Thứ Năm, 15 tháng 4, 2021

Nhận diện và đấu tranh với các hoạt động chống phá bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026

 Hiện nay, công tác chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đang được các cơ quan chức năng tích cực tiến hành. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị vẫn đang tiến hành nhiều hoạt động với tính chất chống phá hết sức quyết liệt. Bằng việc xuyên tạc thông tin, đưa ra những bình luận, nhận xét, đánh giá thiếu trung thực, phiến diện, một chiều, quy chụp, các đối tượng xấu đang hướng lái dư luận theo hướng tiêu cực, kích động tư tưởng hoài nghi về công tác bầu cử, gieo rắc nhận thức sai lầm liên quan đến hoạt động bầu cử. Trong đó, những nội dung chống phá chính mà các đối tượng xấu đang tiến hành như:  chúng xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử; các phần tử chống phá thực hiện chiêu trò “tự ứng cử”, hô hào các hội nhóm dân chủ trên mạng xã hội ký tên ảo, tung hô, ủng hộ cho các “nhà dân chủ” để gây rối, phá hoại cuộc bầu cử; các đối tượng chống phá ra sức xuyên tạc công tác tổ chức bầu cử, tung ra các kiến nghị vô căn cứ…

Do vậy, để cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 thì ngay lúc này, việc nâng cao cảnh giác, nhận diện và chủ động đấu tranh, quyết liệt làm thất bại những thủ đoạn xuyên tạc, gây rối, bôi nhọ, phá hoại của các thế lực thù địch và các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị là điều rất cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết./.   

 

 

Tiếp tục định hướng những nội dung trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay.

Âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, cơ hội là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là "mũi đột phá" hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những "khoảng trống" để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên, nhân dân nhằm chuyển hoá, xoá bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Ở Việt Nam, từ khi đất nước tiến hành đổi mới và từng bước hội nhập quốc tế, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động là không thay đổi nhưng chuyển sang hình thái mới, phương thức, thủ đoạn mới hết sức tinh vi xảo quyệt. Chúng lợi dụng Internet, báo điện tử, trang mạng xã hội, các website, các nền tảng công nghệ phổ biến: blog, Facebook, Youtube, Zalo…để tổ chức các chiến dịch phá hoại trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực cả lý luận và thực tiễn. Mục tiêu cơ bản của chúng là đả phá, công kích những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cộng sản cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội; âm mưu phủ nhận, loại bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thông qua các con đường hợp tác, giao lưu, trao đổi văn hóa, tri thức khoa học, kinh tế, luật pháp và các nền tảng công nghệ mạng để đưa các lý thuyết mới, tư tưởng mới thâm nhập vào Việt Nam hòng “pha loãng tư tưởng chính thống”, làm mờ nhạt nguyên lý, nguyên tắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tập trung phê phán, hạ thấp vai trò, ý nghĩa thời đại, lý luận của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác - Lênin.

Từ việc những vấn đề trong tác phẩm….để bảo vệ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta có thể rút ra một số nguyên tắc có tính chất phương pháp luận trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay như sau:

Một là, trong bất kỳ hoàn cảnh và tình huống nào cũng phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đây là nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng. Sự kiên định về lập trường tư tưởng cũng chính là ngọn lửa thử vàng, là nguyên tắc tối cao của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, thường xuyên giáo dục đạo đức cách mạng, giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng, tạo sức đề kháng cao trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; chủ động tấn công mạnh mẽ, đánh bại âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng ta phải tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH, tổng kết thực tiễn để tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm cung cấp vũ khí lý luận sắc bén chống lại các thế lực thù địch, nâng cao hiệu quả công tác cổ động, tuyên truyền, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

Ba là, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sự thống nhất biện chứng của hai quá trình: vừa tiếp tục khẳng định những giá trị phổ quát, đúng đắn của chủ nghĩa Mác, vừa không ngừng bổ sung, phát triển và vận dụng linh hoạt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.

Bốn là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.

Năm là, tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; hệ thống hoá, phổ biến các thành tựu lý luận trong thời gian qua; nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập nghị quyết để vận dụng vào thực tiễn; Tích cực, chủ động cung cấp những thông tin chính thống để định hướng dư luận về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước...

 

 

Một số giải pháp đột phá nhằm phát huy nhân tố con người trong phát triển đất nước

 Đảng và Nhà nước ta sớm nhận thức rõ vai trò quyết định của nhân tố con người và luôn đặc biệt quan tâm xây dựng con người Việt Nam mới và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Tiếp theo tinh thần các Đại hội trước, Đại hội XII của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”. Vấn đề đặt ra là phải có các giải pháp đột phá để phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong các chặng đường đấu tranh cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đã phát huy được sức mạnh của mỗi con người Việt Nam cũng như của cả dân tộc cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Trong thời kỳ 1975 -1985, do nhiều nguyên nhân khác nhau, vai trò của nhân tố con người chưa được nhận thức đầy đủ và cũng chưa có một hệ giải pháp phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người trong xây dựng, phát triển đất nước. Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta nhận thức rõ con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển đất nước và đề ra những giải pháp nhằm phát huy tối đa nhân tố con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

Tuy nhiên, cùng với những kết quả đạt được thì việc phát huy nhân tố con người Việt Nam trong xây dựng, phát triển đất nước thời gian qua vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, vẫn còn không ít những hạn chế, yếu kém cần phải tập trung khắc phục.

Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp,... chưa được ngặn chặn, đẩy lùi. Công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều bất cập. Giáo dục và đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, thành động lực phát triển. Chưa tạo ra được môi trường thuận lợi cho việc phát huy tối đa nhân tố con người Việt Nam. Các chính sách nhằm phát huy nhân tố con người dường như đều đã có, nhưng những chính sách này khó đi vào cuộc sống…

Để khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên, phát huy có hiệu quả nhân tố con người Việt Nam trong xây dựng, phát triển đất nước, cần thực hiện một số giải pháp đột phá sau:

Một là, thống nhất nhận thức về phát huy nhân tố con người. Phát huy nhân tố con người là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi người, tạo điều kiện cho mỗi người phát triển toàn diện, phát huy tối đa tài năng, năng lực của cá nhân cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

Hai là, giải quyết thỏa đáng lợi ích chính đáng, thiết thực của con người. Với mỗi giai tầng, mỗi người đều có các lợi ích kinh tế, chính trị, tinh thần,v.v.. Trong đó, chú ý đặc biệt tới lợi ích kinh tế. Giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân - tập thể - xã hội - dân tộc.

Ba là, đổi mới mạnh mẽ về tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả, thiết thực, tạo cơ hội cho mỗi người dân phát huy tối đa năng lực, sở trường đóng góp vào sự nghiệp đổi mới đất nước.

Bốn là, phát huy dân chủ. Phát huy dân chủ là phát huy vai trò là chủ, làm chủ của nhân dân. Nhân dân có quyền học tập, lao động sáng tạo, quyền cống hiến, quyền phát huy vai trò của chính mình,v.v..

Năm là, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giải quyết tốt vấn đề tôn giáo, dân tộc. Có phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thì mới phát huy được nhân tố con người Việt Nam. Thực hiện các chính sách bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển. Kiên quyết đấu tranh chống kỳ thị dân tộc, kỳ thị tôn giáo, chống lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân tộc để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên cơ sở đó, chúng ta sẽ phát huy có hiệu quả nhân tố con người Việt Nam cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

 

 

Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh

 Hiện nay, ở Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, không chỉ phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn phủ nhận cả tư tưởng Hồ Chí Minh bằng mọi thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Trong đó, chúng tuyên truyền hết sức sai trái, cho rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện của Việt Nam”.

