Thứ Tư, 14 tháng 4, 2021

Thành tựu trong thực hiện dân chủ ở Việt Nam hiện nay

 


Nhận thức về xây dựng và phát huy dân chủ của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân ngày càng sâu sắc hơn.

Thể chế thực thi các quyền dân chủ của nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa trên tất cả các lĩnh vực. Điều 6, Hiến pháp 2013 quy định rõ các hình thức thực hiện dân chủ: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Hiến pháp năm 2013 dành riêng chương II với 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) quy định cụ thể về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Tăng cường và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức và công dân, kiên quyết sử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu ở nhiều cấp ủy đảng, chính quyền đã tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Nội dung, hình thức dân chủ ở Việt Nam hiện nay

 


Về chính trị, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định nguyên tắc tối cao là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân trong tổ chức và hoạt động của mình; động viên toàn dân xây dựng đường lói của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội với các hoạt động của hệ thống chính trị. Mọi người dân có quyền ứng cử, đề cử, bầu cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước; quyền thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Về kinh tế, được thể hiện trong đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà  nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên nhiều hình thức sở hữu, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng

Dân giàu là mục tiêu của Nhà nước, của toàn xã hội. Mọi người dân có quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt với các tư liệu sản xuất; tham gia vào các hoạt động quản lý nền kinh tế; tham gia quá trình phân phối và phân phối lại sản phẩm xã hội.

 Về văn hóa - xã hội, mọi người dân có quyền được thưởng thức và sáng tạo các giá trị văn hóa; quyền được học hành, phát triển, tự do đi lại, cư trú, tự do tôn giáo...; quyền được có công ăn việc làm, đảm bảo an sinh xã hội...

 Về quốc phòng, an ninh, mọi người dân có quyền được thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; quyền được tham gia các hoạt động đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội và được đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản theo quy định của pháp luật.

VẤN ĐỀ DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, là quyền tự do bình đẳng của nhân dân trong đời sống xã hội, gắn liền với những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định.

Dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một chế độ chính trị - xã hội mà ở đó những quyền cơ bản của con người (tự do, bình đẳng, tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng…) được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc (quyền lực thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thiểu số phục tùng đa số, quyền tự do tư tưởng, ý chí hành động, bầu cử tự do và công bằng…) để quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại.

Bàn đến dân chủ là phải bàn đến bản chất, nội dung, hình thức, mức độ, tính chất của dân chủ; trong đó bản chất của dân chủ là yếu tố quyết định nhất quy định các yếu tố khác. Dân chủ mang bản chất giai cấp, bản chất của dân chủ do bản chất của chế độ xã hội, bản chất của nhà nước, bản chất của hệ thống pháp luật quy định; ngoài ra dân chủ còn phù thuộc vào truyền thống của dân tộc, phương thức sản xuất, phẩm chất năng lực của đội ngũ công chức nhà nước, ý thức thực hành dân chủ của công dân, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội hiện tại ở mỗi quốc gia.

Sự hình thành và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự ra đời của ché độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là dân chủ có bản chất tốt dẹp nhất trong toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam và tiến bộ xã hội của nhân loại cho đến nay; đồng thời đó là kết quả của quá trình đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân và toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; được đánh dấu bằng sự kiện lịch sử vĩ đại đó là cách mạng Tháng tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Trải qua hơn 60 năm dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không ngừng được xây dựng, hoàn thiện và đã đạt được những thành tựu to lớn.

Chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mang bản chất của giai cấp công nhân. Chủ thể của quyền lực chính trị ở Việt Nam là đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở Việt Nam mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Ở Việt Nam mọi quyền sở hữu dều dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; mọi tổ chức của hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của giai cấp công nhân; mọi công dân bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ; mọi hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân và lợi dụng dân chủ làm tổn hại lợi ích của nhân dân và Tổ quốc đều phải được phê phán và nghiêm trị. Những tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và vô trách nhiệm, lạm quyền và xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân đều phải được ngăn ngừa và trừng trị. Pháp chế xã hội chủ nghĩa luôn được tăng cường, trách nhiệm công dân luôn được đề cao, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế và biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng ngừa, ngăn chặn và sử lý nghiêm những sai phạm làm suy thoái và biến chất quyền lực nhà nước của nhân dân.

Những thành tựu trong công tác tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay

 


Công tác tôn giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ chức sắc… hưởng ứng và tham gia các phong traog thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ

Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước.

Các tổ chức tôn giáo ở nước ta dã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc theo Hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đọa, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.

Các ngành , các cấp đã chủ động, tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững  ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch.

Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo mang đậm nét cảm tính, tâm lý.

 


Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là nông dân. Từ lối sống mang đậm nét tiểu nông, nên nhiều tín đồ tôn giáo ở Việt Nam tuy khá sùng đạo nhưng lại không hiểu rõ giáo lý, thậm chí ra nhập đạo chỉ do sự lan truyền tâm lý, do sự lôi kéo. Đối với bộ phận khá lớn cư dân Việt nam, tôn giáo thuần tuý là lĩnh vực tình cảm, tâm lý, nó như cái gì bình thường tự nhiên, đây cũng là một nguyên nhân khiến người Việt Nam có thái độ dung hoà, cởi mở khi tiếp nhận các tôn giáo. Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam có nhu cầu cao trong sinh hoạt tôn giáo, nhất là những sinh hoạt tôn giáo mang tính chất lễ hội. Một bộ phận tín đồ của một số tôn giáo vẫn còn mê tín dị đoan, thậm trí cuồng tín dễ bị các phần từ thù địch lôi kéo.

Các tôn giáo ở Việt Nam hoạt động ôn hòa, hòa quyện mà không hợp nhất.


Trong lịch sử các tôn giáo ở Việt Nam có lúc chung sống không thật yên ả, nhưng về cơ bản tôn trọng lẫn nhau, không đối đầu, không có chiến tranh tôn giáo, chỉ có các lực lượng chính trị lợi dụng vấn đề tôn giáo để hòng chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, nhưng chúng đều thất bại. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có tính dung hợp, đan xen, hòa đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các vị thần, thánh của các tôn giáo khác. Những người theo tôn giáo khác nhau không xa lánh người mình thờ phụng; có thể sống chung trong một làng, một dòng họ, thậm chí một gia đình. 

Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo


 Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm nay. Quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia.

Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo trên thế giới.

Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Mỗi dân tộc đều lưu giữ các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng mình. Người Việt có các hình thức dân gian như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh, nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số với hình thức tín ngưỡng nguyên thủy (còn gọi là tín ngưỡng sơ khai) như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo.

Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin Lành; có tôn giáo sinh ra tại Việt Nam như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghị và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có tôn giáo chưa ổn định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.

Ước tính đến nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng ở Việt Nam rất đa dạng, bao gồm: Tín ngưỡng thờ cúng Việt Nam; tín ngưỡng thờ Thành hoàng; tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ Mẫu. Về tôn giáo, ở Việt Nam hiện nay có 43 tổ chức, hệ phái tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, với trên 24 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước; hiện có 6 tôn giáo lớn, trong đó có 2 tôn giáo nội sinh là Phật giáo Hoà hảo và Đạo Cao đài.

Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế giới. Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên đó là những khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể. 

Thành tựu trong công tác dân tộc ở Việt Nam hiện nay

 


Quyền tự quyết, bình đẳng giữa các dân tộc được đảm bảo

 Các dân tộc luôn được bảo đảm quyền bình đẳng trên các lĩnh vực, quyền bình đẳng về chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được nâng cao. Trong những năm qua, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số trong các khoá quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân tộc thiểu số của cả nước. Ở địa phương, người dân tộc thiểu số cũng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tham gia hội đồng nhân dân. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước.

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện

Với sự quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn dân, hiện nay đã hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm bình quân từ 3% đến 4%/ năm. Bộ mặt vùng dân tộc miền núi, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thay đổi rõ rệt.

Hệ thống chính trị vùng dân tộc ngày càng vững chắc

Hiện nay, có nhiều cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học. Năng lực, trình độ cán bộ xã, phường ngày càng nâng cao, phát triển đảng người dân tộc được trú trọng, Hoạt động của cấp uỷ, chính quyền, mặt trận và đoàn thể ở nhiều nơi đạt hiệu quả.

Mỗi dân tộc đều có sắc thái văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng nhưng thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

 


Cùng với nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc có ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết), phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, kiến trúc, ẩm thực, nghệ thuật dân gian, trang phục riêng... tạo nên một nền văn hóa đa dạng nhưng thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc...Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hóa mỗi dân tộc, càng làm phong phú nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên nếu không có chính sách đúng, không tôn trọng văn hoá của nhau sẽ tạo nên xung đột văn hoá, hoà trộn văn hoá, phai nhạt, mất dần bản sắc văn hoá từng tộc người.

Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới đang hướng vào việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc. Đồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa của các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển từng dân tộc.

Các dân tộc ở Việt Nam có dân số và trình độ phát triển kinh tế- xã hội không đều nhau

 


Hiện nay, dân tộc kinh chiếm khoảng 85,3`% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số còn lại chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số có 6 dân tộc có số dân 1 triệu người trở lên như: Tày, Thái, Mường, Nùng, Mông, Khơ me; 33 dân tộc có dân số từ 10 nghìn người đến 1 triệu người; 14 dân tộc dưới 10 ngìn người, trong đó có một số dân tộc chỉ có mấy trăm người như dân tộc:  Ơ Đo, Pu péo, Si la, Brâu, Rơ măm.

Do những nguyên nhân lịch sử, xã hội và hoàn cảnh tự nhiên nên các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế xã hội không đều nhau. Các dân tộc sống ở vùng thấp có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn các dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Hiện nay có một số dân tộc đạt trình độ phát triển tương đối cao như Tày, Thái, Mường, Nùng, Ngái, Sán Dìu. Các dân tộc này biết canh tác ruộng nước, biết sản xuất hàng hoá, cư trú ở vùng thấp, đô thị.  Một số dân tộc có trình độ phát triển thấp như La hủ, Cống, Mảng, Chứt,..., do sống bằng canh tác nương rẫy, tự cung, tự túc, cư trú ở vùng cao khó khăn, vùng sâu, vùng xa, quen với cuộc sống du canh, du cư...

Bên cạnh nguyên nhân lịch sử và hoàn cảnh tự nhiên, còn có nguyên nhân chủ yếu là do hậu quả của sự áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến và đất nước phải liên tục đối phó với chiến tranh xâm lược trong nhiều năm. Đây là nguồn gốc của sự không bình đẳng giữa các dân tộc trên thực tế. Giải quyết hậu quả lịch sử này phải có quá trình phấn đấu tích cực, bền bỉ, lâu dài mới làm cho các dân tộc từng bước tiến kịp trình độ chung.

Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán, xen kẽ nhau; các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú trên các địa bàn có giá trị chiến lược- Đây là yếu tố thuận lợi nhưng cũng rất khó khăn trong xây dựng mối đoàn kết các dân tộc

 


Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối tập trung. Song nhìn chung các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới. Địa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở các vùng miền núi và vùng cao, một số dân tộc như Khơ me, Hoa, Chăm sống ở đồng bằng. Các dân tộc thiểu số có sự tập trung ở một số vùng, nhưng không cứ trú tahnhf những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã  và các bản, mường. Hiện nay, hầu như không có một đơn vị hành chính xã, huyện, tỉnh, nào ở vùng dân tộc thiểu số chỉ có một dân tộc cư trú. Nhiều tỉnh có tới trên 20 dân tộc cư trú như Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quan, Lâm Đồng... Phần lớn các huyện có từ 5 dân tộc trở lên cư trú. Nhiều xã, bản, mường có tới 3-4 dân tộc cùng sinh sống.

Việc cư trú đan xen giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc giao lưu phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nhưng cũng rất dễ nảy sinh các vấn đề mất ngôn ngữ, văn hoá, phân hoá giàu nghèo, tranh chấp đất đai, tài nguyên, gia tăng các tệ nạn xã hội, tiềm ẩn xung đột dân tộc. Ngày nay, tình trạng cư trú xen kẽ của các dân tộc chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc cũng như sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, càng có thêm điều kiện đoàn kết và hòa hợp giữa các dân tộc anh em.

