Thứ Ba, 13 tháng 4, 2021

Sự thật về cái gọi là “kênh truyền hình CHTV” và "nhà báo Lê Dũng vô va"

Thời gian qua, trên các trang mạng xã hội Facebook, Youtube thường xuyên xuất hiện cái gọi là “Đài truyền hình CHTV” với hàng loạt video clip, livestream xuyên tạc tình hình đất nước, nói xấu chế độ, bôi nhọ chính quyền. “CHTV” hoàn toàn không phải là một kênh truyền hình, mà chỉ là trang cá nhân do Lê Văn Dũng (Dũng Vova) cùng đồng bọn lập ra để trục lợi và chống phá Đảng, Nhà nước. Từng là sinh viên của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Lê Văn Dũng được học hành, đào tạo cơ bản. Ra trường đi làm được hơn 20 năm, Dũng không lo làm ăn mà lại kết giao với Nguyễn Lân Thắng-một đối tượng đi ngược với truyền thống gia phong, hành “nghề dân chủ”. Lê Văn Dũng tỏ ra khá hăng hái tham gia hoạt động của các tổ chức chống đối, như nhóm No-U, Hội Bầu Bí tương thân. Từ các hoạt động do No-U Hà Nội tổ chức đến các vụ khiếu kiện đất đai ở Đông Anh (Hà Nội); Tiên Lãng (Hải Phòng), Văn Giang (Hưng Yên) đến ô nhiễm môi trường (Formosa)...đều thấy có bộ mặt Dũng. Từ kẻ lăng xăng ngoài đường, Lê Văn Dũng tự biến mình thành một kẻ trí thức với cái mác “phóng viên” của “Thông tấn xã vỉa hè”, tác nghiệp bằng cách livestream trên facebook, youtube. "Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã", Dũng đã gia nhập nhóm “Phong trào chấn hưng nước Việt” do Vũ Quang Thuận, Lê Thăng Long cầm đầu. Nhóm này lập ra cái gọi là kênh “Chấn hưng nước Việt” nhằm tập hợp lực lượng đấu tranh đòi dân chủ, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam sang đa nguyên, đa đảng. Năm 2017, Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển và Trần Hoàng Phúc bị bắt, xét xử với tội danh tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Phong trào chấn hưng nước Việt” tiếp tục được Lê Văn Dũng tiếp quản, điều hành “Kênh 4” của “Phong trào chấn hưng nước Việt” và đổi tên thành “Chấn hưng tivi”, “CHTV VietNam”. Trong clip khai trương “trường quay” tại gia của mình, Dũng ngông cuồng tuyên bố rằng “sắp tới, Phong trào Chấn hưng Nước Việt sẽ đánh sập Đài Truyền hình Việt Nam”. Để vận hành cái gọi là “kênh CHTV”, Dũng cùng đồng bọn tự lập “trường quay” tại nhà riêng, tự xưng là phóng viên, tự làm thẻ nhà báo mà không được cơ quan, tổ chức nào công nhận. Lê Văn Dũng đặt cho kênh một slogan có vẻ khá hấp dẫn và “chính thống”: “CHTV là kênh truyền hình của bạn, của dân oan” để móc nối, lôi kéo những người bị cho là “dân oan” mang hồ sơ đến cho y hoặc có thể gửi qua đường bưu điện.Bằng thủ đoạn lăng xê của một con buôn như “phí lên sóng chỉ bằng nửa giá quảng cáo của VTV”, “tặng quà khi lên sóng”…, Dũng và đồng bọn đã khiến nhiều người dân do thiếu hiểu biết lại đang có những khúc mắc với chính quyền bị sập bẫy. Sự thật về cái gọi là “kênh truyền hình CHTV” và "nhà báo Lê Dũng vô va" Chiêu trò “ghi hình” livestream của Dũng trên “CHTV” thường là mớm lời, khuyến khích dân oan chửi bới, thóa mạ chính quyền. Dũng không quên thêm thắt bình luận xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền, lãnh đạo các địa phương. Lãnh đạo một sở thông tin và truyền thông cho biết, Dũng từng gọi điện cho cán bộ địa phương, ngông cuồng đe dọa, xưng danh là giám đốc kênh CHTV. Dũng còn bày trò câu view với những từ khóa nhạy cảm hoặc lồng ghép thật giả, đúng sai, bóp méo sự thật và đặc biệt hay cung cấp những tin giả chưa được kiểm chứng về đời tư của lãnh đạo…. Cư dân mạng vì tò mò click vào vô hình trung giúp “CHTV” kiếm tiền bởi khi lượng truy cập lớn, video clip sẽ tự nổi, hiển thị ngay khi người dùng truy cập Youtube. Lượt xem càng lớn thì Dũng càng có cơ hội nhận được tiền từ việc đặt hàng quảng cáo từ nhà mạng. Sau những chương trình như vậy, người dân thì cứ dài cổ chờ đợi với lời hứa sẽ giúp đỡ giải quyết của Dũng, thậm chí còn bị liên lụy vì dính dáng đến đối tượng phản động. Còn Dũng và đồng bọn thì mặc nhiên hưởng lợi. Quả không sai khi có trang mạng gọi Dũng là “kẻ hút máu dân nghèo”. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân từng tìm hiểu sự việc Dũng lôi kéo người dân khiếu kiện sai sự thật ở Thái Nguyên với lời hứa sẽ "mang lại công lý", cuối cùng kết quả chỉ là "tiền mất tật mang". Ngoài việc "hút máu" và trục lợi bất chính từ những người dân nghèo và tìm kiếm đơn hàng từ các thế lực phản động bên ngoài, Lê Văn Dũng cùng đồng bọn còn tích cực đến các địa phương tìm cách phát triển lực lượng chống đối, trong đó họ tập trung móc nối, lôi kéo số đầu đơn, khiếu kiện cực đoan tại các địa phương, thu thập thông tin về các vụ khiếu kiện, sau đó lồng ghép các nội dung xuyên tạc, bôi nhọ…, tán phát trên “Đài CHTV”. Đến nay, trên các trang mạng xã hội tự lập, Lê Văn Dũng cùng đồng bọn đã thực hiện hàng nghìn video clip xuyên tạc, bóp méo sự thật về các vấn đề như: Quy hoạch bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), sân bay Tân Sơn Nhất (TP Hồ Chí Minh); vụ việc phức tạp tại trạm BOT Lai Cậy (Tiền Giang)….. Hầu hết các video clip này đều được các tổ chức phản động lưu vong, các báo, đài, nước ngoài có thái độ thù địch với Việt Nam khai thác, cổ súy. Mới đây nhất, trong vụ việc xảy ra tại Đồng Tâm (Mỹ Đức, Hà Nội), Lê Văn Dũng cùng nhiều đối tượng phản động, chống đối trong, ngoài nước đã liên hệ với số đối tượng cốt cán của “Tổ đồng thuận” để “hỗ trợ pháp lý”, hướng dẫn cách thức đăng tải, cập nhật tình hình Đồng Tâm; viết đơn, thư gửi các tổ chức quốc tế, chính giới các nước nhằm kêu gọi sự hỗ trợ. Và cũng chính nhờ các buổi livestream đó mà những kẻ khủng bố ở Đồng Tâm có cơ hội nhận được những cọc tiền đô la từ các thế lực phản động để rồi phạm tội “giết người”, “chống người thi hành công vụ”. Lê Văn Dũng đã nhiều lần bị Cơ quan An ninh điều tra, Công an thành phố Hà Nội triệu tập để làm việc liên quan tới tin báo về tội phạm của Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm công nghệ cao. Tuy nhiên, Lê Văn Dũng không chấp hành và có biểu hiện coi thường kỷ cương phép nước. Mới đây nhất, ngày 16-3, Lê Văn Dũng tiếp tục bị Cơ quan An ninh điều tra, Công an TP Hà Nội triệu tập, nhưng y thể hiện thái độ tránh né, trốn tránh làm việc, thoái thác bằng cách sẽ ủy quyền luật sư thay mình đi làm việc với cơ quan an ninh điều tra. Lê Văn Dũng cho rằng, Điều tra viên không được ký tên, đóng dấu. Đúng là Dũng đã quen thói “đã dốt còn tỏ ra nguy hiểm”, bởi theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015, việc Điều tra viên ký giấy triệu tập là hoàn toàn đúng luật. Mới đây Lê Văn Dũng còn diễn trò làm hồ sơ ứng cử Đại biểu Quốc hội. Với nhân cách xấu xa và những hành vi sai trái, Dũng sẽ chẳng thể trở thành đại diện cho nhân dân ở Quốc hội và có lẽ bản thân Dũng cùng các đối tượng cổ vũ cho y cũng hiểu rõ điều này nhưng chúng vẫn rêu rao tự đánh bóng bản thân. Khi bị xử lý bằng pháp luật thì chúng “rạch mặt ăn vạ”, vu cáo chính quyền “trả thù”, “cản trở dân chủ”. Chiêu trò “ăn vạ” này thể hiện rõ nhất khi một thành viên cốt cán khác của “kênh CHTV” là Lê Trọng Hùng ngày 29-3 vừa qua bị Cơ quan An ninh điều tra (Công an thành phố Hà Nội) bắt tạm giam để điều tra làm rõ hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015. Thế nhưng, đồng đảng của Hùng lại lu loa lên rằng ông ta bị bắt vì lý do ứng cử đại biểu Quốc hội. Bản thân Lê Trọng Hùng đã không ít lần bị cơ quan an ninh điều tra triệu tập làm việc về hành vi tuyên truyền chống Nhà nước trên mạng. Trên mạng không khó để tìm thấy thông tin về việc Lê Trọng Hùng cùng băng nhóm “đấu tranh dân chủ” tụ tập, gây rối, kích động biểu tình, trong đó có cả việc Lê Trọng Hùng gặp gỡ, tiếp xúc với số chống đối tại Đồng Tâm để “tặng Hiến pháp”, “phổ biến quyền công dân”, cổ vũ, kích động nhóm đối tượng này tăng cường các hoạt động chống đối một cách cực đoan. Với một kẻ cầm đầu như vậy, chắc hẳn bạn đọc cũng nhìn ra được thực chất của cái gọi là “kênh truyền hình CHTV” là gì. Đây chắc chắn không phải là một kênh truyền hình hay cơ quan báo chí. Những sản phẩm của “CHTV” chỉ là tập hợp những video do Lê Văn Dũng và đồng bọn tự quay bằng điện thoại di động rồi tán phát trên mạng xã hội Facebook hoặc Youtube. Lê Văn Dũng và đồng bọn tự lập ra rồi mạo nhận là “đài truyền hình thông tin về chính trị, phản biện xã hội”. Như vậy, cái gọi là “kênh truyền hình CHTV” không phải là cơ quan ngôn luận của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào, cũng không được cấp phép hoạt động báo chí, truyền thông. Ngay trong lời tự giới thiệu trên trang Facebook của “kênh” này cũng nói lên điều đó: “Đài truyền hình CHTV Vietnam” như một tờ báo hình, hoạt động độc lập, không trực thuộc cơ quan, đảng phái nào…, phát sóng trực tiếp trên nền tảng Facebook, Youtube. Thời gian gần đây, “CHTV” còn tán phát nhiều video clip (do Anton Tuấn dẫn) bình luận xuyên tạc vị trí, vai trò của Quốc hội và công tác bầu cử tại Việt Nam; bôi nhọ danh dự các vị lãnh đạo cấp cao của Quốc hội. Chúng kêu gọi “Quốc hội Việt Nam cần phải trở về đúng vị trí”, đặt ngoài sự lãnh đạo của Đảng, hô hào người dân không đi bầu cử vì “nhân sự đã được sắp xếp từ trước”… Luật Báo chí năm 2016 đã quy định: Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân. Và một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của báo chí là: Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân. Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa…. Như vậy, đối chiếu vào tiêu chuẩn, quy định ở trên thì “kênh truyền hình CHTV” hoàn toàn không phải là “một tờ báo hình” như những kẻ tạo lập ra nó vẫn rêu rao. Bản thân Lê Văn Dũng và đồng bọn không đủ tư cách để tự xưng là nhà báo. Người dân cần tỉnh táo, khi có những vấn đề khúc mắc thì nên tìm đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo đúng pháp luật. Đừng vì nhẹ dạ, cả tin để các đối tượng lợi dụng lừa bịp. Đánh giá về các thông tin tán phát trên mạng xã hội, Trung tướng, GS, TS Nguyễn Xuân Yêm, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Khoa học quản lý và Quản trị An ninh phi truyền thống (ĐHQG Hà Nội), nguyên Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an cho rằng, những thông tin do cá nhân đăng tải trên Facebook, twiter, viber, zalo… đa phần đều không qua kiểm chứng, kiểm duyệt nhưng lại lan truyền rất nhanh, tác động mạnh mẽ đến xử sự của mỗi cá nhân. Các khuynh hướng này tác động hằng ngày, hằng giờ khiến một bộ phận quần chúng nhân dân mất phương hướng; các chuẩn mực giá trị không còn được coi trọng, dẫn đến sự suy thoái, biến chất về văn hóa, lối sống. Đã đến lúc các cơ quan pháp luật cần tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý nghiêm minh những hành vi sai trái của Lê Văn Dũng và các đối tượng liên quan.

THÁNG TƯ LẠI VỀ VÀ CÁC NGƯỜI HÃY THÔI BỐ LÁO!



Cổ nhân dạy: “Lo thắng người thì loạn, lo thắng mình thì bình!”. Cả một đời trai trẻ đã theo ngoại bang để chống lại tổ quốc, hết theo Pháp lại quy Nhật, Pháp chạy, Nhật hàng thì lại theo Hoa Kỳ để chia đôi sơn hà của tổ tiên để lại. Một đời làm tay sai, không có lý tưởng, thất bại và vong quốc nô. Đã 46 năm rồi, không ngày nào các người không kêu gào phục quốc, tìm mọi cách để phá hoại quê hương, nơi cội nguồn của mình; mong thắng người nhưng thắng sao được chủ nghĩa anh hùng cách mạng. 

