Thứ Năm, 15 tháng 4, 2021

Căn cốt để phòng và chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ .

Đặc biệt quan tâm công tác xây dựng Đảng nói chung, vấn đề rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng; trong đó, kết hợp chặt chẽ giữa rèn luyện đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân với phòng và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, nhằm tăng cường sức đề kháng, khả năng miễn dịch của mỗi người trước mặt trái của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế là yêu cầu vừa cấp bách vừa thường xuyên của Đảng ta. . “NGƯỜI CÁCH MẠNG PHẢI CÓ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG LÀM NỀN TẢNG” Trong những năm cuối thập niên 1950, miền Bắc đang tiến hành công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hành trình đấu tranh cách mạng đầy gian khó đó đòi hỏi sự nỗ lực cao độ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, đặc biệt đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, tâm trạng thời bình, biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên đã không còn là hiện tượng đơn lẻ, đó đã là căn bệnh, trở thành nguy cơ “suy thoái” của một Đảng cầm quyền. Nhận thức rõ những gian nan, trắc trở, những khó khăn phức tạp của chặng đường trước mắt, và sớm tiên liệu được tình hình, với bút danh Trần Lực, Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Ðạo đức cách mạng”. "Đạo đức Cách mạng" được in lần đầu trên Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản), sau đó được Nhà xuất bản Sự thật (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự Thật ngày nay) in thành sách và phát hành tháng 12/1958. Là một cuốn sách mỏng, dày chưa đầy 20 trang, nhưng “Ðạo đức cách mạng” có nội dung phong phú; cách viết súc tích, văn phong giản dị, dễ hiểu, chứa đựng những tư tưởng lớn về đạo đức cách mạng. Trong đó, Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của đạo đức cách mạng, chỉ rõ kẻ thù, những nguy cơ rời xa đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà còn nêu rõ những biện pháp để ngăn ngừa và sửa chữa căn bệnh đó. 60 năm sau khi Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng” (12/1958 - 12/2018), những chỉ dẫn của Người vẫn vẹn nguyên ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn sâu sắc, thiết thực góp phần phòng và chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, thiết thực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong tác phẩm, Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, sự phát triển của các phương thức sản xuất, sự tiến bộ của xã hội loài người từ công xã nguyên thuỷ đến cộng sản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan, không thể đảo ngược. Trong hành trình đó, đã xuất hiện giai cấp và cũng như một tất yếu khách quan: cuộc đấu tranh giai cấp giữa những người bị bóc lột và những kẻ bóc lột, giữa “bọn phong kiến địa chủ, bọn tư bản và đế quốc” và “những tầng lớp người khác, nhất là công nhân và nông dân” ngày càng quyết liệt. Vì vậy, để giành lấy thắng lợi trong cuộc đấu tranh đó, cách mạng nhất định phải do giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo, bởi đó là giai cấp tiên tiến nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất. Điều này đã được lịch sử chứng minh và đó là xu thế tất yếu của thời đại. Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc rằng, dù là tập thể của những con người tiên phong nhất, song Đảng cũng là một thực thể xã hội và mỗi cán bộ, đảng viên cũng là những con người cụ thể. Đặc biệt, là một Đảng macxit được xây dựng, trưởng thành ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đội ngũ cán bộ, đảng viên vốn sinh trưởng trong chế độ xã hội cũ, nên vẫn mang trong mình, hoặc nhiều hoặc ít “vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ” về tư tưởng, về thói quen, tâm trạng thời bình, v.v.. Tất cả những biểu hiện đó chính là “chủ nghĩa cá nhân”, là “trái ngược với chủ nghĩa tập thể”, “là trái ngược với đạo đức cách mạng” và nếu còn lại trong mình, “dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”[1]. Vì vậy, để giành thắng lợi trong công cuộc cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới - “cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ”, “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”[2]. Lời nói và việc làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên có tác động lớn đến quần chúng; do đó, trong bất kỳ tình huống khó khăn nào, mỗi người cũng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, để trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm đều là những người tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân, mà “- Giàu sang không thể quyến rũ, - Nghèo khó không thể chuyển lay, - Uy lực không thể khuất phục”[3]. Đề cao vai trò của đạo đức cách mạng, Người nhấn mạnh: người có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước, vì lợi ích chung mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình, thậm chí sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình không tiếc,v.v.. “Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng”. Có đạo đức cách mạng, thấm nhuần đạo đức cách mạng sẽ giúp mỗi người khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không lo kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá,v,v.. Nhấn mạnh tầm quan trọng, vai trò của đạo đức cách mạng, Người cũng đồng thời chỉ rõ nội hàm đạo đức cách mạng mà mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện thường xuyên, liên tục, mỗi ngày là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” “là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, “là ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng” ; “là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”, “là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu”, “là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”, “ là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến quần chúng”[4]… Đồng thời, Người cũng khẳng định, trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân ta, trong Đảng đã có rất nhiều những người con ưu tú như Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai, v.v.. đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng, chí công vô tư, thực sự “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”; luôn “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình... Cũng theo Hồ Chí Minh, mỗi người cách mạng phải hiểu sâu sắc rằng: Đảng ta là một đội ngũ tiên tiến nhất và tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân và dân tộc, đồng thời là người lãnh đạo cách mạng. Do đó, mỗi người không chỉ phải nhận thức rõ sứ mệnh lịch sử vừa cải tạo thế giới mà còn phải luôn hiểu rõ nhiệm vụ tự cải tạo bản thân mình, rèn luyện đạo đức cách mạng để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

  LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA (15/4/1949)


“…Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ…”.
Đây là lời Bác viết Trên Báo Sự thật số 109, ra ngày 15 tháng 4 năm 1949 trong bài “Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng” của tác giả L.T (bút danh của Người). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách để làm sao kẻ địch không thực hiện được thủ đoạn phản tuyên truyền; đó là, “không có gì hơn là tránh các khuyết điểm, sửa chữa khuyết điểm”, còn nếu khi đã phạm khuyết điểm, thì dù “mình muốn bưng bít, người ta cũng biết”. Người còn khẳng định: “Một đoàn thể hoặc chính quyền mà che giấu khuyết điểm của cán bộ mình là một đoàn thể hoặc chính quyền “yếu ớt”, “thoái bộ”. Đoàn thể và chính quyền có can đảm vạch rõ khuyết điểm của cán bộ mình, có phương pháp sửa chữa cho cán bộ, thì “uy tín chẳng những không giảm bớt, mà lại thêm cao. Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ”. Người nhấn mạnh: “Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”. Bác Hồ chủ trương tất cả cán bộ, từ cấp trên đến cấp dưới, phải “thi đua sửa chữa khuyết điểm và phát triển ưu điểm”.
Thực hiện những chỉ huấn của Người, trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác tự chỉnh đốn, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm; đề cao tự phê bình và phê bình, xác định là nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng để khắc phục những khuyết điểm đã được chỉ ra sau kiểm điểm tự phê bình, phê bình. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng.
Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã triển khai quyết liệt việc tự phê bình và phê bình; kiên quyết đấu tranh với tham nhũng, lãng phí, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tạo không khí phấn khởi trong toàn xã hội, tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.
Thực hiện lời Bác dạy, các cấp ủy, tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, coi đây là vũ khí sắc bén ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên, là cách tốt nhất để không ngừng củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất. Tự phê bình và phê bình phải được thực hiện nghiêm khắc, ráo riết, triệt để, không nể nang, không “dĩ hòa vi quý”; căn cứ vào sự việc có thật để nhận xét, phân tích, đánh giá, chỉ rõ cả ưu điểm, khuyết điểm, có lý, có tình, để khuyến khích phần thiện trong mỗi con người nảy nở, thức tỉnh, nâng đỡ người có sai lầm khuyết điểm tiếp thu phê bình, sửa chữa lỗi lầm, khuyết điểm.
Tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc trong tự phê bình và phê bình là tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau; cấp trên tự giác, gương mẫu tự phê bình trước để cấp dưới noi theo, phê bình từ trên xuống, từ trong cấp ủy ra ngoài quần chúng, ai cũng thực hiện tự phê bình và phê bình, coi đây là việc làm thường xuyên, hằng ngày.

“CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN NHẤT ĐỊNH PHẢI TIÊU DIỆT”

Để xây dựng Đảng, giúp cán bộ, đảng viên nhận diện rõ kẻ thù, có biện pháp phòng và chống hiệu quả, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tên của từng kẻ địch, chỉ rõ mối quan hệ, liên minh giữa chúng khi nhấn mạnh: “Kẻ địch gồm có ba loại. Chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm. Thói quen và truyền thống lạc hậu, nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ… Loại địch thứ ba là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản thường xuyên ẩn nấp trong mỗi con người”[5], nên chủ nghĩa cá nhân là đồng minh của hai kẻ địch kia, luôn sẵn sàng “chờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi - để ngóc đầu dậy”, đè bẹp ý chí cách mạng của mỗi người. Cũng theo Người, đạo đức cách mạng trái ngược với chủ nghĩa cá nhân, vì “chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt”[6]. Khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, nhận thức rõ sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh đã chỉ ra hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên do sa vào chủ nghĩa cá nhân nên “việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết”; “ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem kinh quần chúng, đọc đoán, chuyên quyền”; “họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”, v.v.. khiến quần chúng nhân dân bất bình, thất vọng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: 1) Chủ nghĩa cá nhân “là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc. Vì thế mà càng nguy hiểm”[7]. 2) Đó là thứ vi trùng mẹ, đẻ ra nhiều bệnh khác, trái với đạo đức cách mạng và chừng nào chủ nghĩa cá nhân còn lại trong mình, dù thật ít, thì chừng đó vẫn sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên nỗ lực đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng, làm mất lòng tin cậy của nhân dân với Đảng và Chính phủ. 3) Chừng nào chủ nghĩa cá nhân vẫn còn ẩn náu trong mỗi cán bộ, đảng viên, dẫn đến sự suy thoái về đạo đức, lối sống, “ tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; vẫn xâm nhập vào “cơ thể Đảng”, làm giảm nguồn sức mạnh nội lực, sự đoàn kết thống nhất của Đảng, biến Đảng thành xa lạ, đối lập với nhân dân vẫn còn, thì chừng đó nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ vẫn còn hi

Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trước cuộc bầu cử Quốc Hội khóa 15

 

Quốc hội đã ban hành Nghị Quyết về ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa 15 và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 là ngày 23/5/2021. Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa quan trọng của đất nước, gắn liền với công tác cán bộ, liên quan đến trách nhiệm của các cấp, các ngành; là nơi để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân, lựa chọn bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá bầu cử, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đang tiến hành nhiều hoạt động chống phá với tính chất hết sức quyết liệt. Trong đó, những nội dung chống phá chính mà các đối tượng xấu đang tiến hành đó là:

Thứ nhất: Chúng xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình bầu cử Quốc hội; chúng thường rêu rao rằng: “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ”, “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử” v.v

Thứ hai: Chúng tăng cường các “chiến dịch tự ứng cử”, kích động, bảo trợ, hậu thuẫn số chống đối chính trị “tự ứng cử” để chống phá cách mạng nước ta.

Thứ ba: Chúng tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá quá trình chuẩn bị, tổ chức cuộc bầu cử, bôi nhọ, hạ uy tín các ứng cử viên.

Thứ tư: Chúng thành lập, ra mắt các hội, nhóm trên không gian mạng để khuếch trương thanh thế, chống phá bầu cử. Chúng kích động một số đối tượng lưu manh tiến hành các hoạt động gây rối ANTT, khủng bố, phá hoại trong thời gian chuản bị và diễn ra cuộc bầu cử.

Để đấu tranh với âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các cơ quan chuyên môn cần thể hiện được vai trò nòng cốt trong mọi mặt trận, tích cực đấu tranh, kiên quyết xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm, kịp thời làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của chúng. Mọi người dân hãy luôn tin tưởng, chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước trong lãnh đạo, quản lý đất nước nói chung và trong lãnh đạo, tổ chức cuộc bầu cử. Cần chủ động, nâng cao tinh thần cảnh giác để “miễn nhiễm” trước luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, đối tượng xấu./.

“Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” .

Tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” là di huấn của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh để lại cho các thế hệ cán bộ, đảng viên. Trong đó, điều căn cốt nhất theo Người là mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, liên tục rèn luyện, quyết tâm phòng, chống và đấu tranh triệt để xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân để nâng cao đạo đức cách mạng. . Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề phòng, chống, tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân để xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thành một Đảng cách mạng chân chính, khỏe mạnh - đội tiền phong của giai cấp, nhân dân và dân tộc. Kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng, với bút danh T.L., Hồ Chí Minh viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, đăng báo Nhân Dân, số 5409, ngày 3-2-1969. Nửa thế kỷ sau khi ra đời, những lời dặn của Người trong tác phẩm vẫn vẹn nguyên giá trị đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. NHẬN DIỆN CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN ĐỂ PHÒNG VÀ CHỐNG Nhận thức sâu sắc sự nguy hiểm và tác hại của chủ nghĩa cá nhân, Hồ Chí Minh đã sớm đề cập vấn đề này; nhấn mạnh yêu cầu phải phòng, chống, tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân trong mỗi cán bộ, đảng viên và coi đó là một trong những nội dung quan trọng để xây dựng một Đảng Mácxít cách mạng chân chính. Theo Người, chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch “nội xâm”; là vết tích xấu xa của xã hội cũ, “là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc. Vì thế mà càng nguy hiểm”(1). Đó là thứ vi trùng mẹ, đẻ ra nhiều bệnh khác như lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô,v.v.. không chỉ đối lập với đạo đức cách mạng mà còn là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng. Chừng nào chủ nghĩa cá nhân còn tồn tại, dù ít hay nhiều cũng vẫn sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên nỗ lực “một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng” và chừng đó nguy cơ về sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn còn. Chừng nào những biểu hiện cá nhân chủ nghĩa vẫn còn xâm nhập vào “nội bộ Đảng” thì chừng đó nguy cơ phá vỡ khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ vẫn hiện hữu và chừng đó vẫn sẽ làm giảm nguồn sức mạnh nội lực của Đảng, đe dọa sự tồn vong của Đảng cầm quyền và chế độ. Vì vậy, thường xuyên, liên tục phòng, chống và đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân chính là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức cơ sở Đảng. Theo Hồ Chí Minh, những người sa vào, mang nặng chủ nghĩa cá nhân là những người chỉ biết và luôn đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc; việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể, miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy, miễn mình vui mặc thiên hạ buồn,v.v.. cho nên chừng nào còn những người cá nhân chủ nghĩa, nhất là bộ phận đó lại là những cán bộ, đảng viên, lãnh đạo, quản lý tại các địa phương, cơ quan, đơn vị thì chừng đó cách mạng còn gặp rất nhiều khó khăn. Đó chính là sự nguy hiểm tiềm tàng làm cho Đảng mất dần tính cách mạng, tính trí tuệ, tính đạo đức, tính nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ. Hơn thế, theo Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội”, “là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(2) và để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh đầy gian khó ấy, nhất định “người cách mạng phải tiêu diệt nó”(3). Vì thế, Hồ Chí Minh nhấn manh, người cán bộ, đảng viên không chỉ phải đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân mà còn phải thường xuyên tự rèn luyện mình bằng việc tu dưỡng đạo đức cách mạng. Đó là mối quan hệ chặt chẽ, có tác động qua lại và nếu làm tốt cả hai chiều, thì nhất định sẽ rèn luyện nhân cách người cán bộ, đảng viên tốt. Vì thế, ngày từ những năm 1925-1927, khi giảng cho những thanh niên Việt Nam yêu nước tại Quảng Châu, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã yêu cầu mỗi người phải rèn luyện theo “Tư cách người một người cách mệnh”, với 23 điều răn về phẩm chất đạo đức. Trong đó, có “hoà mà không tư”, “cả quyết sửa lỗi mình”, “vị công vong tư”, “không hiếu danh, không kiêu ngạo”, “ít lòng ham muốn về vật chất”, “với từng người thì khoan thứ”, “có lòng bày vẽ cho người”, “hay xem xét người” “phục tùng đoàn thể…”(4). Sau đó, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, xuất phát từ thực trạng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ, Người cũng dành nhiều bài nói, bài viết bàn về vấn đề này. Đặc biệt, mùa xuân năm 1969, trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Hồ Chí Minh đã không chỉ tiên lượng nguy cơ suy thoái đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà Người còn chỉ rõ trong Đảng “còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích của riêng mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”(5)… Khác với những người “rất hăng hái, dũng cảm trong mọi công tác. Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào về những người con xứng đáng như thế” là những con người “do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ…” (6). Đó cũng chính là những người luôn “dùng của công làm việc tư”, “ham địa vị, hay lên mặt”, chỉ ưa người khác “tâng bốc mình, khen ngợi mình”, “ưa sai khiến người khác”, “tự thấy mình cái gì cũng giỏi”, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi, ích kỷ, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm… Đó cũng là những người luôn đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân, gây chia rẽ khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng, làm mất dân chủ trong Đảng… Kết quả là do cá nhân chủ nghĩa mà lập trường tư tưởng không vững vàng, hoài nghi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, dao động dẫn đến bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất; thoái bộ dẫn đến phạm nhiều sai lầm khuyết điểm, khiến quần chúng không ưa, không phục, không yêu quý họ, mất niềm tin và rời xa họ. Theo Hồ Chí Minh, đây là những người đã ỷ thế vào quyền hạn và trách nhiệm được trao, ỷ thế vào quyền lực tại các cơ quan công quyền để kéo bè kéo cánh, chăm chút cho lợi ích của nhóm mình, dòng họ và địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ. Đối với họ, chỉ có nhóm lợi ích vì “ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe”,v.v.. Những biểu hiện này là một trong những nguyên nhân của sự suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, để Đảng luôn “là đạo đức, là văn minh”, Hồ Chí Minh đã không chỉ nêu ra những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; nhấn mạnh yêu cầu phải phòng, chống và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân mà Người còn khẳng định: mỗi tổ chức cơ sở đảng nói chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng phải thường xuyên, kiên quyết, kiên trì cuộc đấu tranh phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền phong.