Cần khẳng định rằng, về bản chất, luận điểm tuyên truyền sai trái nói trên nằm trong mưu toan phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc tư tưởng, lý luận chủ yếu, quyết định là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, từ đó làm suy yếu, tiến tới phủ định chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Luận điệu sai trái đó nhằm ba mục tiêu: phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận, cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Từ đó, mưu toan làm tha hóa về chính trị, tư tưởng đối với một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhằm thực hiện mục tiêu làm suy yếu và đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do vậy, mọi sự xuyên tạc, lừa bịp của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội về tư tưởng Hồ Chí Minh đều không có cơ sở khoa học và không có giá trị.

Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị khóa VII đã khẳng định: “Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX (năm 2001), lần thứ XI (năm 2011) cũng viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta”.

Hồ Chí Minh đã tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin theo phương pháp luận Mácxit. Từ lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin để tìm ra những chủ trương, chính sách phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam, không dập khuôn những lý luận đã có sẵn trong sách vở kinh điển. Ngay từ khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh thấy được sự khác biệt giữa các nước tư bản ở châu Âu mà C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đã nghiên cứu so với thực tiễn Việt Nam - một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, kinh tế kém phát triển… Người đã đề xuất bổ sung về “cơ sở lịch sử phương Đông”, để gắn với lịch sử ở phương Đông và Việt Nam. Trong một báo cáo tình hình Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản, Người viết: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây… dù sao cũng không thể cấm bổ sung cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác, bằng đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác, ở thời mình không thể có được”. Hồ Chí Minh cũng có những phát triển sáng tạo về xây dựng Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đó là: Quy luật hình thành Đảng bằng kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước (chủ nghĩa Mác - Lênin chưa đặt vấn đề phong trào yêu nước); Đảng vừa đại diện cho lợi ích của giai cấp, vừa đại diện cho lợi ích của dân tộc. Hồ Chí Minh còn có sự phát triển sáng tạo về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân và các lĩnh vực khác như: kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, xây dựng thế hệ cách mạng cho đời sau… hết sức phong phú, sâu sắc.

Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế trên phạm vi toàn thế giới. Cạnh tranh kinh tế, tranh giành nguồn tài nguyên, nguồn nhân lực cho phát triển giữa các nước tiếp tục diễn ra gay gắt. Hòa bình hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng xung đột cục bộ, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo vẫn diễn ra khó lường, các yếu tố đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống diễn biến rất phức tạp… Để tăng cường củng cố niềm tin vào tư tưởng Hồ Chí Minh, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta cần có những giải pháp đồng bộ để nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người trong tình hình mới, cụ thể là:

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Đặc biệt, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thiết thực, hiệu quả. Kết hợp với đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, gắn với công tác kiểm tra, đánh giá, phê bình, tự phê bình. Cơ quan lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước phải thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; quản lý chặt chẽ các phương tiện thông tin đại chúng, có những biện pháp kịp thời, thiết thực, hiệu quả để ngăn chặn những diễn biến xấu về tư tưởng, chính trị, phòng chống những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hai là, quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền. Bởi vì, cương lĩnh, đường lối chính trị đúng đắn là một vấn đề cốt lõi, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sự tồn tại và phát triển của Đảng. Có đường lối chính trị đúng đắn mới làm cho nhân dân được giác ngộ về mục tiêu đấu tranh, hiểu rõ tình hình cách mạng và ý thức rõ những việc nên làm. Phổ biến nghị quyết của Đảng trong nhân dân phải nâng cao tính thuyết phục, giải thích, tránh gò ép, mệnh lệnh, cưỡng bức. Thuyết phục quần chúng bằng lý lẽ, nhưng quan trọng hơn là nêu gương. Đồng thời, phải chọn cán bộ cho đúng. Vì cán bộ là cái gốc của mọi công việc và “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”.

Ba là, phải quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng và các mặt tiêu cực trong xã hội. Nhiều năm qua, Đảng ta đã chỉ đạo làm rất tích cực những vẫn còn những hạn chế, vướng mắc ở ngay trong bộ máy công quyền của chúng ta. Vì vậy, phải làm rất kiên quyết, triệt để, công khai, minh bạch, không để những kẻ lợi dụng quyền lực làm giàu bất chính tồn tại trong bộ máy của Đảng, Nhà nước ta, có như vậy mới giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ ta.

Thời gian càng qua đi, giá trị lý luận và thực tiễn căn bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở nên sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị hết sức to lớn đối với sự nghiệp của Đảng và dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam không có mục đích nào khác ngoài phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên và toàn dân càng phải thấm nhuần và quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh; tự giác, rèn luyện, tu dưỡng; chủ động, kiên quyết phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, tiếp tục đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

 

 

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao hàm những nguyên lý, nội dung, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao. Người đề cao các quyền dân tộc cơ bản, bao gồm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, hòa bình và chống chiến tranh xâm lược. Người nhấn mạnh ngoại giao “phải luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ”; độc lập tự chủ, tự lực tự cường phải gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế, theo đó Việt Nam sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Người hết sức coi trọng tình hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới; mở rộng bang giao với các nước trong khu vực và trên thế giới; xử lý tốt quan hệ với các nước lớn để phục vụ lợi ích cách mạng.

Trong phương pháp, Người xác định ngoại giao phải là một mặt trận, một binh chủng hợp thành của cách mạng Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn “vừa đánh vừa đàm”, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn. Người luôn đặt Việt Nam trong dòng chảy của thế giới, coi trọng các trung tâm quyền lực, các trào lưu lớn. Người đặc biệt đề cao “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi, giữ vững tính nguyên tắc, kiên định, vững chắc của mục tiêu chiến lược với tính linh hoạt, uyển chuyển của sách lược cách mạng. Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh còn thể hiện truyền thống yêu hòa bình của dân tộc ta, nỗ lực giải quyết bất đồng bằng các phương cách hoà bình.

Nét nổi bật trong nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh là sự vận dụng nhuần nhuyễn “năm cái biết” (biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến), là khả năng tạo dựng thời cơ và chớp thời cơ, là ngoại giao tâm công giúp thu phục lòng người bằng chính nghĩa, tình người, lẽ phải và đạo lý. Những thành tựu của đối ngoại Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc ta đã thể hiện rõ nét sự tài tình của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng các nghệ thuật ngoại giao để đưa cách mạng đến thành công.

Thực tiễn đã chứng minh Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là di sản vô giá, là nền tảng sức mạnh và là chìa khóa để triển khai thắng lợi, hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng qua các giai đoạn cách mạng. Chính nhờ sự vận dụng sáng tạo Tư tưởng ngoại giao của Người trong tình hình mới, đối ngoại Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần duy trì môi trường hoà bình, thu hút các nguồn lực cho phát triển, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và nâng cao vị thế quốc tế của nước ta.

Bên thềm thập niên thứ ba của thế kỷ 21, thế giới đang chứng kiến những biến động to lớn, sâu sắc và khó lường. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đại dịch Covid-19 đã góp phần đẩy nhanh hơn những chuyển biến sâu sắc trong cục diện quốc tế, tác động trực tiếp tới môi trường an ninh và phát triển của nước ta. Chúng ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh để đặt Việt Nam vào đúng “dòng chảy của thời đại”, tạo sức mạnh to lớn đưa cách mạng Việt Nam tới những thắng lợi mới.