Bán nước là tội nghiệt nặng nề nhất của kiếp nhân sinh, vậy nên kẻ tiểu nhân không thể thắng người chính nhân, đó là điều chắc chắn. Có chăng, những kẻ chống cộng cực đoan đã không thể chiến thắng được bản thân mình, không chấp nhận sự thật lịch sử, ảo vọng và hoang tưởng về cái gọi “lấy lại đất tổ, không làm khổ dân”. Không tu được thân, không tề gia được thì sao có thể trị quốc và bình thiên hạ. Không biết chấp nhận thực tế để cùng hướng về quê hương, xây dựng một Việt Nam mang đặc sắc Việt Nam thì sao gọi là thắng được chính mình. Các người hãy thôi nói:

Thứ Nhất, các Người thôi nói “Việt Nam không có tự do, dân chủ, nhân quyền; bắt bớ và giam giữ người bất đồng chính kiến”:

Cần khẳng định rõ rằng, Việt Nam là đất nước đấu tranh mạnh mẽ nhất trên thế giới này để giành giật quyền con người từng bị cướp đoạt trong tay quân xâm lược, đô hộ. Một đất nước đã dùng cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giành độc lập, tự do, bảo đảm dân chủ, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền tự quyết vận mệnh dân tộc. Nước Việt do dân Việt làm chủ, chế độ lấy tổ quốc, nhân dân làm trung tâm để phụng sự. Dân tộc đó phải là dân tộc tự do nhất, dân chủ nhất, dân quyền nhất! 

Vừa qua một số đối tượng như Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Cấn Thị Thêu, Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Tường Thụy…bị bắt, họ bị bắt để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật. Khởi tố về tội theo Điều 117 Bộ luật hình sự “làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam”. Những kẻ đó không phải là thực hiện quyền tự do dân chủ cũng như cổ súy nhân quyền mà bản chất là hành vi vi phạm pháp luật. Các người cho rằng: “Việt Nam đã bắt giữ, bịt các tiếng nói đối lập” là hoàn toàn không có cơ sở, không đúng bản chất sự việc bởi họ bị bắt là vì vi phạm pháp luật chứ không phải vì tiếng nói đối lập hay trung lập gì cả.

Quốc có quốc pháp, gia có gia quy. Vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Việt Nam không như Hoa Kỳ hay một số nước Tây Âu, mồm thì ra rả dân chủ nhân quyền nhưng thực chất là những kẻ sát nhân tàn bạo nhất, đúng là những kẻ thiếu thứ gì thì hay rao giảng về thứ đó. Bom đạn Mỹ vẫn nổ khắp nơi trên thế giới, máu tươi tanh tưởi vẫn trào ra, ly tán, chia rẽ và khổ đau mà các nước Trung Đông hay Bắc Phi, Nam Mỹ, Châu Á…vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Nhân quyền ở đâu khi mà quyền tối thượng của mỗi con người là quyền được sống vẫn thường xuyên bị các nước lớn uy hiếp, tước bỏ? 

Thứ Hai, các người hãy thôi nói “Cộng sản Việt Nam hèn với giặc, ác với dân”, “sau từng ấy năm giải phóng mà đất nước vẫn nghèo đói”:

Hèn với mà dẫn dắt cả dân tộc lần lượt đánh bại người Pháp, Nhật, Mỹ, Trung, Pôn Pốt. Hèn với giặc mà hàng hàng lớp lớp các thế hệ người Việt Nam anh dũng ra chiến trường để rửa cái nhục mất nước, cái nhục nô lệ cho dân tộc này. Hèn với giặc mà trên chiến trường quyết chiến quyết thắng tất cả các kể thù xâm lược bằng những trận đánh long trời lở đất mang tên chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. 

Ác với dân mà làm cho họ từ thân phận nô lệ, tôi đòi mà đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của tổ quốc. Ác với dân mà từ chỗ hơn 2 triệu người chết đói do chính sách bạo tàn của người Pháp và đặc biệt là phát xít Nhật gây ra 1945, không hề có quyền con người dưới chế độ thực dân, phong kiến mà trở thành những con người có áo đẹp, cơm ngon với đầy đủ các quyền tự do, dân chủ. Ác với dân mà vào sinh ra tử để cứu dân khỏi nước sôi, lửa bỏng, cứu dân khỏi thiên tại lũ lụt, dịch bệnh. Ác với dân mà chỉ sau 30 năm đổi mới, đất nước từ chỗ nghèo đói nhất thế giới, quy mô nền kinh tế 180/195 quốc gia năm 1991 đã vươn lên thành nền kinh tế thứ 37. Hết năm nay sẽ vượt Philippines để đứng thứ 3 Đông Nam Á và chính thức cạnh tranh sòng phẳng vị trí thứ hai với Thái Lan….

Yêu nước ST.

Đừng tin... bánh vẽ!

 

Ngày nghỉ cuối tuần, tôi đón xe khách về quê. Trong suốt hành trình, có nhóm thanh niên tỏ ra quan tâm đến đời sống chính trị, xã hội. Họ bàn luận sôi nổi từ chuyện phòng, chống dịch Covid-19 đến chuyện bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp... Họ cũng bày tỏ lạc quan vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước...

Chiêu trò xúi giục phá hoại

 

So với những lần bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp trước đây thì mức độ chống phá của các thế lực thù địch nước ngoài và cơ hội chính trị trong nước thời gian gần đây có diễn biến mới, trắng trợn, thâm độc và lan rộng trên mạng xã hội.

TRỊ BỆNH ĐỂ NGĂN CHẶN LỢI DỤNG CHỐNG PHÁ

Không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng căn bệnh a dua để chống phá, trước hết chúng ta cần tìm cách chữa trị căn bệnh này. Công việc cần thiết trước nhất cần nói đến đó là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, giúp mọi người tham gia vào không gian mạng nhận diện đúng bản chất và tính phức tạp, nhiễu loạn của các thông tin trên MXH. Mặt khác, cần tuyên truyền để mọi người dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng căn bệnh a dua để truyền bá những tư tưởng, quan điểm sai trái, kích động, lôi kéo, tập hợp lực lượng hòng chống phá Đảng và Nhà nước ta của các thế lực thù địch, phản động. Thông qua tuyên truyền, giáo dục nâng cao sức đề kháng và khả năng “miễn dịch” cho mỗi người vẫn là giải pháp quan trọng, căn cơ để chúng ta từng bước khắc phục căn bệnh a dua và âm mưu lợi dụng căn bệnh này để chống phá của các thế lực thù địch. Truyền thông xã hội nói chung, MXH nói riêng giống như “cái chợ” và khi tham gia vào “cái chợ” ấy ta phải chấp nhận ở đó tất thảy mọi thông tin: Tốt có, xấu có; đúng có, sai có; thuận chiều có và trái chiều có... Để không biến mình thành kẻ a dua, theo đuôi, không đánh mất mình khi vào “chợ thông tin” này, điều quan trọng hơn là chúng ta phải luôn giữ thế chủ động thông tin. Trước mỗi sự kiện, vấn đề, nhất là những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, thông qua các phương tiện truyền thông chính thống, các cơ quan chức năng cần cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết đến người dân. Thực tiễn cho thấy chủ động dẫn dắt, định hướng thông tin trên không gian mạng là phương cách hữu hiệu để phòng ngừa những phát biểu bừa bãi và thói a dua vào hùa nhằm mục đích xấu. Đi cùng với đó, mỗi chúng ta phải tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết để phân biệt được đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin sai, đâu là thông tin không có cơ sở; đâu là thông tin hữu ích, thông tin xấu độc... Trong thế giới phẳng, mỗi người chúng ta cần hết sức cẩn trọng trong mỗi phát ngôn, mỗi bài viết khi tung lên các phương tiện truyền thông xã hội. Trước mỗi phát ngôn, mỗi hành vi, sự việc nghe được, bắt gặp trong đời sống, mỗi người chúng ta trước khi bày tỏ thái độ, quan điểm cần có sự suy xét, nhìn nhận và lý giải cho thấu đáo, để ứng xử nhân văn và không đánh mất mình. Mặt khác, mỗi người bằng các công cụ có sẵn hoàn toàn có thể điều tiết được các mối quan hệ của mình trên MXH để sàng lọc, chia sẻ, bình luận trong chừng mực nhất định. Khi mọi người tỉnh táo, sáng suốt trong sàng lọc thông tin, nhận diện và ứng xử phù hợp trước những thông tin xấu độc thì các thế lực thù địch không dễ bề lợi dụng để chống phá. Đây cũng chính là phương cách để mỗi người chúng ta góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái trên không gian mạng./.

Không thể phủ nhận thành quả dân chủ và quyền con người của Việt Nam .