CHỐNG CÁC BIỂU HIỆN SUY THOÁI ĐỂ NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Thực hiện lời căn dặn và những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, trong gần 89 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng, đa số đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn rèn luyện đạo đức cách mạng, có phẩm chất chính trị tốt, đạo đức, lối sống trong sáng; bản lĩnh chính trị vững vàng; phong cách công tác gắn bó với nhân dân; nỗ lực học tập, phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý… để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, trong sự phát triển của kinh tế thị trường hiện nay, một nguy cơ tiềm ẩn luôn rình rập tấn công vào Đảng, nhất là đối với những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền chính là chủ nghĩa cá nhân. Sức công phá của "kẻ địch" này càng lợi hại khi tính vụ lợi trong mỗi người bị kích lên cao, khi mà tư tưởng thực dụng ăn sâu vào máu thịt của những người "suy thoái". Thực tế những vụ án tiêu cực, đại án tham nhũng gây thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng, gây tổn thất về cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao, cán bộ đang quy hoạch cấp chiến lược bị xử lý vừa qua đã cho thấy: Cuộc đấu tranh phòng và chống chủ nghĩa cá nhân, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng đã bước đầu đem lại kết quả tốt, đem lại niềm tin đối với nhân dân. Tuy nhiên, tảng băng tiêu cực tham ô, tham nhũng vẫn còn hiện hữu, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mà nguồn gốc của nó chính là chủ nghĩa cá nhân, là “giặc nội xâm”. Do đó, mỗi người nhất định phải tiêu diệt, vì nó liên quan đến sức mạnh và vai trò lãnh đạo của Đảng. Từ thực tế công tác xây dựng Đảng những năm qua, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã nêu ra những biểu hiện suy thoái của đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn liền với chủ nghĩa cá nhân. Trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, lần đầu tiên Đảng ta chỉ rõ những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân thuộc nhóm biểu hiện thứ nhất. Đó là: 1) Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. Mang trong mình chủ nghĩa cá nhân, những người có lối sống ích kỷ, thực dụng thường lợi dụng những sơ hở trong chính sách và trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo để tiến thân, phục vụ cho tham vọng chính trị, lợi ích của mình; đồng thời khi ngon ngọt, khi công kích để một mặt cấu kết, bè phái, mặt khác chống phá , gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy yếu, hạ uy tín của Đảng. Khi không thực hiện được ý đồ cá nhân, không thăng tiến được, không kiếm nhiều lợi lộc hoặc bị kỷ luật, thì sinh ra bất mãn, buông xuôi, nên khi có sự móc nối, lôi kéo của các thế lực thù địch, các phần tử này dễ trở thành lực lượng chống lại Đảng và chế độ. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng suy thoái này trước hết là do bản thân bộ phận cán bộ, đảng viên đó sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân; phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài... Trong khi đó, nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng... Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, để thiết thực đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng và chỉnh đốn Đảng, toàn Đảng đã và đang thực hiện những giải pháp nhằm khắc phục, chữa trị “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân. Một loạt các nội dung, biện pháp được thực hiện với tinh thần tích cực, chủ động, “kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn” như: Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Chỉ thị 03-CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 03); Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05); Quy định số 101-QÐ/TW quy định về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” (Quy định 101); Quy định số 47-QÐ/TW về “Những điều đảng viên không được làm” (Quy định 47), Quy định 55-QĐ/TW về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” (Quy định 55) … Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong những năm qua, những biểu hiện cảu chủ nghĩa cá nhân không những không giảm đi mà ngày càng có xu hướng gia tăng và tính chất ngày càng nghiêm trọng. Tình trạng này không chỉ tiếp tay cho các thế lực thù địch đẩy mạnh âm mưu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà còn trực tiếp làm phân hóa, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong Đảng, giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Đặc biệt, đối với cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu nói riêng: khi đã sa vào cá nhân chủ nghĩa,thì sẽ đi từ tham ô, tham nhũng trong hiện tại dẫn đến"tham ô, tham nhũng tương lai”. Đó chính là hiện tượng lãnh đạo ở các cơ quan, địa phương, đơn vị, bộ, ngành này ngầm có giao kết, trao đổi nhận người/bố trí, đề bạt, thăng chức cho con cái, họ hàng, người thân, “đệ tử” thân tín của nhau ở cơ quan, địa phương, đơn vị, bộ, ngành kia để cùng có lợi. Thậm chí có hiện tượng “trả ơn thế hệ”, những người lên được vị trí cao, có quyền lực lớn lại cất nhắc, đề bạt con cháu của những người đã từng nâng đỡ mình mà hệ quả là tạo ra một thế hệ “con quan mới” rất “đúng quy trình”, “rất đúng quy hoạch” - những người nắm giữ tương lai đất nước song không đủ tài và đủ đức. Vì vậy, để hạn chế, ngăn chặn sự lây lan và hậu quả mà chủ nghĩa cá nhân gây ra, góp phần giảm thiểu những lực cản đối với tiến trình phát triển của đất nước, trên tinh thần phát huy những kết quả đạt được, tiếp tục khắc phục những hạn chế để không ngừng “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” theo di huấn của Hồ Chí Minh, mỗi cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng và cán bộ, đảng viên tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau: Một là, “phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình trong Đảng”(7). Theo đó, phải khắc phục bệnh “học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Đồng thời coi việc thực hiện Chỉ thị 03, Chỉ thị 05 và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII và các Quy định 101, 47, 55 trong Đảng vừa là công tác giáo dục và tự giáo dục, vừa đấu tranh và tự đấu tranh trong mỗi tổ chức đảng và từng cá nhân. Đó là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và mỗi cá nhân, thiết thực phòng và chống 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ rõ. Hai là, thực hiện “chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng chặt chẽ”(8). Đó là điều kiện quan trọng bảo đảm cho Đảng thật sự là một khối đoàn kết, thống nhất trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; bảo đảm cho đường lối, chủ trương của Đảng được chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện thắng lợi. Do đó, phải giữ chế độ, kỷ luật và công tác này nghiêm từ trên xuống dưới, trở thành nền nếp; đồng thời, thực hiện kiểm tra, giám sát có hiệu quả, đồng bộ từ trên xuống và từ dưới lên. Kịp thời phát hiện những cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm để có biện pháp sửa chữa nghiêm túc theo. Kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” để Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Ba là, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về phòng, chống và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân đi liền với chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu. “Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dường tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”(9) gắn với thực hiện nghiêm Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05- CT/TW của Bộ Chính trị gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII trong các tổ chức cơ sở đảng và cán bộ, đảng viên; đưa việc học và làm theo Bác trở thành nhu cầu tự thân của mỗi người, bảo đảm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên có khả năng “đề kháng” tốt, “miễn dịch” hiệu quả với chủ nghĩa cá nhân. Phát huy tính tiền phong gương mẫu, nói đi đôi với làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” trong đấu tranh phòng, chống, tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Bốn là, thấm nhuần lời căn dặn “phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”; “phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân”(10) và gắn bó mật thiết với nhân dân. Trước hết, nâng cao nhận thức và thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân. Đồng thời, mở rộng dân chủ trong Đảng, trong toàn xã hội để đoàn kết, động viên và phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước. Đổi mới công tác tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các gương điển hình của cá nhân, tập thể trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là theo chủ đề năm 2019 về “Xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Năm là, “cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”(11), coi đây là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên trong mọi mặt công tác. Trong đó, tự rèn luyện là sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, vừa khẳng định tính tự giác, sức mạnh nội sinh vừa là yêu cầu đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình của mỗi người. Qua đó, giúp cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trí lực, thể lực và tâm lực để khơi dậy tiềm năng, trí tuệ và phát huy sự sáng tạo trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Từ di huấn của Hồ Chí Minh, từ thực trạng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, cách đặt vấn đề, tinh thần và quyết tâm cũng như việc đã và đang triển khai chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng sâu rộng, đồng bộ trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân bài bản, trúng vấn đề, hợp với lòng dân đã cho thấy quyết tâm chính trị cao và trọng trách lớn lao của Đảng trước nhân dân và vận mệnh của đất nước, của chế độ./.

Đừng để tái diễn những “ông vua con”, “ông quan” sống trên dân .