Các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú ở miền núi, chiếm ¾ diện tích cả nước. Đây là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn mà trước hết là tiềm lực về tài nguyên rừng và đất rừng. Không những thế, miền núi còn có vai trò đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái đối với cả nước như điều hòa khí hạu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu trong mùa mưa lũ.

Vị trí chiến lược quan trọng của miền núi đã được thực tế lịch sử khẳng định. Từ xưa đến nay, các thế lực bên ngoài đều sử dụng địa bàn miền núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam.

Rừng núi đã từng là căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ. Trong giai đoạn hiện nay, miền núi - biên giới là thành lũy vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc phòng - an ninh trong bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chống âm mưu xâm nhập, gây bạo loạn, lật đổ, bảo vệ sự nghiệp hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ở vùng biên giới, một số dân tộc có quan hệ đồng tộc với dân tộc của các nước láng giềng, nên khách quan có nhu cầu thăm thân, mở rộng giao lư kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ở hai bên biên giới. Bởi vậy chính sách dân tộc của Đảng nhà nước Việt Nam không chỉ vì lợi ích các dân tộc thieẻu số mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ còn là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ vì kinh tế - xã hội, mà cả về chính trị, quốc phòng, anh ninh quốc gia.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đồng bào chung sống đoàn kết, gắn bó trong quá trình dựng nước, giữ nước


Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc, dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Tính đến 01/4/2019, dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số cả nước. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác di cư đến rồi định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Dân tộc tại chỗ như dân tộc Việt (còn gọi là dân tộc Kinh ngày nay); dân tộc Việt- Mường (còn gọi là dân tộc Mường ngày nay). Di cư từ Trung Quốc như dân tộc Thái, Hoa, Cao Lan, HMông, Sán Chỉ, Giáy v.v..., dân tộc HMông, Cao Lan, Sán chỉ và Giáy di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trước. Di cư  từ Lào có dân tộc Chăm. Di cư từ Camphuchia có dân tộc Kheme v.v... Thời kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ sang làm việc, sinh sống tại Việt Nam…

Các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết. Đoàn kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để xây dựng một quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt nam.

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, nhiều dân tộc có chung cội nguồn. Nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã có nhiều truyền thuyết như truyện „Quả bầu mẹ“ giải thích các dân tộc có chung nguồn gốc; truyện „ Đôi chim“ để ra hàng trăm, hành ngàn trứng nở ra người Kinh, người Mường, người Thái, người Khơ-mú...; truyện của dân tộc Ba-na, Ê-đê kể rằng người Kinh, người Thượng là anh em một nhà; đặc biệt là truyện Lạc Long Quân lấy bà Âu cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con, một nửa theo cha xuống biển trở thành người Kinh, một nửa theo mẹ lên núi thành các dân tộc thiểu số. Vua Hùng được coi là Tổ tiên chung của cả nước.

Các dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử, có nhiều điểm đương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi, gắn bó với nhau. Song dù cùng hoạc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về tâm lý, phong tục, tập quán... thì đều là người trong một nước, con trong một nhà, vận mệnh gắn chặt với nhau, các dân tộc tren đất nước Việt nam luôn kề vai, sát cánh bên nhau, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.

Việt nam ở khu vực địa lý có nhiều thuận lợi, song điều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt. Do nắng lắm, mưa nhiều nên hành năm thường bị hạn hán, lũ lụt. Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một nước nông nghiệp, trồng lúa nước là chính, cư dân ở Việt Nam phải liên kết nhau lại, hợp sức đè khai phá đất hoang, chống thú dữ, xây dựng các hệ thống thủy lợi, đê, đập, nhằm đảm bảo phát triển sản xuất. Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước và giữ nước, sự gắn bó, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất của đồng bào các dân tộc đã được coi như một tiêu chuẩn đạo đức.

Cùng với lịch sử trinh phục thiên nhiên, nhân dân Việt Nam còn có lịch sử chống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt. Do Việt nam ở vào nơi thuận tiện trên trục đường giao thông Bắc - Nam, Đông - Tây của thế giới, có tài nguyên, thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý - chính trị có tính chiến lược. Cho nên các thế lực bành trướng, xâm lược luôn nhòm ngó và tìm cách thôn tính Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt nam là lịch sử chống giặc ngoại xâm liên tục và nhiều lần, trong đó có nhiều cuộc đấu tranh chống lại những thế lực hùng mạnh, giàu có và hung bạo nhất thế giới. Chính vì vậy mà cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn sát cánh bên nhau, liên tục đứng lên chống giặc ngoại xâm, đánh thắng quân xâm lược.

Đoàn kết trong lao động và đấu tranh là truyền thống nổi bật nhất của các dân tộc Việt Nam được hun đúc qua mấy nàgn năm lịch sử. Trong sự nghiệp cách mạng do Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, truyền thống đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ, là một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới rất to lớn và dáng tự hào cho thấy khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam đã được nâng lên tầm cao và chiều sâu mới, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, làm cho thế và lực của cách mạng Việt Nam ngày càng được tăng cường.

Tuy nhiên bên cạnh mặt đoàn kết là cơ bản, có nơi, có lúc vẫn xẩy ra những va chạm trong quan hệ dân tộc, còn có những biểu hiện mặc cảm, thành kiến dân tộc. Chính vì thế ở một số nơi, các lực lượng thù địch đã lợi dụng để kích động chia rẽ dân tộc. Do đó việc tăng cường đoàn kết, nâng cao cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ của mỗi người dân Việt Nam. 

VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO, DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN

 


Dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là những vấn đề phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, tôn giáo. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền đ­­ược giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội. Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, phát huy dân chủ và bảo đảm nhân quyền, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.

 

 

 

 

 

 

 

 TƯ TƯỞNG BÁC HỒ VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT

"Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều họp lại nơi bàn tay. Trong mấy chục triệu người, cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi tổ tiên ta. Vậy ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng, đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắc sẽ vẻ vang".

 



Hoàng Sa - Trường Sa lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Phát hiện bộ tem Đăng tháp bưu phiếu do bưu chính Đài Loan phát hành vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, CLB Viet Stamp (Hội Tem TP.HCM) vừa có công văn gửi Bộ TT-TT và cơ quan chức năng kiến nghị.