Trong thời gian qua, trước những khó khăn về kinh tế-xã hội chưa được giải quyết và những diễn biến phức tạp trong khu vực… lợi dụng tình hình này, những kẻ cơ hội chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã xuyên tạc tình hình, hòng bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội Việt Nam… . Họ viết và tán phát trên mạng rằng: "Đàn áp về nhân quyền ở Việt Nam ngày càng gia tăng"; "các quyền của người dân, trong đó có dân chủ, quyền lập hội, biểu tình… không được thực hiện, trái lại ngày càng bị bóp nghẹt...". Vậy dân chủ và quyền con người là gì? Những quyền này đã và đang được bảo đảm ở Việt Nam như thế nào? Theo quan niệm chung, dân chủ là chế độ chính trị trong đó toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do dân thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại diện của mình bầu ra... Đó là các cơ quan quyền lực và chính quyền các cấp. Về hình thức, hoặc mô hình dân chủ gồm có các dạng-dân chủ trực tiếp, dân chủ gián tiếp. Một trong những đặc trưng nổi bật nhất của chế độ dân chủ là thiết lập và duy trì nguyên tắc “thiểu số phục tùng đa số”, đồng thời thừa nhận quyền tự do về chính trị và quyền bình đẳng về giới tính, về dân tộc, về vị thế chính trị-xã hội của mọi công dân. Trong đó gồm cả quyền được bảo lưu của cá nhân. Có thể nói, các cuộc cách mạng dân chủ tư sản mở đầu từ thế kỷ 16, với các cuộc cách mạng điển hình như: Hà Lan năm 1581 (mở đầu); Anh năm 1689; Mỹ năm 1766; Pháp năm 1789 đã mở ra một nền dân chủ tư sản, trong đó bao gồm đầy đủ các nhân tố của dân chủ. Cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một chế độ dân chủ mới. Đó là dân chủ XHCN, nền dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo hướng đến lợi ích và sự bình đẳng cho mọi người. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, do tác động của chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc ra đời, trong đó có Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam. Chế độ dân chủ sau Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là chế độ dân chủ nhân dân hướng theo con đường xây dựng xã hội XHCN. Có thể xem các nền dân chủ: Dân chủ tư sản, dân chủ XHCN, dân chủ nhân dân là 3 chế độ-3mô hình dân chủ trên thế giới. Mỗi một chế độ dân chủ nói trên đều có những thiết chế khác nhau, nhưng tựu trung đều có những yếu tố sau: 1) Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân (bao gồm tất cả các thành viên xã hội); 2) Bầu cử tự do và theo nhiệm kỳ bầu ra các cơ quan, người lãnh đạo nhà nước; 3) Quyền lực của nhà nước được chia ra làm 3 nhánh: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi cơ quan trên có một chức năng riêng; 4) Hiến pháp và pháp luật được xem là tối thượng; 5) Các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được tôn trọng và bảo đảm. Thực tế cho thấy, chế độ dân chủ trên thế giới có nhiều mô hình. Chế độ dân chủ ở Hoa Kỳ có đặc trưng là luôn có hai đảng chính trị thay nhau lãnh đạo cầm quyền; công dân, trong các cuộc bầu cử bị chia thành hai loại “đại cử tri” và cử tri thường. Đặc trưng nền dân chủ của Việt Nam là tất cả mọi người đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; chế độ dân chủ của Việt Nam dựa trên hệ thống chính trị các cấp-đó là chế độ sinh hoạt của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; là tiếng nói của Mặt trận Tổ quốc và của các đoàn thể xã hội luôn luôn được tôn trọng. Ở đây tiếng nói, nguyện vọng của người dân được bảo đảm thông qua các đại diện của mình. Một trong những đặc trưng của nền dân chủ ở Việt Nam là chế độ dân chủ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam-đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật". (Điều 4, Hiến pháp 2013). Ngay từ khi cách mạng thành công (tháng 8-1945) cho đến thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đến dân chủ ở cấp cơ sở. Còn nhớ, sau sự kiện nông dân ở tỉnh Thái Bình tụ tập đông người đi khiếu kiện gây ách tắc giao thông (năm 1997); một số nơi, nông dân còn tấn công, đập phá trụ sở cơ quan công quyền. Sau khi khảo sát, nghiên cứu, khi ấy, Tổng Bí thư Đỗ Mười cho rằng: Tình trạng gây mất trật tự nói trên bắt nguồn từ sự vi phạm quyền dân chủ của người dân. Theo đó. Tổng Bí thư Đỗ Mười chỉ đạo ban hành Chỉ thị số 30 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Nội dung quy chế dân chủ ở cơ sở gồm: Bảo đảm để mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước…; có quy chế và các hình thức để nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sở được bàn bạc và tham gia ý kiến vào các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ công tác chuyên môn, công tác cán bộ... của chính quyền, cơ quan, đơn vị; có quy định về việc để nhân dân bàn và quyết định dân chủ đối với những loại việc liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân trên địa bàn; cơ chế để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức ở cơ sở trực tiếp và thông qua, gồm: Mặt trận, các đoàn thể, ban thanh tra nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền, thủ trưởng cơ quan,… Sau Chỉ thị 30, Chính phủ đã luật hóa bằng nghị định của Chính phủ. Dựa trên chỉ thị và nghị định về dân chủ, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hàng trăm văn bản nhằm bảo đảm quyền dân chủ của người dân ở cơ sở, bao gồm cả quyền dân chủ của cán bộ, công chức, của cán bộ, nhân viên ở các doanh nghiệp… Cho đến nay, chế độ dân chủ ở Việt Nam đã và đang được thực hiện nghiêm túc ở các cấp, từ cơ sở xã phường, cơ quan, cho đến Quốc hội. Tất cả những vấn đề từ đời sống thường nhật cho đến vấn đề độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ đều được người dân quan tâm và có quyền tham gia. Chẳng hạn, hiện nay vấn đề nguồn nước sạch, thực phẩm an toàn, bảo vệ quyền trẻ em... từng là những chủ đề “nóng” trên diễn đàn Quốc hội. Gần đây, vấn đề Biển Đông là chủ đề được Quốc hội Việt Nam đặc biệt quan tâm. Ngày nay, nói đến chế độ dân chủ và quyền con người (QCN) thì không thể không nói đến quyền sử dụng internet và mạng xã hội. Việt Nam chính thức nối mạng internet từ năm 1997. Từ năm 2010, đường truyền internet ở Việt Nam được chuyển từ dây cáp đồng sang cáp quang. Tính đến năm 2017, Việt Nam đã có 64 triệu người dùng internet, chiếm 67% dân số cả nước. Với con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Theo thống kê chưa đầy đủ, cho đến nay, Việt Nam đã có 858 cơ quan báo chí in; 105 cơ quan báo điện tử; 207 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí; 66 đài phát thanh, truyền hình. Hiện nay, không chỉ người dân Việt Nam mà cư dân nước ngoài sinh sống, làm việc ở Việt Nam có đầy đủ thông tin từ những hãng thông tấn báo chí lớn. Hiện ở Việt Nam có tới 75 kênh truyền hình nước ngoài “online”, trong đó có các kênh nổi tiếng, như: CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg... Hiện có tới 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam, nhiều báo, tạp chí in bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài được phát hành rộng rãi. Qua internet, người dân Việt Nam có thể tiếp cận thông tin từ các cơ quan thông tấn, báo chí lớn trên thế giới, như: AFP, AP, BBC, VOA, Reuters, Kyodo, Economist, Financial Times,... Trước mỗi kỳ họp Quốc hội, các đại biểu đều có chương trình tiếp xúc cử tri. Những cuộc tiếp xúc cử tri được các đài phát thanh, truyền hình đăng tải rộng rãi. Nội dung các cuộc tiếp xúc cử tri ngày nay không chỉ là những vấn đề sinh kế, điều kiện sinh hoạt của người dân, tham gia vào các dự thảo luật, mà cử tri còn đặc biệt quan tâm đến những vấn đề lớn của đất nước, các chủ trương trong chính sách đối ngoại... QCN là các nhu cầu về vật chất và tinh thần-từ nhu cầu về dân sự, chính trị, đến kinh tế-xã hội và văn hóa được luật hóa và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ. Xét về lịch sử, QCN chỉ đến với dân tộc Việt Nam khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Các Hiến pháp Việt Nam từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013 đã quy định về QCN. Nội dung những quy định này hoàn toàn tương thích với luật quốc tế về QCN. Hiến pháp 2013 đã dành cả một chương để quy định về QCN. Trong đó, Điều 14 quy định: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các QCN, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; QCN, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Kiểm soát quyền lực của nhân dân không chỉ là nguyên tắc của chế độ ở Việt Nam mà còn là động lực của sự phát triển. Trong xã hội ở Việt Nam ngày nay, nguyên thủ cũng có trách nhiệm trả lời những vấn đề người dân quan tâm. Trong buổi tiếp xúc với cử tri quận Ba Đình, Hà Nội sáng 15-10, trả lời ý kiến của cử tri quan tâm về vấn đề chủ quyền biển đảo ở Biển Đông, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nói: "Chúng ta phải giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước, nhưng không nhân nhượng vấn đề lãnh thổ, độc lập, chủ quyền”. Những ý kiến xuyên tạc, phủ nhận thành tựu về dân chủ và QCN có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nhận thức không đầy đủ về dân chủ và QCN… Ở nhiều quốc gia phương Tây, dân chủ thường gắn với các hoạt động chống chính phủ của các tổ chức phi chính phủ (NGOs)… Đó là các cuộc tụ tập đông người, phá hủy các công trình công cộng, xúc phạm cá nhân, quan chức từ cấp thấp cho đến tổng thống. Quyền tự do báo chí cũng có nội dung tương tự… Trách nhiệm của người đưa tin, của cơ quan quản lý báo chí thường rất nhẹ. Vì vậy dùng tiêu chí dân chủ, nhân quyền của phương Tây để xem xét, đánh giá chế độ dân chủ và QCN của Việt Nam là một sai lầm về chính trị và thiếu sót về phương pháp luận. Không phủ nhận rằng trong quá trình quản lý xã hội, Việt Nam còn có những khiếm khuyết, trong đó có việc bảo đảm quyền dân chủ của người dân. Ở địa phương này, địa phương khác vẫn còn có hiện tượng lợi ích của người dân chưa được tôn trọng, bảo đảm, nhất là trong vấn đề đất đai. Đây là vấn đề lớn mà các cấp ủy và chính quyền cần đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, cần nhận thức đúng, về mặt nguyên tắc, nền dân chủ của Việt Nam là một nền dân chủ có kỷ cương, có tổ chức, có hệ thống. Trong xã hội Việt Nam, bảo đảm quyền dân chủ, nhưng phải bảo đảm đúng pháp luật và giữ vững sự ổn định xã hội. Bảo đảm dân chủ và QCN vừa là quyền, vừa là mục tiêu hướng đến của chế độ… vì vậy mỗi chúng ta cần nỗ lực hơn nữa để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền dân chủ và QCN theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật.

TRÁCH NHIỆM KHI THAM GIA MẠNG XÃ HỘI

 Internet và mạng xã hội ngày càng phát triển và đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận mà nó mang lại, đây cũng là môi trường thuận lợi để các thế lực thù địch, chống đối thường lợi dụng để chống phá Việt Nam.

Đảng luôn thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình đối với nhân dân

 Với việc nhanh chóng nhập những lô vaccine đầu tiên và triển khai kế hoạch tiêm phòng Covid-19 đại trà nhanh hơn nhiều so với dự kiến, Việt Nam đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá rất cao về chiến lược phòng, chống dịch, sớm tạo “tấm khiên” vững chắc trong cuộc chiến với đại dịch. Việt Nam cũng đã ghi tên mình vào chiến dịch tiêm chủng lớn nhất lịch sử nhân loại. Nhưng vừa qua, lại xuất hiện nhiều thế lực thù địch đã xuyên tạc những nỗ lực đầy tính nhân văn của Đảng, Nhà nước ta.

Luật bầu cử và các phần tử cực đoan

    Từ chủ trương, chính sách của Đảng đến Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước đều khuyến khích người có đức, có tài tự ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) để góp sức xây dựng đất nước.

Sáng suốt trong tiếp nhận thông tin

    Đã thành “thói quen”, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng các cấp, đặc biệt là Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các thế lực thù địch, phản động lại không ngừng đưa những thông tin sai trái, bóp méo, xuyên tạc tình hình đất nước nhằm kích động, chia rẽ nội bộ, bôi nhọ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. 

    Nắm bắt được nhu cầu thông tin của nhân dân về công tác chuẩn bị nhân sự, chúng đã tung lên mạng Internet đủ các loại thông tin bịa đặt, bôi nhọ, suy diễn, đồn đoán nhận định vô căn cứ về công tác cán bộ nhằm mục đích gây rối, làm nhiễu loạn thông tin, chia rẽ nội bộ và phá hoại sự thành công của Đại hội Đảng các cấp. Đặc biệt, chúng triệt để sử dụng Internet phát tán tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước và cá nhân các đồng chí lãnh đạo.

    Có thể khu biệt những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ, đảng viên được kẻ xấu thể hiện ở một số kiểu dạng như: xuyên tạc, sai sự thật về tình hình sức khỏe; moi móc, thêu dệt bí mật đời tư; bình phẩm, phán xét về trình độ, năng lực; xuyên tạc nhân phẩm, đạo đức, lối sống... Chẳng hề được chứng kiến sự kiện, mà chỉ là “bắc chõ nghe hơi”, nhưng chúng đã dựng lên những câu chuyện về các cuộc tiếp xúc ngoại giao, đón tiếp nguyên thủ các quốc gia sang thăm, các chuyến đi công tác nước ngoài... Điều này khiến cho dư luận hiểu sai về trình độ, khả năng ứng xử của cán bộ, hiểu sai về đường lối đối ngoại của Việt Nam ta.

    Từ những vụ việc đã được xử lý, hoặc đang trong quá trình xử lý, chúng đưa ra bình luận ác ý, rồi suy diễn, bịa đặt rằng các đối tượng đã “bôi trơn” nên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật không dám làm mạnh tay. Lợi dụng kết quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Đảng ta tiến hành, chúng xuyên tạc, bóp méo, vu khống, suy diễn cho rằng đó là cuộc “thanh toán phe phái”, “trả thù cá nhân” giữa người này với người kia, nhóm này với nhóm khác vì “lợi ích nhóm”... Từ đó, nhằm gieo rắc những hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng xuyên tạc các mối quan hệ cho rằng người này ủng hộ người kia, người này cùng ê kíp người kia, rồi tự phân chia phe phái. Từ những sự việc mà báo chí đã đưa tin, chúng đặt điều, vu khống, bóp méo, xuyên tạc nói rằng người này đang “dắt tay” người kia vào vị trí này, vị trí nọ; bình phẩm, phán xét rồi nhận định người này nghỉ thì người kia sẽ lên thay và cuộc chiến chống tham nhũng sẽ đi về đâu, “cán cân” quyền lực sẽ nghiêng về phe nào (!?)

    Để hướng lái nội dung đại hội, nhất là công tác nhân sự, chúng dùng chiêu “nắn dòng” đưa ra những thông tin bình phẩm về trình độ, năng lực của người này, người kia rồi đặt lên bàn cân so sánh. Khi cần “hạ bệ” cá nhân nào, chúng tập trung khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm ở những ngành, những lĩnh vực mà cá nhân đó phụ trách; rồi quy kết trách nhiệm theo kiểu “bới lông tìm vết”; thậm chí là trắng trợn dựng chuyện, bịa đặt, đổi trắng thay đen, bóp méo hòng thay đổi bản chất của các vụ việc liên quan đến một số cán bộ, nhất là những đồng chí nằm trong quy hoạch nhân sự đại hội...

    Cần nhận thức rõ thực chất của những việc làm trên vẫn là những chiêu trò cũ rích mà họ đã sử dụng để chống phá Đảng, Nhà nước ta trong các kỳ đại hội trước đây. Mục đích cuối cùng của những chiêu trò ấy mới nghe tưởng chỉ nhằm vào từng cá nhân đơn lẻ, nhưng xét cho cùng, vẫn là nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp uy tín lãnh tụ, uy tín cán bộ, đảng viên để chống phá chế độ, chống phá dân tộc ta.

    Dù có tinh vi, thâm hiểm đến đâu chăng nữa, những chiêu trò ấy cũng không che giấu nổi tâm địa xấu xa của các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội và càng không thể đánh lừa được dư luận. Bởi lẽ đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta luôn cảnh giác, bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt trong việc chọn lọc và tiếp nhận thông tin./.


Âm mưu lợi dụng vấn đề chủ quyền biển đảo để kích động chống phá

    Ngày 14-3 vừa qua, tròn 33 năm sự kiện Trung Quốc đánh chiếm trái phép đảo Gạc Ma năm 1988. Trong khi nhiều phương tiện truyền thông đại chúng có nhiều bài viết khẳng định chủ quyền biển đảo của Tổ quốc với những bài viết mang thông tin cụ thể và sống động thì cũng xuất hiện trên “cõi mạng” hàng loạt bài viết lợi dụng chủ đề này để kích động chống phá. Nhưng có thể dễ nhìn nhận và đánh giá rằng: Sự kiện Gạc Ma chỉ là một cơ hội lớn nhất, dễ nhất để các thế lực chống phá, lợi dụng. Bất cứ sự kiện nào, vụ việc nào liên quan đến chủ quyền biển đảo cũng đều được các thế lực này tận dụng.  Những nội dung liên quan đến chủ quyền biển đảo thường được các thế lực thù địch lợi dụng tối đa. Đó cũng là điều dễ hiểu vì chủ đề này đặc biệt dễ chạm đến con tim của mỗi người dân Việt Nam yêu Tổ quốc. Khi chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị thách thức hoặc xâm phạm, lòng yêu nước lại bùng cháy mãnh liệt. 

    Các “anh hùng bàn phím” với giọng điệu hung hăng thường kích động lòng yêu nước của nhân dân bằng những thông tin xuyên tạc về cuộc chiến đấu giữ vững chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc, đưa ra những luận điểm kích động, gây rối, phủ nhận đường lối và chính sách ngoại giao của Đảng, Nhà nước, nêu những “thuyết âm mưu” kích động như: Việt Nam cần phải đi với nước này, chống nước kia, “không đánh nhau thì mất biển, mất đảo, thế nước lâm nguy”... Thậm chí họ tự cho mình có vai trò trong việc “chỉ dẫn” cho nhân dân và cả quân đội cách chống lại âm mưu và hành động của Trung Quốc tại Biển Đông, cổ súy “bài Trung, thân Mỹ”, “tư vấn” cả về chiến thuật và vũ khí cho cuộc chiến tranh (sắp tới) để “giành lại biển đảo”. Họ tỏ ra rất “cao giọng” phê phán các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc nhưng cũng đồng thời quy chụp lãnh đạo cấp cao của Việt Nam “phản ứng chậm” hoặc “hèn nhát”, “né tránh”, “không dám đối đầu”, “đang tâm để chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa” khiến lòng dân xáo động, mất niềm tin vào lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Thậm chí nhiều đối tượng lợi dụng vấn đề chủ quyền quốc gia, trong đó nổi bật là vấn đề chủ quyền biển, đảo để kích động, kêu gọi người dân “xuống đường” thể hiện lòng yêu nước, từ đó gây mất an ninh, trật tự xã hội và kiếm cớ để tiếp tục chống phá nhiều hơn, mạnh hơn. Một thực tế khác cần nhìn nhận, đó là sự thiếu nhận thức đúng đắn về chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, chưa chắt lọc, kiểm chứng thông tin để nhận rõ đúng/sai nên một số quần chúng cũng dễ bị cuốn vào “ma trận” được các thế lực phản động giăng ra trên Internet.