Không ngẫu nhiên mà người lãnh đạo cao nhất của đất nước đã sử dụng từ “ông vua con”, “ông quan”-những danh xưng chỉ có trong thời phong kiến chuyên quyền ngày xưa để ám chỉ, gắn vào một bộ phận quan chức thời nay. . Bởi những quan chức này mang danh là “đảng viên cộng sản”, “công bộc”, “đầy tớ” của dân, nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, nói hay làm dở, nhất là có tác phong quan cách, lối sống xa hoa và trái ngược với bản chất của những người chiến sĩ cách mạng, gây tổn hại nghiêm trọng đến thanh danh của Đảng, làm xói mòn niềm tin trong nhân dân. Quan chức sống, sinh hoạt xa hoa - một thái độ vô trách nhiệm với dân Khi nhìn nhận, xem xét, đánh giá nhân cách một con người, không thể không nói đến phong cách, lối sống của họ. Vì phong cách, lối sống vừa là những yếu tố quan trọng góp phần làm nên tư cách đạo đức của con người, vừa là một trong những quy chuẩn để soi chiếu, định vị giá trị văn hóa của họ trong mối quan hệ với tập thể, tổ chức, cộng đồng và xã hội. Điều này càng có ý nghĩa đối với cán bộ, đảng viên. Nói đến phong cách, lối sống của cán bộ, đảng viên chân chính là nói đến vẻ đẹp giản dị, tấm lòng trung thực, tinh thần cao thượng, tình cảm thân thiện, tâm hồn thanh khiết, thái độ giao tiếp ứng xử chuẩn mực và ý thức đối nhân xử thế giàu lòng nhân ái, bao dung. Đặc trưng phong cách, lối sống của cán bộ, đảng viên cộng sản tập trung ở đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phong cách, lối sống không phải là cái gì trừu tượng, khó hiểu, mà nó được thể hiện, bộc lộ từ trang phục, đồ dùng sinh hoạt cá nhân đến thái độ, hành vi ăn, mặc, ở, nói năng, đi lại, tiêu dùng, giải trí của cán bộ, đảng viên. Những cán bộ, đảng viên chuẩn mực thì thường cảm thấy xa lạ, thậm chí “dị ứng” với những trang phục lòe loẹt, mang mặc không đúng lúc, đúng chỗ, đúng hoàn cảnh giao tiếp và cũng không sử dụng những đồ dùng sinh hoạt cá nhân xa xỉ, đi những xe sang vượt tiêu chuẩn cho phép, ăn uống lãng phí, tiêu dùng xa hoa, giải trí phù phiếm. Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên lại thích nổi trội trước đám đông không phải bằng tài năng, công lao đóng góp, cống hiến cho tập thể, xã hội, mà bằng những thứ hào nhoáng bên ngoài như trang phục sang chảnh, trang sức lộng lẫy, biển số xe “lộc phát”, tiện nghi sinh hoạt cá nhân đẳng cấp, biệt thự siêu sang, ăn chơi xả láng, thậm chí tiêu tiền như… ném qua cửa sổ. Tất nhiên, với những cán bộ, đảng viên may mắn được hưởng quyền thừa kế khối tài sản lớn của ông cha để lại, hay có người thân ăn nên làm ra do kinh doanh đầu tư sinh lời... thì họ có quyền hưởng thụ sự giàu sang của mình mà không ai thắc mắc. Nhưng thực tế có không ít quan chức và người thân thích ruột thịt của họ sống, sinh hoạt khác xa với số đông người dân, mà số tiền chi tiêu xa xỉ, lãng phí này chủ yếu từ những khoản thu nhập bất minh, tham nhũng. Đây mới là điều đáng phải cảnh tỉnh, phê phán. Thời gian qua, dư luận từng xôn xao khi biết những thông tin về lối sống, sinh hoạt, giải trí xa hoa của một bộ phận cán bộ, đảng viên và người thân của họ. Như một hệ lụy tất yếu, những vật dụng trưng diện “đình đám” trước bàn dân thiên hạ của nhiều quan chức lại trở thành những “vật chứng” khiến cho chủ nhân của nó rơi vào tình cảnh “điêu đứng”, thậm chí có người còn lâm vào cảnh lao lý. “Trăm năm bia đá cũng mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Rồi đây, những quan chức “nhúng chàm” phải “vào nhà đá bóc lịch” cũng có ngày được trở lại vị thế một công dân tự do; hay có quan chức sai phạm vài ba năm sau sẽ được “xóa án” kỷ luật Đảng, nhưng dư luận sẽ khó quên những vật dụng xa hoa của chủ nhân, ví như chiếc xe sang Lexus của cá nhân một cựu phó chủ tịch UBND tỉnh lại được cấp biển số xanh (xe công); những biệt thự hoành tráng của một số quan chức và con em một số quan chức cao cấp mọc lên sừng sững ở những vị trí "đất vàng" hay trên những thửa ruộng đất nông nghiệp, lâm nghiệp bị sử dụng sai mục đích…

Cán bộ, đảng viên cần có liêm sỉ để nhân dân được trông mong, nhờ cậy

Nếu phong cách, lối sống của một người dân, dù hay-dở, tích cực-tiêu cực, văn minh-lạc hậu, cao thượng-thấp hèn… thường có ảnh hưởng trong phạm vi nhỏ thì phong cách, lối sống của cán bộ, đảng viên dù tốt hay xấu đều có sức tác động lớn hơn theo hai chiều hướng thuận hay nghịch. “Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa”. Đảng viên giữ cương vị, chức vụ càng cao, sức ảnh hưởng đối với xã hội càng lớn, thì phong cách, lối sống của họ càng trở thành tiêu điểm để mọi ánh mắt người dân đổ dồn vào. Người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta rất trăn trở và có lúc bày tỏ sự đau lòng về sự xuống cấp “không phanh” về phong cách, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý. Cách đây 3 năm, ngày 27-5-2016, khi phát biểu tại Hội nghị triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác dân vận, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lúc đó đã nghiêm khắc cảnh tỉnh: “Một số người có chức có quyền giữ tác phong quan cách, gia trưởng, phụ trách địa phương nào, đơn vị nào, thì như một “ông vua con” ở đấy!”. Mới đây, trả lời phỏng vấn các cơ quan báo chí nhân dịp Xuân Kỷ Hợi 2019, khi đề cập đến trách nhiệm nêu gương về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, thêm một lần Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng gióng lên hồi chuông cảnh báo: “Những “ông quan” nói một đằng, làm một nẻo, kêu gọi người khác tiết kiệm trong khi bản thân xa hoa, lãng phí, chi dùng bằng tài sản, công quỹ Nhà nước, bằng tiền thuế của dân, cờ bạc, tiệc tùng vô độ… thì chẳng những không làm gương được, mà còn làm mất uy tín của Đảng, mất niềm tin trong nhân dân”. Không ngẫu nhiên mà người lãnh đạo cao nhất của đất nước đã sử dụng từ “ông vua con”, “ông quan”-những danh xưng chỉ có trong thời phong kiến chuyên quyền ngày xưa để ám chỉ, gắn vào một bộ phận quan chức thời nay. Bởi những quan chức này mang danh là “đảng viên cộng sản”, “công bộc”, “đầy tớ” của dân, nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, nói hay làm dở, nhất là có tác phong quan cách, lối sống xa hoa và trái ngược với bản chất của những người chiến sĩ cách mạng, gây tổn hại nghiêm trọng đến thanh danh của Đảng, làm xói mòn niềm tin trong nhân dân. Sớm nhận ra lối sống xa hoa, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, 3 năm trở lại đây, Đảng ta đã ban hành nhiều quy định nhằm chấn chỉnh tác phong, lối sống không phù hợp cũng như yêu cầu cán bộ, đảng viên phải tự giác thực hành nêu gương sống, sinh hoạt giản dị, tiết kiệm, liêm chính. Những nội dung đó tập trung ở Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; và gần đây là Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”… Phong cách, lối sống của cán bộ, đảng viên là một phần làm nên diện mạo, tư cách, uy tín, danh dự của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu ai đó chót có phong cách lệch lạc, lối sống sai trái, tiêu cực, thì nên sớm tự uốn nắn, chấn chỉnh để tự giác đưa mình vào quỹ đạo nhằm tránh những hệ lụy không đáng có xảy ra đối với mình và gây phiền hà, liên lụy đến tổ chức, cơ quan, đơn vị. Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang từng tâm sự, khi cán bộ, đảng viên đã mang trọng trách phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thì mỗi người không chỉ cần có tài, có khát vọng cống hiến, mà phải có liêm sỉ để đất nước, đồng bào được trông mong, nhờ cậy. Nếu ai không lấy lại được niềm tin trước sự rộng lượng của nhân dân bằng cách thể hiện tính tiên phong trong nhận thức và hành động, nhất là tiên phong nêu gương về đạo đức, lối sống thì hãy tự nguyện rời bỏ con đường chính trị, nếu không, nhất định Đảng buộc họ phải ra đi.