Theo đó, bộ tem Đăng tháp bưu phiếu mà bưu chính Đài Loan phát hành gồm 5 mẫu tem mang tên Đăng tháp bưu phiếu (Tem bưu chính về đèn biển), thể hiện hình ảnh 5 công trình đèn biển do Đài Loan xây dựng, trong đó có 1 công trình đèn biển do Đài Loan xây dựng trái phép trên đảo Ba Bình (tên quốc tế là Itu Aba Island, bị Đài Loan chiếm đóng trái phép từ năm 1956 và gọi là Thái Bình đảo/Tàipíng dǎo) - là đảo lớn nhất nằm trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Được biết, mẫu tem thứ năm trong bộ tem Đăng tháp bưu phiếu tên gọi là Thái Bình đảo đăng tháp (Đèn biển trên đảo Thái Bình), có giá cao nhất trong bộ tem là 15 tân đài tệ, thể hiện hình ảnh công trình đèn biển do Đài Loan xây dựng trái phép trên đảo Ba Bình năm 2015, cao 13,7 mét trên mực nước biển và có tầm hoạt động 10 hải lý.
Theo ông Hoàng Anh Thi – Chủ nhiệm CLB Viet Stamp (Hội Tem TP.HCM): “Bưu chính Đài Loan đã mượn cớ phát hành tem bưu chính về đèn biển để tuyên truyền rộng rãi cho cái gọi là 'chủ quyền của Đài Loan' đối với đảo Ba Bình nằm trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã bị Đài Loan chiếm đóng trái phép, nhằm đánh lừa dư luận trong và ngoài nước về hành động phi pháp”.

Đây là lần thứ ba bưu chính Đài Loan phát hành tem vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Trước đó, họ đã từng phát hành những bộ tem bưu chính phi pháp tương tự như: Năm 1996, phát hành bộ tem gồm 2 mẫu tem và 1 bloc tem thể hiện đường lưỡi bò phi pháp trên biển Đông và hình ảnh về đảo Ba Bình của Việt Nam; Năm 2016, phát hành bộ tem gồm 4 mẫu tem thể hiện những hình ảnh về đảo Ba Bình của Việt Nam
“Hành động này của bưu chính Đài Loan vi phạm luật quốc tế, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, không phù hợp với các quy định của Văn kiện Liên minh Bưu chính thế giới (điều 8, Công ước)”, công văn của Viet Stamp nhấn mạnh.

Đây là lần thứ ba Bưu chính Đài Loan phát hành tem bưu chính vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.

Trước đây, ngay sau khi bưu chính Đài Loan phát hành bộ tem vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa năm 2016, trên cơ sở kiến nghị của Câu lạc bộ Viet Stamp, Cơ quan bưu chính Việt Nam đã lên tiếng phản đối hành động sai trái của bưu chính Đài Loan và yêu cầu bưu chính Đài Loan tôn trọng sự thật, hủy ngay bộ tem và các ấn phẩm có liên quan, không để tái diễn hành động tương tự.
Thế nhưng, vừa qua bưu chính Đài Loan vẫn tiếp tục không tôn trọng sự thật, tiếp tục có hành động sai trái thông qua việc phát hành bộ tem Đăng tháp bưu phiếu nêu trên, trong khi Việt Nam có đầy đủ chứng cứ pháp lý và lịch sử để chứng minh và khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Vì vậy, Câu lạc bộ Viet Stamp đề nghị Bộ TT-TT, Tổng công ty Bưu điện Việt Nam và Hội Tem Việt Nam xem xét, chính thức có ý kiến phản đối bưu chính Đài Loan và Hội Tem Đài Loan về hành động phát hành tem bưu chính vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.
Từ bộ tem Đăng tháp bưu phiếu của bưu chính Đài Loan phát hành vi phạm chủ quyền của Việt Nam, thể theo nguyện vọng của đông đảo người sưu tập tem trong và ngoài nước, Câu lạc bộ Viet Stamp (Hội Tem TP.HCM) cũng đề nghị Bộ TT-TT xem xét, quyết định phát hành một bộ tem phổ thông, thể hiện hình ảnh bản đồ Việt Nam với hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa nhằm góp phần tuyên truyền, giáo dục tình yêu nước, yêu biển đảo đến đông đảo công chúng; khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam với thế giới thông qua tem bưu chính.

 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ, TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN ĐÓ LÀ ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT!


 Câu nói của V.I. Lê-nin: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”.
- Thấm nhuần, vận dụng sáng tạo tư tưởng đó trong tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân (QĐND) là “người trước, súng sau”; nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị; “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Người nêu rõ tính chất, nhiệm vụ của Đội là “chính trị trọng hơn quân sự”.
-----------------

Đảm bảo sự vững mạnh về chính trị là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. Nắm vững nguyên lý đó, hơn 76 năm qua, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Đó là bài học xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Học thuyết Mác – Lê-nin chỉ ra rằng: Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là giành chính quyền. Giai cấp vô sản muốn giành chính quyền, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản thì phải tổ chức ra một quân đội kiểu mới, được xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh…; trong đó, chính trị - tinh thần là một yếu tố có ý nghĩa quyết định. Khi bàn về vấn đề này, V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”. 

Thấm nhuần, vận dụng sáng tạo tư tưởng đó vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân (QĐND) là “người trước, súng sau”; nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị; “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Người nêu rõ tính chất, nhiệm vụ của Đội là “chính trị trọng hơn quân sự”. Tư tưởng đó của Người thống nhất với quan điểm của Đảng ta, trở thành đường lối, nguyên tắc chỉ đạo, phương châm hành động xây dựng QĐND vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng.

Xây dựng Quân đội về chính trị thực chất là xây dựng và giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc, đảm bảo cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; là đội quân cách mạng của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Quán triệt tinh thần đó, hơn 76 năm qua, dưới sự lãnh đạo, tổ chức, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Quân ủy Trung ương (QUTƯ), Bộ Quốc phòng, Quân đội ta không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, thực sự là đội quân cách mạng, của dân, do dân và vì dân; xây đắp nên truyền thống vẻ vang: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; xứng đáng với tên gọi giản dị, gần gũi của nhân dân - “Bộ đội Cụ Hồ”. Gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, QĐND đã vượt qua muôn vàn thử thách, hy sinh, cùng nhân dân cả nước lập nên những chiến công chói lọi: Tiến hành Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tiếp đó, thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả, giúp nước bạn Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng; đánh thắng chiến tranh xâm lược biên giới ở hai đầu đất nước và tích cực tham gia sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, v..v.. Những kỳ tích rất đỗi tự hào mà QĐND giành được trước hết là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân; sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ (CB,CS) trong QĐND.

