán. Như C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Nhất thiết không để cho người Đức có một phút tự dối mình và khuất phục. Cần phải làm cho ách áp bức hiện thực càng nặng nề hơn nữa bằng cách gắn vào nó cái ý thức về sự áp bức, cần phải làm cho sự nhục nhã càng nhục nhã hơn nữa, bằng cách công bố sự nhục nhã ấy... Cần phải bắt nhân dân khiếp sợ bản thân mình để tiêm dũng khí vào cho họ”(3).

Trong tình hình như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặt vấn đề phải đấu tranh “chống tôn giáo”, nhưng chống tôn giáo ở đây phải được hiểu là:

(i) Chống cái xã hội trần tục, chống cái nhà nước đã sản sinh ra tôn giáo và lợi dụng tôn giáo, biến nó thành công cụ tinh thần để nô dịch quần chúng trong vòng ngu muội và cam chịu, chứ “không phải lao vào những cuộc phiêu lưu đấu tranh chính trị chống tôn giáo”(4).

Chống tôn giáo là để giải phóng quần chúng khỏi tình trạng bị nô dịch, bị giam cầm bởi những tư liệu sản xuất do chính họ làm ra nhưng lại đối lập với họ như một sức mạnh xa lạ không sao khắc phục nổi. Chống tôn giáo là để giải phóng con người khỏi sự sợ hãi bởi “bóng ma” tôn giáo bằng cách tạo nên một cảnh “cực lạc” ngay trên trái đất này để con người tự giải phóng mình khỏi sự trông chờ vào cuộc sống cực lạc ở thế giới bên kia. “Nhiệm vụ của lịch sử sau khi cái chân lý của thế giới bên kia đã mất đi - là xác lập chân lý của thế giới bên này. Sau khi cái hình tượng thần thánh của sự tự tha hóa của con người đã bị bóc trần thì nhiệm vụ cấp thiết của cái triết học đang phục vụ lịch sử là bóc trần sự tự tha hóa trong những hình tượng không thần thánh của nó. Như vậy, phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phán thần học biến thành phê phán chính trị”(5). Xóa bỏ tôn giáo là xóa bỏ những tình cảnh đang cần có “ảo tưởng”, là yêu cầu từ bỏ những ảo tưởng, vứt bỏ khỏi xiềng xích các bông hoa giả trang điểm cho chúng, giơ tay hái lấy bông hoa thật. Việc phê phán tôn giáo là hình thức manh nha của sự phê phán cuộc sống khổ ải, để con người suy nghĩ, hành động, xây dựng tính hiện thực của mình.

(ii) Chống tôn giáo không phải là tấn công trực diện vào tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo bằng sắc lệnh, để thiết lập một xã hội không có chỗ cho tôn giáo và cấm tất cả mọi sinh hoạt tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội vẫn tôn trọng quyền tự do theo tôn giáo và không theo tôn giáo của quần chúng. “Bất kỳ ai cũng được hoàn toàn tự do theo tôn giáo mình thích hoặc không thừa nhận một tôn giáo nào”(6). Người theo hay không theo tôn giáo đều bình đẳng về quyền lợi, “Mọi sự phân biệt quyền lợi giữa những công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau đều hoàn toàn không thể dung thứ được”(7). Thậm chí, “Trong các văn kiện chính thức tuyệt đối phải vứt bỏ thậm chí mọi sự nhắc đến tôn giáo nào đó của công dân”(8).

Ph.Ăngghen đã từng phê phán “Ông Đuyrinh không thể chờ đợi cho đến khi tôn giáo chết cái chết tự nhiên của nó. Ông ta làm một cách căn bản hơn. Ông ta tỏ ra là Bi-xmác hơn cả Bi-xmác; ông ta ra những đạo luật tháng Năm còn nghiêm ngặt hơn, không chỉ chống đạo Thiên chúa, mà còn chống cả mọi tôn giáo nói chung nữa; ông ta tung bọn hiến binh tương lai của ông ta ra truy kích tôn giáo, và do đó, ông ta giúp cho tôn giáo đạt tới chỗ thực hiện tinh thần tử vì đạo và kéo dài thêm sự tồn tại của nó”(9).

Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng không cổ vũ cho quan điểm thủ tiêu tôn giáo bằng cách chế giễu hay sỉ vả nó. Không chống tôn giáo một cách nông cạn, thô thiển, V.I.Lênin coi sai lầm lớn nhất và tệ hại nhất của người mác xít là lầm tưởng rằng chỉ cần giáo dục chủ nghĩa Mác là có thể làm cho quần chúng bừng tỉnh khỏi giấc mê tôn giáo. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng không đồng tình với quan điểm xã hội xã hội chủ nghĩa phải phế bỏ mọi trang bị của sự mê hoặc tinh thần hay phế bỏ tất cả những yếu tố của sự thờ cúng và cũng không nên cấm đoán tôn giáo “thành lập những nhà trường riêng của họ bằng những phương tiện riêng của họ và dạy ở đó những điều”(10) mà họ cho là chân lý dù “chân lý” đó có thể là sự nhận thức sai lầm hay hư ảo.

 (iii) Chống tôn giáo là chống “đám mây mù tôn giáo” để bảo vệ thế giới quan duy vật khoa học, “giai cấp vô sản hiện đại đứng về phía chủ nghĩa xã hội, là chủ nghĩa đưa khoa học vào cuộc đấu tranh chống các đám mây mù tôn giáo và làm cho công nhân khỏi tin vào một cuộc đời ở thế giới bên kia, bằng cách đoàn kết họ lại vì cuộc đấu tranh thực sự nhằm giành lấy một cuộc đời tốt đẹp hơn trên trần thế”(11). Chống tôn giáo là chống cách tôn giáo dùng bạo lực và lừa mị, ép buộc người dân theo tôn giáo, V.I.Lênin nhấn mạnh “Những người dân chủ - xã hội không tán thành những quan điểm của Cơ đốc giáo... Nhưng trong khi tuyên bố như thế, tôi thấy có nhiệm vụ phải tức khắc nói rõ ràng, minh bạch rằng, Đảng dân chủ - xã hội đấu tranh đòi được hoàn toàn tự do tín ngưỡng và chúng tôi rất kính trọng mọi sự tin tưởng thành thật trong lĩnh vực tín ngưỡng, chừng nào mà người ta không dùng bạo lực và lừa bịp để truyền bá lòng tin tưởng đó”(12).

(iv) Chống tôn giáo cũng là vì tôn giáo trở thành công cụ ngụy trang tư tưởng cho sự thống trị giai cấp, trở thành vật sở hữu độc quyền của các giai cấp thống trị. Trừ các tôn giáo trong thời kỳ cộng sản nguyên thủy, những tôn giáo về sau đều ít nhiều bị các lực lượng chính trị lợi dụng, làm méo mó, biến dạng để phục vụ cho ý đồ, mục đích riêng. Nói chung, một khi tôn giáo đã biến thành tôn giáo nhà nước, thì nó “quên” đi những tín điều “ngây thơ” của nó lúc sơ khai với một tinh thần dân chủ và cách mạng. V.I.Lênin lưu ý “Tất cả những giai cấp áp bức đều cần đến hai chức năng xã hội, để giữ gìn nền thống trị của mình: chức năng đao phủ và chức năng giáo sĩ. Đao phủ phải dẹp tan sự phản kháng và sự căm phẫn của những người bị áp bức. Giáo sĩ phải an ủi những người bị áp bức, vạch ra cho họ thấy triển vọng”(13). Nên, người cộng sản phải vạch trần sự liên kết giữa tổ chức tôn giáo với những thế lực phản động, dùng tôn giáo để bảo vệ chế độ bóc lột và đầu độc giai cấp công nhân, giam hãm người dân trong vòng ngu muội, khổ ải mà vẫn tưởng mình được sung sướng, hạnh phúc.

Tóm lại, luận điểm “đấu tranh chống tôn giáo” của chủ nghĩa Mác - Lênin là hết sức rõ ràng, nhưng những người chỉ trích chủ nghĩa Mác - Lênin đã lấy sự đối lập ý thức hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tôn giáo để xuyên tạc luận điểm của các ông, để quy kết chủ nghĩa Mác - Lênin có cái nhìn cực đoan về tôn giáo, chỉ thấy những mặt hạn chế và tiêu cực của tôn giáo mà không thấy những điểm tích cực của nó, chủ trương truy kích tôn giáo. Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo như vậy là một định kiến chính trị nông cạn, một thái độ ấu trĩ tả khuynh, một khuynh hướng tư tưởng “không đầu não”.

2. Tôn giáo chỉ tiêu vong thực sự khi xóa bỏ được hết các nền tảng quan hệ xã hội, các thể chế xã hội, các hiện tượng tạo ra sự “tha hóa” cần đến tôn giáo của con người

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặt vấn đề, dù tôn giáo đã và đang tồn tại trong xã hội, dù “tiếng đàn” tôn giáo đã rung lên, thức tỉnh hàng triệu trái tim, bắt đế chế La Mã phục tùng hay phần lớn nhân loại đang tôn thờ ngưỡng mộ thì nó vẫn là một phạm trù lịch sử, là một hiện tượng xã hội, ra đời trên những cơ sở trần tục nhất định thì cũng sẽ mất đi khi những cơ sở đó không còn nữa. Chủ nghĩa Mác - Lênin dự báo về thời điểm tôn giáo sẽ tiêu vong khi:

(i) Quan hệ giữa người - người, người - giới tự nhiên hết sức rõ ràng, hợp lý. “Nói chung, sự phản ánh có tính chất tôn giáo của thế giới thực tại chỉ có thể mất đi khi nào mà những quan hệ trong đời sống thực tiễn hàng ngày của con người được biểu hiện bằng những mối liên hệ rõ ràng và hợp lý giữa người ta với nhau và với thiên nhiên”(14).