Đấu tranh tư tưởng, lý luận - nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng

Đấu tranh tư tưởng, lý luận là một nội dung cơ bản của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc; là đấu tranh giữa tư tưởng, lý luận vô sản và tư tưởng, lý luận phi vô sản. Cuộc đấu tranh này luôn diễn ra quyết liệt, phức tạp và liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. . Trong chiến lược chống phá Việt Nam, âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH), xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng, đưa cánh mạng Việt Nam theo quỹ đạo chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là “mũi đột phá” hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhằm chuyển hóa, xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Bên cạnh sự chống phá của các thế lực thù địch, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đang đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn. Những tác động của tình hình thế giới, khu vực, của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tiêu cực bởi mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; những hạn chế trong “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”(1), dẫn đến sự xuất hiện các quan điểm, nhận thức khác nhau về con đường đi lên CNXH ở nước ta, thậm chí là sai trái, lệch lạc với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc. Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”(2); “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. ...Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định huớng XHCN… Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(3). Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận, vì thế không chỉ là tất yếu, mà đã trở thành mặt trận nóng bỏng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng, sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy, Đảng yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. ...Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đưòng đi lên CNXH ở Việt Nam”(4). Theo đó, trên mặt trận tư tưởng, lý luận phải kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, khắc phục những nhận thức lệch lạc; đồng thời, tích cực bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ và phát triển những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, chủ động định hướng giá trị đúng đắn đối với sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam. Phải quán triệt sâu sắc quan đểm: “Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài; nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị”(5). Phải kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện thụ động, bị động, hoặc chỉ hô hào chung chung, nhưng trên thực tế không đấu tranh. Vì thế, công tác tư tưởng luôn phải được quan tâm đầy đủ, được tiến hành thường xuyên, mọi sự xem nhẹ công tác tư tưởng đều sẽ phải trả giá, thậm chí một cái giá rất đắt. Công tác tư tưởng phải tạo được sự nhận thức đúng đắn, thống nhất về vị trí, vai trò của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận; trên cơ sở đó, thấy rõ trách nhiệm của từng địa phương, cơ quan, đơn vị trong cuộc đấu tranh trên mặt trận nóng bỏng này. Làm cho các tổ chức, các lực lượng nắm vững nội dung và yêu cầu cốt lõi của đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay là bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, nhằm củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong xã hội, tăng cường khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đồng thời, “Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(6). Cụ thể là: Thứ nhất, cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo tiến hành công tác tư tưởng, lý luận; nâng cao tính chiến đấu và sức thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của từng loại hình tổ chức đảng để xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể trong đấu tranh tư tưởng, lý luận; phải thường xuyên chăm lo lãnh đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, làm cho cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, quan điểm của Đảng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của dân tộc. Công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng hàng đầu trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng; có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho Đảng có nền tảng tư tưởng vững chắc, có chủ trương, đường lối, cương lĩnh chính trị, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được xây dựng trên cơ sở khoa học, phù hợp với quy luật vận động của xã hội và hợp lòng dân. Sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận phải thể hiện tập trung ở việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo và chương trình hành động thực hiện nghị quyết. Để chủ động tiến công toàn diện, thống nhất và đồng bộ làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận, cần quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Cụ thể hóa vào xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả nghị quyết về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở cấp mình. Phải xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy chế, quy định về trách nhiệm trực tiếp làm công tác tư tưởng, tham gia nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn của cấp ủy, cán bộ chủ trì và của mọi cán bộ, đảng viên; bổ sung hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các chế độ công tác tư tưởng, quy chế dân chủ ở cơ sở, quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong tiến hành công tác tư tưởng, lý luận. Cấp uỷ, cán bộ chủ trì, cơ quan tuyên giáo các cấp phải đề ra được những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện sát với đặc điểm, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị mình trong từng thời kỳ; phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành; thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp hoạt động, tạo ra được nhiều cách làm hay, hiệu quả; đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục những khâu yếu, mặt yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Các đồng chí cấp ủy phải nắm vững ngọn cờ tư tưởng, lý luận của Đảng, thường xuyên chỉ đạo và trực tiếp tiến hành công tác tư tưởng, lý luận ở địa phương, cơ quan, đơn vị, nhất là trong những thời điểm có tính chất bước ngoặt của cách mạng, khi xử trí các tình huống nhạy cảm và phức tạp trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Cơ quan tuyên giáo phải phát huy vai trò là cơ quan tham mưu, đồng thời trực tiếp tổ chức tiến hành các hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Thứ h ai, tăng cường, nâng cao hơn nữa tính hiệu quả của các Ban chỉ đạo 35; tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị, Kế hoạch số 14 của Ban Bí thư về thực hiện Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 105 của Ban Tuyên giáo Trung ương về công tác lý luận chính trị. Ban chỉ đạo 35 các cấp cần thường xuyên được củng cố, kiện toàn về tổ chức, nâng cao trách nhiệm của các thành viên; tăng cường công tác kiểm tra của Ban chỉ đạo, cấp ủy cấp trên đối với Ban chỉ đạo, cấp ủy cấp dưới về tổ chức thực hiện nhiệm vụ đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Ban chỉ đạo 35 của Trung ương cần chỉ đạo thường xuyên, tạo sự thống nhất giữa các bộ, ban, ngành và lực lượng tham gia đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận; định hướng kịp thời trước những vấn đề nảy sinh tác động đến dư luận, tâm trạng xã hội... Quan tâm xây dựng, củng cố, phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt; chú trọng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn; cán bộ hoạt động trên các lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật...; cần nghiên cứu xây dựng cơ chế hoạt động phù hợp. Thường xuyên quan tâm nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy khoa học xã hội và nhân văn, phóng viên, biên tập viên... Động viên, khích lệ họ tự giác, chủ động phát huy khả năng, sở trường. Tăng cường lực lượng thường trực tham gia đấu tranh trên Internet và các trang mạng xã hội. Lực lượng này phải được tổ chức có hệ thống, trang bị đầy đủ phương tiện và có kỹ thuật tác nghiệp cao. Thứ ba, cấp ủy và chính quyền các cấp cần ban hành các quy định, quy chế phối hợp giữa các bộ, ban, ngành của Đảng, Nhà nước có liên quan, trực tiếp là các lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình, văn hoá, văn nghệ, xuất bản, đối ngoại, an ninh... ở cả Trung ương và địa phương trong nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch; trao đổi thông tin, dự báo đánh giá tình hình, đào tạo bồi dưỡng cán bộ và tổ chức phối hợp đấu tranh. Việc phối hợp đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận cần được cụ thể hóa thành các quy chế, chương trình, kế hoạch phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan làm công tác tư tưởng, lý luận với tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở. Thứ tư, coi trọng việc giáo dục, động viên, phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, tạo nên lực lượng đông đảo, rộng khắp. Thực hiện tốt quan điểm: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân”(7). Thực tiễn luôn vận động, phát triển, theo đó lý luận cũng luôn phát triển với những nội dung mới. Mặt khác, các thế lực thù địch luôn tìm cách đưa ra những chiêu thức mới, những luận điệu và cách thức chống phá mới. Vì thế mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên được giáo dục, cập nhật tình hình. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và các tổ chức quần chúng thường xuyên quan tâm định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội, góp phần đấu tranh vạch trần các quan điểm sai trái, thù địch. Đây không chỉ là sự quán triệt và cụ thể hóa quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chính trị - tư tưởng, mà còn là một yêu cầu cơ bản của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

Quốc hội Việt Nam không “thảo luận cho vui”