Bước vào thời kỳ mới, để xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt, nhất là vững mạnh về chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, QUTƯ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và cấp ủy, chỉ huy các cấp đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch và hướng dẫn nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT). Đặc biệt, qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về xây dựng Đảng cho thấy, Đảng bộ Quân đội thực sự là một tập thể đoàn kết, thống nhất, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu được phát huy. Những thành quả đó là cơ sở thực tiễn sinh động minh chứng cho việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong suốt hơn 76 năm qua. Dù thời bình hay thời chiến, nhiệm vụ huấn luyện hay lao động sản xuất, việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị luôn được Đảng ta đặt lên hàng đầu. Bởi vậy, đã tạo cơ sở nền tảng vững chắc để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho QĐND luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất trong thời kỳ mới.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, nhất là tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; song, hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế chủ đạo. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta có bước phát triển mới, yêu cầu cao; bên cạnh những thuận lợi rất cơ bản, cũng có không ít khó khăn đan xen. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà công cuộc đổi mới đem lại đã góp phần củng cố lòng tin của nhân dân và CB,CS Quân đội ta vào Đảng, chế độ XHCN. Đặc biệt, việc khắc phục khuyết điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Chỉ thị 855-CT/QUTW, ngày 12-8-2019 của Thường vụ QUTW về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” đang được triển khai tích cực trong toàn quân đã mang lại hiệu ứng tốt đối với xây dựng Quân đội về chính trị. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhằm tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, nhất là trong dịp đại hội đảng các cấp hướng tới Đại hội XII của Đảng. Chúng ra sức tuyên truyền, lôi kéo, làm cho CB,CS xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, giảm niềm tin vào Đảng, chế độ. Cùng với đó là những tiêu cực trong đời sống xã hội, nhất là tệ tham nhũng, lãng phí, mặt trái của kinh tế thị trường,… đang hằng ngày, hằng giờ tác động đến tâm tư, tình cảm của CB,CS, v..v..

Trong bối cảnh đó, yêu cầu xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị càng phải được coi trọng, trở thành vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách. Kế thừa và phát huy bài học kinh nghiệm hơn 76 năm qua, trong tình hình hiện nay, xây dựng Quân đội về chính trị trước hết phải không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Đây là giải pháp then chốt có tính bao trùm, xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội. Nếu xa rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, quân đội sẽ mất phương hướng chính trị trong xây dựng và chiến đấu, phân rã về tư tưởng và tổ chức. Bài học từ sự đổ vỡ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã chứng minh điều đó. Vì thế, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là nguyên tắc bất di bất dịch trong xây dựng quân đội cách mạng. Để làm được điều đó, toàn quân phải tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 51-NQ/TW, ngày 20-7-2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong QĐND Việt Nam”. Các cấp ủy cần làm tốt công tác xây dựng Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI); trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, tinh thần đoàn kết, thống nhất của các tổ chức đảng; gắn xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Trong đó, phải hết sức chú ý đề cao tính tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy và chỉ huy đơn vị; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; đổi mới cơ chế, chính sách; thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ cơ sở; giải quyết hài hòa các mối quan hệ, nhất là quan hệ giữa người chỉ huy và chính ủy, chính trị viên.

Từ thực tiễn hơn 76 năm qua cho thấy, để nâng cao chất lượng xây dựng Quân đội về chính trị, phải tạo được sự đồng thuận cao cả về nhận thức, tư tưởng và hành động của mọi CB,CS. Giải pháp có ý nghĩa thiết thực là phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị (GDCT), định hướng tư tưởng cho bộ đội. Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị về thực chất là tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân của Quân đội. Qua đó, làm cho CB,CS giác ngộ sâu sắc lý tưởng cách mạng, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc, nhân dân và chế độ XHCN; có phẩm chất đạo đức trong sáng; kiên định, vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, SSCĐ, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Do vậy, công tác GDCT phải góp phần trang bị cho CB,CS những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trọng tâm là nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, phương hướng xây dựng QĐND “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” theo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Trước mắt, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Đề án “Đổi mới công tác GDCT tại đơn vị trong giai đoạn mới”; sớm hoàn thiện Quy chế GDCT đi đôi với tích cực đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp sát với yêu cầu xây dựng Quân đội về chính trị. Đặc biệt, phải gắn công tác GDCT với định hướng tư tưởng để mỗi CB,CS nhận thức đúng tình hình, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội; nắm vững thời cơ, thách thức, thuận lợi, khó khăn; phân biệt rõ “đối tượng”, “đối tác” theo quan điểm của Đảng; không mơ hồ, mất cảnh giác, xử lý tốt mọi tình huống không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, đẩy mạnh giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc và Quân đội; hết sức chú trọng giáo dục bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”; về đạo đức, lối sống và tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật, v.v. Chủ động làm tốt công tác định hướng, quản lý, giải quyết tư tưởng; nắm chắc tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh, hậu phương, gia đình của CB,CS và có biện pháp động viên, uốn nắn kịp thời, không để đột biến về tư tưởng, ảnh hưởng đến sức mạnh, khả năng SSCĐ của Quân đội.

Cùng với đó, cần coi trọng phát huy vai trò và hiệu quả của hoạt động CTĐ,CTCT, để công tác này thực sự là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các mặt công tác: tư tưởng, tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, dân vận, chính sách, quần chúng; đề cao dân chủ, kỷ cương, kỷ luật; giữ vững đoàn kết nội bộ. Trên cơ sở đó, xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược... Toàn quân tập trung nâng cao hiệu quả CTĐ,CTCT trong các nhiệm vụ; trọng tâm là nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, SSCĐ, xây dựng đơn vị, công tác quân sự, quốc phòng địa phương, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn và nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, v.v. Để thực hiện tốt điều đó, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị phải chăm lo xây dựng cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị vững mạnh về mọi mặt, nhất là khả năng tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, QUTW, Bộ Quốc phòng những vấn đề chiến lược, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng QĐND, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc.

Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và chủ động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội là một trong những giải pháp quan trọng để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Trước hết, các cấp ủy phải chăm lo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chú trọng bảo vệ tổ chức, con người trong sạch, vững mạnh, an toàn tuyệt đối về chính trị, chống sự xâm nhập, móc nối, cài cắm, lộ lọt thông tin. Đồng thời, chủ động đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong các cơ quan, đơn vị, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Quá trình đó, phải chú trọng đấu tranh trực diện với các thủ đoạn nguy hiểm của địch, kiên quyết bác bỏ những luận điệu tuyên truyền, kích động, gây phân tâm về nhận thức, tư tưởng của CB,CS, đi đôi với khẳng định tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác –  Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thành tựu của cách mạng, của Đảng và dân tộc. Về mặt nhận thức, cần thấy rõ đây là cuộc chiến “không khói súng”, nhưng không kém phần gay go, quyết liệt, bởi đó là cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận, là sự giành giật địa hạt chính trị, trận địa tư tưởng giữa ta và địch. Cuộc chiến đó diễn ra thường xuyên, quyết liệt đối với Quân đội và ngay trong đời sống tinh thần của từng CB,CS. Do đó, các đơn vị, trước hết là đội ngũ cán bộ chính trị các cấp cần coi trọng công tác GDCT, làm cho CB,CS hiểu rõ sự nguy hiểm của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; từ đó, nâng cao tinh thần cảnh giác, có giải pháp phòng, chống hiệu quả. Các cơ quan Báo chí quân đội phải thể hiện rõ vai trò nòng cốt, xung kích, tích cực, chủ động triển khai những vệt bài có tính lý luận, tính chiến đấu cao, kịp thời phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Các đơn vị Văn hóa - Nghệ thuật quân đội cần tăng cường nghiên cứu, sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật, tính chính trị cao, tôn vinh hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” cả trong thời kỳ chiến tranh cách mạng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần trong Quân đội theo đúng đường lối văn hóa của Đảng. Đồng thời, tích cực đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, nhằm giữ vững và phát triển nền văn học, nghệ thuật cách mạng với đặc trưng: chân - thiện - mỹ.

Từ bài học rút ra qua hơn 76 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, bất luận trong hoàn cảnh nào, việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị luôn là một nguyên tắc cơ bản, hàng đầu, được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ. Đây là cơ sở để Đảng ta tiếp tục vận dụng vào xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong giai đoạn cách mạng mới, đảm bảo cho QĐND thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.

 Nhân sự Đại hội XIII và bầu cử Quốc hội khóa XV có minh bạch không?

 
Chắc người đọc sẽ rất ngạc nhiên khi đọc tiêu đề của bài viết này khi mà trong thế giới văn minh ngày nay lại có câu hỏi tỏ ra nghi ngờ về tính minh bạch của nhân sự Đại hội XIII và bầu cử Quốc hội khóa XV đang đến gần? Tôi cũng như nhiều anh em khi đọc mạng xã hội thấy người ta nêu ra nhiều ý kiến thổi phồng về nhân sự hai sự kiện rất quan trọng này với đất nước nên cũng dành thời gian để tìm hiểu kỹ và có vài lời trao đổi cho rõ hơn.

Trước hết xin khẳng định kết quả Đại hội lần thứ XIII của Đảng là tốt đẹp. Thành công của công tác nhân sự ở Đại hội đã phản ánh việc chuẩn bị rất nghiêm túc, bài bản, trí tuệ và dân chủ theo đúng Phương án công tác nhân sự đã được Ban Chấp hành Trung ương thảo luận đóng góp ý kiền ở các kỳ Hội nghị Trung ương trước khi tiến hành Đại hội vào cuối tháng 1 đầu tháng 2 năm 2021. Cho nên những ý kiến kiểu như, “Công tác nhân sự có yếu tố Trung Quốc chi phối” là một sự bịa đặt và thêu dệt để phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh có những diễn biến mới xảy ra trên Biển Đông là hết sức phức tạp! Đảng ta đã khẳng định đường lối đối ngoại là đa dạng hóa, đa phương hóa trên nguyên tắc độc lập, tự chủ. Do vậy không phải đến bây giờ mà đã từ lâu có nhiều ý kiến xuyên tạc vấn đề nhân sự chúng ta luôn chịu sức ép, chi phối của Trung Quốc là hoàn toàn vô lý.

Bên cạnh đó có nhiều ý kiến trên mạng xã hội cho rằng việc chuẩn bị công tác nhân sự tại Đại hội XIII là thiếu dân chủ, minh bạch khi mà lựa chọn nhân sự chỉ do một “nhóm người có quyền lực trong Đảng quyết định” hoặc không lựa chọn trong số đông mà chỉ trong 200 người đã được chuẩn bị từ trước! Điều này cần nói rõ rằng khi tiến hành bầu cử ở các nước có chế độ chính trị khác nhau thì cách thức tiến hành cũng khác nhau chứ không rập khuôn theo mô hình của một nước. Hơn nữa ở đất nước có một đảng lãnh đạo khác đa đảng lãnh đạo. Nước có chế độ đi theo con đường XHCN khác nước có chế độ TBCN. Các bước chuẩn bị cho công tác nhân sự từ tham gia Ban Chấp hành Trung ương đến tham gia Ban Bí thư, Bộ Chính trị đều bám sát Phương án nhân sự Đại hội XIII của Đảng chứ không phải theo “Lợi ích nhóm”, “Cánh hẩu” hay do ý chí chủ quan của một người nào quyết định mà đều được bàn bạc thống nhất cao trong tập thể và khi bầu có số dư cần thiết để đại biểu dự Đại hội có quyền lựa chọn.