Theo đó, ngoại giao Việt Nam cần phát huy tốt vai trò là “một mặt trận” tiên phong nhằm củng cố vững chắc môi trường quốc tế thuận lợi và thu hút các nguồn lực phục vụ phát triển và nâng cao vị thế đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ lúc nước chưa nguy. Chúng ta cần vận dụng tốt nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cần kiên định mục tiêu bất biến là lợi ích tối thượng của quốc gia - dân tộc với nội hàm là hoà bình, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao sức mạnh và vị thế của quốc gia; đồng thời, linh hoạt, khéo léo trong sách lược, hành động để xử lý cái "vạn biến" của tình hình. Trước những phức tạp ở Biển Đông, chúng ta kiên trì sử dụng các biện pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp, đồng thời "kiên quyết bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: Toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước” như lời Bác căn dặn.

Trong tình hình mới, cán bộ đối ngoại cần thường xuyên phấn đấu, tu dưỡng như lời Bác dặn: "chỉ có qua học tập, qua sự cố gắng của từng cá nhân và cả ngành thì công tác ngoại giao mới đáp ứng nhu cầu của đất nước". Cán bộ đối ngoại cần vừa "hồng", vừa "chuyên" để xây dựng nền ngoại giao Việt Nam hiện đại trong thời kỳ mới. Đặc biệt, cần thực hiện lời căn dặn của Bác: “phải luôn luôn vì lợi ích dân tộc mà phục vụ và nhà ngoại giao phải khôn khéo để lợi ích đó được đảm bảo". Dưới ánh sáng của Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam sẽ tiếp tục viết lên những thành công mới, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa nước ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác hằng mong ước.

 


Thứ Tư, 14 tháng 4, 2021

Xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cho Tổng khởi nghĩa thành công

 Việc xây dựng, phát triển và phát huy vai trò của LLVT, gồm các đơn vị Việt Nam Giải phóng quân cùng các đội du kích, tự vệ chiến đấu đã trở thành một trong những lực lượng quân sự quan trọng, cùng toàn dân tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi trong cả nước.

Căn cứ vào điều kiện đất nước ta bị thực dân Pháp áp bức bóc lột nặng nề, Đảng ta mới ra đời đã đề ra nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn đấu tranh chính trị là phải “tổ chức đội tự vệ của công nông”. Theo chủ trương đó, trong cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ-Tĩnh, nhiều đội tự vệ công nông (Tự vệ đỏ) lần lượt ra đời ở cả ba miền Bắc-Trung-Nam. Đại hội lần thứ nhất của Đảng (3-1935) đã ra nghị quyết về Đội tự vệ, xác định những nguyên tắc xây dựng và hoạt động của đội tự vệ, cơ sở đầu tiên để xây dựng LLVT cách mạng của Đảng.

Vào những năm trực tiếp chuẩn bị khởi nghĩa, giành chính quyền, một số đội du kích, tự vệ chiến đấu lần lượt hình thành ở những nơi có phong trào cách mạng, kể cả miền núi, trung du và đồng bằng. Trên cơ sở quân du kích hình thành trong cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (9-1940), Đảng quyết định thành lập Đội du kích Bắc Sơn (2-1941). Tại các tỉnh Nam Kỳ, quân du kích ra đời, phát triển trong quá trình chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa Nam Kỳ (11-1940). Đó là những đội du kích tập trung làm nòng cốt cho nhân dân xây dựng và chiến đấu bảo vệ các khu căn cứ, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích tại các huyện, xã.

Đội du kích Bắc Sơn đã qua rèn luyện, thử thách trong cuộc đấu tranh cách mạng, Đảng tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, chấn chỉnh tổ chức và đổi tên thành Trung đội Cứu quốc quân 1 (sau Hội nghị Trung ương 8), sau đó lần lượt tổ chức Trung đội Cứu quốc quân 2 (9-1941) và Trung đội Cứu quốc quân 3 (2-1944). Phương châm xây dựng, hoạt động của Cứu quốc quân là vừa chiến đấu để bảo vệ, vừa mở rộng, phát triển và củng cố khu căn cứ.

Trên cơ sở Cứu quốc quân và các đội du kích, tự vệ chiến đấu phát triển ở các chiến khu Cao-Bắc-Lạng, Thái-Hà-Tuyên, để có một lực lượng chủ lực làm nòng cốt thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ hơn, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, theo chỉ thị của đồng chí Hồ Chí Minh. Với việc thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã đánh dấu bước phát triển về tổ chức của LLVT cách mạng, gồm ba thứ quân bước đầu hình thành: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân chủ lực; đội du kích tập trung của các tỉnh, huyện và lực lượng tự vệ cứu quốc, tự vệ chiến đấu ở khắp các làng xã.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), cùng với sự phát triển của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân, hàng loạt đội du kích, tự vệ chiến đấu tiếp tục hình thành ở các chiến khu, các căn cứ cách mạng trong cả nước. Điển hình là Đội du kích Ba Tơ hình thành trong cuộc khởi nghĩa Ba Tơ (3-1945), Trung đội giải phóng quân ra đời ở chiến khu Quang Trung và Du kích cách mạng quân hình thành ở chiến khu Trần Hưng Đạo. Các đội vũ trang này ngày càng phát triển trong cao trào chống Nhật, cứu nước.

Để chuẩn bị một LLVT quy mô tổ chức lớn đón thời cơ chuyển lên Tổng khởi nghĩa, Đảng gấp rút phát triển đội quân chủ lực, thống nhất Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân với Cứu quốc quân và các đơn vị vũ trang cách mạng thành Việt Nam Giải phóng quân (15-5-1945). Sự ra đời của Việt Nam Giải phóng quân đánh dấu bước phát triển về quy mô tổ chức của LLVT cách mạng của Đảng, gồm ba thứ quân cơ bản được hình thành, trong đó các đơn vị Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân hợp thành bộ đội chủ lực giải phóng quân; các đơn vị du kích tập trung của các tỉnh, huyện chuyển thành giải phóng quân địa phương và các đội du kích, tự vệ tổ chức ở các căn cứ vũ trang, từ miền Bắc vào miền Trung đến tận miền Nam.

Thực hiện mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, Tổng bộ Việt Minh và đồng chí Hồ Chí Minh, Việt Nam Giải phóng quân cùng các đội du kích, tự vệ chiến đấu trở thành lực lượng quân sự quan trọng, cùng toàn dân tiến hành khởi nghĩa. Từ ngày 14 đến 18-8-1945, LLVT hỗ trợ nhân dân nhiều địa phương tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền ở các xã, huyện, tiến lên giải phóng thị xã. Từ ngày 16 đến 20-8, các đơn vị Việt Nam Giải phóng quân tiến đánh giải phóng các thị xã (nay là thành phố) Thái Nguyên, Tuyên Quang. Đặc biệt, thắng lợi của khởi nghĩa ở các thành phố lớn Hà Nội (19-8), Huế (23-8), Sài Gòn (25-8) đã đập tan sức kháng cự của quân Nhật và bọn tay sai, góp phần tác động mạnh tới các địa phương cả nước khởi nghĩa giành chính quyền. Đến ngày 28-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước cơ bản hoàn thành.

Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 khẳng định, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra đường lối đúng đắn và chỉ đạo xây dựng, phát triển LLVT với quy mô tổ chức, mở đầu từ các đội tự vệ công nông, đội du kích, tự vệ chiến đấu, Cứu quốc quân đến đội quân chủ lực, tiến tới hình thành LLVT ba thứ quân. Đồng thời, tổ chức, sử dụng hợp lý và phát huy hiệu quả vai trò nòng cốt của LLVT, cùng toàn dân chuyển từ khởi nghĩa từng phần giành chính quyền ở các địa phương, phát triển thành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, giành chính quyền trên phạm vi toàn quốc.VNĐ

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG LÀ NHIỆM VỤ CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 Cần phải khẳng định rằng, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên phong. Để đấu tranh, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải bảo vệ vững chắc nội bộ. Nội bộ đoàn kết, không dao động, không "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì thế lực thù địch dù có nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đến mấy cũng khó bề làm lung lạc ý chí, niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, việc đầu tiên là cần có biện pháp đấu tranh, khắc phục thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ phai nhạt lý tưởng mà còn thiếu niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa.