(ii) Xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và thực hiện chế độ sở hữu (chiếm hữu xã hội về tư liệu sản xuất). Khi xã hội sử dụng tư liệu sản xuất một cách có kế hoạch. Và khi con người ta không chỉ mưu sự mà thành sự cũng tại nhân, thì tôn giáo hay thánh thần sẽ chui xuống cái hầm “trú ẩn” của nó, con người không còn cần phải viện đến thánh thần để cầu xin những gì mà họ bất lực trong thế giới thực tại này, tôn giáo sẽ chết cái chết tự nhiên của nó. Ph.Ăngghen viết: “Khi nào thông qua việc nắm toàn bộ các tư liệu sản xuất và sử dụng những tư liệu ấy một cách có kế hoạch, xã hội tự giải phóng mình và giải phóng tất cả mọi thành viên trong xã hội khỏi tình trạng bị nô dịch, trong đó hiện nay họ đang bị giam cầm bởi những tư liệu sản xuất do chính tay họ đã làm ra nhưng lại đối lập với họ như một sức mạnh xa lạ không sao khắc phục nổi; do đó khi nào con người không chỉ mưu sự mà lại còn làm cho thành sự nữa, thì chỉ khi đó cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo sẽ mất đi, và cùng với nó bản thân sự phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi, vì khi đó sẽ không có gì để phản ánh nữa”(15).

(iii) Với mỗi bước ngoặt lớn của lịch sử, của trật tự xã hội sẽ kéo theo mọi sự biến đổi và chuyển biến lớn trong tôn giáo. Trong tương lai, cuộc biến chuyển lớn hiện nay khác hẳn với tất cả những cuộc chuyển biến trước đây chính là ở chỗ con người, cuối cùng, đã giải đáp được điều bí ẩn của quá trình lịch sử và bởi vậy, lẽ ra họ lại thần thánh hóa các quá trình thực tiễn “bên ngoài” này dưới hình thức “siêu nghiệm” của thứ tôn giáo mới, thì nay họ sẽ vứt bỏ mọi thứ tôn giáo đi, “Một khi các cơ sở của các tôn giáo ấy bị phá vỡ, những hình thái xã hội kế thừa cái thiết chế chính trị và nền độc lập dân tộc bị phá vỡ thì tất nhiên là tôn giáo tương ứng với chúng cũng bị sụp đổ theo”(16). Trong mỗi dân tộc, đều có một vị thần bảo hộ, bảo vệ cho dân tộc ấy, “lĩnh vực chi phối của các vị thần đó không vượt quá biên giới của lãnh thổ dân tộc mà các vị thần ấy phải bảo vệ và ngoài biên giới đó thì do các vị thần khác tiến hành một sự thống trị không ai tranh giành được. Tất cả các vị thần ấy chỉ có thể tiếp tục tồn tại trong trí tưởng tượng chừng nào dân tộc tạo ra các vị thần ấy còn tồn tại, khi dân tộc đó tiêu vong thì các vị thần ấy tiêu vong theo”(17) và “Một khi các dân tộc không thể bảo vệ được nền độc lập, tự chủ của dân tộc mình nữa thì bản thân các vị thần ấy cũng tự bẻ gẫy cổ mình”(18).

(iv) Tôn giáo sẽ tiêu vong khi lịch sử nhân loại đạt đến chủ nghĩa cộng sản, khi cơ sở kinh tế (chế độ tư hữu và bóc lột) cần thiết tạo ra tôn giáo bị thủ tiêu hoàn toàn.

Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã dự báo tôn giáo có thể tồn tại lâu dài bởi những lý do sau:

 (i) Tư hữu không phải là lực lượng “tha hóa” duy nhất cho sự ra đời và tồn tại của tôn giáo. Dù đã cải tạo chế độ tư hữu thành sở hữu xã hội/ sở hữu công cộng, nhưng xã hội vẫn chưa thể sử dụng tư liệu sản xuất một cách có kế hoạch, chưa hoàn toàn nắm được quy luật khách quan và phát triển sức sản xuất tới trình độ cao, chưa xóa bỏ tất cả những lực lượng “tha hóa” khác chi phối cuộc sống hàng ngày của con người, chưa xây dựng được một chế độ xã hội tự quản và đặt dưới sự kiểm soát tự giác và có kế hoạch của chính mình, chưa làm chủ được tự nhiên, chưa làm chủ được xã hội và làm chủ cuộc đời mình, dư âm của tôn giáo truyền thống vẫn còn sâu đậm thì những nguồn gốc sản sinh ra tôn giáo vẫn còn tồn tại và như thế tôn giáo vẫn còn tiếp tục tồn tại.

(ii) Những điều kiện để tôn giáo tiêu vong không tự xuất hiện hoặc xuất hiện một cách dễ dàng, kể cả khi đã xóa bỏ thiết chế tư bản chủ nghĩa và chế độ tư hữu. Để có được kết quả đó là một quá trình tự nhiên, phát triển lâu dài và gian khổ.

(iii) Tôn giáo vẫn có thể tiếp tục tồn tại với tư cách là một hình thức trực tiếp, hình thức cảm xúc trong quan hệ của con người đối với các lực lượng tự nhiên, xã hội “xa lạ” và đang “đè nặng” lên họ mà chưa biết làm cách nào để thoát ra được. Không những thế, tôn giáo còn có tính thích ứng cao trong mọi hoàn cảnh, trong thời kỳ cổ đại, “đạo Cơ đốc toàn thế giới mà đế chế La mã vừa mới thừa nhận và phù hợp với tình trạng kinh tế, chính trị, tinh thần của nó”(19), đến thời kỳ Trung cổ, “đạo Cơ đốc cũng phát triển theo sự phát triển của chế độ phong kiến mà trở thành tôn giáo phù hợp với chế độ ấy, và có một tôn ti phong kiến tương ứng. Và khi tầng lớp thị dân ra đời thì dị giáo Tin Lành đối lập với đạo Thiên chúa phong kiến”(20). Hơn thế, “các tôn giáo mà bắt đế chế La Mã thế giới phải phục tùng và đã thống trị một phần hết sức to lớn loài người văn minh trong suốt 1800 năm thì người ta không thể nào thanh toán được nếu chỉ tuyên bố một cách giản đơn nó là cái vô nghĩa do những kẻ lừa dối tạo ra”(21).

(iv) Tôn giáo vừa là sự phản ánh đời sống hiện thực, do đời sống hiện thực sản sinh ra, vừa tác động trở lại hiện thực, phản kháng chống lại tình trạng khốn cùng của đời sống hiện thực. Chính ý thức hệ Kitô giáo nguyên thủy là sự phản ánh thất bại lịch sử của những người nô lệ khởi nghĩa chống lại đế quốc La Mã, đặc biệt là sau thất bại thảm hại của cuộc khởi nghĩa Spataquyt, khi ấy đạo Kitô ra đời, nó phán ánh những khát vọng giải phóng mà con người ta không đạt được trong thế giới hiện thực này thì họ sẽ tìm ra sự “giải phóng” trong thế giới thần linh của họ. Đồng thời, tôn giáo còn là động lực tinh thần thúc đẩy sự hình thành thiết chế tư bản chủ nghĩa ở châu Âu, đặc biệt sau cuộc cải cách Tin Lành Calvan (Pháp).

Tóm lại, chủ nghĩa Mác - Lênin không chủ trương chống tôn giáo hay tiêu diệt tôn giáo. Việc C.Mác mô tả tôn giáo như là “trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần”(22), việc tuyên bố “đối với nước Đức việc phê phán tôn giáo đã kết thúc”, “Việc phê phán tôn giáo là hình thức manh nha của sự phê phán cuộc sống khổ ải mà tôn giáo là vòng hào quang thần thánh của nó”(23) đã cho thấy rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin không chủ trương tiêu diệt tôn giáo, chỉ chống các hành động xã hội của tôn giáo đi ngược lại lợi ích con người và tiến bộ xã hội. Xóa bỏ tôn giáo cũng chỉ là xóa bỏ đi các nền tảng quan hệ xã hội, các thể chế xã hội, các hiện tượng tạo ra sự tha hóa cần đến tôn giáo của con người, nhằm nỗ lực thay đổi thế giới. Việc phán xét, phê phán các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo mà không gắn với bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể thời của các ông, không gắn với văn mạch và hoàn cảnh của tác phẩm để hiểu thì đó là một sự phê phán phi nguyên tắc, hời hợt không có giá trị khoa học, một sự thành kiến chính trị ngu dốt. 

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo khi áp dụng vào cách thức mà các tôn giáo đang hiện diện và hoạt động hiện nay vẫn đúng. Xét cho đến cùng, tôn giáo đã đưa ra một mục tiêu lý tưởng và cách thức để cải thiện cuộc sống con người là có được một vị trí trên “thiên đường”, nhưng con người vẫn lựa chọn một vị trí thích hợp trong xã hội “trần thế” để từ đó họ có thể nâng cao đời sống bản thân mình và xã hội. Nên, chủ nghĩa duy linh đáng ra phải biết ơn chủ nghĩa Mác - Lênin vì chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa thần linh xuống “mặt đất” và nâng nhân loại lên mức độ “thần thánh” khiến tôn giáo có cơ hội để tồn tại lâu dài.

CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỐNG PHÁ RA SỨC XUYÊN TẠC CÔNG TÁC TỔ CHỨC BẦU CỬ, TUNG RA CÁC KIẾN NGHỊ VÔ CĂN CỨ

        Trên nhiều trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đang lan truyền những bài viết“xếp ghế” cho nhân sự trong Quốc hội. Các đối tượng rêu rao những luận điệu vô cùng độc hại, tiêu cực, cho rằng bầu cử Quốc hội chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe nhóm” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia”. Những luận điệu này đã tiếp cận đến không ít người dùng mạng xã hội. Ngoài ra, trước vấn đề về số lượng, cơ cấu đại biểu Quốc hội, đặc biệt là về số lượng đại biểu là người ngoài Đảng, các đối tượng cơ hội chính trị cũng tích cực chọc ngoáy, xuyên tạc, biến tướng bản chất vấn đề.

          Tại Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày 11/1/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, cơ cấu số lượng đại biểu là người ngoài Đảng từ 25-50 đại biểu (5-10%). Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu cử, các đối tượng xấu đã biến tướng, xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu hướng lái, cho rằng Đảng quy định số lượng đại biểu ngoài Đảng là quá ít, cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia một nửa số ghế cho những người ngoài Đảng… Thậm chí, có đối tượng còn đòi xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo phương thức của các nước tư bản.

          Nhìn lại lịch sử, có thể thấy chiêu trò “đòi ghế” trong Quốc hội không phải là điều mới. Ngay trong lần tổng tuyển cử đầu tiên khi đất nước mới giành được độc lập, trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến vô cùng phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt quốc, Việt cách) đã đòi 70 ghế trong Quốc hội.