Tôi cũng thực sự ngạc nhiên khi Đại hội kết thúc rồi mà trên mạng xã hội cũng có nhiều ý kiến công kích công tác nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Họ còn tung tin đồn đoán về nhân sự Chính phủ trong nhiệm kỳ mới, vu cáo Tổng Bí thư “tham quyền cố vị”… Trong cuộc họp báo ngay sau khi bế mạc đại hội, Tổng Bí thư đã nói rõ về việc xin rút nhưng đại hội bầu thì với tư cách đảng viên nên chấp hành.  Tôi và nhiều người thấy Tổng Bí thư tiếp tục là phù hợp với lòng dân, ý Đảng khi mà gần như tuyệt đối số lượng Ban Chấp hành Trung ương bỏ phiếu kín bầu ông làm Tổng Bí thư và cũng không đi ngược lại khuynh hướng của thế giới khi mà Tổng thống Hoa Kỳ năm nay 79 tuổi trên đất nước có tới 330 triệu dân…

Tôi thấy trên mạng xã hội tiếp tục xuyên tạc cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV chỉ mang tính hình thức, mị dân, tốn tiền thuế của dân, các thành phần đại biểu được Đảng chọn trước, chưa đi bầu thì dân đã biết ai sẽ trúng cử, Quốc hội không còn đại diện cho quyền lợi của nhân dân mà chỉ bảo vệ quyền lợi cho Đảng vv và vv… Tôi thấy những luận điệu trên đây đều là xuyên tạc để làm mất uy tín của Đảng cầm quyền. Điều 4 Hiến pháp nêu rõ Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn thể xã hội. Do vậy khi lãnh đạo cuộc bầu cử thì Đảng không thể đứng ngoài cuộc bầu cử. Hay nói thẳng thắn Đảng có trách nhiệm lãnh đạo cuộc bầu cử đi tới thắng lợi nhưng tuyệt đối không làm thay các công việc bầu cử theo Luật bầu cử đã ban hành. Do vậy cuộc bầu cử phải được tiến hành theo đúng nguyên tắc và bảo đảm vấn đề dân chủ. Đó chính là ngày hội của quần chúng nhân dân đã có truyền thống từ 14 khóa trong lịch sử. Do vậy, đừng có xuyên tạc rằng bầu cử Quốc hội vở Việt Nam như một “màn kịch” hay chỉ như một trò đùa mà chưa bầu đã biết là ai trúng!

 ĐÔI ĐIỀU VỀ CỤM TỪ "NGỤY QUÂN NGỤY QUYỀN"



Sắp đến kỉ niêm 46 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 30/4/1975 - 30/4/2021 tôi xin có mấy điều bàn về nên hay không nên bỏ cụm từ "Ngụy Quân, Ngụy Quyền".

Trước tiên xin khẳng định không thể bỏ được cụm từ "Ngụy Quân Ngụy Quyền". Tại sao tôi nói như vậy?

Thứ nhất tra từ điển tiếng Việt từ"Ngụy" có nghĩa là sự giả tạo, không có thật.

Chính quyền bù nhìn tay sai Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên ở miền Nam Việt Nam thực chất chống lại nhân dân Việt Nam tàn sát dân thường vô tội, tội ác tày trời, trời không dung đất không tha. Mỹ đã dùng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm để chia cắt đất nước thành hai miền để thực hiện ý đồ biến Việt Nam thành bàn đạp tiến ra châu Á Thái Bình Dương do vị trí đắc địa của Việt Nam có thể tiến ra biển Đông, tuyến đường biển giao thông hàng hải quan trọng của thế giới giàu tài nguyên khoáng sản nhất là trữ lượng dầu mỏ ở biển Đông mà Mỹ đã nhăm nhe từ lâu. Chính quyền tay sai Ngụy quân Ngụy quyền do Mỹ dựng lên hay còn gọi là Việt Nam Cộng Hòa không đại diện cho nhân dân tộc Việt Nam và cho nhân dân miền Nam mà nó thực chất chỉ là một chính quyền bù nhìn tay sai của đế quốc Mỹ.

Thứ hai không thể bỏ cụm từ "Ngụy Quân Ngụy Quyền" là vì không thể coi Việt Nam cộng hòa như một chế độ nhà nước của miền Nam Việt Nam, coi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là cuộc nội chiến của miền Bắc và miền Nam như Hàn Quốc với Triều Tiên. Không thể như vậy vì như đã nói ở trên cuộc chiến tranh Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam sau hiệp định Giơ ne vơ 1954 đế quốc Mỹ nói đó là cuộc chiến tranh Việt Nam thì như nguyên Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu đã từng nói đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thống nhất hai miền Bắc Nam.

Hãy tôn trọng lịch sử dù chúng ta đã bình thường quan hệ ngoại giao với Mỹ năm 1997 khi Mỹ xóa bỏ bao vây cấm vận để Việt Nam hội nhập sâu hơn, rộng hơn với phần còn lại của thế giới. Chúng ta bắt tay với Mỹ gác lại quá khứ chiến tranh để cùng phát triển có lợi cho cả hai bên nhưng chúng ta không thể quên chính Mỹ đã rải hàng triệu tấn bom đạn trong chiến tranh ở Việt Nam rải hàng trăm nghìn lít đi ô xin chất độc màu da cam hơn 1,2 triệu người Việt Nam chết, nỗi đau vẫn còn đó. Nhắc lại không phải để kích động gây thù hằn giữa hai nước mà để cho con cháu người Việt Nam chúng ta hiện nay và mai sau biết ông bà tổ tiên đã phải hy sinh phải chiến đấu như thế nào để có hòa bình độc lập tự chủ tự cường như hôm nay.

Chúng ta gác lại quá khứ nhưng phải tôn trọng lịch sử đừng để sự hy sinh của ông cha ta là vô ích.Đảng và nhà nước chủ trương hội nhập và phát triển kinh tế với tất cả các nước trên thế giới trong đó có Mỹ trên cơ sở hai bên đều có lợi,chúng ta khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngay cả với Mỹ.

Một lần nữa khẳng định không thể bỏ tư"Ngụy quân Ngụy Quyền" phải tôn trọng lịch sử đừng để sự hy sinh của ông cha ta là vô ích chẳng nhẽ bài thơ của Bác Hồ mọi người đã quên rồi sao...?

" Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to  
Vì độc lập vì tự do
Đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào"

 

Tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc về cuộc bầu cử đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp

Bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng, đủ đức, đủ tài đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lựa chọn được những người xứng đáng, có tài, có tâm thì đất nước sẽ phồn thịnh và ngược lại nếu chọn sai người hoặc chọn nhầm những kẻ có dã tâm phá hoại đất nước thì hậu quả sẽ khôn lường.