Quá trình "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong mỗi cá nhân, tổ chức thường bắt đầu từ mất niềm tin, mất phương hướng, từ bỏ lý tưởng, mục tiêu cách mạng, tiến tới du nhập tư tưởng, lý luận phi mác-xít, sẵn sàng "trở cờ" phản bội, đưa đất nước đi theo hướng khác, con đường khác phi xã hội chủ nghĩa. Thực tế là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trong cả nhận thức và hành động của một số người. Nhận thức đó có thể bắt nguồn từ những vấn đề còn chưa tỏ tường về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, kết hợp với sự xuất hiện những thế mạnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại trong quá trình toàn cầu hóa. Những điều đó đã tác động mạnh tới nhận thức của một số người, trong đó có một số văn nghệ sĩ, trí thức, làm cho nhận thức của họ trở nên mông lung, như người "đứng giữa ngã ba đường".

Để bảo vệ hiệu quả nền tảng tư tưởng của Đảng, thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán triệt để hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, chủ nghĩa thực dụng tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tiếp tục khẳng định chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là con đường duy nhất đúng, bởi nó vừa thể hiện tính cách mạng triệt để, vừa phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội. Bên cạnh đó, cần có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức trong hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm, tư tưởng và ý đồ thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Phát hiện, xử lý kịp thời những âm mưu phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng từ các thế lực thù địch, vạch mặt những phần tử cơ hội chính trị, ngăn chặn những hành vi xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, ngăn chặn sự chia rẽ mối đoàn kết gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và lực lượng vũ trang. Phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước, cụ thể là của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn những mâu thuẫn nội bộ trong các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ, tạo tâm lý bất bình và các "điểm nóng" về an ninh trật tự trong xã hội. Đồng thời đẩy mạnh việc đấu tranh, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quyết tâm làm trong sạch từ nhận thức đến hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên-đội ngũ vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", để tạo cơ sở nền tảng đấu tranh hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.VNĐ

LÀM THẤT BẠI CÁC TIN GIẢ TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Mặc dù tin giả xuất hiện từ lâu, ở mọi thời kỳ song những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông, nhất là internet và mạng xã hội thì tin giả cũng xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành vấn nạn với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Bởi vậy, nhận diện tin giả, nguyên nhân xuất hiện và tác hại của nó làm cơ sở nâng cao cảnh giác, chủ động phòng, chống tin giả, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội là vấn đề có ý nghĩa quan trọng hiện nay.

Tuy chưa có định nghĩa rõ ràng, thống nhất về tin giả nhưng có thể hiểu tin giả là những thông tin sai, được tán phát dưới vỏ bọc tin tức. Cách hiểu này sát với nghĩa của từ “fake news” trong tiếng Anh, hiện đang được sử dụng nhiều trên truyền thông. Những tin giả kiểu xuyên tạc có ở tất cả các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... song chúng thường xuất hiện khi có những sự kiện chính trị, xã hội quan trọng như đại hội đảng, bầu cử, họp Quốc hội, các chính sách, luật pháp mới ban hành, hay các hiện tượng "nóng", gây tranh cãi trong đời sống hiện thực, chẳng hạn thiên tai, dịch bệnh, các vụ việc vi phạm pháp luật... Các sự kiện này được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như văn bản, hình ảnh, video clip nhưng được chỉnh sửa hoặc cắt ghép và thường được đăng tải trên các trang thông tin không chính thống, qua các nền tảng mạng xã hội và các ứng dụng tin nhắn hay các công cụ tìm kiếm trên internet. Động cơ của các đối tượng tán phát tin tức giả loại này có thể vì nhiều mục đích khác nhau như: Tài chính, chính trị, hạ uy tín của cá nhân, tổ chức một cách có chủ đích hay chỉ đơn giản là để trêu đùa, nhằm thu hút sự chú ý của cộng đồng mạng. Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu cho rằng, động cơ của các đối tượng xây dựng và tán phát tin giả liên quan đến tài chính.

Phòng, chống tin giả trên mạng xã hội

Theo số liệu thống kê, tính đến tháng 1-2020, Việt Nam đã có khoảng 65 triệu người sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để giải trí, liên hệ với bạn bè, chia sẻ khoảnh khắc, mẹo vặt trong cuộc sống và kể cả quảng cáo bán hàng(1). Thống kê của Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cho thấy, từ khi dịch Covid-19 xuất hiện, trên không gian mạng Việt Nam đã có hơn 900.000 thông tin liên quan đến tình hình dịch bệnh. Theo Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, chỉ hơn hai tháng, công an các đơn vị, địa phương trong cả nước đã xác minh, làm việc với gần 700 trường hợp đưa tin sai sự thật; đã có hơn 300 đối tượng trong nước tung tin giả về dịch Covid-19 trên không gian mạng bị cơ quan chức năng xử lý(2). Điều đó cho thấy, tin giả trên không gian mạng là vấn đề rất phức tạp hiện nay.

Có nhiều nguyên nhân làm xuất hiện và lan truyền tin giả. Đối với tin sai lệch, một mặt do sự thiếu cẩn trọng của người tạo và đưa tin trên các phương tiện truyền thông, mặt khác do sự chủ quan, thiếu trách nhiệm của người quản lý khi duyệt và cho phép lưu hành tin. Đối với tin xuyên tạc, sở dĩ loại tin này được tán phát rất nhanh so với khả năng phát hiện, ngăn chặn và xử lý của cơ quan chức năng là do: 1) Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ khiến một người có thể dễ dàng tạo lập một website, một trang blog, fanpage... trên các mạng xã hội mà không phải bỏ ra khoản chi phí nào, dẫn đến làm gia tăng lực lượng tạo dựng, tán phát tin giả và việc kiểm soát các tin giả là vấn đề không đơn giản; 2) cũng do sự phát triển của công nghệ, các đối tượng từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp đều có thể sản xuất và tán phát tin giả trực tuyến một cách nhanh chóng song việc phát hiện và xử lý với các đối tượng này đang còn nhiều khó khăn; 3) do những tin giả được chia sẻ rộng rãi trên truyền thông xã hội, sau đó được Google và các công cụ tìm kiếm khác xếp hạng cao giúp chúng được tìm thấy dễ dàng hơn, làm cho các tin giả gia tăng với số lượng lớn và lan truyền nhanh; 4) chính những thông tin sai lệch từ các cơ quan báo chí trên các phương tiện truyền thông là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tin xuyên tạc; 5) từ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng mạng xã hội để chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch; 6) do mục tiêu trục lợi hoặc quảng bá danh tiếng từ việc "câu like", "câu view" của một số cá nhân, tổ chức và nhận thức, trách nhiệm của người sử dụng mạng xã hội chưa cao trong tiếp nhận và chia sẻ các tin giả; 7) năng lực trong quản lý, phát hiện, ngăn chặn tin giả của các cơ quan chức năng còn hạn chế và các chế tài xử lý với các đối tượng tạo lập và tán phát tin giả còn bất cập...

Tin giả, nhất là tin xuyên tạc được tạo dựng, tán phát từ các cá nhân hay tổ chức trên mạng xã hội liên quan đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... đều gây nên những hệ quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa dân tộc cũng như thái độ, suy nghĩ và quyết định của người dân với nhiều vấn đề của đất nước. Một trong những hệ quả không hề nhỏ mà các tin tức giả gây ra, đó là làm suy giảm niềm tin của công chúng vào truyền thông của đất nước nói chung và báo chí nói riêng, khiến cho công chúng không xác định được đâu là những nguồn tin đáng tin cậy để tiếp nhận... Đáng lưu ý, trong điều kiện các thế lực thù địch, cơ hội, phản động đang triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội để tiến hành “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, điều này không chỉ làm gia tăng số lượng tin giả mà tính nguy hại của nó cũng tăng lên...