    Những năm qua, trên phạm vi quốc tế, bằng chủ trương giải quyết các vấn đề liên quan chủ quyền ở Biển Ðông thông qua biện pháp hoà bình trên tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả thoả thuận quan trọng với các nước trong khu vực để/và giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế. 

    Tóm lại, có trái tim cháy bỏng tình yêu đất nước và sẵn sàng chiến đấu hy sinh để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc nhưng chúng ta còn luôn cần phải có khối óc tỉnh táo trước những âm mưu lợi dụng lòng yêu nước để chống phá. Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia cũng như cuộc sống hòa bình, ổn định của nhân dân để đất nước phát triển không phải bằng những lời kêu gào hung hăng và sáo rỗng. Đây là vấn đề chiến lược, đòi hỏi những chủ trương, đường lối, đối sách đúng đắn, phù hợp, hiệu quả và bền vững. 


Không để mắc mưu những kẻ dân chủ rởm

    Những ngày gần đây, trước tình hình rối loạn ở Myanmar, một số phần tử tự xưng là “nhà dân chủ” trên mạng xã hội đã tung ra nhiều thông tin lôi kéo, kích động, nhắm vào giới trẻ Việt Nam. Họ ca tụng những người trẻ tuổi xuống đường biểu tình ở Myanmar với danh xưng mỹ miều như những “anh hùng trẻ tuổi”... Tuy nhiên luận điệu tung hứng đó không lôi kéo được những người Việt Nam có nhận thức đúng đắn.

    Cảm thấy việc lôi kéo đó không mấy hiệu quả, họ thay đổi “chiến thuật”, quay sang cà khịa bằng những lời lẽ châm chọc, kích động, chen ngang vào các dòng trạng thái tích cực của người dùng mạng xã hội Việt Nam với nhiều bình luận, như: Người trẻ Việt Nam thiếu trách nhiệm, thờ ơ với thế sự, đang tự bằng lòng với chính mình mà bỏ mặc những biến động của tình hình thế giới...

    Trước sự "cà khịa" đó, một số người đã "sập bẫy khiêu khích" của các thế lực thù địch, sa vào tranh luận gay gắt, thậm chí sử dụng những lời lẽ có phần khiếm nhã. Chỉ chờ có thế, họ lu loa rằng, chúng ta không đủ lý lẽ biện luận, phản ứng tiêu cực, tranh luận thiếu văn hóa. Thậm chí họ còn giở trò "rạch mặt ăn vạ" quy kết người dùng mạng xã hội ở Việt Nam công kích, tấn công, trù dập tập thể...

    Do đó, mỗi người Việt Nam yêu nước, yêu chuộng hòa bình bên cạnh một "trái tim nóng" cần phải giữ "cái đầu lạnh", tỉnh táo trước thủ đoạn của các phần tử cơ hội, chuyên đi tìm cớ nhằm xuyên tạc, kích động người khác. Khi đấu tranh với những kẻ đội lốt dân chủ phải luôn tỉnh táo, kiên quyết, sắc bén, đúng mực. Tuyệt đối không để mắc mưu những kẻ dân chủ rởm.


Đưa tin sai sự thật về công tác bầu cử trên nhóm zalo

 Theo Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội, ông Ng.H.H (sinh năm 1983; sống tại một khu đô thị tại phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, Hà Nội) đã cung cấp thông tin liên quan đến công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp trong nhóm Zalo của cư dân khu đô thị ngày 17/3/2021 như sau: "bầu hay ko bầu thì có khác gì nhau đâu bác? Người ta sắp xếp hết rồi, mình đi bầu cho phí thời gian. Có phải như bầu Biden và Trump đâu...".

Nội dung ông Ng.H.H đăng tải, chia sẻ thông tin trên là sai sự thật, vi phạm quy định tại Điều 5 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng.

    Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 3/2/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội đã phạt hành chính ông Ng.H.H số tiền 7,5 triệu đồng và buộc gỡ bỏ thông tin vi phạm (hiện ông Ng.H.H đã thực hiện gỡ bỏ thông tin vi phạm).

    Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội đã ban hành Quyết định số 44/QĐ-XPVPHC ngày 29/3/2021 xử phạt vi phạm hành chính một cá nhân có hành vi cung cấp thông tin sai sự thật trên mạng xã hội về công tác bầu cử. Việc xử phạt hành chính này dựa trên hồ sơ tiếp nhận từ Công an thành phố.

    Trong giai đoạn hiện nay, các cơ quan chức năng đang tích cực thực hiện công tác chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội khuyến cáo người dân không đăng tải, bình luận, chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng, thông tin giả mạo, sai sự thật nói chung, đặc biệt là các thông tin sai sự thật liên quan đến công tác bầu cử. Đối với những trường hợp vi phạm, cơ quan chức năng xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

    Hiện nay, các cơ quan chức năng của thành phố đang phối hợp rà soát, xử lý vi phạm đối với các cá nhân cung cấp thông tin sai sự thật về công tác bầu cử trên mạng xã hội./.


Công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay ra sao?

    Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo cách mạng, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Trải qua hơn 89 năm kể từ khi Đảng ra đời và đảm nhận sứ mệnh lịch sử chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đã chứng minh một sự thật, một chân lý: Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố cơ bản quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Có Đảng lãnh đạo đất nước ta mới có độc lập, nhân dân mới có tự do, hạnh phúc và ngày nay giá trị của nó đang được khẳng định.

    Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có rất nhiều biến động “mau lẹ, phức tạp, khó lường”. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của nhân dân ta đã đạt được thắng lợi to lớn về nhiều mặt nhưng những khuyết điểm, yếu kém và tác động mặt trái của cơ chế thị trường vẫn còn nhiều, đất nước đang đối mặt với nhiều thách thức lớn đan xen nhau. Quan hệ giữa Đảng với nhân dân có lúc có nơi bị xói mòn do những hạn chế, yếu kém của một số tổ chức đảng và một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên yếu kém cả về phẩm chất, năng lực, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng... đặc biệt tình trạng tham nhũng còn diễn biến phức tạp. 

    Tuy nhiên, lợi dụng vào đó các thế lực thù địch vẫn đã, đang không ngừng ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam; nhất là trên công tác phòng, chống tham nhũng. Nổi bật như đối tượng Dương Quốc Chính tán phát bài “Tham nhũng và chống tham nhũng” trên trang Facebook Thân Hữu Việt Tân Úc Châu vu cáo “Đảng bao che” cho đảng viên tham nhũng, xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta.

    Thực sự, thực tế Đảng, Nhà nước ta rất kiên quyết, quyết liệt trong công tác phòng, chống tham nhũng, coi đây là giặc nội xâm nguy hiểm.

    Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2020 công tác phòng, chống tham nhũng đã có những bước tiến mạnh mẽ. Sau khi thanh tra, cơ quan thanh tra đã kiến nghị thu hồi 44.580 tỷ đồng, hơn 1.400 ha đất; 2.656 tập thể và cá nhân bị kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính; 155 vụ việc với 135 đối tượng bị kiến nghị chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự... Từ tháng 7-2020 đến tháng 11-2020, đã kỷ luật 8 cán bộ diện Trung ương quản lý liên quan tới tham nhũng; xử lý dứt điểm 12 vụ án, 4 vụ việc; kết thúc điều tra 13 vụ án với 53 bị can; ban hành cáo trạng truy tố 98 bị can trong 11 vụ án; xét xử sơ thẩm 6 vụ án với 33 bị cáo; xét xử phúc thẩm 4 vụ án với 6 bị cáo…

    Những con số dẫn ở trên cho thấy, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã thu được những thành quả rất đáng ghi nhận, khẳng định quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng ta trong xây dựng, chỉnh đốn đảng, phòng chống suy thoái phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong nội bộ. Đó là cơ sở vững chắc phản bác luận điệu vu khống, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

    Trong sự vận động phát triển không ngừng của dân tộc, Đảng ta cũng thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của mình để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, trong đó có công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay đang được đặt lên hàng đầu. 

    Thông qua tự chỉnh đốn, tự đổi mới sẽ là cơ sở, điều kiện giúp các tổ chức đảng và mỗi cán bộ đảng viên vững vàng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, không bị thoái hóa, biến chất, không bị lỗi thời, lạc hậu so với sự vận động của xã hội và sự phát triển của cách mạng xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.


Thứ Hai, 12 tháng 4, 2021

Vì sao Việt Tân duy trì 1.000 tài khoản trên mạng để chống phá bầu cử?




Âm mưu của chúng là thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập cán bộ, đảng viên, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Mọi công dân đều phải tuân thủ nguyên tắc nhà nước pháp quyền .