Gần đây, một số phần tử cơ hội chính trị, phản động lưu vong liên tục phát tán nhiều tài liệu trên các trang mạng xã hội như: quochoivn, viettan.org, voatiengviet. Các nội dung phát tán đều nhằm bóp méo, xuyên tạc ý nghĩa và mục đích của cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026. Chúng cho rằng đây là “chiêu trò mị dân, do Đảng Cộng sàn sắp đặt, không có dân chủ và công bằng”, vu cáo Quốc hội “chỉ là bù nhìn, không đại diện cho quyền lợi của người dân”, kích động cử tri “tẩy chay” bầu cử và biểu tình phản đối Trung Quốc đưa nhiều tàu cá, tàu dân binh đến khu vực bãi cạn Ba Đầu/Quần đảo Trường Sa; xuyên tạc hạ uy tín của Đảng, nhà nước và Quân đội trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Có thể nói các luận điệu này đã được sự hà hơi, tiếp sức của các thế lực xấu, thường xuyên làm những trò hề chính trị để nhận những khoản tiền từ nước ngoài. Những cái tên quyen thuộc như Nguyễn Thuý Hạnh, Dũng Vova, Lê Trọng Hùng hay nhiều kẻ khác đã tuyên bố “tự ứng cử”, trở thành con rối theo sự điều khiển của các thế lực phản động hiếu chiến, chính khách cực đoan phương Tây. Khi không được thông qua Hội nghị hiệp thương, thì chúng tuyên bố có sự gian lận và kêu gọi tẩy chay Bầu cử, không đi bầu hoặc bỏ "phiếu trắng".

Đây là những luận điệu rất vô lý và ngang ngược được chúng tự hào là đang đòi “dân chủ”, “sự công bằng” cho người dân Việt Nam. Liệu rằng, Thuý Hạnh, Trọng Hùng, Dũng Vova đã bao giờ tự hỏi họ có đủ tư cách và có xứng đáng đại diện cho cử tri, hay bản thân thực hiện các hành động “tự ứng cử” không phải vì quyền lợi của người dân mà vì mục đích kinh tế đen tối? Càng gần đến ngày Bầu cử, các hoạt động đòi tẩy chay Bầu cử sẽ ngày càng gia tăng. Vì vậy mỗi một người dân chúng ta cần hết sức tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc của các phần tử phản động, âm mưa chia rẽ đoàn kết dân tộc và gây bất ổn chính trị đất nước. Bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng, đủ đức, đủ tài đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đi bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân Việt Nam. Mỗi chúng ta cần nhận diện, đấu tranh với bất kỳ thế lực nào chống phá cuộc Bầu cử. Bảo đảm cho cuộc bầu cử được tiến hành thực sự dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và là ngày hội của toàn dân.

 

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LỊCH SỬ DÂN TỘC


Cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa, vệ quốc vĩ đại. Trong các cuộc chiến tranh ấy, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc chiến gian khổ, ác liệt và hy sinh, mất mát vô cùng to lớn. Đó là cái giá để chúng ta có được một dân tộc độc lập, tự do, bình đẳng và tiến bộ như ngày nay.

Ấy vậy mà, có những người, thậm trí là những kẻ tự xưng là trí thức đã mù quáng hay cố tình xuyên tạc, bôi nhọ, phủ định lại bản chất của lịch sử hào hùng, oanh liệt của dân tộc ta. Một kẻ đang sống trong chế độ này, hưởng những phúc lợi của xã hội này nhưng bất mãn và đổ đốn. Từ chỗ chửi đổng đến công khai phỉ báng chế độ, mạ lị cả lãnh tụ dân tộc và giờ thì công khai xuyên tạc cuộc chiến tranh đánh đuổi quân xâm lược Mỹ, giải phóng dân tộc, thậm chí gọi giặc là "cha".

Kẻ đó là "nhà giáo, dịch giả, nhà văn, nhà thơ" Thái Bá Tân.

Mới đây, Thái Bá Tân có bài thơ theo phong cách 5 chữ có tựa "CÔNG CHÚA SÀI GÒN" (Xin không viết ra đây, nhưng mời xem ảnh bên), trong đó công khai xuyên tạc bản chất cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của đảng, nhà nước và nhân dân ta. Thái Bá Tân coi việc giải phóng miền Nam, giải phóng Sài Gòn là việc "Hiếp cô công chúa", tức là cưỡng bức hay như cách nói của những kẻ đang muốn vực dậy cái thây ma VNCH là "xâm lược".

Nhiều người thất vọng nói, "Đó là thằng trở cờ đốn mạt".

Thực lòng mà nói, so sánh với đám dzân chủ giả cầy như Nguyễn Quang A, Nguyễn Xuân Diện, hay thậm chí là Trần Khải Thanh Thủy,... thì Thái Bá Tân chỉ là con zận hạng bét. Điều lạ, là Thái Bá Tân rất tự hào là mình uyên thâm, coi thiên hạ toàn thằng ngu và dĩ nhiên, chỉ mình hắn là khôn cùng khốn như chấy. Nói thẳng ra, chỉ vì hắn già nua và có chút tiếng tăm về thơ phú, nên người ta chưa tóm. Nhưng nếu làm quá, hắn sẽ được mặc áo tù.

Hôm trước, ông đã chĩa súng vào Đại tướng Võ Nguyên Giáp - một biểu tượng của dân tộc Việt Nam để bày trò hèn mạt hạ đẳng, và động thái ấy làm cho người dân Việt Nam chân chính khinh miệt ông. Hôm nay ông chĩa súng vào chính chính quyền thì không chính quyền nào tha cho ông được.

Đây là những hành động ngông cuồng, trắng trợn, vô liêm sỉ của những kẻ mạo danh là trí thức, nhưng thực chất lại mang trong mình những tư tưởng cực kỳ phản động. Những hành động như vậy không chỉ gây phẫn nộ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, mà còn có ảnh hưởng rất xấu đến công tác giáo dục, tư tưởng của nước nhà. Thiết nghĩ, các cấp, ngành chức năng có liên quan cần phải nhanh chóng vào cuộc, để những hành động phải được nghiêm trị một cách thích đáng, trả lại sự thiêng liêng  của lịch sử và sự vững vàng về tư tưởng cho nhân dân Việt Nam ta.