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, phát hiện, ngăn chặn và phòng, chống tin giả là việc làm cấp bách hiện nay. Để phòng, chống tin giả trên không gian mạng đòi hỏi sự vào cuộc của tất cả các cấp, ngành, các lực lượng cũng như mỗi người dân với nhiều giải pháp đồng bộ, hiệu quả, trong đó tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức cho mọi người dân về tác hại của tin giả cũng như hành vi vi phạm pháp luật trong tạo dựng và tán phát tin giả.

Thực tế cho thấy, ngoại trừ một bộ phận cá nhân, tổ chức cố tình tạo dựng và tán phát tin giả nhằm mục đích tài chính, chính trị, còn đa số cộng đồng mạng tham gia chia sẻ, thậm chí có trường hợp cũng tạo lập và tán phát những thông tin sai lệch song điều này là do tâm lý hiếu kỳ hoặc để thu hút sự chú ý của cư dân mạng. Điều đó cho thấy, đa số người tham gia mạng xã hội chưa hiểu rõ về tác hại của tin giả và những hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình tham gia mạng xã hội. Bởi vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục trong nhà trường, gia đình và xã hội về nhận thức, trách nhiệm cho các cá nhân, tổ chức tham gia mạng xã hội. Tập trung giáo dục cho người dân cách thức nhận biết tin giả, nâng cao nhận thức của người tiếp nhận thông tin, biết sàng lọc các nguồn thông tin để tiếp nhận và chia sẻ lại trên các mạng xã hội, đồng thời tránh tung tin thất thiệt vi phạm quy định pháp luật. Đi đôi với việc tăng cường tuyên truyền, giáo dục, cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động đấu tranh để ngăn chặn, đẩy lùi tin giả trên mạng xã hội.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý trong phòng, chống tin giả.

Thời gian qua, chúng ta đã ban hành Luật An ninh mạng và nhiều nghị định liên quan đến quy định xử lý các hành vi vi phạm về tin giả, gần đây nhất là Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 3-2-2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử chính thức có hiệu lực từ ngày 15-4-2020. Điều này góp phần tạo hành lang pháp lý trong quản lý, xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến tin giả. Tuy nhiên, vẫn tồn tại số lượng lớn tin giả trên mạng xã hội, cho thấy tính răn đe của các quy định hiện hành vẫn còn mức độ. Bởi vậy, tiếp tục có những quy định “mạnh tay” hơn để xử lý các đối tượng xây dựng và tán phát tin giả là hết sức cần thiết. Hiện tại, nhiều nước trên thế giới đã ban hành những đạo luật riêng để xử lý tin giả, trong đó Nghị viện Đức ngày 30-6-2017 đã thông qua một dự luật nhằm xử lý các phát ngôn gây thù hận, các tài liệu phạm tội và các tin tức giả trên các mạng xã hội. Theo đó, các nền tảng mạng xã hội phải xóa bỏ các nội dung kể trên trong vòng 24 giờ sau khi nhận được thông báo, nếu không sẽ phải đối mặt với mức phạt lên tới 50 triệu euro.

Ba là, nâng cao năng lực của các cơ quan chức năng và các điều kiện bảo đảm cho phòng, chống tin giả.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng các phương tiện truyền thông và người sử dụng gia tăng, nhất là mạng xã hội, đây là cơ sở, điều kiện để tin giả xuất hiện và lan truyền với tốc độ nhanh, đặc biệt trước âm mưu, thủ đoạn lợi dụng mạng xã hội để chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, đòi hỏi các cơ quan chức năng phải chú trọng nâng cao trình độ, năng lực, bản lĩnh cho đội ngũ cán bộ, nhân viên, đồng thời phải đầu tư trang thiết bị, công nghệ đủ để phát hiện, ngăn chặn, cảnh báo và xử lý kịp thời tin giả cũng như các đối tượng tạo lập, tán phát tin giả, tránh để bị động dẫn đến hậu quả không mong muốn.

Bốn là, tăng cường thông tin chính thống, bảo đảm chính xác, kịp thời, góp phần ngăn chặn tin giả.

Cùng với việc giáo dục, nâng cao nhận thức của người tiếp nhận thông tin, các cơ quan truyền thông, báo chí cần đẩy mạnh các nội dung thông tin, bảo đảm kịp thời, chính xác, nhất là trước các vụ việc, sự kiện “nóng”, được dư luận đặc biệt quan tâm. Qua đó định hướng, dẫn dắt thông tin đúng trên mạng xã hội, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tin giả, tin tiêu cực. Bên cạnh đó, các cơ quan báo chí một mặt cần làm tốt việc bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực cho đội ngũ phóng viên, mặt khác nêu cao trách nhiệm trong quản lý, kiểm tra, xét duyệt chặt chẽ các thông tin trước khi cho đăng tải, tránh xảy ra những sai sót để các đối tượng lợi dụng tán phát tin giả.

Năm là, phối hợp chặt chẽ với các nhà mạng trong quản lý, xử lý tin giả.

Trước nhiều chỉ trích của các quốc gia, trong đó có Việt Nam về sự thiếu quan tâm của các nhà mạng đối với vấn nạn tin giả, gần đây, quản lý một số mạng xã hội, công cụ tìm kiếm như: Facebook, YouTube, Google,... đã đưa ra cam kết và thực hiện một số biện pháp nhằm chống lại thông tin giả mạo được chia sẻ trên các nền tảng của mình. Điều này được đánh giá là bước tiến lớn trong việc đẩy lùi nạn tin giả của các mạng xã hội. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng của Việt Nam cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ và có các biện pháp kiên quyết hơn để các nhà mạng phải vào cuộc một cách thực sự trong việc ngăn chặn, phát hiện và kịp thời gỡ bỏ, không để tin giả lan truyền trên mạng xã hội, gây ảnh hưởng lớn đến an ninh mạng nói riêng và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước nói chung, nhất là trong dịp diễn ra đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng. VNĐ

Dân chủ phải trong khuôn khổ của pháp luật

            Vệt bài “Vạch trần chiêu trò đòi “dân chủ” vô nguyên tắc trong bầu cử” đăng trên Báo QĐND bằng những lập luận chặt chẽ, luận cứ rõ ràng, lý lẽ sắc bén đã giúp trang bị cho cán bộ và nhân dân, đặc biệt là những người làm công tác tư tưởng những lý luận, những nguyên tắc và triết lý để bảo vệ đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Các bài viết đã vạch trần, chỉ ra đúng, trúng những âm mưu, ý đồ xấu của các thế lực thù địch; củng cố niềm tin cũng như lý lẽ cho cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đang tiến hành một cách dân chủ, đúng theo Hiến pháp. Tôi tin tưởng chắc chắn rằng ngày bầu cử sẽ là ngày hội lớn của toàn dân.

           Vệt bài cũng đã nêu lại Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Từ khi thành lập Đảng (năm 1930) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn bó với dân tộc, lãnh đạo đất nước qua những thời kỳ đấu tranh cách mạng giành độc lập, hòa bình, thống nhất, đổi mới, hội nhập. Nước ta có cơ đồ, uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay không thể không kể đến vai trò đặc biệt quan trọng của Đảng. Trong lịch sử hơn 90 năm qua, hình ảnh của Đảng Cộng sản Việt Nam và những tấm gương của đảng viên, đặc biệt là tấm gương đạo đức, tác phong và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành hình ảnh được toàn dân yêu quý và tin tưởng. Những luận điệu xuyên tạc Đảng đứng trên Quốc hội, đứng trên Hiến pháp là hoàn toàn xằng bậy. Trong Điều 4 của Hiến pháp đã hiến định: Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội theo pháp luật. Các đảng viên là ĐBQH có quyền tự do dân chủ trong khuôn khổ pháp luật, có quyền biểu quyết tán thành hoặc không tán thành những dự án luật, chủ trương, chính sách, những vấn đề mà Quốc hội xin ý kiến.