Thời gian qua, trong khi một số linh mục thuộc Giáo phận Vinh, Giáo phận Hà Tĩnh và Dòng Chúa cứu thế có các hoạt động không phù hợp với luật pháp Việt Nam, lại thấy Võ Văn Ái và một số kẻ đã lợi dụng một hội nghị tổ chức tại Washington DC (Oa-sinh-tơn DC, Mỹ) để vu cáo Việt Nam về tự do tôn giáo. . Theo truyền thống của người Ðức, với một đứa trẻ, ngày đầu tiên đi học là sự kiện quan trọng nhất trong giai đoạn đầu cuộc đời, vì vậy ngoài lễ khai giảng do nhà trường tổ chức, nhà thờ Thiên chúa giáo hoặc Tin lành cũng tổ chức lễ cầu nguyện dành cho học sinh cùng thân nhân. Dù tôi và con, cháu không theo đạo nào, nhưng nhân dịp có cháu vào lớp 1, gia đình vẫn rất vui vẻ nhận lời mời tham dự buổi cầu nguyện tại một Nhà thờ Công giáo ở bang Bavaria (Ba-va-ri-a, Ðức). Với tôi, đây không phải là lần đầu nghe giảng tại nhà thờ, nhưng đây là một lễ cầu nguyện để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc vì Linh mục chủ yếu nói về trách nhiệm của người theo Công giáo với đất nước, xã hội, tình yêu thương giữa con người với con người. Theo tôi, đó là một số giá trị cơ bản giúp mỗi người thật sự sống lương thiện. Tôi đã đọc Tân ước, Cựu ước bằng tiếng Việt Nam, tiếng Ðức. Sau mấy chục năm, tôi thấy những lời dạy của Chúa Giê-su (sự hối cải, tình yêu vô điều kiện, tha thứ tội lỗi, khoan dung...) tác động rất lớn đến đa số tín đồ, giúp họ vừa là người ngoan đạo, vừa là công dân tốt của đất nước, thành viên tích cực của xã hội. Những năm gần đây, số người nước ngoài đến định cư ở Ðức vẫn rất lớn, họ đến từ nhiều châu lục để học tập, hành nghề, hoặc tị nạn, trong đó có nhiều người theo Hồi giáo. Vì một số tổ chức, hiệp hội của người Hồi giáo đã vi phạm các quy định pháp luật, mà tranh luận về chủ đề tự do tôn giáo đã diễn ra sôi nổi trên nhiều phương diện (truyền thông, nghiên cứu học đường, trong mọi tầng lớp xã hội...). Thí dụ, ngày 23-12-2015, tờ Thế giới (Welt) đăng bài "Tự do tôn giáo không có nghĩa là vô hạn" mà đoạn trích sau đây được nhiều người hưởng ứng: "Mỗi quyền cơ bản riêng lẻ có thể mâu thuẫn với các quyền cơ bản khác ở nhiều phương diện, nên quyền tự do tôn giáo cũng chạm đến giới hạn bởi các quyền tự do khác đã được vạch ra. Song trong một nhà nước pháp quyền, khi có sự xung đột giữa các chuẩn mực - tức là khi quyền cơ bản bị chồng chéo hoặc mâu thuẫn với nhau, phải được quyết định không qua vũ lực mà qua những thủ tục theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền. Tự do tôn giáo không thể không có bất hòa và không phải là không có giới hạn. Ở nhiều phương diện, nó đụng chạm tới lợi ích của an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe và đạo đức hoặc việc bảo vệ các quyền, tự do của người khác. Những gì được phép và những gì bị cấm ở nơi công cộng được quy định trong trường hợp có tranh chấp bởi pháp luật và không phải bằng vũ khí hoặc hành động thô bạo. Dân chủ và nhà nước pháp quyền phải luôn giữ sự cân bằng giữa quyền tự do cá nhân và lợi ích công cộng trong một sự tương tác phức tạp của các hành vi, sự kỳ vọng, và các lực lượng khác nhau. Ðiều đó cũng có giá trị với thế giới quan của các tín đồ và vô thần, Ki-tô hữu và tôn giáo khác. Trong tiến trình lựa chọn, không ai có thể giành cho mình quyền yêu cầu người khác phải theo mình vì các giá trị và niềm tin. Nhưng tất cả mọi người đều phải tuân thủ nguyên tắc nhà nước pháp quyền trong việc vận động để được chấp thuận, trong tranh cãi về thế giới quan - đó là điều không thể chối cãi và không thể hạn chế ...". Ðể chống lại lạm dụng tự do tôn giáo, trong những năm qua, chính quyền Ðức đã có nhiều hành động cứng rắn, như nghiêm cấm, giải tán một số tổ chức tôn giáo, nhiều cá nhân phải hầu tòa và chịu trách nhiệm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Thí dụ, ngày 15-11-2016, hiệp hội "Tôn giáo chân chính" đã bị Bộ Nội vụ Liên bang cấm, vì hiệp hội này "chống lại trật tự hiến pháp và chống lại ý tưởng về sự hiểu biết lẫn nhau của các dân tộc", vì đã sử dụng các thông tin làm cho nhiều người quan tâm trở nên quá khích, thúc đẩy Nhà nước Hồi giáo khủng bố (IS). Theo điều tra, sau khi tham gia hoạt động của hiệp hội này, 140 người đã đến Syria (Xy-ri), Iraq (I-rắc) để gia nhập lực lượng khủng bố. Vì thế Bộ trưởng Bộ Nội vụ Liên bang lúc đó đã trả lời phỏng vấn báo chí để nói lên sự cương quyết của Nhà nước Ðức chống lại các hành động đội lốt tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Như ngày 24-11-2016, trong bài phỏng vấn có nhan đề "Giới hạn không phải lúc nào cũng dễ vạch ra" đăng trên tờ Thời gian Trực tuyến (Zeit Online), Bộ trưởng Bộ Nội vụ Liên bang nói: "Với lệnh cấm, chúng tôi vạch ra một ranh giới rõ ràng: ở đây không có chỗ cho những phần tử quá khích và cực đoan bạo lực. Chúng tôi kiên quyết và toàn diện trong việc chống lại những khát vọng cực đoan chống lại tự do và các giá trị cốt lõi của chúng ta. Hiệp hội "Tôn giáo chân chính" trên thực tế đã gieo rắc hận thù và trào lưu chính thống dưới vỏ bọc là một sự thúc đẩy của đức tin Hồi giáo, đã làm nhiều người trẻ tuổi trở nên quá khích và khuyến khích hơn 140 người trong số họ sang Syria hoặc Iraq để tham gia các nhóm khủng bố… Chúng ta không muốn ảnh hưởng chính trị đến từ nước ngoài đối với chính sách của chúng ta dưới cái cớ thực hiện tôn giáo. Do đó, chúng ta chống lại tham vọng cực đoan bằng toàn bộ các biện pháp. Ngoài việc cấm các hiệp hội, công việc này còn bao gồm quan sát chuyên sâu, truy tố nhất quán, những biện pháp phòng ngừa, làm giảm quá khích...". Những năm qua, người dân ở phương Tây nói chung và nước Ðức nói riêng, rất quan tâm đến một vấn đề liên quan chuẩn mực đạo đức và pháp lý trong cách hành xử của những người là thành viên của Thiên chúa giáo và Tin lành. Như truyền thông đưa tin, thời gian qua, Hội đồng Giám mục Ðức trình bày với công chúng một nghiên cứu về hàng nghìn vụ lạm dụng tình dục trong Giáo hội Công giáo xảy ra từ năm 1946 đến năm 2014, ước tính có khoảng 114.000 nạn nhân. Những người phạm tội này chính là các giáo sĩ Công giáo. Mới đây, tại phiên họp toàn thể mùa thu của Hội đồng Giám mục Ðức từ ngày 23 đến 26-9-2019 tại Fulda (Phu-đa), 69 thành viên Hội đồng Giám mục Ðức do Chủ tịch Hội đồng là Hồng y R. Marx (R. Mác) dẫn đầu, đã bàn nhiều vấn đề, trong đó có việc bồi thường cho các nạn nhân bị lạm dụng. Theo bài "Bồi thường cho nạn nhân của lạm dụng cần phải được điều chỉnh lại" đăng ngày 25-9-2019 trên tờ Chủ nhật Thiên chúa giáo thì Hội đồng Giám mục Ðức muốn điều chỉnh lại và mở rộng đáng kể việc bồi thường cho các nạn nhân. Hai phương án đưa ra thảo luận gồm: trả bồi thường ở mức khoảng 300.000 Euro mỗi trường hợp; tùy mức độ nghiêm trọng của vụ việc, sẽ trả từ 40.000 đến 400.000 Euro. Hai phương án này do nhóm làm việc do Hội đồng Giám mục thành lập từ tháng 5-2019 đề xuất. Tình trạng diễn ra trong một thời gian dài cho thấy các cơ quan tư pháp, hành pháp đã làm ngơ quá lâu trước hành động phạm pháp. Hậu quả lớn nhất là sự mất niềm tin vào Nhà thờ và Nhà nước. Một phần từ sự bất bình mà trong những năm qua nhiều người đã bỏ Nhà thờ. Thí dụ, ngày 20-7-2019, tờ Tiếng nói của nhân dân đăng bài "Ðứng xếp hàng dài làm thủ tục bỏ nhà thờ" cho biết năm 2018, đã có 216.000 người rời khỏi Giáo hội Công giáo, nhiều hơn 48.500 người so với năm 2017; 220.000 người đã từ bỏ nhà thờ Tin lành, nhiều hơn 23.000 người so với năm trước. Khi còn làm việc, tôi đã phỏng vấn, quyết định đơn của hàng nghìn người xin tị nạn tại Ðức, ngoài ra, tôi cũng có mặt trước tòa án hành chính với tư cách đại diện quyền lợi của Nhà nước Ðức. Trong các thủ tục đó, có nhiều trường hợp liên quan đến tôn giáo và tự do tôn giáo. Ðể hoàn thành công việc, ngoài các quy định pháp lý, tôi thường xuyên đọc các bản tin, báo cáo chuyên ngành biên soạn trên cơ sở thông tin thời sự ở quốc gia liên quan, tuy không phải là tài liệu mật nhưng không được phổ biến rộng rãi. Vì thế tôi biết trong nhiều năm qua, tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam tiến triển tích cực, không có ai bị liên lụy vì tham gia hoặc hoạt động tôn giáo, những người phải hầu tòa chủ yếu vì đã lợi dụng tự do tôn giáo nhằm vi phạm luật pháp Việt Nam... Ðó là lý do để khi nộp đơn xin tị nạn tại Ðức, một số người Việt Nam đã bị bác đơn, vì khai bị đàn áp do tham gia hoạt động tôn giáo! Nhìn từ nước Ðức tôi thấy, bất chấp việc Ðảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam đã đạt rất nhiều thành tựu trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, thời gian qua một số linh mục Công giáo đã có phát ngôn công khai chống đối Ðảng và Nhà nước Việt Nam. Họ không chỉ đưa ra thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại một số buổi lễ, mà một số người còn ra nước ngoài rêu rao, xuyên tạc, kêu gọi quốc tế can thiệp (cụ thể là phát biểu gần đây của ông Hoàng Ðức Oanh, nguyên Giám mục Giáo phận Kon Tum, khi đến California - Mỹ). Và do bị kích động mà một số công dân theo Công giáo ở một vài nơi đã bị lợi dụng, hoạt động gây mất trật tự an toàn xã hội, chống đối chính quyền. Một số người đã bị biến thành công cụ đắc lực của các thế lực đội lốt "tự do tôn giáo" để thực hiện mưu đồ đen tối. Ðáng chú ý là một số linh mục Dòng Chúa cứu thế lợi dụng bài giảng để bày tỏ thái độ chống đối chế độ, xuyên tạc lịch sử, kêu gọi thực hiện những hành động có thể cấu thành tội phạm... Ðó là những hành vi nếu diễn ra ở phương Tây sẽ bị xử lý rất nghiêm khắc. Song thái độ xã hội không phù hợp với nhà tu hành ấy không thể làm lu mờ một nguyên tắc sinh tồn của xã hội văn minh là dù sống trong bất cứ chế độ chính trị nào, với cương vị xã hội nào, thì người theo Công giáo vẫn cần là người kính Chúa, yêu nước, sống tốt đời, đẹp đạo. Vì thế tôi tin mọi hoạt động chống phá của một số vị linh mục Công giáo bị xã hội lên án sẽ nhanh chóng bị dẹp bỏ, xử lý nghiêm trước pháp luật, không thể ngăn cản Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam tiếp tục giành thành tựu mới trong sự nghiệp xây dựng một xã hội mà ở đó, nguyên tắc nhà nước pháp quyền luôn giữ vai trò chủ đạo để các giá trị nhân văn của dân tộc Việt Nam luôn tỏa sáng.

Chủ nghĩa Mác-Lênin không thể lỗi thời! .

Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu phương Tây và một bộ phận cán bộ, đảng viên trong nước cho rằng, trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời. Bởi vậy, chúng ta không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh trên nền tảng của học thuyết lỗi thời đó. Câu hỏi đặt ra là, chủ nghĩa Mác-Lênin có thật là đã lỗi thời không khi xem xét dưới mọi bình diện, từ ý nghĩa khoa học, mục tiêu xã hội đến ý nghĩa thực tiễn? Nếu nó là lỗi thời thì nguyên nhân và cơ sở nào quy định, ngược lại nếu không lỗi thời thì tại sao và do đâu? Những người cho rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời thường dựa chủ yếu vào 4 lý do sau đây: Thứ nhất, chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời từ những điều kiện kinh tế - xã hội của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX nên không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay. Thứ hai, CNXH hiện thực được xây dựng theo học thuyết của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I. Lênin ở Liên Xô, các nước Đông Âu đã bị sụp đổ. Hiện thực sụp đổ có nghĩa là lý thuyết sai lầm. Thứ ba, điều kiện kinh tế và xã hội ở các nước tư bản phát triển được cải thiện rất nhiều so với ở các nước đi theo con đường XHCN, chứng tỏ CNTB là ưu việt. Và thứ tư, một loạt sai lầm, khuyết điểm mà các nước đi theo con đường XHCN, trong đó có nước ta đã và đang mắc phải, chứng tỏ lý luận về CNXH là sai lầm và lỗi thời. Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi về các lý do đó. Về lý do thứ nhất, đúng là học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen ra đời từ giữa thế kỷ XIX, trong điều kiện những mâu thuẫn của CNTB đã trở nên gay gắt, phơi bày tất cả bản chất giai cấp của nó cùng với sự bóc lột người lao động đến cùng cực. C.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, tiếp thu có phê phán toàn bộ những giá trị tinh hoa của quá trình phát triển tư tưởng của nhân loại, đặc biệt là kinh tế - chính trị cổ điển Anh, triết học cổ điển Đức và CNXH không tưởng Pháp. Những học thuyết về giá trị lao động của Ađam Xmít và Đavít Ricácđô, phương pháp biện chứng của Hêghen, chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phơbách, những tư tưởng tiến bộ về xã hội của các nhà tư tưởng Pháp như Sanh Simông, Phuriê cũng đóng góp những cơ sở nhận thức quan trọng vào quá trình hình thành học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen. Cũng cần phải nói rằng, lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra tính quy luật trong sự vận động của xã hội loài người, trong đó nhân tố quyết định là mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Đây chính là cơ sở để C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo về tất yếu loài người sẽ tiến tới CNCS qua một giai đoạn quá độ là CNXH. V.I.Lênin là người tiếp tục phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong điều kiện mới khi CNTB đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. V.I.Lênin có nhiều đóng góp vào phát triển các tư tưởng triết học, kinh tế - chính trị của C.Mác và Ph.Ăngghen. Đặc biệt, V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng về khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản ở một nước tư bản riêng biệt; xây dựng học thuyết về một chính đảng mác xít kiểu mới; tổ chức cuộc cách mạng XHCN thắng lợi và vận dụng học thuyết của Mác để phân tích, giải quyết hàng loạt vấn đề trong quá trình xây dựng CNXH ở nước Nga và Liên bang Xô viết. Đến giữa thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là người vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam để giải quyết những nhiệm vụ to lớn của cách mạng Việt Nam, đánh thắng những đế quốc to, những kẻ thù hung bạo để giành độc lập tự do cho dân tộc, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Điều hiển nhiên và không thể chối cãi là, dù được hiểu theo nghĩa nào, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là khoa họcvề những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; quy luật về sự phát triển của sản xuất xã hội, về cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động chống lại áp bức, bóc lột, mưu cầu tự do, hạnh phúc; quy luật về cách mạng XHCN và con đường xây dựng, phát triển đi tới CNCS. Vào thời điểm ra đời của học thuyết này, những tác giả của chủ nghĩa Mác - Lênin đã phê phán CNTB, chỉ ra bản chất bóc lột, tính quy luật trong sự tồn tại và phát triển của nó. Sự phê phán đó là sâu sắc và phản ánh đúng bản chất của thực tiễn xã hội đương thời. Đó là điều đã được thực tế kiểm nghiệm, được hầu hết các nhà nghiên cứu xã hội thừa nhận cho dù họ theo xu hướng chính trị nào. Từ sự phê phán CNTB đương thời, từ phát hiện tính quy luật của lịch sử xã hội loài người và từ cả thái độ nhân văn trước hiện thực tăm tối về sự thống khổ của người lao động dưới ách áp bức, bóc lột của CNTB, C.Mác, Ph.Ăngghen dự báo về một xã hội tương lai như một tất yếu lịch sử sẽ thay thế CNTB. Cần nói rằng, những gì CNTB hiện đại đang thể hiện vẫn không đi ra ngoài tính quy luật mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra, càng minh chứng cho tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, một mặt tăng thêm tiềm lực cho CNTB. Mặt khác, nó càng thúc đẩy nhanh hơn quá trình xã hội hóa của lực lượng sản xuất, dẫn đến những thay đổi chóng mặt về quy mô, tính chất của quan hệ sở hữu, quản lý, điều hành sản xuất và phân phối của cải xã hội. Quá trình toàn cầu hóa xuất phát trước tiên từ nền kinh tế TBCN, nói cho cùng cũng như cái “áo” trong khung khổ từng quốc gia đã quá chật hẹp, buộc phải nới ra trên phạm vi toàn thế giới. Sự áp bức bóc lột của CNTB theo đó cũng mở rộng mạnh mẽ ra ngoài chính quốc. Sự bóc lột ấy, về bản chất, chẳng khác gì hành vi xâm lược thuộc địa của các đế quốc - TBCN trước đây, chỉ có điều nó được che đậy dưới lớp vỏ hào nhoáng, mỹ miều hơn, nó đi vào các quốc gia nghèo khó bằng cửa chính và bóc lột người lao động bằng những lề luật văn minh, sạch sẽ hơn. Càng giàu mạnh, các thế lực tư bản càng hung hăng, tìm mọi cách để chiếm đoạt các nguồn tài nguyên, của cải của thế giới, quy phục các quốc gia nghèo khó, yếu thế nhằm phục vụ cho lợi ích của mình. Cuộc chiến tranh Irắc đã đẩy một quốc gia hòa bình vào cuộc chiến đẫm máu, huynh đệ tương tàn suốt hơn một thập niên, đến nay vẫn chưa thấy lối ra. Lý do để phát động cuộc chiến tranh chống lại một dân tộc có chủ quyền, độc lập cách xa nước Mỹ hàng vạn cây số là tàng trữ “vũ khí giết người hàng loạt”, nhưng từ sau chiến dịch Bão táp sa mạcđến giờ người ta đã đào bới, xới lộn cả nước Irắc mà không tìm thấy cái gì là “vũ khí giết người hàng loạt”. Nhưng thực tế thì chính nước Mỹ đang tàng trữ lượng vũ khí hạt nhân đủ phá hủy nhiều lần cuộc sống của nhân loại trên toàn cầu. Đất nước Libia hòa bình cũng trở thành hỗn loạn sau khi Mỹ và các đồng minh phương Tây can thiệp lật đổ chính quyền dân cử Mohamet Cadaphi. Cho dù Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh đã xin lỗi nhưng điều ấy có nghĩa gì khi đất nước Irắc và Libia đã tan hoang, hàng vạn người dân lành đã chết, hàng triệu người dân đang sống trong những điều kiện tồi tệ nhất(1). Ngay với nước Mỹ, hàng chục nghìn thanh niên đã bỏ xác ở Irắc, ở Trung Đông một cách vô nghĩa. Chắc chắn trong số những thanh niên Mỹ đã chết vô ích ấy không và không thể có con cái các nhà tư bản, các ông chủ ngân hàng. Vậy, lý do cuộc chiến Irắc là gì nếu không phải là dầu mỏ và lợi ích của những ông chủ, các nhà tư bản Mỹ? Một loạt cuộc cách mạng màu do bàn tay Mỹ và các nước phương Tây phát động ở Libia, Siry, Ai Cập... đều có chung một hình thái bên ngoài, mục đích ẩn giấu bên trong và hậu quả tồi tệ không khác gì với cuộc chiến ở Irắc. Mặt khác, nếu nhìn nhận từ góc độ nhân vănthì CNXH là ước vọng ngàn đời của tất cả những người dân lao động, của những con người có lương tâm cùng tình thương nhân loại, muốn sống trong hòa bình, nhân ái. C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển CNXH từ không tưởng trở thành khoa học khi nhìn nhận nó từ quy luật vận động của lịch sử, như sự vận động tất yếu từ những cơ sở xã hội, những yếu tố kinh tế, vật chất vốn đã được hình thành ngay trong lòng CNTB. Như vậy, CNXH là phù hợp và hợp lý cả về phương pháp luận khoa học và tính mục đích nhân văn. Với tính chất là một học thuyết khoa học, những người khai sinh ra chủ nghĩa Mác - Lênin chưa bao giờ muốn và chưa có bất cứ một mệnh đề phán đoán nào để quy các luận điểm trong học thuyết của mình về cách mạng xã hội hay về xã hội XHCN tương lai thành những tín điều siêu hình, cứng nhắc. Trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăngghen đã trả lời hàng loạt vấn đề lý luận liên quan trực tiếp đến chủ nghĩa xã hội khoa học như: thế nào là giai cấp công nhân và đảng cộng sản; quan hệ giữa giai cấp công nhân với đảng cộng sản; hiểu thế nào là xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN và xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; mối quan hệ ra sao giữa giai cấp công nhân, dân tộc và quốc tế; các giải pháp cần thiết để tiến hành cách mạng XHCN,... Chính Ph.Ăngghen là người rất khách quan, khoa học khi luận giải rất tường minh CNXH từ không tưởng trở thành khoa học, đồng thời yêu cầu những người cộng sản rằng, “...chủ nghĩa xã hội trở thành khoa học mà ngày nay, vấn đề trước hết là phải nghiên cứu thêm, trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ của nó”. Trong rất nhiều tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăngghen đều nhấn mạnh tầm quan trọng của nhận thức, đánh giá, tổng kết thực tiễn để thường xuyên bổ sung, phát triển lý luận, nhất là lý luận về con đường hiện thực hóa CNXH, CNCS. Trong Lời đề tựa cho lần xuất bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vào năm 1872, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết rằng: “...chính ngay “Tuyên ngôn” cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy không nên quá câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II”(2). Quan điểm lịch sử - cụ thể và quan điểm phát triển cũng luôn luôn được V.I.Lênin quán triệt vận dụng trong nhiều nhận thức thực tiễn giải quyết mối quan hệ gắn bó giữa lý luận với thực tiễn. Chính sách Kinh tế mới chính là một dẫn chứng thực tế sáng rõ về quan điểm đó. Chính V.I.Lênin đã có một định nghĩa đầy tính thực tiễn về CNXH mà lâu nay đôi khi những người hậu thế đã bỏ quên hoặc bảo thủ với những định kiến mà không nhìn nhận một cách đúng đắn và nghiêm túc. Người nói: “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nước ngoài: Chính quyền xô-viết + trật tự ở đường sắt Phổ + kỹ thuật và cách tổ chức các tơ-rớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ etc. etc. + + = ∑= chủ nghĩa xã hội”(3). Nhận định của V.I.Lênin từ gần 100 năm trước vẫn còn nguyên giá trị phương pháp luận đối với chúng ta hiện nay, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa. Vậy thì tại sao có thể nói rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời. Xin thưa rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời mà chính những người cố tình phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin mới là những người nhầm lẫn, sai lầm, cố tình không nhìn thấy bản chất khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hoặc giả, họ đã cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin vì một lý do chính trị, vì muốn xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin để bảo vệ cho CNTB và quyền lợi của một nhóm người tư bản hoặc được hưởng lợi không chính đáng từ guồng máy của CNTB. Nếu có lỗi thời chăng, thì chính là lỗi thời ở cách mà chúng ta chưa nghiên cứu đủ sâu sắc, chưa vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách đúng đắn vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề trong quá trình xây dựng CNXH mà thôi. Tuyệt nhiên không thể là sự lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lênin! Về lý do thứ hai, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu phải chăng như một bằng chứng hiển nhiên của sự sai lầm, lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lênin và cùng với nó là con đường xây dựng CNXH? Phải chăng có một lôgic thực tế là CNXH hiện thực sụp đổ do lý thuyết về CNXH sai lầm? Trước hết, cần phải nói rằng mô hình CNXH hiện thực trên thực tế đã mang lại sự thay đổi rung trời chuyển đất, tạo ra một mảng sáng không thể phủ nhận ở Liên xô, Đông Âu và một loạt nước trên thế giới. Nó đã mang lại cuộc sống tốt đẹp cho một phần to lớn của nhân loại. Nó đã tạo nên một sức mạnh to lớn mà trước đó không thể tưởng tượng về nguồn lực vật chất và tinh thần, đủ sức để động viên sức người, sức của, tạo thành lực lượng chủ yếu đánh thắng cả những lực lượng to lớn của liên minh các thế lực tư bản trong Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng như đội quân phát xít tàn bạo của trục ma quỷ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Bằng thực tế sinh động tốt đẹp trên các đất nước xây dựng CNXH, nó đã động viên, thúc đẩy cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ, hòa bình, giải phóng dân tộc trên toàn trái đất. Hàng loạt dân tộc bị áp bức đã giành được độc lập tự do dưới ảnh hưởng và sự giúp đỡ vô tư của các nước XHCN do Liên Xô dẫn đầu. Chính CNXH và cuộc đấu tranh rộng lớn, mạnh mẽ của nhân dân lao động trên toàn thế giới đã là động lực thúc đẩy, buộc các thế lực tư bản, đế quốc phải, một mặt thừa nhận quyền tự do, độc lập của các dân tộc trong hệ thống thuộc địa rộng lớn của CNTB thực dân, đế quốc. Một mặt, tạo thành sức ép, buộc các thế lực tư bản có những cải cách xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân lao động ở chính quốc. CNXH đã là một hiện thực hùng mạnh đủ để những chiến lược gia, các nhà lý luận tư sản phải run sợ, đã đưa ra những dự báo về sự thất bại, kết thúc không thể đảo ngược của chủ nghĩa tư bản. Những thừa nhận đắng cay của Henry Kitsingiơ, Brêginxki thời kỳ những năm 60, 70 thế kỷ XX vẫn còn nguyên đó trong các cuốn sách, bài báo của họ. Tất nhiên, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã là một bài học đau đớn không chỉ cho những người cộng sản, mà còn cho cả nhân loại tiến bộ. Đó là kết quả của sự bảo thủ, không nhìn thẳng vào thực tế, chậm đổi mới nhận thức và đổi mới các chính sách cũng như những giải pháp cần thiết để giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn như những mâu thuẫn tất yếu nảy sinh trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Đó cũng chính là sự sai lầm do những người cộng sản ở Liên Xô và các nước XHCN trước đây mắc phải do không nhận thức đúng đắn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính biện chứng và quan điểm lịch sử cụ thể trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng XHCN, đã do cố chấp và thiên kiến mà bỏ qua