Lập luận thứ hai mà những người đả kích Quốc hội Việt Nam đưa ra là "Quốc hội Việt Nam chỉ thảo luận, thông qua những nội dung theo quyết định của Đảng, việc thảo luận chỉ để “cho vui”, mang tính hình thức". Luận điệu cũ rích này khó có thể thuyết phục được những người quan tâm, theo dõi hoạt động của Quốc hội Việt Nam trong suốt thời gian qua. Thực tế, các nội dung được Quốc hội thảo luận đều thuộc phạm vi chức năng, quyền hạn của Quốc hội theo Hiến pháp và pháp luật. Không phủ nhận, những vấn đề quan trọng mà Quốc hội bàn thảo đều có dấu ấn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này là bình thường, bởi theo Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, cũng theo Hiến pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về quyết định của mình. Mọi hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam đều hướng tới nhân dân, vì nhân dân. Bởi vậy, việc Quốc hội Việt Nam thảo luận về những vấn đề do Đảng lãnh đạo là đúng Hiến pháp, hướng tới nhân dân, vì nhân dân, đáp ứng đúng nguyện vọng của cử tri và nhân dân. Mọi vấn đề đưa ra nghị trường đều được Quốc hội thảo luận, tranh luận một cách dân chủ, thẳng thắn. Những nội dung không thuộc bí mật quốc gia đều được công bố công khai, minh bạch cả về tài liệu lẫn các ý kiến thảo luận. Thậm chí, những phiên họp liên quan tới các vấn đề lớn của đất nước, được đông đảo cử tri và nhân dân quan tâm đều được phát thanh, truyền hình trực tiếp để cử tri, nhân dân theo dõi, giám sát. Mỗi vấn đề được Quốc hội thảo luận đều có những ý kiến đồng tình, ý kiến phản bác. Tất cả ý kiến dù đồng tình hay phản bác đều được trân trọng, tiếp thu, giải trình đầy đủ và Quốc hội chỉ quyết định theo đa số. Tính dân chủ thể hiện rất rõ ở tỷ lệ thông qua các dự án luật, dự thảo nghị quyết, thậm chí là quyết định công tác nhân sự, tuyệt đại đa số đều không đạt tỷ lệ ủng hộ tuyệt đối, bởi không đại biểu nào bị ép buộc phải nhấn nút biểu quyết đồng ý nếu bản thân chưa nhất trí. Nếu ai theo dõi hoạt động của Quốc hội thường xuyên sẽ thấy, có những nội dung được Quốc hội thông qua chỉ với khoảng 70% ĐBQH nhấn nút đồng ý, trong khi tỷ lệ ĐBQH khóa XIV là người ngoài Đảng chiếm 4,2% tổng số ĐBQH. Như vậy, trong số những đại biểu nhấn nút không đồng ý, chắc chắn có đại biểu là đảng viên. Do đó, không thể có chuyện ĐBQH là đảng viên đều phải nhấn nút biểu quyết đồng ý theo “chỉ đạo”. Thực tế cũng có những nội dung sau khi thảo luận, tranh luận đã bị Quốc hội bác bỏ, chẳng hạn việc Quốc hội chưa đồng ý thành lập Tòa án Nhân dân khu vực, Viện Kiểm sát Nhân dân khu vực khi thông qua các luật tổ chức liên quan tới hai ngành này. Hay nổi bật hơn là việc Quốc hội bác bỏ chủ trương xây dựng đường sắt cao tốc vào năm 2010. Gần đây nhất, tại Kỳ họp thứ tám, cơ quan soạn thảo đề xuất mở rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ. Tuy nhiên, sau khi các đại biểu Quốc hội nhận được ý kiến của cử tri đã thảo luận rất sôi nổi về vấn đề này. Có đại biểu đồng ý, có đại biểu không đồng ý. Kết quả biểu quyết cho thấy, đa số đại biểu Quốc hội không nhất trí mở rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ. Đó là những minh chứng rõ ràng nhất để khẳng định: Quốc hội Việt Nam không “thảo luận cho vui” mà thảo luận, tranh luận một cách thực sự, mang tính dân chủ cao, quyết định theo đa số, theo ý nguyện của cử tri và nhân dân. Bởi vậy, những luận điệu cũ rích nhằm đả kích, làm giảm sút niềm tin, sự tín nhiệm của cử tri, nhân dân với Quốc hội chẳng thể làm thay đổi được thực tế: Quốc hội Việt Nam thực sự là Quốc hội dân chủ, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; cử tri, nhân dân đã, đang và vẫn sẽ luôn tin cậy, dành sự tín nhiệm cao cho Quốc hội cũng như dành sự quan tâm rất lớn tới các hoạt động của Quốc hội…

Quốc hội Việt Nam là Quốc hội dân chủ, của dân, do dân, vì dân

Cứ đến dịp Quốc hội họp, đâu đó lại xuất hiện một vài giọng điệu đả kích, cho rằng: "Quốc hội Việt Nam chỉ quyết định theo chỉ đạo của Đảng, là cơ quan thảo luận cho vui và chỉ mang tính hình thức". Những giọng điệu này hoàn toàn lạc lõng trước sự tín nhiệm ngày càng cao của cử tri, nhân dân dành cho Quốc hội Việt Nam-một cơ quan liên tục tự đổi mới, cải tiến cách thức làm việc nhằm tăng cường dân chủ, công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả làm việc và thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của cử tri, nhân dân cả nước. . Được giới thiệu, chưa chắc trúng cử Một trong những lập luận của những người đả kích là "các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đều được tiến hành trên cơ sở Đảng cử, dân bầu nên không có tự do ứng cử", rồi "khi bầu cử thì vận động, ép buộc bầu người này, người kia, như thế là không dân chủ". Theo Hiến pháp cũng như quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND), mọi công dân Việt Nam nếu thấy mình đáp ứng đủ tiêu chuẩn của ĐBQH, đại biểu HĐND đều có quyền tự ứng cử. Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế cũng có quyền giới thiệu người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Việc tổ chức 3 vòng hiệp thương để chốt danh sách người ứng cử cũng là chuyện bình thường và nước nào cũng có cách làm tương tự để rà soát người đáp ứng đủ tiêu chuẩn ứng cử. Công việc này ở mỗi nước được giao các cơ quan khác nhau đảm nhiệm, tùy theo đặc điểm, tình hình. Tại Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) là tổ chức mang tính đại diện rộng rãi của các tổ chức xã hội, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị và các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc… Vì vậy, MTTQ là tổ chức phù hợp nhất tiến hành các vòng hiệp thương nhằm xác định được danh sách ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và đáp ứng được tính cơ cấu, đại diện theo vùng, miền, địa phương, dân tộc, giới tính, độ tuổi, giai tầng, trong đó có cả người được giới thiệu và người tự ứng cử. Người được giới thiệu hay người tự ứng cử có thể là đảng viên, có thể là người ngoài Đảng nếu có đủ điều kiện và theo đúng các quy định của pháp luật. Thực tế qua các kỳ bầu cử cho thấy, rất nhiều người tự ứng cử đã giành được sự tín nhiệm của cử tri nơi cư trú hoặc nơi công tác, học tập nên vượt qua vòng hiệp thương thứ hai; có đủ tiêu chuẩn và tín nhiệm vượt qua vòng bỏ phiếu hiệp thương thứ ba để có tên trên danh sách phiếu bầu; được cử tri nơi bầu cử tín nhiệm bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND. Ví dụ ĐBQH Phạm Quang Dũng (đoàn Nam Định) và ĐBQH Nguyễn Anh Trí (đoàn Hà Nội) đều là những người tự ứng cử. Cùng với đó, cũng có rất nhiều người được các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế giới thiệu (trong đó có người là đảng viên, có người không phải là đảng viên), dù vượt qua các vòng hiệp thương nhưng không đạt được tỷ lệ phiếu bầu ở nơi ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Ví dụ, tại cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIV, có 15 đại biểu thuộc diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương giới thiệu nhưng không trúng cử để trở thành ĐBQH. Việc vận động bầu cử là việc làm bình thường ở các nước, Việt Nam không là ngoại lệ. Cáo buộc “ép buộc” bầu người này, bầu người kia được đưa ra một cách vu vơ, thiếu dẫn chứng cụ thể thì rất khó thuyết phục. Thực tế, nếu có hành vi ép buộc người khác bầu cử, hành vi đó đương nhiên vi phạm Điều 95 của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, nhẹ thì bị xử lý hành chính, nặng thì bị xử lý hình sự. Bất kỳ ai nhận thấy mình bị mua chuộc, ép buộc khi bỏ phiếu đều có thể khiếu nại, tố cáo để làm rõ và xử lý. Như vậy, về mặt pháp luật, quyền tự do ứng cử, tự do bầu cử của công dân Việt Nam được Hiến định và được pháp luật quy định rất rõ ràng, được tôn trọng và bảo vệ. Về mặt thực tiễn, dù người tự ứng cử hay người được giới thiệu, dù là đảng viên hay người ngoài Đảng, ứng cử viên nào được cử tri tín nhiệm thì mới được cử tri bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND. Ngược lại, ứng cử viên nào không đủ tín nhiệm với cử tri thì đều không được bầu, không cứ đó là ứng cử viên tự do hay ứng cử viên được giới thiệu.

Vạch trần chiêu trò đòi “dân chủ” vô nguyên tắc trong bầu cử: Thủ đoạn “ăn vạ” phía sau chiêu trò tự ứng cử .