             Đảng và Nhà nước ta tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện quyền dân chủ, đây là quyền bình đẳng của mọi người. Tuy nhiên, không phải ai cũng tận dụng được dân chủ vì phải có trình độ nhận thức, năng lực để thực hành dân chủ. Để thực hiện đúng, đủ quyền dân chủ là một quá trình chứ không phải nói đến dân chủ thì muốn làm gì cũng được. Dân chủ phải tuân theo pháp luật, kỷ cương và sự tôn trọng lợi ích quốc gia, đặt lợi ích của mình trong tổng thể. Vì vậy, mỗi người dân phải học tập, rèn luyện, hiểu và thực hiện dân chủ theo khuôn khổ của pháp luật chứ không phải dân chủ quá trớn hay dân chủ vô chính phủ

SỨ MỆNH LÃNH ĐẠO CMVN LÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

  Thực tế lịch sử đã chứng minh. Sau khi lãnh đạo nhân dân giành được những thành tự vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám, trong các cuộc kháng chiến giành lại độc lập, thống nhất cho non sông đất nước, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới - thời kỳ cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Đất nước chuyển sang giai đoạn mới, vừa có hòa bình vừa có chiến tranh; vừa phải đối phó với kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế, vừa chống lại sự bao vây, cấm vận và cô lập tứ phía. Khó khăn chồng chất khó khăn. Kinh nghiệm lãnh đạo đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội tuy được tích lũy trong những năm lãnh đạo miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện đất nước có chiến tranh trước đây tuy rất qúy báu, nhưng chừng đó là chưa đủ cho việc lãnh đạo, tổ chức xây dựng và quản lý phát triển đất nước trong điều kiện mới với quy mô và tầm vóc mới. Mọi việc dường như phải làm lại từ đầu,để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, vừa mới giành được độc lập và vừa bước ra khỏi các cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài 30 năm. Chưa hết, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng và sụp đổ đã giáng một đòn mạnh vào hệ thống xã hội chủ nghĩa làm nó tan rã. Đất nước rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng chưa từng có và đang đứng trước nguy cơ của sự sụp đổ. Trong hoàn cảnh lịch sử ngặt nghèo ấy, bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng được phát huy và thể hiện trong điều kiện thực tiễn mới. "Đổi mới hay là chết" đó không chỉ là khẩu hiệu mà còn là mệnh lệnh của những con tim và khối óc có đủ sự nhiệt huyết và sự tỉnh táo để đưa đất nước thoát khỏi sự hiểm nguy. Đảng Cộng sản là như vậy, luôn là người lãnh đạo tiên phong, "đứng mũi chịu sào" chèo lái con thuyền dân tộc vượt qua mọi thác ghềnh hiểm nguy. Chớ trêu thay, trong những lúc đất nước khó khăn và lâm nguy như vậy, đã không có một lực lượng nào, một tổ chức nào đồng lòng cùng chung tay gánh vác trách nhiệm trước non sông, đất nước, dân tộc và nhân dân. Trái lại, chỉ thấy nhưng tiếng kêu la, oán thán, những điều chỉ trích, gây chia rẽ phân tâm, làm ngã lòng người từ phía các thế lực thù địch và cơ hội... Thực tiễn lịch sử lại cho thấy một lần nữa, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xứng đáng và tin cậy của dân tộc và nhân dân Việt Nam; lịch sử và nhân dân Việt Nam lại một lần nữa tin tưởng trao cho Đảng Cộng sản Việt Nam sứ mệnh lãnh đạo dân tộc, dẫn dắt giống nòi tiến bước cùng thời đại. Đó là sự thật hiển nhiên không phải bàn cãi.

Vai trò lãnh đạo lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tế kiểm nghiệm, nhất là vào những bước ngoặt của lịch sử.

 Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới đã thu được nhiều thắng lợi: Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

     Tuy nhiên, trong lãnh đạo, Đảng có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm nghiêm trọng. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên. Nhưng, một số kẻ thù địch, cơ hội chính trị lại không thấy hoặc cố tình lờ đi điều ấy, hơn thế, họ còn thổi phồng những khuyết điểm, sai lầm của Đảng và quy kết Đảng không đủ năng lực lãnh đạo trong điều kiện mới của đất nước. Rõ ràng đây là một sự xuyên tạc, vu cáo Đảng ta, nhằm kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm.

Nhân dân Việt Nam đã thừa nhận và ủy quyền Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng

  Quan hệ Đảng - dân là mối quan hệ bản chất và máu thịt của Đảng ta. Ngay từ khi ra đời Đảng luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, được nhân dân thương yêu, đùm bọc, che chở và xây dựng. Hơn 90 năm đi theo Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận rõ hơn ai hết, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không có một lực lượng, một tổ chức nào có thể đại diện chân chính cho lợi ích của mình. Vì thế, nhân dân tin tưởng ủy thác trao quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam.

           Thực tế cách  mạng Việt Nam cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của nhân dân. Vì thế, các tầng lớp nhân dân mong muốn Đảng luôn giữ vững vai trò lãnh đạo, không chia sẻ quyền lực với các lực lượng khác khác trong vai trò cầm quyền của mình. Bởi đó là nguyên tắc đã được được hiến định và là một kết quả tất yếu của lịch sử cách mạng Việt Nam, không thể thay đổi

Ở Việt Nam, duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước và xã hội

  Tuyệt đại đa số nhân dân mong muốn Đảng tự chỉnh đốn, khắc phục các khuyết điểm, yếu kém để hoàn thành sứ mệnh của mình là lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân, Đảng đã đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, làm tròn trách nhiệm là đội tiên phong, vai trò của Đảng cầm quyền và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã đề ra bốn nhóm giải pháp giải quyết những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, trong đó nhóm giải pháp thư tư nêu rõ việc phát huy vai trò, trách nhiệm của quần chúng nhân dân trong nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Quan điểm cho rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước" là quan điểm sai lầm, phản khoa học, phi thực tế. Quan điểm này dựa trên những lập luận mang tính chủ quan, võ đoán, thiếu căn cứ khoa học, bất chấp đạo lý và lẽ phải thông thường, phiến diện và phi lôgic. Thực tiễn cách mạng Việt Nam và những thành quả mà nhân dân ta đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua, đã hoàn toàn bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch đó và chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất có đủ khả năng lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh", xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân./.

XUYÊN TẠC VỀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC LÀ LUẬN ĐIỆU CỦA GIỐNG VÔ LOÀI, PHẢN CHỦ!

 

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta dù đã trải qua rất nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh nhiều của nhiều người nhưng thắng lợi rất vẻ vang. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Bác Hồ muôn vàn kính yêu đã viết nên khúc khải hoàn ca vĩ đại nhất, hào hùng nhất của thế kỷ XX. Đó là chiến công chung của cả dân tộc trước giặc Mỹ xâm lược, quân đội chư hầu và tay sai, bán nước ngụy Sài gòn, sự thật lịch sử đã quá rõ ràng, ánh sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng còn che mờ cả nhật nguyệt.