          Cũng cần cảnh giác rằng, hiện nay, các thế lực phản động, chống đối cũng tìm mọi thủ đoạn để phá hoại bầu cử, không loại trừ việc cài cắm các “mầm mống dân chủ” vào Quốc hội nhằm biến nghị trường trở thành diễn đàn để cách đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”, làm nước ta tự suy yếu từ bên trong.

          Do vậy, để cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 thì ngay lúc này, việc nâng cao cảnh giác, nhận diện và chủ động đấu tranh, quyết liệt làm thất bại những thủ đoạn xuyên tạc, gây rối, bôi nhọ, phá hoại của các thế lực thù địch và các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị là điều rất cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết./.

TBQL 17 

CÁC CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC CỦA THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHOÁ XV VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2021-2026

 

        Thời gian vừa qua, ngoài các website, trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành, một số trang báo nước ngoài có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam cũng liên tục tung ra những bài viết, bài phỏng vấn chứa đựng nội dung tiêu cực, thiếu chính xác về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp tại nước ta. Các đối tượng xấu đưa ra luận điệu hết sức sai lệch và thâm hiểm như: “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”, “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử” v.v…

          Căn cứ những nhận định phiến diện trên, các đối tượng xấu quy kết cho rằng cuộc bầu cử do Đảng Cộng sản lãnh đạo là không chính danh, không đúng quy định của pháp luật, ngăn cản quyền bầu cử của công dân. Từ đây, các đối tượng đưa ra yêu sách đòi Đảng Cộng sản không được tham gia vào công tác bầu cử, không được thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo công tác bầu cử; phải “tự rút lui” và từ bỏ quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự cạnh tranh với những đảng phái khác để thúc đẩy dân chủ v.v…

          Những luận điệu, nhận định mà các đối tượng đang rêu rao như trên là hoàn toàn sai sự thật. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tại Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp nước ta quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo đối với công tác bầu cử là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Về mặt thực tiễn, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong công tác bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

          Nếu không có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng Cộng sản, chắc chắn nhiều vấn đề bất ổn sẽ nảy sinh, là mầm mống cho sự suy yếu của đất nước. Đảng lãnh đạo bầu cử không phải là làm thay, không bao biện, không khuynh loát trong bầu cử. Ngày 20/6/2020, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

          Bộ Chính trị xác định rõ công tác bầu cử diễn ra trong bối cảnh hết sức khó khăn. Chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức như: Sự ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19; những diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế; hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta của các thế lực thù địch v.v… Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là điều cần thiết để củng cố, đoàn kết thống nhất sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững./.

TBQL 17

Chiêu trò xúi giục phá hoại

 

         So với những lần bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp trước đây thì mức độ chống phá của các thế lực thù địch nước ngoài và cơ hội chính trị trong nước thời gian gần đây có diễn biến mới, trắng trợn, thâm độc và lan rộng trên mạng xã hội.

          Một trong những nội dung mà các đối tượng hướng tới là phát động phong trào “không biết không bầu”. Đây là chiêu thức cũ, vẫn lấy cảm hứng từ những câu chuyện "dân chủ phương tây", mà chính những xã hội đó đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề, hố sâu ngăn cách các bộ phận nhân dân như những vết thương không cầm máu.

          Như chúng ta đã biết, bầu cử là một biểu hiện tính dân chủ, tiến bộ của nhà nước pháp quyền so với các chế độ chính trị đã có trong lịch sử như phong kiến hoặc chiếm hữu nô lệ. Ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND là một hình thức thể hiện quyền làm chủ của công dân cao nhất, để cử tri bầu ra những vị đại diện cho lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị kiên định, đủ phẩm chất, uy tín, năng lực và trình độ, có khả năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri để lập pháp, giám sát sự lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Chính phủ. Thế nên, ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND được xem trọng và được ví như ngày hội thực sự. Quyền và nghĩa vụ bầu cử của công dân Việt Nam chỉ có được sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do.

          Bất chấp ý nghĩa tốt đẹp về bầu cử đã được hiến định, quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, thời gian qua, trên mạng xã hội, một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước đã phát động phong trào “không biết không bầu”. Như ngày 25-2, trên Facebook xuất hiện một thông tin có nội dung dưới dạng tờ rơi hỏi và trả lời được chia sẻ với tốc độ cao. Tại đây, đối tượng đưa ra các câu hỏi như: Đã từng thấy người nào diễn thuyết, kêu gọi bỏ phiếu cho họ chưa? ai là người đại diện cho quyền, lợi ích của bạn? đã có đại biểu Quốc hội nào đứng ra bảo vệ quyền lợi cho bạn chưa...? Trả lời cho các câu hỏi trên là những từ "chưa từng thấy", "chưa có" và đặc biệt là đi đến khẳng định nếu ứng cử viên bầu đại biểu Quốc hội có đề án nhưng không diễn thuyết thì không thể đại diện cho cử tri và thống nhất là không bầu. Cũng cuối tháng 2 vừa qua, NĐC, một nhân vật “trở cờ” ở Hà Nội đã viết trên Facebook cá nhân về cái gọi là “không biết không bầu”. Ông ta khẳng định, việc các cơ quan Trung ương giới thiệu nhân sự bầu đại biểu Quốc hội về các địa phương để ứng cử là một biểu hiện của “Đảng cử, dân bầu”. Những đại biểu ứng cử có chương trình nhưng không thuyết trình và tổ chức vận động tranh cử để nhân dân địa phương biết thì sẽ không bầu. Việc cử tri bầu những người này chỉ là hình thức. Họ không đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cử tri mà chỉ bảo vệ lợi ích cho Đảng, nhằm đàn áp, thống trị nhân dân... Qua những lời ngụy biện ở trên, nhân vật này đã lợi dụng tính lan tỏa của mạng xã hội, kêu gọi cử tri thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu”.

          Phong trào kêu gọi “không biết không bầu” là rất thâm hiểm. Nó không chỉ cổ vũ cho chủ nghĩa tự do tùy tiện và chủ nghĩa dân túy vốn đang là ác mộng của nhiều nước trên thế giới mà nó còn liên quan đến lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền với những ưu việt đã được khẳng định.

          Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn xây dựng đất nước, trong các văn kiện của Đảng ta lâu nay đều khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhà nước tôn trọng và thực hiện bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người; đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Tất cả những mục tiêu này được hiện hữu thông qua việc xây dựng bộ máy lãnh đạo, lập pháp, hành pháp và tư pháp đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành mà bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND là một biểu hiện cao nhất.

          Thực tiễn cho thấy, thứ nhất, việc đưa ra và tuyên truyền, cổ xúy cho phong trào tự phát “không biết không bầu” là đi ngược lại với quy định của Hiến pháp và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND. Điều 2 của luật này quy định tuổi bầu cử và tuổi ứng cử như sau: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp”. Thế nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì tự mình đã đánh mất quyền công dân, quyền cử tri mà pháp luật đã quy định. Xin nói thêm là, từ năm 1946 trở về trước, dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, công dân Việt Nam chưa khi nào được hưởng không khí tự do, dân chủ đúng nghĩa; chưa ai được cầm trong tay phiếu bầu để bầu ra người đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của mình. Có thể nói, cùng với việc khai sinh, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945) thì cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa I) diễn ra tại các tỉnh, thành phố trong cả nước vào ngày 6-1-1946, theo lối phổ thông đầu phiếu và lựa chọn ra 333 đại biểu cho Quốc hội là một bước tiến và dấu ấn lịch sử, thể hiện ý chí khát vọng độc lập, tự do và quyền làm chủ của toàn dân tộc. Từ đó đến nay, việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là ngày hội chính trị của nhân dân. Các quy định trong bầu cử cũng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, được luật hóa để sao cho phát huy quyền làm chủ của công dân, cử tri được cao nhất; bảo đảm bầu cử an toàn, thống nhất và hiệu quả. Vậy nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì khác nào “lấy đá ghè chân mình”, tự tước đi quyền, lợi ích của chính công dân và của chính cử tri.

          Thứ hai, việc tán phát thông tin trái luật đã khiến cho nhiều người lầm tưởng và hiểu sai lệch chế độ chính trị ở Việt Nam, cổ vũ cho tư tưởng dân chủ cực đoan, vô lối, chủ nghĩa dân túy. Thực tế, ở các nước phương Tây, việc bầu nghị viện và bầu ra nhà lãnh đạo đất nước được tiến hành khá cởi mở. Các ứng cử viên tự do xây dựng đề án, tổ chức các chiến dịch truyền thông, vận động tranh cử để cử tri lựa chọn. Tuy nhiên, hiện nay việc này đã xuất hiện những “gót chân Asin” mang biểu hiện lợi ích cục bộ, thao túng chính trị, tranh giành cử tri bằng mọi giá, triệt hạ đối thủ bằng mọi cách, gây bất bình giữa các tầng lớp trong xã hội. Những bất ổn, náo loạn, đổ máu... xung quanh bầu cử lãnh đạo cấp cao của một số quốc gia ngày càng cho thấy những bất đồng, phân biệt về quyền làm chủ của công dân giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội là rất khó có thể điều hòa. Những người cổ vũ tự do tuyệt đối, tự do vô chính phủ trong lúc này chẳng những thiếu hiểu biết, mà còn rắp tâm phá hoại đất nước.

          Thứ ba, phong trào tự phát “không biết không bầu” là một cái cớ để các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến có dịp phản bác lại sự ổn định chính trị, ổn định xã hội ở Việt Nam. Chúng mong muốn hạ thấp vai trò, uy tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế và đối tác, ngăn các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những căn nguyên có thể cướp đi việc làm, thu nhập của người lao động trong xã hội và đặc biệt làm giảm động lực tinh thần hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam hùng cường...

          Nêu cao cảnh giác trước những chiêu bài phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là yêu cầu cấp bách với nhân dân nói chung và mỗi cử tri nói riêng. Vì vậy, mỗi cử tri cần cẩn trọng khi tiếp xúc với mạng xã hội, không chia sẻ, bình luận những thông tin từ những tài khoản chứa đựng những nội dung có dụng ý xấu. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những kẻ cơ hội, vạch rõ âm mưu xấu bẩn của chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên cũng đồng thời là một chiến sĩ dân vận, trước tiên vận động người thân trong gia đình và những người xung quanh làm tròn trách nhiệm công dân, trách nhiệm cử tri trong ngày hội lớn của đất nước.