bài học phương pháp luận quý báu của V.I.Lênin, không “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nước ngoài” để xây dựng, phát triển chế độ XHCN. Mặt khác, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH cụ thể không hơn, không kém. Tuyệt nhiên đó không phải là sụp đổ của một học thuyết khoa học, càng không thể là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Điều ấy không chỉ được minh chứng bằng việc ngay ở thời điểm hiện nay, một loạt nước ở tây bán cầu ngay cận kề nước Mỹ đang tìm tòi con đường và cách thức để xây dựng CNXH theo một mô hình mới. Nó cũng được minh chứng bởi một loạt quốc gia ở chính châu Âu, nhất là Bắc Âu đã và đang lấy CNXH làm mục đích và cảm hứng để xây dựng, phát triển đất nước mình. Không phải không có lý do, khi họ tự gọi mình là mô hình CNXH phúc lợi. Đương nhiên còn một minh chứng hiện hữu là một số nước kiên trì đi theo con đường XHCN, trong đó có Việt Nam đã đạt được những thành tựu có tính lịch sử trong xây dựng, phát triển. Từ tất cả thực tế ấy, không thể nói rằng mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước khác sụp đổ trong những năm cuối thế kỷ trước có nghĩa là học thuyết Mác - Lênin về CNXH là sai lầm và lỗi thời! Ngược lại, sẽ là ảo tưởng khi nghĩ rằng CNTB đang thắng thế. Thực tế đang chỉ ra rằng, chính CNTB đang đứng trước những thánh thức đầy nguy hiểm. Chính sự mâu thuẫn lợi ích, căn bệnh bản chất của CNTB đang làm nảy sinh sự chia rẽ khó tránh khỏi trong các liên minh tưởng chừng bền vững của họ. Hiện tượng Brexit của nước Anh chỉ là một dấu hiệu đầu tiên và tất yếu của sự khục khặc từ chính trong lòng của nó khi CNTB ở Tây Âu mất đi đối trọng là khối các nước XHCN. Khi không còn phải đối mặt với nguy cơ từ bên ngoài thì những mâu thuẫn không thể tránh khỏi về lợi ích sẽ hiện nguyên hình, phá vỡ mối liên kết yếu ớt của các thế lực TBCN. Mặt khác, những cuộc khủng bố đã hiện diện ngay trung tâm của châu Âu, đe dọa không chỉ an ninh mà tạo nên sự bất ổn sống còn của chế độ TBCN. Vụ khủng bố ở thành phố Nice giữa đêm Quốc khánh nước Pháp làm hơn 80 người chết và vụ khủng bố bằng phương thức như thế được lặp lại ở Berlin, thủ đô nước Đức ngày 18-12-2016 làm 12 người chết, gần năm chục người bị thương, không chỉ báo hiệu mối nguy lớn về an ninh của châu Âu. Nó còn là hệ quả tất yếu cho chính sách sai lầm, vụ lợi của CNTB trong cách hành xử với các nước nghèo, các quốc gia Bắc Phi và Trung Đông. Về lý do thứ ba, sự hơn hẳn về điều kiện vật chất, trình độ phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ và một số lĩnh vực khác của các nước tư bản phát triển so với các nước đi theo con đường XHCN hiện nay, phải chăng đã minh chứng cho tính ưu việt của CNTB? Đúng là không ai có thể phủ nhận một thực tế là các nước TBCN phát triển đã có được những thành tựu phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ kéo theo những cải thiện nhất định về điều kiện sống của người dân. Nhưng đó mới chỉ là cách nhìn thực tại, phiến diện, không thấy đằng sau và phía trước của sự phát triển ấy là gì. Trước hết, cần phải nhìn cho rõ những thành tựu đó do đâu mà có. CNTB đã có nhiều trăm năm phát triển. Trên con đường phát triển của CNTB, bánh xe vận hành của nó đã lăn đi trong ngập ngụa máu và nước mắt của nhân loại cần lao, thống khổ trên khắp các lục địa. “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”(4), đó là lời tự thú có tính chất phản tỉnh của Terry Eagleton - một học giả người Anh. Chỉ cần giở lại các trang lịch sử của nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha... sẽ thấy ngay những gì mà chế độ tư bản đã hành xử với đồng loại của mình. Những kẻ thực dân từ cựu lục địa châu Âu đã phá vỡ cuộc sống bình yên hàng nghìn năm của các bộ tộc người da đỏ, chiếm đoạt đất đai của họ bằng gươm, súng và cả sự tra tấn dã man, rùng rợn ngoài trí tưởng tượng, bằng cách lột da đầu. Trong cuốn sách Sự tàn sát khủng khiếp cuối thời Victoria(Late Victorian Holocausts), học giả người Anh đã viết rằng, hàng chục triệu người Ấn Độ, châu Phi, Trung Quốc, Braxin, Triều Tiên, Nga và nhiều nước khác đã chết do đói, hạn hán và dịch bệnh vào cuối thế kỷ XIX dưới chế độ thực dân xâm lược. Và ngay ở chính các nước tư bản giàu có hiện nay, có ai dám chắc mọi người dân đều có cuộc sống tốt đẹp. Hàng chục triệu người dân Mỹ không có bảo hiểm y tế chỉ có cách chờ tử thần khi mắc bệnh. Ở bang Caliphoócnia, quá nửa nam giới người da đen có ít nhất một lần trong đời phải đi tù... Làm sao, là người Việt Nam mà ai đó có thể quên được nỗi thống khổ của nhân dân ta trong đêm trường nô lệ hơn 80 năm dưới ách đô hộ của CNTB thực dân Pháp? Bao nhiêu người dân Việt Nam đã chết trong các xưởng máy, hầm lò, trên các cung đường, các bến tàu. Những cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Yên Bái, Xô viết Nghệ - Tĩnh... bị dìm trong bể máu. Hơn hai triệu người chết đói năm 1945. Thực dân Pháp bóc lột người dân thuộc địa Việt Nam đến tận xương tủy, vơ vét hết vàng, than, sắt, đồng... mang về làm giàu cho chính quốc. Gần 20 năm, đế quốc Mỹ thay chân đế quốc Pháp thiết lập ách thống trị, dày xéo đất nước ta. Những nhà tù địa ngục trần gian ở Côn Đảo, Phú Quốc..., những vụ tàn sát ở Thái Bình (Bình Định) năm 1966, Bình Hòa (Quảng Ngãi) năm 1966, Mỹ Lai (Quảng Ngãi) năm 1968..., vụ B52 ném bom rải thảm khu phố Khâm Thiên, bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), phải chăng đó không phải là tội ác thấu trời của chế độ tư bản Mỹ? Ngỡ tưởng, không phải nhìn đâu xa, chính những trang lịch sử khắc nghiệt và đau thương ấy đã đủ để cho các thế hệ chúng ta và con cháu chúng ta hiểu được bản chất của chủ nghĩa tư bản! Vậy mà lạ lùng thay, vẫn có người bước ra khỏi biên giới đã hết lời khen hay, khen đẹp cho các nước tư bản, cho các thành phố hào hoa Tây Âu. Họ có biết đâu hoặc cố tình không biết rằng, những thành phố đó đã trải qua mấy trăm năm xây dựng bằng sức lao động và của cải của bao thế hệ người lao động và cả của cải bóc lột từ các thuộc địa mang về. Việc xây dựng chế độ XHCN là công việc rất khó, mang tính khoa học, có tính quy luật, đòi hỏi thời gian, nguồn lực, sự lãnh đạo chính trị đúng đắn và các điều kiện không thể thiếu khác. Theo như C.Mác, CNXH chỉ có thể thành công ở một loạt nước tư bản phát triển ở trình độ cao. Nó như là tất yếu thay đổi quan hệ sản xuất xã hội khi lực lượng sản xuất dưới chế độ TBCN đã phát triển, xã hội hóa cao độ, không thể tiếp tục tồn tại trong khuôn khổ quan hệ sản xuất TBCN. Đối với Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, tất cả đều có điểm xuất phát là các nước tư bản có trình độ phát triển thấp hoặc trung bình. Thời gian xây dựng chế độ XHCN hầu như còn rất ngắn. Liên bang Xô Viết (Liên Xô) được thành lập và bắt tay xây dựng CNXH năm 1921, khi vừa ra khỏi cuộc nội chiến. Mới chỉ có chưa đầy 20 năm hòa bình xây dựng, Liên Xô đã phải trải qua cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại với sự tàn phá vô cùng nặng về sức người và sức của. Hơn 20 triệu người chết, hàng loạt thành phố, làng mạc từ biên giới với Ban Lan cho đến phía Tây Mátxcơva bị san phẳng. Từ sau năm 1945, Liên Xô chỉ có hơn 30 năm xây dựng trong hòa bình, đồng thời phải đối mặt với cuộc chạy đua vũ trang do Mỹ và phe đế quốc khởi xướng. Tương tự như vậy, các nước XHCN ở Đông Âu cũng chỉ có xấp xỉ 30 năm xây dựng. Nhưng những thành tựu mà các nước này đạt được là vô cùng to lớn, thậm chí có lĩnh vực vượt qua cả Mỹ và các nước tư bản Tây Âu. Ngoài việc thiết lập cuộc sống công bằng, cải thiện nhanh chóng về nhà ở, giáo dục, văn hóa cho nhân dân, Liên Xô còn đi đầu thế giới về khoa học công nghệ vũ trụ. Vào thời hoàng kim, CHDC Đức là quốc gia bảo đảm điều kiện sống cho trẻ em tốt nhất thế giới. Một yếu tố không thể không nhắc tới, Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã trở thành đối thủ chính trị không đội chung trời của CNTB ở các nước phương Tây. Người dân các nước phương Tây và các dân tộc thuộc địa nhìn vào các nước XHCN như tấm gương, niềm hy vọng cho cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập, đòi dân chủ, dân sinh. Các thế lực TBCN nhìn vào đó như mục tiêu phá hoại phải loại bỏ bằng được. Cho đến hôm nay, khi Chiến tranh lạnhđã lùi xa hơn 25 năm, nhưng hầu như cách ứng xử trước đây vẫn còn nguyên trong những trừng phạt kinh tế mà các nước tư bản phương Tây nhằm vào nước Nga. Đối với Việt Nam, chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước thống nhất theo con đường XHCN sau cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài suốt 30 năm. Ngay sau đó, chúng ta lại phải đối mặt với cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Trên thực tế, đất nước chỉ ra khỏi cuộc chiến từ năm 1989. Chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước từ con số không khi tất cả những gì có được sau mấy năm hòa bình xây dựng ngắn ngủi đã bị tàn phá hoàn toàn. Hơn thế nữa, hậu quả chiến tranh vô cùng nặng nề. Hàng vạn thương, bệnh binh, người già, trẻ em không nơi nương tựa. Đồng ruộng đầy bom, đạn, mìn còn lại. Những gì chúng ta có được hôm nay sau 30 năm xây dựng là đáng trân trọng, đáng tự hào, mặc dù chưa phải đã được như mong đợi. Đương nhiên là không thể so sánh với các nước tư bản đã có mấy trăm năm phát triển mà không cần quan tâm đến sự thống khổ, hy sinh của lớp lớp người lao động thuộc địa và ở chính quốc. Tuy nhiên, công việc xây dựng một xã hội mới chưa từng có tiền lệ, không bao giờ là dễ dàng, có tính quy luật của nó, không thể xong trong thời gian ngày một, ngày hai, không thể đốt cháy giai đoạn. Như vậy, rõ ràng là sai lầm khi chỉ nhìn vào bề ngoài những gì đang có ở các nước tư bản phát triển để so sánh, đánh giá tính ưu việt của chế độ TBCN so với chế độ XHCN. Chỉ có bằng sự phân tích sâu sắc, toàn diện, bằng cách nhìn công bằng, lịch sử mới thấy được nguồn gốc, bản chất của sự giàu có của các nước tư bản phát triển, mới thấy hết được những thành công và đóng góp to lớn của CNXH cho sự phát triển của nhân loại và tiến bộ xã hội. Về lý do thứ tư, phải chăng sự bảo thủ, trì trệ trong nhận thức, những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN là bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lênin? Trước hết, chúng ta không hề giấu giếm những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày tại Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Tăng trưởng kinh tế thấp hơn 5 năm trước, không đạt mục tiêu đề ra; năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp... Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi... Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ; kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm...”(5). Đảng cũng nghiêm khắc thừa nhận rõ rằng, tình trạng trên có những nguyên nhân khách quan nhưng “trực tiếp và quyết định nhất là nguyên nhân chủ quan”. Đó là những hạn chế trong đánh giá, dự báo tình hình, trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, trong công tác lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy, chính quyền, v.v.. Việc có những sai lầm, khuyết điểm, khó khăn, hạn chế trong quá trình xây dựng đất nước là khó tránh khỏi. Xây dựng CNXH là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, có tính khoa học, đòi hỏi thời gian, nguồn lực to lớn và nhiều điều kiện khác. Chúng ta bắt tay vào xây dựng CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề sau cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài suốt 30 năm. Cái khó khăn lớn nhất của chúng ta có lẽ trước hết không phải từ sự thiếu thốn về của cải, vật chất mà đa phần chính ở lối nghĩ, tác phong mang nặng tính chất của nền văn hóa nông nghiệp. Không có kinh nghiệm tiền lệ, không có sự hỗ trợ của phe XHCN như trước đây. Nhiều thế lực đang dòm ngó, chống phá. Trong điều kiện ấy, những thành tựu mà công cuộc đổi mớiđạt được là đặc biệt quan trọng. Chúng ta đã duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao trên 6,5% năm trong suốt 30 năm thực hiện chính sách đổi mới. Từ GDP bình quân đầu người chỉ 80USD đã tăng lên mức trên 2.100USD. Đời sống nhân dân đã được cải thiện một bước cơ bản. Những điều đó là không thể phủ nhận và mặc nhiên đã được nhiều tổ chức, cá nhân trên thế giới, trong đó có nhiều học giả phương Tây thừa nhận. Để có được những thành tựu to lớn đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những bước đi dũng cảm về nhận thức, sự đổi mới mạnh mẽ về chính sách kinh tế - xã hội. Từ một nền kinh tế bao cấp hoàn toàn dựa trên sở hữu công cộng, chúng ta đã chuyển sang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần sở hữu, rồi chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Từ một Nhà nước xây dựng theo mô hình nền chuyên chính vô sản, chúng ta đã chuyển sang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Từ chỗ bị bao vây cấm vận, chỉ có quan hệ với các nước khối XHCN là chủ yếu, chúng ta đã mở cửa hội nhập quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 quốc gia và vùng lãnh thổ trên tổng số 193 thành viên Liên Hợp quốc, trong đó có 2 đối tác toàn diện đặc biệt, 15 đối tác chiến lược, 11 đối tác toàn diện, hai đối tác chiến lược theo từng lĩnh vực. Từ thực tế ấy, không thể có lý gì để nói rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam bảo thủ, cố chấp hay định kiến mà không đổi mới nhận thức, đổi mới chính sách về CNXH và xây dựng CNXH, cũng như không thể đổ cho học thuyết Mác - Lênin có lỗi trong những khó khăn, hạn chế, sai lầm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Tóm lại, sự sai lầm của những người phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện ngay trong chính những cơ sở, lý do để họ phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin. Ở đây, hoặc là có sự hiểu nhầm về tính chất của học thuyết - chủ nghĩa Mác - Lênin, hoặc là biết nhưng vẫn cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin với định kiến và mục đích chính trị là thay đổi nền tảng tư tưởng, đường lối, mục tiêu xây dựng CNXH bằng một lý thuyết khác, bằng một mô hình xã hội khác. Mục đích ấy đơn thuần để phục vụ cho lợi ích của một nhóm người nào đó, hoàn toàn không phải vì lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân, không phải vì lợi ích chung của dân tộc. Việc nghiên cứu, chỉ ra những sai lầm, xuyên tạc đối với chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ đơn thuần là để bảo vệ sự trong sáng, tính khoa học, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó còn là sự cảnh báo, là lý do để những người cộng sản cảnh giác với nhận thức của mình về chủ nghĩa Mác - Lênin, để tìm hiểu rõ hơn, quán triệt sâu sắc, thường xuyên hơn quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử - cụ thể khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc đề ra đường lối, hoạch định chính sách xây dựng, phát triển đất nước.