Ấy thế mà những năm gần đây, người ta xuyên tạc về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc Việt Nam. Tháng Tư về thì những tiếng vọng từ phía bên kia Đại Tây Dương và cả những kẻ bất mãn trở cờ trong nước, trong đó có cả một số nhà sử học, những người có chức sắc vẫn cứ tiếp tục ca bài ca muôn thủa, xuyên tạc bản chất của cuộc kháng chiến với luận điệu: “Cuộc nội chiến Nam - Bắc Mỹ diễn ra trong 4 năm nhưng sau đó nhanh chống hòa giải, hòa hợp dân tộc; thế nhưng cuộc chiến Việt Nam đã đi qua 46 năm những Cộng sản Việt Nam vẫn ăn mừng chiến thắng 30/4, huynh đệ tương tàn thì có gì phải vui mừng”. Xin luận giải vấn đề như sau:

 1. Sự thật về cuộc nội chiến của Mỹ, có thật là họ hòa giải, hòa hợp dân tộc nhanh chóng sau khi kết thúc chiến tranh:

  Có thể nói rằng đây là luận điệu rất xỏ lá mà các thế lực thù địch giăng ra, hòng xóa nhòa chiến công, phủ định cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, xem đó là cuộc nội chiến hoặc là “cuộc chiến ý thức hệ cộng sản - tư bản”. Cuộc chiến ở Mỹ xảy ra từ 1861 -1865 giữa hai phe Miền Bắc và Miền Nam; đó đơn thuần chỉ là cuộc nội chiến giữa miền Bắc phát triển công nghiệp tư bản chủ nghĩa, kinh tế trại chủ nhỏ dựa trên chăn nuôi và sản xuất lúa mì và phe miền Nam phát triển kinh tế đồn điền (chủ yếu là trồng bông) dựa trên sự bóc lột lao động nô lệ (chủ yếu là người da đen).

 Cuộc nội chiến chỉ diễn ra 4 năm nhưng sau chiến thắng thì phe miền Bắc đã đàn áp phe miền Nam dã man, không có chuyện nhanh chóng bắt tay nhau như các người rao giảng. Tất cả binh sỹ của quân đội miền Nam đều bị giam giữ rất lâu; lính miền Nam được trao lại quyền công dân theo đạo luật ân xá năm 1872, tuy nhiên luật ân xá này không áp dụng với 500 chỉ huy quân sự cao cấp của Hợp bang miền Nam, nghĩa là 500 tên này vẫn bị cầm tù, nhiều người bị thủ tiêu. 

Các lực lượng tàn dư của Liên minh miền Nam Hoa Kỳ đáp lễ, phục kích và bắn chết Tổng thống Abraham Lincoln ngày 14-4-1865. Chính phủ Mỹ thất bại trong việc trấn áp tàn dư của phe Liên minh, trong 25 năm sau đó, nhiều bang ở miền nam Mỹ đã đề ra rất nhiều các đạo luật mang nặng sự phân biệt chủng tộc, người da đen vẫn bị xem là nô lệ, phải cung phụng người da trắng. Quân đội liên bang thậm chí không thể bảo vệ người da đen trước bạo lực và đe dọa từ các nhóm người da trắng. Phải tới 100 năm sau, nước Mỹ mới chính thức bãi bỏ các điều luật mang tính phân biệt chủng tộc chống người da đen và có một tổng thống xuất thân từ miền Nam là Lyndon Johnson (nắm quyền giai đoạn 1963-1969). Vậy đấy, làm gì có chuyện nhanh chóng hòa giải như các người rêu rao.

2. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta:

Trước hết cần khẳng định rõ, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta (1954-1975) là cuộc chiến giữa một bên là nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và một bên là đế quốc Mỹ, quân đội chư hầu như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Úc…và tay sai bán nước ngụy Sài Gòn. Đây không phải là một cuộc nội chiến vì kẻ nắm thực quyền và quyết định mọi việc của phe địch là đế quốc Mỹ, ngụy Sài Gòn chỉ do Mỹ dựng lên, làm tay sai để hợp thức hóa mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. 

Mỹ mang quân đội trực tiếp xâm lược, từ vũ khí cho đến mọi thứ đều do một tay Mỹ chu cấp, nuôi dưỡng bọn Việt gian, phản quốc để chống lại đất nước. Trong giai đoạn đỉnh quân số của Quân đội Mỹ triển khai ở chiến trường miền Nam Việt Nam lên đến 541.933 quân, nhằm phục vụ cho chiến lược Chiến tranh Cục bộ mà Lầu Năm Góc kỳ vọng sẽ giúp họ chiến thắng. Người Mỹ mang quân đi giết người Việt Nam và bị người giết, mất hơn 58.000 nhân mạng, hơn 303.000 người thành tàn tật, phế nhân và 1000 tỷ USD (thời giá 2010)…Vậy đây nhất quyết không phải là cuộc nội chiến!

3. Hậu chiến:

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi trả lời chất vấn trước Nghị viện Pháp vào cuối thập niên 1980 đã tuyên bố: “học tập cải tạo là một chính sách nhân đạo, bởi nếu ở những nước khác, bao gồm cả Pháp, những tù nhân này lẽ ra đã bị xử tử hàng loạt vì tội phản quốc, cộng tác với quân xâm lược nước ngoài. Những người đã phạm phải những tội ác tày trời chống lại đất nước, những người mà nếu ở những nước khác, mà chính quý vị ở đây (các nghị sỹ, nhà báo Pháp) ngay sau khi được giải phóng khỏi Đức Quốc xã, biết chuyện gì đã xảy ra (nước Pháp đã xử tử hơn 10.000 người cộng tác với Đức Quốc xã sau khi được quân Đồng Minh giải phóng năm 1945, xem Épuration légale)... Những người này được cho cơ hội trở lại làm một công dân bình thường, tham gia vào cộng đồng cả nước như bao người. Các vị còn đòi hỏi gì nữa?”. 

Người Pháp từng sát hại dã man cả gái điếm chỉ vì họ bán thân cho quân Đức Quốc xã trong thế chiến thứ Hai để trả thù, còn chúng ta dù trải qua nhiều năm chiến tranh, đất nước tổn thất nặng nề nhưng vẫn tạo điều kiện, nhường cơm, xẻ áo cho hơn 200.000 người, những người mang nợ máu với non sông trong số 1.000.000 người ra trình diện, cho họ học tập, cải tạo và đa số họ trở thành người có ích cho xã hội, cùng nhau xây dựng đất nước sau này. Vậy Mỹ, Pháp sao có thể nói là nhân văn hơn chúng ta, sao có thể nói là hòa giải, hòa hợp dân tộc theo cách khoan hồng, độ lượng như chúng ta?

Hòa hợp dân tộc là việc làm thường xuyên, liên tục, bắt đầu từ sau khi Việt Nam thống nhất chứ không phải bây giờ. Tuy nhiên lịch sử phải được nhắc lại cho con cháu hiểu để thêm yêu tổ quốc, căm ghét bọn bán nước cầu vinh, giáo dục công dân Việt Nam về lòng yêu nước, trân quý giá trị hòa bình và phẩm giá của người Việt Nam; tri ân các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của tổ quốc. Ngày 30/4 hàng năm, người Việt Nam mãi mãi tôn vinh, mãi mãi tự hào, mãi mãi nhắc tới, mãi mãi ăn mừng. 

Hòa hợp dân tộc không đồng nghĩa với xuyên tạc lịch sử, cào bằng giữa ta và giặc. Đám tàn dư đừng hòng trâng tráo, đánh bùn sang ao hòng rửa tội bán nước. Một số cán bộ, đảng viên trước đây trót ăn theo, nói leo đám ba que xỏ lá thì nên suy nghĩ lại, đừng có nói với nhân dân Việt Nam về cái gọi là “30/4 không nên ăn mừng, không nên kỷ niệm”. Đó là giọng điệu của giống vô loài, phản chủ./.

Hải Đăng ST

Quan niệm Hồ Chí Minh về độc lập, tự do của dân tộc


- Độc lập dân tộc là tư tưởng chủ đạo, chi phối toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh: Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đó là tất cả những gì tôi muốn, đó là tất cả những gì tôi hiểu.