Nguồn Báo QĐND

CÁC PHẦN TỬ CHỐNG PHÁ THỰC HIỆN CHIÊU TRÒ “TỰ ỨNG CỬ”, ĐỂ GÂY RỐI, PHÁ HOẠI CUỘC BẦU CỬ

            Có thể thấy mục đích cơ bản nhất của chiêu trò “tự ứng cử” mà các “nhà dân chủ” đang thực hiện là nhằm phá hoại bầu cử. Đồng thời, thông qua việc tự ứng cử đại biểu Quốc hội, các đối tượng đánh bóng tên tuổi của bản thân trong giới “dân chủ”.

          Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, quyết định các vấn đề của địa phương do luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND.

          Chính vì vậy, những người tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định. Trong đó, các tiêu chuẩn cơ bản đối với ứng viên là: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm…

          Việc lựa chọn những ứng cử viên để bầu vào Quốc hội, HĐND các cấp được tiến hành theo đúng quy định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 nêu rõ: “Chúng ta kiên quyết không giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước”./.

TBQL 17

Xem, đọc trên mạng xã hội bằng lý trí

    Phải khẳng định rằng, khi tham gia mạng xã hội, chúng ta có điều kiện giao lưu, kết bạn, chia sẻ nhanh và rộng rãi hơn quan điểm của mình tới các vấn đề xã hội mình quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà mạng xã hội mang lại, vẫn còn những hạn chế, rủi ro, nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến lợi ích của người dùng, đặc biệt là tình trạng nhiễu loạn thông tin, gây mất định hướng tư tưởng, nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, tổ chức.

Cảnh giác với âm mưu phá hoại bầu cử đại biểu quốc hội khóa XV

    Cần phải nâng cao cảnh giác, kịp thời đấu tranh, xử lý nghiêm trước pháp luật với những thủ đoạn phá hoại, gây rối của các thế lực thù địch, không để cho những cá nhân, tổ chức nào đứng sau xuyên tạc, bôi nhọ chế độ, lợi dụng dân chủ để dẫn dắt dư luận xã hội, phá hoại cuộc bầu cử.

    Bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là sự kiện chính trị quan trọng, diễn ra trong thời điểm đại hội Đảng bộ các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng vừa diễn ra thành công tốt đẹp. Thực hiện thành công cuộc bầu cử, sẽ thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nhằm bầu ra những người tiêu biểu có đủ đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

    Thế nhưng, đi ngược lại với mong muốn đó, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị lại tỏ thái độ hằn học, chống đối và xem đây là thời cơ để chống phá. Hiện nay lợi dụng không gian mạng, nhiều tổ chức phản động lưu vong như "Việt Tân", "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời", "Triều Đại Việt" và một số cá nhân, hội nhóm chống đối trong nước đang tiến hành các hoạt động kích động, xuyên tạc, cổ súy các hành vi trái luật liên quan bầu cử. Trong số đó Lê Văn Dũng (Dũng Vova), Lê Trọng Hùng... tại Hà Nội cầm đầu. Mục đích của chúng là lôi kéo số chống đối tự ứng cử tràn lan, xuyên tạc các quy định về bầu cử, gây mất an ninh trật tự, phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu HĐND các cấp sắp tới.

    Mới đây, trên facebook cá nhân của mình, đối tượng Lê Trọng Hùng đăng bài viết “Tự tranh cử ĐBQH là một đòi hỏi của dân tộc vì thế đó là bổn phận của công dân”. Trong bài viết của mình, Hùng ra sức phê phán các ĐBQH hiện nay, đồng thời tự cho rằng mình là mẫu “công dân gương mẫu, công dân chuẩn mực, công dân thuần chủng” mà được Hùng gọi chung là “đại công dân”, qua đó kêu gọi những “đại công dân” như Hùng sẵn sàng tham gia việc tự ứng cử ĐBQH trong nhiệm kỳ sắp tới, trong khi đó Hùng là đối tượng có "tiền án", đã từng bị cơ quan chức năng truy tố, xét xử về hành vi “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, sau khi ra tù, Hùng lại "ngựa quen đường cũ" tiếp tục chống phá chế độ; còn Dũng Vova đã thực hiện hàng nghìn video clip xuyên tạc, bôi đen, thổi phồng các vấn đề nhạy cảm của xã hội đăng trên các trang facebook. Ngoài ra, Lê Văn Dũng và Lê Trọng Hùng cùng các đối tượng chống đối đang tìm cách móc nối, lôi kéo, kích động khiếu kiện cực đoan tại các địa phương, thu thập thông tin về các vụ khiếu kiện, sau đó lồng ghép các nội dung xuyên tạc, bôi nhọ lãnh đạo, chống phá cuộc bầu cử để phát tán phát trên “Đài CHTV”...

    Từ nay đến ngày bầu cử, các thế lực thù địch sẽ tăng cường xuyên tạc chống phá cuộc bầu cử. Để cuộc bầu cử thành công tốt đẹp, cấp ủy Đảng các cấp cần triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Kiên quyết đấu tranh chống mọi luận điệu xuyên tạc, âm mưu, hoạt động phá hoại cuộc bầu cử, lợi dụng bầu cử để gây rối an ninh, trật tự, âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp phát huy vai trò tuyên truyền, vận động của người có uy tín, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

    Đặc biệt, cần phải nâng cao cảnh giác, kịp thời đấu tranh, xử lý nghiêm trước pháp luật với những thủ đoạn phá hoại, gây rối của các thế lực thù địch, không để cho những cá nhân, tổ chức nào đứng sau xuyên tạc, bôi nhọ chế độ, lợi dụng dân chủ để dẫn dắt dư luận xã hội, phá hoại cuộc bầu cử. Việc tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 cũng là hành động cụ thể nhằm triển khai thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp, Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào thực tiễn cuộc sống./.


Nhận diện và đấu tranh với các hoạt động chống phá bầu cử

    Hiện nay, công tác chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đang được các cơ quan chức năng tích cực tiến hành. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị vẫn đang tiến hành nhiều hoạt động với tính chất chống phá hết sức quyết liệt. Đáng chú ý, các đối tượng chống phá ra sức xuyên tạc công tác tổ chức bầu cử, tung ra các kiến nghị vô căn cứ.

    Trên nhiều trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đang lan truyền những bài viết“xếp ghế” cho nhân sự trong Quốc hội. Các đối tượng rêu rao những luận điệu vô cùng độc hại, tiêu cực, cho rằng bầu cử Quốc hội chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe nhóm” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia”. Những luận điệu này đã tiếp cận đến không ít người dùng mạng xã hội. Ngoài ra, trước vấn đề về số lượng, cơ cấu đại biểu Quốc hội, đặc biệt là về số lượng đại biểu là người ngoài Đảng, các đối tượng cơ hội chính trị cũng tích cực chọc ngoáy, xuyên tạc, biến tướng bản chất vấn đề.

    Tại Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày 11/1/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, cơ cấu số lượng đại biểu là người ngoài Đảng từ 25-50 đại biểu (5-10%). 

    Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu cử, các đối tượng xấu đã biến tướng, xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu hướng lái, cho rằng Đảng quy định số lượng đại biểu ngoài Đảng là quá ít, cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia một nửa số ghế cho những người ngoài Đảng… Thậm chí, có đối tượng còn đòi xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo phương thức của các nước tư bản.

    Nhìn lại lịch sử, có thể thấy chiêu trò “đòi ghế” trong Quốc hội không phải là điều mới. Ngay trong lần tổng tuyển cử đầu tiên khi đất nước mới giành được độc lập, trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến vô cùng phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt quốc, Việt cách) đã đòi 70 ghế trong Quốc hội.

    Cũng cần cảnh giác rằng, hiện nay, các thế lực phản động, chống đối cũng tìm mọi thủ đoạn để phá hoại bầu cử, không loại trừ việc cài cắm các “mầm mống dân chủ” vào Quốc hội nhằm biến nghị trường trở thành diễn đàn để cách đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”, làm nước ta tự suy yếu từ bên trong.

    Do vậy, để cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 thì ngay lúc này, việc nâng cao cảnh giác, nhận diện và chủ động đấu tranh, quyết liệt làm thất bại những thủ đoạn xuyên tạc, gây rối, bôi nhọ, phá hoại của các thế lực thù địch và các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị là điều rất cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết./.


Nhận diện và đấu tranh chống lại âm ưu xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử

    Thời gian vừa qua, ngoài các website, trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành, một số trang báo nước ngoài có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam cũng liên tục tung ra những bài viết, bài phỏng vấn chứa đựng nội dung tiêu cực, thiếu chính xác về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp tại nước ta. Các đối tượng xấu đưa ra luận điệu hết sức sai lệch và thâm hiểm như: “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”, “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử” v.v…

    Căn cứ những nhận định phiến diện trên, các đối tượng xấu quy kết cho rằng cuộc bầu cử do Đảng Cộng sản lãnh đạo là không chính danh, không đúng quy định của pháp luật, ngăn cản quyền bầu cử của công dân. Từ đây, các đối tượng đưa ra yêu sách đòi Đảng Cộng sản không được tham gia vào công tác bầu cử, không được thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo công tác bầu cử; phải “tự rút lui” và từ bỏ quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự cạnh tranh với những đảng phái khác để thúc đẩy dân chủ v.v…

    Những luận điệu, nhận định mà các đối tượng đang rêu rao như trên là hoàn toàn sai sự thật. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tại Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp nước ta quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo đối với công tác bầu cử là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

    Về mặt thực tiễn, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong công tác bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Nếu không có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng Cộng sản, chắc chắn nhiều vấn đề bất ổn sẽ nảy sinh, là mầm mống cho sự suy yếu của đất nước. Đảng lãnh đạo bầu cử không phải là làm thay, không bao biện, không khuynh loát trong bầu cử. Ngày 20-6-2020, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.

    Bộ Chính trị xác định rõ công tác bầu cử diễn ra trong bối cảnh hết sức khó khăn. Chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức như: sự ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19; những diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế; hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta của các thế lực thù địch v.v… Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là điều cần thiết để củng cố, đoàn kết thống nhất sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững./.


Đầu tư vào lương tâm

    Người ta thường đầu tư bất động sản, đầu tư chứng khoán,… mấy ai nghĩ đến đầu tư vào lương tâm.