Lòng tham tiền bạc và những hồi chuông cảnh tỉnh .

Thời gian qua, lòng tham tiền bạc đã khiến không ít cán bộ, đảng viên trực tiếp tham gia hoặc tiếp tay cho những hành vi xà xẻo đất công, cắt xén kinh phí thực hiện các dự án. Thực tế, nhiều đối tượng đã bị xử lý kỷ luật, truy tố trước pháp luật là hồi chuông cảnh tỉnh với một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất. . 1. Đảng ta đã chỉ đích danh những lĩnh vực, công việc có nguy cơ tham nhũng, tiêu cực cao là: Đất đai, xây dựng cơ bản, ngân hàng, tài chính, kiểm tra, kiểm toán, thuế, hải quan... Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” nhận định: “...tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”. Nhận định này hoàn toàn là chính xác khi nhìn vào các con số thống kê từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng khóa XII tới nay: Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 490 tổ chức Đảng và 35.000 đảng viên vi phạm, trong đó có gần 1.300 đảng viên bị kỷ luật do cố ý làm trái, tham nhũng. Đáng suy nghĩ, trong số này có hơn 70 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị thi hành kỷ luật Đảng và xử lý hình sự; mà không ít trong số đó do “mờ mắt” bởi tiền bạc dẫn đến vi phạm. Mới nhất là ngày 22-10 vừa qua, cơ quan Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng đã quyết định khởi tố bị can đối với Đô đốc Nguyễn Văn Hiến, cựu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo Khoản 3, Điều 360 Bộ luật Hình sự. Đây là việc mở rộng điều tra vụ án Đinh Ngọc Hệ (Út trọc), Bùi Văn Nga và đồng phạm về tội "Vi phạm các quy định về quản lý đất đai" và tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", liên quan đến chuyển nhượng nhiều lô đất quốc phòng thời ông Nguyễn Văn Hiến giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân (giai đoạn 2004-2015)… Trước đó, các ông Trần Văn Minh, Văn Hữu Chiến (nguyên Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng) và một số quan chức cấp sở, ngành của địa phương này cũng bị khởi tố do liên quan đến nhiều vụ bán “đất vàng” cho Phan Văn Anh Vũ. Tại thành phố Hồ Chí Minh, hai nguyên Phó Chủ tịch UBND thành phố là Nguyễn Hữu Tín, Nguyễn Thành Tài và nhiều quan chức, cựu quan chức cấp sở, ngành cũng vướng vòng lao lý về hành vi “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát lãng phí” quy định tại Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 2015. Không chỉ có tình trạng “ăn đất”, ở các địa phương, tình trạng “rút ruột” công trình cũng là nỗi nhức nhối trong dư luận xã hội nhiều năm qua. Cụ thể là nhiều dự án phát triển cơ sở hạ tầng sau ngày khánh thành không lâu đã xuống cấp nghiêm trọng, hư hỏng do bị “rút ruột” và nghi ngờ bị “rút ruột”. Việc 3 thành viên Đoàn thanh tra của Bộ Xây dựng bị bắt, khởi tố về tội “Nhận hối lộ” khi đang trong quá trình thanh tra công vụ liên quan đến xây dựng cơ sở hạ tầng ở tỉnh Vĩnh Phúc phần nào hé lộ “tảng băng chìm” trong lĩnh vực này. Chính những cán bộ, đảng viên nói trên đã bị “lóa mắt” bởi đồng tiền, từ đó sa sút về tư tưởng chính trị, đạo đức và tha hóa về lối sống. Họ đã làm giảm sút lòng tin, uy tín của Ðảng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Họ là những "con sâu làm rầu nồi canh". 2. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng, sinh ra các căn bệnh rất nguy hiểm, trong đó có bệnh tham lam. Thực tế cho thấy, việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai thời gian qua chính là lỗ hổng lớn nhất trong quy trình quản lý ở các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Chi phí tiền thuê đất hằng năm hiện chỉ chiếm khoảng 5% trong tổng chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nên tình trạng giữ đất, để đất lãng phí ở các tổng công ty, tập đoàn kinh tế còn phổ biến. Ngoài ra, khi Nhà nước chủ trương đẩy mạnh cổ phần hóa thì tình trạng định giá tài sản cố định, đặc biệt là đất đai ở mức thấp diễn ra không ít. Sau đó, chỉ bằng một số thủ thuật chuyển quyền sử dụng lòng vòng, những khu “đất vàng” bỗng dưng trở thành tài sản cá nhân, trong khi khoản thu về ngân sách rất èo uột. Điều đó cho thấy, lỗ hổng cần được khỏa lấp bằng hành lang pháp lý đủ mạnh, có sự giám sát từ xã hội. Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, việc chỉ định thầu; “quân xanh, quân đỏ” trong đấu thầu; triển khai rầm rộ các dự án theo hình thức “xây dựng - chuyển giao” qua hình thức đổi đất lấy hạ tầng trong khi hành lang pháp lý chưa đầy đủ đã dẫn đến nhiều “cái bắt tay dưới gầm bàn”. Đây là nguồn cơn để tệ nạn vòi vĩnh, chủ nghĩa cơ hội, tham nhũng trỗi dậy. Do đó, để ngăn ngừa lòng tham và cũng là bảo vệ cán bộ, đảng viên trước những ma lực của đồng tiền, việc đầu tiên cần làm là phải có hệ thống pháp lý về quản lý sử dụng tài sản công hiệu quả. Cụ thể là cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: Xác lập được chủ quản lý hoặc chủ sử dụng đối với từng tài sản, nghĩa là phải có người chịu trách nhiệm chính với mỗi tài sản; có nguồn nhân lực chuyên nghiệp, tham mưu cho lãnh đạo, cơ quan quản lý; phát triển hệ thống quản lý dựa trên công nghệ thông tin hiện đại kết hợp với việc thanh tra, kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Cuối cùng là cần xử lý nghiêm, công khai những trường hợp tham nhũng. Trước thềm đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, vấn đề dư luận đặc biệt quan tâm là lựa chọn những cán bộ có tâm trong sáng, đủ đức, đủ tài vào các vị trí lãnh đạo. Để làm được điều đó, cấp ủy các cấp cần nghiêm chỉnh thực hiện Quy định số 205-QĐ/TƯ ngày 23-9-2019 “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Theo đó, kiên quyết không đưa vào bộ máy những cán bộ, đảng viên có tham vọng quyền lực, dính dáng đến tiêu cực, tham nhũng. Nói như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại phiên họp Thường trực Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng chống tham nhũng, được tổ chức ngày 26-7-2019 thì “Đại hội Đảng là dịp để lựa chọn, sàng lọc, củng cố đội ngũ cán bộ. Không sợ thiếu cán bộ, bởi không thiếu cán bộ tâm huyết với Đảng, trách nhiệm với dân, với đất nước. Không sợ mất uy tín; chỉ không làm, không xử lý cán bộ vi phạm mới tự đánh mất uy tín của mình”... Tiễu trừ tham vọng quyền lực trong cán bộ, đảng viên là công việc quan trọng hàng đầu đối với một đảng cách mạng - cầm quyền như Đảng ta. Việc phòng ngừa, ngăn chặn cho được những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, có lòng tham tiền bạc, dẫn đến xà xẻo dự án, vòi vĩnh… thu lợi bất chính góp phần thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) ngày một hiệu quả, xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn.

Không được phép nhân danh “đại diện nhân dân” cho những hành vi phạm pháp .

Lợi dụng việc Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, thời gian gần đây, một số phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nước được sự “hà hơi, tiếp sức” của các thế lực phản động, thù địch đã ra sức chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đặc biệt, những đối tượng này thường xuyên sử dụng cái gọi là “đại diện nhân dân”, trong khi thực tế họ không có quyền đó, để xuyên tạc, lôi kéo, kích động chống phá Đảng, Nhà nước, thúc đẩy tiến trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 1. Vấn đề lợi dụng quyền tự do dân chủ, lợi dụng việc Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội để chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” chỉ ra là: “Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước”… Đây là việc làm vô cùng nguy hiểm, vì với sự trợ giúp của mạng xã hội, những luận điệu xuyên tạc được lan truyền nhanh. Đáng chú ý là những đối tượng cầm đầu các nhóm, tổ chức trái phép như: Hội Anh em dân chủ, Green Trees... gần đây luôn tự nhân danh quyền đại diện cho nhân dân để vi phạm pháp luật có tính hệ thống. Tuy nhiên, điển hình hơn cả cho việc cố tình hiểu sai, lợi dụng cái gọi là “quyền đại diện cho nhân dân” để có hành vi phạm pháp phải kể đến nhóm tự xưng là “Đồng thuận” do ông Lê Đình Kình (xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội) cầm đầu. Lần giở lại sự việc mất an ninh trật tự trên địa bàn xã Đồng Tâm từ tháng 4-2017 đến nay có thể thấy, nhóm “Đồng thuận” thường xuyên nêu cụm từ “nhân dân Đồng Tâm chúng tôi” trong mọi hành vi chống đối, gây bất bình trong dư luận. Trong khi đó, những vấn đề liên quan đến công tác sử dụng đất tại xã Đồng Tâm cơ bản đã được chính quyền giải quyết. Đó là 14 cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai trong quá trình công tác đã bị xử lý hình sự. Ngoài ra, Kết luận thanh tra số 2346/KL-TTTP-P5 ngày 19-7-2017 của Thanh tra thành phố Hà Nội “Thông báo kết luận thanh tra toàn diện về việc quản lý, sử dụng và quá trình xử lý từ trước đến nay đối với diện tích đất khu sân bay Miếu Môn thuộc địa giới hành chính xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức” đã khẳng định không có cái gọi là “59ha đất đồng Sênh” như nhóm “Đồng thuận” rêu rao, mà khu vực này hoàn toàn nằm trong phạm vi sân bay Miếu Môn từ hàng chục năm nay. Sau đó, ngày 25-4-2019, Thanh tra Chính phủ ban hành Thông báo số 611/TB-TTCP về “Kết quả rà soát, kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của Kết luận thanh tra số 2346/KL-TTTP-P5 ngày 19-7-2017 của Thanh tra thành phố Hà Nội” xác nhận kết quả Thanh tra thành phố Hà Nội đã công bố là chính xác và đúng thẩm quyền... Từ một vụ việc đã có kết luận, được đông đảo nhân dân địa phương thừa nhận, vậy nhưng nhóm “Đồng thuận” gồm khoảng 20 người trong mọi hành vi sai trái từ năm 2017 đến nay đều cố tình “lôi kéo” hơn 9.000 người dân Đồng Tâm vào vụ việc qua những phát ngôn có tính chất đánh đồng của cái gọi là “nhân dân Đồng Tâm chúng tôi”. Rất tiếc, qua mạng xã hội, từ một nhóm nhỏ vi phạm pháp luật đã bị các thế lực xấu lợi dụng, kích động đưa xã Đồng Tâm trở thành “điểm nóng” như đã biết... Trong khi đó, nhiều người dân chân chính nơi đây thông qua các cơ quan báo chí, trong đó có Báo Hànộimới, cho biết, họ rất bất bình trước các phát ngôn của ông Lê Đình Kình và những cá nhân liên quan. Đó là chưa kể từ khi vụ việc mất an ninh trật tự xảy ra, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Đồng Tâm bị tụt hậu, bởi từ một xã có điều kiện kinh tế khá của huyện Mỹ Đức thì nay vẫn chưa đạt chuẩn nông thôn mới do nhiều công trình hạ tầng xã hội bị một số người ngăn cản không thể triển khai... Xin nhắc lại rằng, nhóm “Đồng thuận” đến nay vẫn rêu rao rằng họ tin vào Đảng, tin vào Bác Hồ và đang vin vào cái cớ “đấu tranh chống tham nhũng” để vi phạm pháp luật mà cố tình không hiểu rằng, xuyên suốt trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lịch sử là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, chứ không phải do vài ba cá nhân nào... Nhóm khoảng 20 người không thể đại diện cho 9.000 dân. Vậy nên cần phải suy nghĩ tỉnh táo, thấu đáo về cái gọi là “nhân dân Đồng Tâm chúng tôi” của nhóm “Đồng thuận”. 2. Điều 15, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Hệ thống pháp luật của nước ta cũng bảo đảm cho người dân được thực hiện các quyền đó trong phạm vi pháp luật cho phép. Liên quan đến vụ việc tại xã Đồng Tâm, hơn 2 năm qua, chính quyền từ thành phố đến cơ sở đã kiên trì tuyên truyền, thuyết phục nhân dân hiểu đúng bản chất sự việc. Đến nay, đại bộ phận nhân dân Đồng Tâm đã hiểu và thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, cho đến những ngày đầu tháng 11-2019, nhóm “Đồng thuận” vẫn lên mạng xã hội rêu rao “nhân dân Đồng Tâm chúng tôi kiên quyết phản đối”, trong khi thực chất họ cố tình ngăn cản 14 hộ dân đang chuẩn bị bàn giao mặt bằng đất quốc phòng, chấp hành kết luận của Thanh tra Chính phủ và Thanh tra thành phố Hà Nội. Trước đó, tại cuộc họp báo thông tin, trao đổi làm rõ về Kết luận thanh tra số 2346/KL-TTTP-P5 tổ chức ngày 27-8-2019, Thanh tra Chính phủ khẳng định: Trong 14 hộ dân đang sử dụng đất quốc phòng khu vực sân bay Miếu Môn chỉ có 5 hộ có giấy do Ủy ban hành chính xã, Hợp tác xã Nông nghiệp Đồng Tâm cho, cho mượn đất để ở và sản xuất từ trước năm 1980 mà không có hộ ông Lê Đình Kình. Theo quy định của pháp luật, ông Kình là người không có quyền và lợi ích hợp pháp tại khu vực đất sân bay Miếu Môn, không phải là đối tượng thanh tra, nên không có quyền khiếu nại kết luận thanh tra. Ông Kình có hai quyền là quyền phản ánh theo Luật Tiếp công dân và quyền tố cáo theo Luật Tố cáo mà không có các quyền khác. Sự thật đã “hai năm rõ mười”, vậy tại sao một nhóm người không có quyền khiếu nại, không phải là người được người dân xã Đồng Tâm ủy quyền lại có đơn khiếu nại kết luận thanh tra? Từng là cán bộ chủ chốt tại địa phương, nắm chi tiết nguồn gốc đất đai, tại sao khi Bộ Quốc phòng cắm mốc giới ông Kình lại không có kiến nghị mà nay lại có đơn khiếu nại? Liệu có phải có đối tượng đang lợi dụng cơ hội này vì những mục đích không trong sáng? Những thắc mắc này được Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung khẳng định tại cuộc họp báo ngày 27-8-2019 rằng: Có việc cơ hội, lợi dụng khiếu kiện, tố cáo để xem chính quyền thành phố có bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ hoa màu hay không... Vậy là đã rõ về cái gọi là “người dân Đồng Tâm chúng tôi” của nhóm “Đồng thuận” thực chất chỉ là một nhóm người cố tình bóp méo sự thật hòng mục đích tư lợi, phá hoại sự bình yên của địa phương. Đại bộ phận người dân xã Đồng Tâm từ trước đến nay với sự hiểu biết và yêu quê hương mình đã và đang nhìn nhận một cách đúng đắn, tạo điều kiện bàn giao mặt bằng cho quân đội. Nhiều người cho rằng, nếu ông Lê Đình Kình và nhóm “Đồng thuận” không thay đổi để “quay đầu lại là bờ” thì cơ quan chức năng cần phải mạnh tay xử lý nghiêm, không để tiếp tục có những hành vi gây mất an ninh trật tự trên địa bàn. ... Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã xác định, từ “tự diễn biến” đến “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn. Việc hiểu không đúng, lợi dụng tinh thần quyền đại diện cho nhân dân bất hợp pháp để trục lợi, vi phạm pháp luật rất đáng lên án và cần phải xử lý nghiêm. Với người dân, trước bất kỳ một thông tin gì, đặc biệt là chỉ nghe, xem qua mạng xã hội thì cần bình tĩnh, suy xét thấu đáo, không để bị kích động, lợi dụng. Đây chính là việc thể hiện lòng yêu nước chân chính.