- Hồ Chí Minh khẳng định, độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, tất cả các dân tộc trên thế giới, dù dân tộc đó là "thượng đẳng" hay "hạ đẳng", "văn minh" hay "lạc hậu" đều có quyền được hưởng độc lập, đều có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

- Độc lập, tự do dân tộc, phải thực sự, hoàn toàn, chứ không phải là thứ độc lập, tự do giả hiệu giống như "cái bánh vẽ" mà chủ nghĩa đế quốc nêu ra. Độc lập dân tộc phải được biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, các quyền dân tộc, quyền con người phải được thực hiện trên thực tế.

- Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do của nhân dân. Người chỉ rõ: "Nước độc lập mà dân không được tự do thì độc lập ấy chẳng có nghĩa lý gì". Độc lập, tự do phải gắn liền với hoà bình chân chính. Muốn có độc lập, tự do phải đấu tranh chống lại ách áp bức dân tộc của chủ nghĩa đế quốc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nước ta là nước dân chủ

 

 -  Nhà nước của dân là Nhà nước trong đó dân là chủ; dân là người có địa vị cao nhất, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước. Nước ta là nước dân chủ; bao nhiêu quyền hạn là của dân; quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Trong Nhà nước ta, dân là chủ thể của quyền lực thì người cầm quyền, cán bộ công chức nhà nước chỉ là người được uỷ quyền, được nhân dân trao quyền để gánh vác, giải quyết những công việc chung của đất nước. Cán bộ, công chức nhà nước là "đầy tớ", "công bộc" của dân, phải gần dân, sát dân, hiểu dân, thương dân, tin dân và biết sử dụng sức mạnh của dân.

-  Nhà nước do dân: dân làm chủ nhà nước. Quyền làm chủ Nhà nước của dân rất rộng, trước hết thể hiện ở chỗ: Nhân dân là người tổ chức nên các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Nhân dân có quyền bầu cử, ứng cử thì cũng có quyền thực hiện chế độ bãi miễn theo ba mức độ từ thấp đến cao: bãi miễn đại biểu; bãi miễn các cơ quan nhà nước; bãi miên nội các Chính phủ nếu các đại biểu đó, các cơ quan nhà nước và nội các Chính phủ không còn phù hợp với nhân dân, đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Nhân dân còn có quyền kiểm tra, kiểm soát, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước do mình cử ra...

Nhà nước do dân, nghĩa là dân có trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp trí tuệ, sức người, sức của tổ chức, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Nhà nước do dân còn bao hàm việc nhân dân có quyền tham gia vào công việc quản lý nhà nước, phê bình, kiểm tra, kiểm soát, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các đại biểu do mình cử ra.

-  Nhà nước vì dân: là Nhà nước phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích cho nhân dân. Điều này được Người giải thích rõ trên các phương diện: Nhà nước phục vụ nhân dân, nghĩa là Nhà nước đó được tổ chức và hoạt động theo một mục tiêu duy nhất: không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân đúng với phương châm: "Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh". Nhà nước biết chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân, trước hết là thoả mãn các nhu cầu thiết yếu nhất: làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân được học hành; làm cho dân có điều kiện khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ. Nhà nước chăm lo cho dân không phải làm thay dân mà là hướng dẫn dân tự chăm lo đời sống của chính mình.

Nội dung quan điểm HCM về đoàn kết

 

Đại đoàn kết là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán trong tư duy, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có ý nghĩa chỉ đạo hoạt động thực tiễn sâu sắc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết có nội hàm rộng. Đó là sự đoàn kết giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, với tinh thần: “Chúng ta phải đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ. Đoàn kết giữa Chính phủ và nhân dân. Đoàn kết giữa các tầng lớp trong nhân dân với nhau. Đoàn kết giữa đồng bào toàn quốc, từ Bắc chí Nam. Nói rộng hơn nữa: Đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn, nhân dân châu Á, nhân dân nước Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới”.

Theo Người: “Muốn đoàn kết toàn dân, cần phải có một đoàn thể rộng lớn, rất độ lượng thì mới có thể thu hút được mọi đoàn thể và cá nhân có lòng thiết tha yêu nước, không phân biệt tuổi tác, gái trai, tôn giáo, nghề nghiệp, giai cấp, đảng phái”2.

Đại đoàn kết dân tộc phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Bởi chỉ có Đảng của giai cấp công nhân mới có mục đích tiêu biểu cho những yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân cả nước, được các tổ chức, đảng phái và toàn dân tin tưởng, ủng hộ, đồng thời có mối liên hệ với đông đảo bè bạn ở ngoài nước.  

Hồ Chí Minh đã chỉ ra các điểm tương đồng làm căn cứ trong việc tập hợp tất cả những người yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo vào trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để khối đại đoàn kết rộng rãi bảo đảm được vững chắc thì phải lấy liên minh công nông làm nền tảng, vì: “Muốn đoàn kết rộng rãi thì cái gốc phải vững, tức là công nông liên minh có vững chắc mới đoàn kết được các giai cấp khác”5.

Để đoàn kết chặt chẽ, theo Người, mục đích và lập trường phải nhất trí nhưng cũng cần phải đấu tranh, đấu tranh là để tăng cường đoàn kết, khắc phục tình trạng đoàn kết xuôi chiều; tích cực phê bình và tự phê bình nhằm biểu dương mặt tốt, khắc phục những mặt chưa tốt mới giúp củng cố khối đoàn kết: “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình” vì “phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết”.

TU DƯỠNG ĐẠO ĐỨC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

- Tu dưỡng đạo đức suốt đời Đây là yêu cầu cốt lõi trong rèn luyện đạo đức Việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi. Cán bộ, đảng viên giữ cương vị càng cao càng phải tích cực, liên tục học tập, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Khi gặp việc thuận lợi không tự cao, tự đại, thỏa mãn dừng lại, khi gặp việc khổ, việc khó thì không chùn bước, dám nghĩ, dám làm “ Gạo đem vào giã bao đau đớn….thành công”

- Nêu gương về đạo đức: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suốt đời không ngừng tự tu dưỡng, tự rèn luyện mình để trở thành“tấm gương sáng ngời về con người mới”, thành hình ảnh mẫu mực về “người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Nêu gương thì trước hết phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên, về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Trước hết cần nêu gương trên ba mối quan hệ đối với mình, đối với người, đối vối việc. muốn nêu gương được thì nói phải đi đôi với làm. Giáo dục bằng nêu gương đạt kết quả cao, Người chủ trương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”.

 - Xây đi đôi với chồng: Muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây là con đường để xây dựng đạo đức cách mạng, là nguyên tắc được Hồ Chí Minh khẳng định và vận dụng thường xuyên linh hoạt, đầy sáng tạo trong chỉ dẫn thực hiện. Xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa. Đó là chủ nghĩa cá nhân. Cùng với xây, nhiệm vụ chống có vị trí đặc biệt quan trọng để tạo môi trường cho cái đẹp nảy nở và phát triển. Người khẳng định phải kiên quyết chống lại những tệ nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa rời quần chúng…Đó là kẻ thù nguy hiểm của nhân dân, là giặc nội xâm, giặc ở trong lòng phá từ trong phá ra. Xây phải gắn liền với chống, trong xây có chống và ngược lại. Giữa xây và chống không được tuyệt đối hóa mặt nào hoặc xem nhẹ mặt nào, trong khi kết hợp chặt chẽ giữa hai yếu tố đó cần coi trọng, tăng cường công tác giáo dục, động viên, thuyết phục. Xây đi đôi với chống yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần phải thường xuyên tự soi mình, tự sửa,Coi đó là công việc như “rửa mặt hàng ngày”.