    Trong cuộc chiến khốc liệt mang tên cuộc đời, mỗi chúng ta đều sẽ có cách riêng để sống sót và nỗ lực chạm đến cuộc sống gói gọn trong 3 chữ, sống an yên. Và thế là người người lo làm giàu, nhà nhà lo kiếm tiền. Người ta nghĩ trăm phương ngàn kế để kiếm tiền. Cuộc đua tiền bạc, giàu sang ấy cứ cuốn đi khiến ta mải miết theo những đồng tiền và rồi quên mất khoản đầu tư không tốn một đồng song lại đem đến giá trị lớn lao: Đầu tư vào lương tâm. 

    Có một thực tế đáng buồn, đời thực lại chẳng thiếu những kẻ đánh rơi lương tâm. Họ nghĩ cái tôi của người nhiều tiền lớn hơn của người ít tiền. Họ nghĩ giá trị của ông chủ cao hơn giá trị của người làm thuê. Họ nghĩ quan được đặc quyền, dân phải chịu bổn phận. 

    “Mục hạ vô nhân” dường như trở thành triết lý sống của một bộ phận người. Với họ, có tiền, có quyền đồng nghĩa với việc có đặc ân, có sùng bái. Thế mới có chuyện, ông Chi cục trưởng ở Tuyên Quang túm cổ áo, tát vào mặt một trung uý cảnh sát giao thông vì anh dám dừng xe của ông để kiểm tra nồng độ cồn. Thế mới có chuyện, bà phó phường ở Quảng Ninh sẵn giọng quát “con này mày điên rồi”, khi chị bán rau cố xin lại những mớ rau và chiếc xe cà tàng của mình. Thế mới có chuyện, ông Giám đốc của một công ty ở Sóc Trăng yêu cầu nhân viên nhận tội thay sau khi gây tai nạn.

    Đầu tư bất động sản, đầu tư chứng khoán,… ta có thể có tiền, có nhà, có xe, có sự xem trọng về hình thức. Đầu tư vào lương tâm ta có nụ cười, có lời cảm ơn, có sự kính trọng từ tâm. Hơn - thiệt phụ thuộc vào tiêu chuẩn của mỗi người nhưng… thứ không nhìn thấy được thường rất khó để định giá, giống như chuyện ông Huỳnh Bảo Toàn bên chiếc xe máy tặng cho người shipper nghèo; chuyện anh Nguyễn Ngọc Mạnh được gọi là người hùng khi cứu sống bé gái 3 tuổi bị rơi từ tầng 12A của chung cư 60B Nguyễn Huy Tưởng…

    Những thứ anh Toàn, anh Mạnh đang nhận được chẳng thể quy ra tiền, chẳng trả được tiền điện, tiền nhà hay tiền ăn. Nó chỉ mang đến cho 2 anh nụ cười và niềm vui nho nhỏ vì sự nổi tiếng bất đắc dĩ. Nhưng, phía sau nụ cười ấy là điều kỳ diệu vẽ nên từ 2 chữ lương tâm. Họ không chỉ thay đổi cuộc đời của một người mà của rất nhiều người. Họ không chỉ gieo hy vọng cho một người mà gieo hy vọng cho nhiều người. “Con đường an toàn nhất là không làm gì trái với lương tâm. Với bí mật này, chúng ta có thể hưởng thụ cuộc sống và không sợ chết”. Đầu tư vào lương tâm có bao giờ khiến ta thua lỗ?!


Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

    Diễn biến mới, phức tạp và khó nhận diện của biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đòi hỏi chúng ta phải hành động kiên quyết và khôn khéo để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ tổ chức, tạo ra hệ “miễn dịch” bảo vệ cán bộ, đảng viên. Để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau: 

    Một là, tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị, xây dựng bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng cho cán bộ, đảng viên. Về bản chất là trang bị cho cán bộ, đảng viên cả “thanh kiếm” và “khiên chắn” để tăng cường “sức đề kháng”, tạo hệ “miễn dịch” trong tư tưởng, nhận thức của mỗi người trước sự lôi kéo của các thế lực thù địch. V.I. Lê-nin đã từng nhắc nhở: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta” và bài học sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm 1989 - 1991 của thế kỷ trước là minh chứng sâu sắc cho luận điểm này.

    Hai là, phát huy vai trò của tổ chức đảng để ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ cơ sở. Mỗi chi bộ, đảng bộ cần làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay; quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng chính trị; kịp thời phát hiện những nhận thức lệch lạc và giáo dục, định hướng, giải quyết tốt để tạo sức đề kháng từ phía tổ chức. Có lẽ, đã đến lúc mỗi chi bộ, đảng bộ cần quy định rõ những vấn đề cán bộ, đảng viên không được tham gia trên mạng xã hội; từ đó, xây dựng rào chắn và ý thức, trách nhiệm đúng đắn của cán bộ, đảng viên khi tham gia, tiếp nhận, xử lý thông tin trên mạng xã hội.

    Ba là, đầu tư, hiện đại hóa các phương tiện, công cụ truyền thông để tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch. Các chiêu thức chống phá tinh vi đòi hỏi công tác đấu tranh không chỉ dừng lại ở việc hô khẩu hiệu, mà quan trọng là chúng ta phải bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận sắc bén, thuyết phục. Đồng thời, khai thác tốt vai trò công nghệ để giám sát các thông tin độc hại ngay từ nguồn phát tán để ngăn chặn từ sớm, từ xa; để mở rộng tối đa phạm vi bao phủ của thông tin chính thống trên hệ sinh thái truyền thông, tạo khả năng áp đảo cần thiết trong các loại hình chiến tranh thông tin. Do đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ giỏi về công nghệ trong các cơ quan chuyên môn để quản lý, sàng lọc, định hướng thông tin, định hướng những vấn đề cần tập trung đấu tranh; đồng thời, sử dụng công nghệ để vạch trần, chỉ ra những mánh khóe, thủ đoạn, âm mưu ẩn chứa tinh vi trong những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, cần ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên trước những tiêu cực, mặt trái, những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp; nâng cao chất lượng các bài viết, bài bình luận, thiết kế âm thanh, hình ảnh hiện đại, tiện ích, đa phương tiện để thu hút sự quan tâm của độc giả trong nội bộ các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cả xã hội.

    Bốn là, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc tự tu dưỡng, tự học tập để nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng. Đó là con đường tự thân nhằm nâng cao sức đề kháng thông qua khả năng tự nhận biết, tự phân loại, sàng lọc và định hướng thông tin để tự bảo vệ mình, bảo vệ tổ chức trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; không để lực lượng thù địch có cơ hội lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, chống phá. Rõ ràng là khi mỗi cán bộ, đảng viên đều có ý thức cảnh giác, tự “hoàn thiện” cơ chế tự phòng vệ bằng trình độ lý luận chính trị và nhận thức, hiểu biết của mình thì không kẻ thù nào khiến chúng ta có thể “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”./.


Nhận BHXH một lần: Người lao động thiệt đủ đường!

 Mặc dù biết thanh toán Bảo hiểm xã hội (BHXH) một lần sẽ mất nhiều quyền lợi nhưng thời gian gần đây nhiều người lao động tại Quảng Ninh vẫn lựa chọn giải pháp này do gặp khó khăn.

Chị Trần Hà Trang (42 tuổi, ở phường Hà Trung, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) vốn là công nhân một công ty xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Chị từng đóng BHXH bắt buộc gần 20 năm. Tuy nhiên vào cuối năm 2020, chị Trang đã xin nghỉ việc để làm ở nơi khác.

Do gia đình gặp khó khăn, cần tiền chữa bệnh cho người thân trong khi không có tiền tích lũy, chị Trang đã quyết định thanh toán BHXH 1 lần. Sau khi thanh toán số tiền chị Trang nhận được là hơn 100 triệu đồng.

Dù vẫn biết là nhận BHXH một lần sẽ mất đi nhiều quyền lợi lâu dài nhưng do dịch bệnh kéo dài, chồng chị đang lâm vào cảnh thất nghiệp nên chị Trang không còn lựa chọn khác.

Tương tự, anh Nguyễn Văn Chung (46 tuổi, ở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh) từng làm việc tại một Trung tâm đào tạo nghề trên địa bàn thị xã gần 20 năm và đóng BHXH tương đương với số năm làm việc.

Năm 2019, anh Chung xin nghỉ việc, nhận sổ BHXH để bảo lưu và có kế hoạch sẽ đóng BHXH tự nguyện tiếp theo. Tuy nhiên gần đây do gặp khó khăn về tài chính, anh Chung quyết định thanh toán BHXH một lần và nhận được số tiền hơn 100 triệu đồng.

Theo tìm hiểu, việc thanh toán BHXH một lần không chỉ có 2 trường hợp trên mà còn rất nhiều trường hợp khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh do gặp khó khăn về tài chính đã phải lựa chọn giải pháp này.

Thậm chí, tình trạng trên còn có phần gia tăng trong đầu năm 2021 do ảnh hưởng của dịch bệnh, người lao động mất việc, không có thu nhập…

Theo số liệu từ tỉnh Quảng Ninh, chỉ trong quý I/2021, cơ quan BHXH tỉnh đã tiếp nhận và giải quyết cho hơn 1.200 hồ sơ thanh toán BHXH một lần, tăng hơn 1% so với cùng kỳ năm 2020.

Một lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh phân tích, thanh toán BHXH một lần chỉ giải quyết nhu cầu khó khăn về kinh tế trước mắt, về lâu dài người lao động sẽ mất đi nhiều quyền lợi từ chính sách BHXH mang lại cho bản thân. Đặc biệt sẽ rất khó khăn khi tuổi cao, không còn khả năng lao động, bệnh tật…nhưng không có lương hưu, không có thẻ BHYT.

Theo cơ quan BHXH tỉnh, nhằm giảm thiểu tình trạng trên, đơn vị đã chỉ đạo các bộ phận liên quan tiếp tục tuyên truyền, vận động người lao động khi đến làm thủ tục để thay đổi quyết định thanh toán 1 lần, tiếp tục tham gia bảo hiểm tự nguyện hoặc chờ thời gian đi làm trở lại ở đơn vị mới, doanh nghiệp mới tiếp tục tham gia bảo hiểm bắt buộc.

Cũng theo BHXH tỉnh, trong quá trình thực hiện tuyên truyền, vận động cũng đã có nhiều người lao động thay đổi ý định thanh toán một lần, tiếp tục tham gia đóng BHXH.

Thêm 3 ca Covid-19, Việt Nam có 2.696 bệnh nhân

 Sáng 12/4, Bộ Y tế thông tin đây là 3 ca nhập cảnh, đều từ Nhật Bản về nước, được cách ly tại Hà Nội và Thái Nguyên.

Tính từ 18h ngày 11/4 đến 6h ngày 12/4, nước ta có 3 ca mắc mới Covid-19 (BN2694-2696) được cách ly ngay sau khi nhập cảnh tại Hà Nội (2) và Thái Nguyên (1).

Cụ thể:

- CA BỆNH 2694 (BN2694) ghi nhận tại Thành phố Hà Nội: Bệnh nhân nam, 32 tuổi, công dân Việt Nam, địa chỉ tại huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

- CA BỆNH 2695 (BN2695) ghi nhận tại Thành phố Hà Nội: Bệnh nhân nam, 23 tuổi, công dân Việt Nam, địa chỉ tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.

Ngày 9/4, BN2694-2695 từ Nhật Bản nhập cảnh Sân bay Nội Bài và được cách ly ngay sau khi nhập cảnh tại Thành phố Hà Nội. Kết quả xét nghiệm ngày 11/4 dương tính với SARS-CoV-2.

Hiện các bệnh nhân được cách ly, điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh.

 - CA BỆNH 2696 (BN2696) ghi nhận tại tỉnh Thái Nguyên: Bệnh nhân nữ, 23 tuổi, công dân Việt Nam, địa chỉ tại huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.

Ngày 9/4, bệnh nhân từ Nhật Bản nhập cảnh Sân bay Nội Bài và được cách ly ngay sau khi nhập cảnh tại tỉnh Thái Nguyên. Kết quả xét nghiệm ngày 11/4 dương tính với SARS-CoV-2.

Hiện bệnh nhân được cách ly, điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh.

Như vậy, tính đến 6h ngày 12/4, Việt Nam có tổng cộng 2.696 ca Covid-19, trong đó có 1.570 ca mắc do lây nhiễm trong nước, số lượng ca mắc mới tính từ ngày 27/1 đến nay là 910 ca.

Giá vàng tuần mới diễn biến thế nào khi đối diện với các áp lực lớn?

 Lúc 7h sáng nay, giá vàng giao ngay tại châu Á qua niêm yết của Kitco.com có biên độ giảm nhẹ, giao dịch ở mức 1.742,6 USD/ounce.

Chốt phiên giao dịch cuối tuần qua, giá vàng SJC tại Hà Nội qua niêm yết của một số doanh nghiệp vàng lớn ở mức 54,8 triệu đồng/lượng (mua vào) - 55,25 triệu đồng/lượng (bán ra) đối với giao dịch bán lẻ và bán buôn.

Giá vàng SJC tại TP.HCM được doanh nghiệp chốt tuần ở mức 54,8 triệu đồng/lượng - 55,25 triệu đồng/lượng.

Trên thế giới, lúc 7h sáng 12/4 giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay tại châu Á qua niêm yết của Kitco.com có biên độ giảm nhẹ, giao dịch ở mức 1.742,6 USD/ounce.

Giá vàng có biên độ giảm nhẹ nhưng kỳ vọng vàng tiếp tục tăng vẫn khá lớn với các nhà phân tích và đầu tư.

Theo kết quả khảo sát mới nhất từ Kitco News, tâm lý trong ngắn hạn trên thị trường một lần nữa lại tăng lên khi kim loại quý này kết thúc tuần với mức gần như cao nhất trong 2 tuần trở lại đây.

Tuần này, 60% nhà phân tích Phố Wall tham gia khảo sát dự đoán giá vàng tăng, 20% dự đoán giá giảm và 20% cho rằng thị trường sẽ đi ngang.

Còn tại phố Main, 778 trên tổng số 1.201 phiếu bầu (tương đương 65%) dự đoán giá đi lên, 236 phiếu (tương đương 20%) dự đoán giá sẽ thấp hơn và 187 phiếu còn lại (tương đương 16%) giữ ý kiến trung lập.

Adam Button, trưởng bộ phận chiến lược tiền tệ tại Forexlive.com, cho hay, thị trường đang ở một vị trí bấp bênh. Mức đóng cửa trên 1.755 USD/ounce sẽ xác nhận đáy kép của tháng 3 và hướng đến 1.840 USD. Nếu điều đó không thành công, vàng sẽ quay trở lại mức 1.676 USD hoặc thấp hơn.

Theo Adrian Day, Chủ tịch của Adrian Day Asset Management, mặt hàng kim loại quý đang gặp một số rủi ro giảm giá khi thị trường bước vào giai đoạn hợp nhất và dự đoán giao dịch sẽ duy trì trong khoảng 1.680 - 1.745 USD/ounce trước khi bứt phá theo chiều hướng tăng.

"Sốt" đất hầm hập: Có nơi tăng gấp 3, bất ngờ xuất hiện chỗ chạm đáy

  "Sốt" đất hầm hập, có nơi tăng gấp 3: Hé lộ thị trường được "săn" nhiều nhất; Dân Đồng Kỵ bán đất lấy tiền nhập gỗ, giá nhiều nơi chạm đáy... là những thông tin bất động sản nổi bật tuần qua.

"Sốt" đất hầm hập, có nơi tăng gấp 3: Hé lộ thị trường được "săn" nhiều nhất

Giá bất động sản tăng nhanh tại nhiều thị trường mới, với mức tăng phổ biến 10-30%, một số nơi giá đất tăng gấp 2-3 lần trong thời gian ngắn.

Đó là thông tin đáng chú ý được ông Nguyễn Quốc Anh - Phó Tổng Giám đốc batdongsan.com.vn - cho biết tại buổi họp báo công bố về thị trường bất động sản quý I/2021, diễn ra ngày 6/4.

Không chỉ các tỉnh thành vệ tinh mà khu vực vùng ven quanh bán kính 20km của Hà Nội cũng chứng kiến mức độ quan tâm tăng đáng kể trong quý 1/2021. Cụ thể, Đông Anh (Hà Nội) tăng 36%, Từ Sơn (Bắc Ninh) tăng 67%, Gia Lâm (Hà Nội) tăng 18%, Ba Vì (Hà Nội) tăng 33%, Quốc Oai (Hà Nội) tăng 32%, Văn Giang (Hưng Yên) tăng 13%, Thanh Trì (Hà Nội) tăng 8%, Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm (Hà Nội) tăng 4%.

Dân Đồng Kỵ bán đất lấy tiền nhập gỗ, giá nhiều nơi gần như chạm đáy

Do đại dịch, hoạt động kinh doanh ở làng Đồng Kỵ (Từ Sơn, Bắc Ninh) tê liệt một thời gian dài. Không ít hộ phải bán đất trả lãi ngân hàng, khi dịch ổn lại phải bán cắt lỗ nhập gỗ khôi phục sản xuất.

"Người bán để trả nợ, người bán để phát triển kinh doanh nên đất ở khu vực Từ Sơn đang được rao bán rất nhiều", chị D - một người kinh doanh gỗ tại Từ Sơn nói. Song, cũng theo chủ xưởng gỗ này, lượng cung cao hơn nhu cầu thực tế, nên giá đất ở đây đang chạm đáy.

Từ Sơn vốn là nơi giao lưu mua bán gỗ rất nhộn nhịp của khách trong và ngoài nước. Do đó, có rất nhiều người tìm về đây mua nhà, đất để làm ăn kinh doanh, xây dựng nhà xưởng. Thế nhưng, sau ảnh hưởng của dịch bệnh, giá đất ở đây đã "hạ nhiệt" rất nhiều.

Giá đất tăng 200%: Nhiều thông tin mới chỉ rò rỉ, giá đã bị đẩy lên rất cao

Tại tọa đàm "Giải mã cơn sốt đất", ông Lê Văn Bình - Cục trưởng Cục Kinh tế và Phát triển quỹ đất (Tổng cục Quản lý đất đai) - cho biết, cơn sốt đất lần này có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân cộng hưởng. Yếu tố đầu tiên là do quy hoạch.

Ông Trần Ngọc Minh, Trưởng phòng Quản lý nhà và Thị trường Bất động sản - Sở Xây dựng Hà Nội, cũng đồng tình cho rằng hiện nay, "cơn sốt" đất ở Hà Nội có một số nguyên nhân như ông Bình phân tích. Theo đó, việc "sốt đất" do một số nguyên nhân như tính chu kỳ, xu hướng đầu tư của dòng tiền và quy hoạch.

Bên cạnh đó, ông Minh cho biết còn có một số nguyên nhân khác: Thứ nhất, 2021 là năm đầu tiên chúng ta thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ 17 và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, trong đó có chỉ tiêu về phát triển nhà ở, cải thiện điều kiện nhà ở cho người dân….

"Giá đất được đẩy lên cao nhất trong thời gian qua là đất ở nông thôn, đất vườn ao, đất lâm nghiệp… Có những nơi tăng lên 100%, có nơi tăng đột biến 200%", ông Minh nói. 

TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ CA NGỢI ĐỘI NGŨ LÃNH ĐẠO MỚI CỦA VIỆT NAM Thông tin về đội ngũ lãnh đạo mới của Việt Nam được truyền thông quốc tế đồng loạt đăng tải trong những ngày qua. Hãng tin Reuters ngày 5/4, đưa tin ông Phạm Minh Chính được Quốc hội Việt Nam bầu làm Thủ tướng với 96,25% số phiếu tán thành. Ông Phạm Minh Chính là "Thủ tướng đầu tiên chưa từng giữ chức Phó Thủ tướng kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới", theo hãng thông tấn Anh. Trong khi đó, tờ báo tài chính Mỹ Bloomberg đưa tin ông Nguyễn Xuân Phúc, 66 tuổi, đã được bầu làm Chủ tịch nước. Bloomberg cũng cho biết, trong nhiệm kỳ Thủ tướng của ông Nguyễn Xuân Phúc, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng nhanh, đạt 7,08% năm 2018, với đầu tư nước ngoài đạt mức cao nhất khoảng 30 tỷ USD, tăng 44%, năm 2017. Việt Nam cũng được cộng đồng quốc tế khen ngợi vì thành tích trong kiềm chế đại dịch Covid-19. Tạp chí Nikkei của Nhật Bản đánh giá ông Nguyễn Xuân Phúc là "người có công lao duy trì nền kinh tế phát triển ổn định bất chấp đại dịch" khi làm Thủ tướng. "Trên cương vị Chủ tịch nước, ông Nguyễn Xuân Phúc sẽ là nhà ngoại giao hàng đầu đất nước", Nikkei đánh giá. Nikkei cũng dẫn lời GS Ngô Vĩnh Long, một học giả lâu năm về các lĩnh vực lịch sử Đông Nam Á, Đông Á và quan hệ châu Á - Mỹ nhận định, Việt Nam sẽ nỗ lực duy trì ổn định xã hội, chính trị nhằm giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 6% trong tương lai gần". Nikkei dẫn phân tích của giới chuyên gia cho rằng, ông Phạm Minh Chính trở thành Thủ tướng "phù hợp với việc Hà Nội sẽ tiếp tục đẩy mạnh chống tham nhũng, một sáng kiến chủ chốt của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong hai nhiệm kỳ qua". Hãng này cũng trích bình luận của giáo sư Carl Thayer thuộc Đại học New South Wales cho rằng, "các ưu tiên trước mắt của tân Thủ tướng Việt Nam là đánh bại Covid-19 và khởi động phục hồi nền kinh tế". Hãng tin Nhật Bản cho biết, ưu tiên của ban lãnh đạo mới là tiếp tục nỗ lực duy trì sự tăng trưởng kinh tế - điều hiếm thấy trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hiện nay. St

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam

 Mục tiêu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN. Chúng dùng nhiều luận điệu để xuyên tạc, phủ nhận đường lối phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Tuy nhiên, bằng những thành tựu thuyết phục của quá trình đổi mới đất nước đã chứng minh, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam

Từ khóa: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam.

Mục tiêu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN. Nhất là gần đây, khi Việt Nam đang tiến hành tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, chúng càng đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách toàn diện.

Một trong những luận điệu mà các thế lực thù địch và những phần tử phản động cùng những “nhà dân chủ” thường sử dụng là cho rằng kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là khái niệm mơ hồ. Thực chất của việc đó chính là nhằm xuyên tạc, phủ nhận đường lối phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng không thể hiện thực được CNXH tại Việt Nam bằng con đường “kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Họ đã vin vào sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu để cho rằng xã hội XHCN, chủ nghĩa cộng sản là không tưởng. Theo họ, “đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là chắp vá, không tưởng. Việt Nam hiện nay đang đứng ở ngã ba đường, không biết đi theo con đường nào. Nếu không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường TBCN thì sẽ bị trả giá, tự giác đi theo con đường TBCN thì đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích đau đớn hơn, chậm chạp hơn”. Gần đây có luận điệu xảo quyệt, thâm độc hơn như “con đường mà Việt Nam muốn đi là thứ TBCN theo định hướng XHCN, nhưng con đường này không thể thành công vì không thể nào giải quyết thỏa hiệp giữa hai chủ nghĩa đối lập với nhau”.

Vậy về mặt lý luận và thực tiễn liệu có đúng như nhận định của các thế lực thù địch hay không?

1. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là phù hợp quy luật khách quan

Chưa lúc nào các thế lực thù địch, phản động, các “nhà dân chủ” không tìm cơ hội để tăng cường sự chống phá bằng mọi hình thức. Lợi dụng quyền tự do dân chủ, chúng tung lên các trang mạng xã hội hàng loạt bài viết phê phán quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bằng thủ đoạn “lập lờ đánh lận con đen”, chúng cố công biện giải rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi đưa ra khái niệm “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”, chưa bao giờ có thể định nghĩa được nó mà không ẩn chứa sự mâu thuẫn bên trong. Những người có quan điểm đối lập với Đảng đã cố tình xuyên tạc sự phát triển tư duy lý luận của Đảng ta, đặc biệt là họ dựa vào các tiêu chí của định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường để cho rằng Đảng ta đã vay mượn khái niệm hay là đánh tráo khái niệm. Thậm chí, một số kẻ còn lớn tiếng khẳng định, kinh tế thị trường mang giá trị phổ quát của nhân loại thêm các đuôi định hướng XHCN sẽ tạo ra một mô hình kinh tế “quái thai”, hoặc kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa có tiền lệ trong lịch sử, nếu áp dụng sẽ tạo ra những lực cản kìm hãm sự phát triển của Việt Nam, tạo ra cản trở cho sản xuất, năng suất lao động, khả năng sáng tạo...

Trước Đại hội VI, chính những người cộng sản Việt Nam trước nhiều bế tắc của đất nước do đói nghèo, khủng hoảng đã nỗ lực tìm ra lối đi, thừa nhận sự tồn tại những hạt nhân hợp lý của kinh tế hàng hóa ngay trong lòng cơ chế kinh tế tập trung bao cấp. Từ những khoán hộ, “khoán chui”, đổi mới cơ chế quản lý tại các xí nghiệp và con đường tìm tòi đầy gian nan để đi đến bước ngoặt Đổi mới từ Đại hội VI, chính thức đề cập sản xuất hàng hóa và xác định “cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa” (Đại hội VI, năm 1986). Đó thực chất cũng là bước ngoặt Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận kinh tế thị trường để xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ.

Đến Đại hội VII (năm 1991) xác định xây dựng “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước”. Đại hội VIII (năm 1996) chủ trương xây dựng “nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội IX (năm 2001), Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Như vậy, phải sau 15 năm thực hiện Đổi mới, khái niệm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” mới chính thức được xác định từ Đại hội IX (2011) của Đảng.

Từ đó đến nay, nhận thức của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đại hội XII xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(1).

Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ban hành 3 Nghị quyết: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN”, “Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”, “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Đây là sự kiện quan trọng, bởi tại các Nghị quyết này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung, phát triển nhiều nội dung mới, quan trọng về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Theo đó, định nghĩa về “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” ở nước ta được thống nhất “là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(2).

Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng XHCN chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

So sánh với kinh tế thị trường TBCN, kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa có những điểm tương đồng, nhưng cũng có những điểm khác biệt về bản chất. Điểm tương đồng với kinh tế thị trường tư bản hiện đại là: dựa trên nền tảng của chế độ phân chia sở hữu và đa sở hữu; nền kinh tế vận hành chủ yếu thông qua và bằng cơ chế thị trường; có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước; đa dạng hóa các hình thức phân phối.

Điểm khác biệt, sự sáng tạo trong triển khai kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là ở chỗ, phát triển kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Các chủ thể trong kinh tế thị trường cạnh tranh nhau với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Chính vì vậy, đi liền với tăng trưởng tất yếu là sự phân hóa giàu nghèo, không ít người yếu thế bị bật ra khỏi vòng quay của nền kinh tế, cũng vì vậy nảy sinh các hiện tượng tiêu cực và các tệ nạn xã hội. Trong CNTB, nhân dân lao động là người làm thuê, mục tiêu của CNTB là tăng lợi nhuận, duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản. Để đạt tới mục tiêu đó, CNTB đã có nhiều chủ trương, giải pháp về các vấn đề xã hội, trong đó có những mặt tiến bộ như thực hiện giảm nhẹ sự bất bình đẳng trong xã hội cũng như tìm cách giảm căng thẳng trong xã hội. Tuy nhiên, những mặt tiến bộ ấy không bền vững vì mâu thuẫn cơ bản của CNTB là xã hội hóa tư liệu sản xuất và chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫn còn tồn tại. Trong kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển kinh tế phải đi liền với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội. “Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế”(3) và “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển”(4).

Như vậy, thực hiện mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và CNXH, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Bản thân kinh tế thị trường cho đến nay được xem là phương cách hiệu quả nhất trong phân bổ, khai thác các nguồn lực cho sự phát triển. CNXH là xã hội tương lai, bảo đảm các điều kiện phát triển toàn diện của con người. Do vậy, lựa chọn kinh tế thị trường là sự lựa chọn phù hợp với các quy luật phát triển và các điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại và của những nước đi sau, cho phép các nước này rút ngắn được con đường đi của mình tới CNXH trên cơ sở sử dụng được ưu thế cũng như hạn chế những khuyết tật của thị trường.

2. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam - thành tựu bác bỏ mọi sự xuyên tạc

Để đạt được mục đích đen tối là làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng ta, các thế lực thù địch, phản động, các “nhà dân chủ” đã dùng nhiều thủ đoạn nhằm tung “hỏa mù”, lợi dụng một số hạn chế về quản lý kinh tế đang diễn ra để gán ghép những thông tin khó kiểm chứng, làm cho người đọc khó phân biệt thật hay giả. Chúng vẽ ra những chuyện gây “sốc” như khả năng thực tế về cạnh tranh quốc tế suy yếu, tăng trưởng chậm và bất ổn kinh tế vĩ mô mà nền kinh tế Việt Nam đang phải hứng chịu là do kinh tế thị trường định hướng XHCN mang lại. Hay chính kinh tế thị trường định hướng XHCN sẽ “thải” ra hệ quả là cỗ máy tăng trưởng kinh tế bị trục trặc, nguồn lực xã hội bị sử dụng kém hiệu quả, tạo ra những thua lỗ, nợ nần. Ngoài ra, kinh tế thị trường với nền tảng “lệch lạc”, “méo mó” sẽ khiến cho nền kinh tế trở nên kém cạnh tranh, khu vực tư nhân bị chèn ép, không lớn lên được. Tất cả những yếu tố này còn gây ra nhiều hệ lụy khác như tham nhũng, lãng phí, nợ xấu... Những luận điệu này không chỉ là sự đánh tráo khái niệm, mà còn chứa đầy sự ác ý, thâm hiểm nhằm phủ nhận đường lối, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là đối với chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN vốn đã được chứng minh hiệu quả trên thực tế.

Sau gần 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề quan trọng để tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Kinh tế tăng trưởng liên tục, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh; kinh tế vĩ mô ổn định và từng bước được tăng cường; sức cạnh tranh, tiềm lực và quy mô của nền kinh tế được nâng cao. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ, quyết liệt, có bước đột phá và đạt nhiều kết quả rõ rệt, được nhân dân hoan nghênh, đồng tình, tin tưởng và ủng hộ. Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, kiên quyết, kiên trì giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, năm 2019 kinh tế Việt Nam lần đầu tiên vươn lên nửa trên của bảng xếp hạng thế giới, vị trí 67/141 nền kinh tế được xếp hạng (tăng 10 bậc so với năm 2018), xếp thứ 8 trong số các nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư (tăng 15 bậc so với năm 2018).

Có những mục tiêu tưởng chừng như rất khó đạt được cùng lúc, thông thường sẽ phải có sự đánh đổi trong tiến trình phát triển, đó là quy mô càng lớn càng khó có thể tăng trưởng nhanh. Tuy nhiên, điều này đã không đúng ở Việt Nam. Năm 2018, quy mô kinh tế Việt Nam đạt gần 250 tỷ USD lớn gấp 9,3 lần so với thời điểm bắt đầu đổi mới năm 1986 và gấp gần 1,3 lần so với năm 2015. Nếu như năm 2016 đầu nhiệm kỳ Đại hội XII, chúng ta chỉ tăng trưởng 6,21% thì năm 2019 chúng ta đạt tăng trưởng lên đến 7,02%, đưa quy mô nền kinh tế năm 2019 đạt hơn 262 tỷ USD(5).

Để cố tình chứng minh sự không đúng đắn của việc lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, có luận điệu cho rằng, Việt Nam đã phải chấp nhận đánh đổi giữa tăng trưởng nhanh và ổn định vĩ mô. Năm 2010, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phục hồi chậm sau khủng hoảng, kinh tế Việt Nam đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm, từng bước phục hồi và tăng trưởng khá nhanh với 6,4%, lần lượt các năm tiếp theo từ 2011 đến 2019 chúng ta có tốc độ tăng trưởng là 6,2%, 5,2%, 5,4%, 6,0%, 6,7%, 6,2%, 6,8%, 7,08%, 7,02%. Năm 2019, chúng ta không chỉ đạt được tăng trưởng nhanh hàng đầu khu vực cũng như trên thế giới mà còn duy trì được nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát chỉ 2,79%, mặt bằng lãi suất và tỉ giá luôn duy trì ổn định trong bối cảnh các thị trường tài chính toàn cầu đầy biến động. Cán cân ngân sách tính đến ngày 23-12-2019 là thặng dư, tỷ lệ nợ công giảm từ hơn 64% GDP vài năm trước về còn khoảng 56% GDP. Quy mô xuất nhập khẩu hơn 517 tỷ USD, cán cân thương mại hàng hóa đạt thặng dư kỷ lục gần 10 tỷ USD, dự trữ ngoại hối gần 80 tỷ USD - những con số mà 10 năm trước chúng ta không thể hình dung được.

Thành tựu đạt được nói trên không phải là sự đánh đổi giữa số lượng và chất lượng tăng trưởng, giữa tăng trưởng cao và tăng trưởng bền vững. Năm 2019, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hàng đầu châu Á, thì chất lượng tăng trưởng của chúng ta lại có sự cải thiện rất rõ nét thể hiện qua tốc độ tăng năng suất lao động. Một số quan điểm cho rằng các nước đang phát triển ở giai đoạn tiền công nghiệp hóa, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh thường phải chấp nhận suy giảm yếu tố môi trường và xã hội. Song Chính phủ Việt Nam luôn nhất quán với thông điệp không đánh đổi, hy sinh môi trường để lấy tăng trưởng, xác định công thức ba trong một của sự phát triển là Kinh tế - Xã hội và Môi trường.

Đối với quốc tế, sự phát triển của Việt Nam cũng được ghi nhận một cách khách quan, là điểm sáng về đầu tư và phát triển. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Doanh nghiệp APEC 2017, Tổng thống Mỹ Donal Trump khẳng định: “Vào đầu thập niên 1990, gần một nửa người dân Việt Nam sống chỉ với một vài đô la một ngày, và cứ một trên bốn người không có điện. Ngày nay, nền kinh tế Việt Nam mở cửa là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới. Kinh tế tăng gấp 30 lần và học sinh Việt Nam nằm trong số những học sinh giỏi nhất thế giới, điều này rất đáng phục”(6).

Năm 2019, trong Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2019 tiếp tục hạ xuống 3,2%; tuy nhiên với Việt Nam, IMF dự báo tăng trưởng khoảng 6,5% năm 2019; Ngân hàng Thế giới dự báo ở mức 6,6%; Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) thì lạc quan với dự báo tăng trưởng của Việt Nam ở mức 6,8%. Trong khi đó, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII 2019) mới được Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới công bố cho thấy Việt Nam tiếp tục tăng 3 bậc, xếp hạng 42/129 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam được xếp thứ 8 trong số các nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư năm 2019, tăng 15 bậc so với năm 2018. Thành tích giảm nghèo của Việt Nam tiếp tục là một điểm sáng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam cũng được bầu là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc với số phiếu 192/193...

Quý I năm 2020, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, dẫn đến tăng trưởng kinh tế giảm sút bởi cung và cầu đều suy giảm, song theo dự báo mới nhất của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), nền tảng của kinh tế Việt Nam vẫn được duy trì. “Cho dù các hoạt động kinh tế suy giảm và các rủi ro do dịch COVID-19 vẫn còn, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất khu vực Đông Nam Á,” Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam Eric Sidgwick cho biết. Những động lực tăng trưởng của nền kinh tế trong thời gian tới là khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ, năng động, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện và tầng lớp trung lưu ngày càng tăng nhanh. Giải ngân đầu tư công được cải thiện đáng kể, tăng gần 18% trong giai đoạn tháng 1-2 năm 2020 so với cùng kỳ năm 2019. Giải ngân sẽ tiếp tục được cải thiện trong năm 2020 vì đây là một trong các biện pháp tài khóa ưu tiên để ứng phó với dịch COVID-19. Số lượng lớn các hiệp định thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam tham gia hứa hẹn tăng cường việc tiếp cận thị trường cho Việt Nam, đây là yếu tố thiết yếu cho sự phục hồi kinh tế sau COVID-19.

 Tính đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; 71 nước đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường; nước ta cũng đã ký 14 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các nước, trong đó 11 hiệp định đã có hiệu lực. Hiện nay, Việt Nam đang cùng các nước tích cực thúc đẩy đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Gần đây nhất, ngày 12-2-2020, Nghị viện châu Âu (EP) đã chính thức bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu.

Đối với các hoạt động thương mại quốc tế, Việt Nam cũng đã có sự thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng xuất khẩu thô và hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài. Năm 2018, trong điều kiện co kéo giữa xu hướng “tự do hóa thương mại” và “chủ nghĩa bảo hộ thương mại mới” giữa các cường quốc, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã đạt 475 tỷ USD, tăng 11,7%; trong đó, xuất khẩu 238 tỷ USD, tăng 11,2%; tiếp tục xuất siêu 6-7 tỷ USD. Năm 2019, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 517,19 tỷ USD, tăng 7,6%; trong đó  xuất khẩu đạt 264,19 tỷ USD, tăng 8,4%, nhập khẩu của Việt Nam đạt 253 tỷ USD, tăng 6,8%; thặng dư thương mại đạt mức 11,19 tỷ USD(7).

Với những chỉ số tăng trưởng cao, được thống kê đầy đủ, cụ thể như vậy sao lại cho rằng kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là “mơ hồ”? Ngược lại, đây phải chăng là sự nhận thức “mơ hồ” về nền kinh tế nước ta? Nếu không phải, rõ ràng là sự vu cáo vô căn cứ, không có cơ sở, cố tình diễn biến, phá hoại tình hình Việt Nam.

Để “gia tăng” luận điệu chống phá, còn có các ý kiến cho rằng “đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là không tưởng, đang đứng ở ngã ba đường, không biết đi theo con đường nào, nếu không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì sẽ bị trả giá, tự giác thì đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích đau đớn hơn, chậm chạp hơn”.

Thật hết sức nực cười, trái ngược với lời suy diễn thiếu căn cứ đó, không ai có thể phủ nhận rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển hình ảnh đất nước thanh bình, cuộc sống của nhân dân đã từng ngày được “thay da, đổi thịt”.

Nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, vùng xa, khu vực được cho là yếu thế, khó khăn đã được triển khai mang lại kết quả rõ rệt. Cho đến nay, các xã, cụm dân cư đã có đủ cơ sở xã hội thiết yếu, như: điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế. Tăng trưởng khu vực nông nghiệp luôn theo chiều hướng gia tăng, năm 2018 đạt 3,65%, cao nhất kể từ năm 2012. Xuất khẩu nông sản năm 2018 đạt trên 40,5 tỷ USD. Năm 2019 do ảnh hưởng nặng nề của dịch tả lợn châu Phi tăng trưởng của ngành chỉ đạt 2,2%, song nhiều chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra. Xuất khẩu nông sản năm 2019 đạt 41,3 tỷ USD, thặng dư thương mại đạt 10,4 tỷ USD. Xây dựng nông thôn mới đạt 54% số xã, 111 huyện đạt chuẩn nông thôn mới...(8)

GDP bình quân đầu người năm 2019 đạt gần 2.800 USD (nếu tính cả quy mô nền kinh tế bị bỏ sót thì đã trên 3.000 USD), tăng hơn 700 USD so với năm 2015. Tỷ lệ hộ đói, nghèo giảm nhanh, luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành và vượt mức mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo. Năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo còn 5,2-5,7%, giảm 1-1,5% (riêng các huyện nghèo giảm trên 4%).

Theo đánh giá của Liên Hợp quốc, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Kết quả đó đã thể hiện tính đúng đắn trong sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực trong quản lý của Nhà nước về mục tiêu kinh tế thị trường định hướng XHCN là phát triển kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội (đói nghèo, việc làm, thu nhập, phân hóa giàu - nghèo, công bằng xã hội), đảm bảo môi trường sinh thái... thể hiện bản chất nhân văn của chế độ xã hội XHCN.

Do vậy, luận điệu cho rằng kinh tế thị trường định hướng XHCN là “không tưởng”, “bị trả giá...” thực chất là phản động, muốn hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường TBCN.

Quan điểm xuyên suốt trong lãnh đạo là tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, xây dựng hệ thống hành chính liêm chính, hành động, kiến tạo, phục vụ trong chỉ đạo của chính phủ, năm khởi nghiệp, đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp, sự nỗ lực của nhân dân; cùng với đó là tình hình chính trị ổn định, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi là những nguyên nhân chính mang tính căn cốt để nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam tiếp tục sẽ vượt qua những khó khăn sẽ có được những chỉ số tăng trưởng cao, tích cực. Đây là minh chứng, câu trả lời rõ nhất phản bác các luận điệu xuyên tạc về kinh tế thị trường định hướng XHCN của thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong thời gian qua.