Từ chủ trương, chính sách của Đảng đến Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước đều khuyến khích người có đức, có tài tự ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) để góp sức xây dựng đất nước. . Thực tế đã có những người hội tụ đủ phẩm chất, tiêu chuẩn đã tự ứng cử thành công, được cử tri bầu làm đại biểu và có đóng góp tích cực cho nước nhà. Bên cạnh đó, cứ mỗi dịp bầu cử ĐBQH, đại biểu HĐND, các phần tử chống phá đều ráo riết thực hiện chiêu trò tự ứng cử. Khi biết chắc không đạt được mục đích, họ dùng thủ đoạn bôi nhọ, xuyên tạc công tác bầu cử, qua đó làm giảm niềm tin của cử tri, nhân dân và tiến tới phá hoại bầu cử. Cuộc bầu cử ĐHQB khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 cũng vậy. Những phần tử chống phá bịa đặt, xuyên tạc rằng hội nghị cử tri nơi cư trú chỉ là “nơi đấu tố”. Trong khi họ tung ra những bảng thu thập chữ ký ảo trên mạng xã hội thì lại rất sợ đứng trước hội nghị cử tri nơi cư trú-nơi tập hợp những cử tri thật, gần họ nhất, hiểu họ nhất và có những nhận xét cực kỳ chính xác về họ. Từ Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam năm 1946 cho đến tất cả những bản Hiến pháp sau này đều quy định rất rõ: Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử, từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND (Điều 18, Hiến pháp năm 1946; Điều 23, Hiến pháp năm 1959; Điều 57, Hiến pháp năm 1980; Điều 54, Hiến pháp năm 1992; Điều 27, Hiến pháp năm 2013). Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND cũng quy định công dân Việt Nam đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Luật quy định rõ: “Người tự ứng cử nộp hai bộ hồ sơ ứng cử tại Ủy ban bầu cử ở tỉnh nơi mình cư trú hoặc công tác thường xuyên” (điểm b, khoản 1, Điều 36, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND). Chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 cũng nêu rõ: “Bảo đảm các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật”. Mới đây, trao đổi với các phóng viên báo chí, Phó chủ tịch-Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam Hầu A Lềnh đã khẳng định: Tất cả các đợt bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp từ trước tới nay đều không có cản trở vì ứng cử là quyền của công dân. Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền ứng cử. Người tự ứng cử hay người được giới thiệu ứng cử đều cùng chung thủ tục về hồ sơ, quy trình. Thực tế đã có rất nhiều người tự ứng cử được cử tri nơi cư trú tín nhiệm cao, vượt qua các vòng hiệp thương để vào danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và được cử tri nơi ứng cử tín nhiệm bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND. Danh sách cụ thể những người tự ứng cử đủ tiêu chuẩn ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và danh sách những người tự ứng cử được bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND các nhiệm kỳ đều rất dễ tìm thấy trên mạng internet. Như vậy, từ chủ trương, chính sách của Đảng; quy định của Hiến pháp, pháp luật đến thực tiễn đều không có bất cứ hạn chế nào về quyền ứng cử của công dân, ngoại trừ những trường hợp không được ứng cử quy định tại Điều 37, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND (người đang bị tước quyền ứng cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang chấp hành hình phạt tù, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; người đang bị khởi tố bị can; người đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của tòa án; người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của tòa án nhưng chưa được xóa án tích; người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn). Theo quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, người ứng cử ĐBQH phải đáp ứng tiêu chuẩn của ĐBQH quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội; người ứng cử đại biểu HĐND phải đáp ứng tiêu chuẩn của đại biểu HĐND quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Do vậy, chỉ những người ứng cử đáp ứng đủ tiêu chuẩn mới có tên trên danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử sau hội nghị hiệp thương lần thứ 3. Theo quy định, cử tri nơi cư trú hoặc cử tri nơi công tác sẽ nhận xét người ứng cử có đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không và trực tiếp biểu quyết nhất trí hay không nhất trí để người đó ứng cử ĐBQH/đại biểu HĐND. Kết quả của hội nghị cử tri là một trong những căn cứ quan trọng để MTTQ Việt Nam hiệp thương và quyết định điền tên người ứng cử vào danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không. Đây là quy trình rất chặt chẽ nhằm sàng lọc và loại bỏ những người ứng cử không đủ tiêu chuẩn làm ĐBQH, đại biểu HĐND từ trước khi bầu cử.

Những chiêu “rạch mặt ăn vạ”

Những phần tử chống đối, phá hoại bầu cử biết rất rõ mình không thể đáp ứng đủ tiêu chuẩn của ĐBQH, đại biểu HĐND, đặc biệt là các tiêu chuẩn trung thành với Hiến pháp; gương mẫu chấp hành pháp luật. Ngay những hành vi chống phá Đảng, không công nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Nhà nước mà họ thực hiện đã thể hiện rất rõ họ không trung thành với Hiến pháp và không chấp hành pháp luật. Vì thế, họ rất sợ các quy trình về hiệp thương, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú. Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, nguyên tắc nghị sĩ/đại biểu Quốc hội phải trung thành với Hiến pháp là nguyên tắc được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Ngay tại Mỹ, các nghị sĩ khi đắc cử cũng phải thực hiện thủ tục tuyên thệ, thề trung thành với Hiến pháp. Nghị sĩ/đại biểu Quốc hội làm việc tại cơ quan lập pháp, nên chắc chắn không có nước nào ủng hộ nghị sĩ nước mình không tôn trọng luật pháp, không tuân thủ pháp luật. Hơn ai hết, cử tri nơi người ứng cử cư trú/công tác là những người hiểu rõ về người ứng cử đó nhất. Nếu người ứng cử thực sự là người có đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật thì không có lý do gì phải e ngại việc lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú. Quy định về tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri cũng thể hiện rõ tính khách quan. Cụ thể, theo hướng dẫn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Nghị quyết số 1186/2021/UBTVQH14, hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi cư trú được tổ chức tại thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố nơi người ứng cử thường trú hoặc tạm trú. Đối với nơi có dưới 100 cử tri thì tổ chức hội nghị toàn thể cử tri và phải bảo đảm số lượng cử tri tham dự đạt ít nhất 50% tổng số cử tri được triệu tập. Đối với nơi có từ 100 cử tri trở lên thì có thể tổ chức hội nghị toàn thể hoặc hội nghị cử tri đại diện hộ gia đình và phải bảo đảm có ít nhất 55 cử tri tham dự hội nghị. Quy định như vậy để loại trừ trường hợp lựa chọn cử tri đi dự hội nghị, giúp hội nghị cử tri nơi cư trú cho ý kiến khách quan nhất, toàn diện nhất về người ứng cử. Ấy vậy mà những phần tử chống phá đội lốt “người tự ứng cử” lên tiếng rêu rao trên mạng xã hội và một số trang thông tin nước ngoài rằng, hội nghị cử tri nơi cư trú là nơi để đấu tố, lên án, loại bỏ người tự ứng cử. Điều rất hài hước là những kẻ đội lốt “người tự ứng cử” để chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, phá hoại bầu cử rất tự tin trưng ra những bản tập hợp chữ ký ảo trên mạng để giới thiệu ứng cử, nhưng đứng trước cử tri thật ở chính nơi họ cư trú thì họ lại tỏ ra run sợ. Riêng điều này đã thể hiện rõ sự lòe bịp của họ về những bản “tập hợp chữ ký” và thể hiện rõ uy tín của họ ở nơi cư trú thảm hại đến mức nào. Đến cử tri nơi họ cư trú còn không muốn để họ lọt vào danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử, mà họ còn muốn ra oai đại diện cho cử tri cả nước được sao? Khi không vượt qua được hội nghị cử tri nơi cư trú, họ bèn sử dụng chiêu “rạch mặt ăn vạ” khi rêu rao rằng hội nghị cử tri chỉ là nơi đấu tố, lên án họ để loại họ ngay từ vòng đầu! Cũng vì nhận thức rõ với sự quay lưng của cử tri nơi cư trú và với lý lịch bất hảo về chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, xâm phạm lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, họ chắc chắn không thể vượt qua được các vòng hiệp thương do MTTQ Việt Nam tổ chức, nên họ rêu rao rằng, tổ chức hội nghị hiệp thương là vi hiến vì Hiến pháp không có quy định về hiệp thương hay về cơ cấu, thành phần ĐBQH. Chiêu “rạch mặt” này lại làm lòi ra cái dốt khác của họ về kiến thức pháp luật. Ai am hiểu về luật pháp cũng hiểu một điều rất đơn giản: Hiến pháp là đạo luật gốc, là đạo luật cơ bản nên chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất. Không có một bản hiến pháp nào trên thế giới quy định đầy đủ mọi quy phạm để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội. Chẳng hạn, không thể nói rằng Hiến pháp không quy định về hợp đồng nên mọi quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp... là vi hiến. Thực tế, quy định về hiệp thương và các bước tiến hành hiệp thương được thể hiện rất rõ trong Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND nên việc MTTQ Việt Nam tổ chức hiệp thương là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật và không vi hiến. Kiến thức sơ đẳng về pháp luật như vậy mà còn không hiểu, thì những thành phần đó sao đủ tiêu chuẩn về trình độ, chuyên môn, năng lực để trở thành ĐBQH-người sẽ hoạt động ở cơ quan có chức năng rất quan trọng là lập pháp? Vậy, đằng sau chiêu trò “tự ứng cử” của các phần tử chống đối, phá hoại là gì? Họ “tự ứng cử” với hy vọng hão huyền nếu trúng cử sẽ biến Quốc hội, HĐND trở thành diễn đàn cho họ thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, gây rối hoạt động của cơ quan dân cử nói riêng và của Nhà nước nói chung, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” ngay trong cơ quan dân cử của nước ta. Khi không thực hiện được mục tiêu của mình, họ quay ra bịa đặt, xuyên tạc để phá hoại bầu cử. Tuy nhiên, dù dùng âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm, ngụy quân tử đến mức nào, họ cũng không thể đánh lừa được cử tri. Bằng chứng là dù đợt bầu cử nào họ cũng ra sức hoạt động, ra sức “tự ứng cử” nhưng đều bị cử tri nơi cư trú vạch mặt thẳng thừng. Vì cử tri cực kỳ sáng suốt, nên họ chưa và sẽ không bao giờ thực hiện được mưu đồ thiếu tử tế của mình.

Tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa .

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bầu cử đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân Cuộc bầu cử diễn ra trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở nước ra sau 35 năm thực hiện đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19. Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, chiến tranh công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ diễn ra gay gắt, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhân tố gây bất ổn đến an ninh quốc gia của Việt Nam. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Trước tình hình đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phải ra sức phấn đấu, đoàn kết, thống nhất, chung sức, đồng lòng tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thử thách để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị đã đặt ra. Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam công tác chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 đang được tiến hành rất khẩn trương. Tuy nhiên, trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã và đang tiến hành nhiều hoạt động chống phá cuộc bầu cử với tính chất hết sức quyết liệt, manh động. Thông qua việc xuyên tạc thông tin, đưa ra những luận điệu sai trái, thiếu trung thực, phiến diện, quy chụp với mục đích hướng lái dư luận theo hướng tiêu cực, gieo rắc nhận thức lệch lạc, sai lầm liên quan đến hoạt động bầu cử ở nước ta. Trong đó, có quan điểm cho rằng: bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Đây là một quan điểm sai trái, xuyên tạc, thiếu chính xác của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đối với công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm thực hiện mưu đồ chính trị của chúng. Ở VIỆT NAM, QUYỀN BẦU CỬ VÀ ỨNG CỬ LÀ MỘT TRONG NHỮNG QUYỀN CHÍNH TRỊ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN Bầu cử là việc đưa ra quyết định của công dân hoặc của thành viên một tổ chức để chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền, thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan đơn vị nào đó. Đây là cơ chế phổ biến được các nền dân chủ hiện áp dụng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, đôi khi cả ở bộ máy hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó, thông qua bầu cử giúp người dân có điều kiện thể hiện quyền "làm chủ" của mình, nhất là trong việc lựa chọn ra những người đại diện cho tiếng nói, cho lợi ích của mình. Trong bất kỳ một thể chế chính trị nào, để Nhà nước có quyền hợp pháp, thực sự là Nhà nước "của dân, do dân, vì dân" thì phải có được sự đồng thuận của người dân. Ở Việt Nam, quyền bầu cử và ứng cử là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân và được quy định cụ thể tại Điều 18 Hiến pháp năm 1946: "Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái, trai, đều có quyền bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử", và tiếp tục được khẳng định xuyên suốt trong các bản Hiến pháp năm 1959 (Điều 23), Hiến pháp năm 1980 (Điều 57), Hiến pháp năm 1992 (Điều 54). Hiến pháp năm 2013 và quyền của công dân luôn gắn liền với nghĩa vụ của công dân. Trong đó, Điều 15, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: "Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân", Điều 21 cũng quy định: "Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân...". Theo Điều 2 Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp năm 2015 quy định: "Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này". Đồng thời, Khoản 5, Điều 4 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp năm 2015 quy định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp". Thông báo Kết luận số 174-TB/TW ngày 08/6/2020 của Bộ Chính trị về phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 nêu rõ đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải là những người trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ngoài tiêu chuẩn chung, Hướng dẫn số 36-HD/BCHTW, ngày 20/01/2021 của Ban Tổ chức Trung ương về công tác nhân sự đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 đã quy định chi tiết về tiêu chuẩn, điều kiện của đại biểu Quốc hội chuyên trách và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách. Bên cạnh đó, tiếp thu tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, Hướng dẫn số 36-HD/BCHTW ngày 20/01/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bổ sung, hoàn thiện thêm nội dung về quy trình nhân sự theo hướng việc giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp năm 2015; quy trình thủ tục, hồ sơ cụ thể thực hiện theo quy định của Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Như vậy có thể thấy, trong quy trình lựa chọn, sự tín nhiệm của cử tri là thước đo rất quan trọng về tiểu chuẩn của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Do đó, tại Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính phủ lần này, trong quá trình lựa chọn, sàng lọc, đặc biệt quan tâm đến yếu tố tín nhiệm. Nếu ở địa bàn, ở nơi công tác nếu cá nhân đó không được tín nhiệm thì bước đầu tiên sẽ không đưa vào giới thiệu nhân sự bầu cử. Ngoài ra, còn nhiều văn bản khác cũng quy định về quyền, nghĩa vụ của công dân, cũng như tiêu chuẩn về nhân sự bầu của đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là cuộc bầu cử được tiến hành dựa trên hệ thống thiết chế pháp luật rất vững chắc như: Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức quốc hội năm 2014, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015… Điều này có nghĩa là các quyền, nghĩa vụ của công dân, của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các quy trình tổ chức đều được xây dựng một cách chặt chẽ, khoa học, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân cũng như phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Việt Nam không hạn chế quyền ứng cử tự do của công dân, nếu họ đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định và được quần chúng nhân dân tín nhiệm. Bên cạnh đó, việc tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân; bản thân mỗi cử tri có vai trò quyết định trong việc lựa chọn cho mình những người đại diện xứng đáng nhất để thay mặt mình quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc.

THAM GIA BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN LÀ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN Ý CHÍ, NGUYỆN VỌNG, QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trong quá trình lịch sử, các cuộc bầu cử dân chủ luôn là hoạt động tiêu biểu, quan trọng nhất trong các hoạt động dân chủ trực tiếp của người dân. Thông qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền công dân, quyền "làm chủ" của dân được thể hiện đúng với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Mọi quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nói cách khác, tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chính là hình thức dân chủ trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng nhà nước nói chung và cơ quan đại diện - cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương tới địa phương ở nước ta nói riêng. Tham gia bầu cử chính là nơi để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng cho ý chí, nguyện vọng là quyền làm chủ của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong lịch sử đất nước ta, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/9/1945), cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 06/01/1946 được tổ chức thành công là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam trong điều kiện đất nước vô cùng khó khăn của "thù trong, giặc ngoài", tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hết sức khó khăn. Do đó, cuộc Tổng tuyển cử này không chỉ là một cuộc vận động chính trị thông thường mà thực chất là một cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp vô cùng gay go, phức tạp. Tuy nhiên, đại đa số người dân tham gia bầu cử luôn xúc động và tự hào vì "... ngày mai mà một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ra bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình..."[1]. Trong quá trình vận động và phát triển, tính dân chủ trong bầu cử và ứng cử ngày càng được mở rộng và quy trình bầu cử cũng như lựa chọn nhân sự ngày càng chặt chẽ và khoa học. Mặc dù, vẫn còn một số ít những tồn tại, hạn chế nhưng phải khẳng định một điều rằng chất lượng đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân ngày càng được nâng cao. Điều này được minh chứng trên diễn đàn của Quốc hội, của Hội đồng nhân dâncác cấp ngày càng xuất hiện nhiều hơn những tiếng nói đại diện cho quyền lực nhân dân trong hoạt động kiểm tra giám sát của các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, trong các phát biểu, kiến nghị, góp ý và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, trong giải quyết những vấn đề mà cử tri, nhân dân cả nước quan tâm. Để đạt được những thành tựu trên, một trong những yếu tố quyết định và không thể không nói đến đó là tinh thần, trách nhiệm của mỗi người dân ngày càng được nâng cao thông qua việc lựa chọn những người đại diện xứng đáng nhất để thay mặt quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc. Trải qua nhiều kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, người dân đã ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình nên đã tích cực thể hiện quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu, tích cực tham gia vào cuộc bầu cử từ giai đoạn giới thiệu người ứng cử, tham gia các Hội nghị cử tri để đóng góp ý kiến, nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử đến giai đoạn bỏ phiếu bầu để ngày bầu cử đã thực sự trở thành ngày hội, một dịp sinh hoạt chính trị của đồng bào, nhân dân cả nước. Những vấn đề chưa phù hợp trong quy chế, quy định bầu cử đã tiếp tục được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền lực của người dân được thực hiện tốt hơn trên thực tế. Bên cạnh đó, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong suốt quá trình bầu cử là một tất yếu nhằm lựa chọn được những người tiêu biểu, xứng đáng nhất, có đủ các tiêu chuẩn theo quy định, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng; có năng lực, có điều kiện thực thi nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Đồng thời bảo đảm cơ cấu và chất lượng, không vì cơ cấu mà giảm chất lượng. Đó là là cơ sở pháp lý giúp cho việc hình thành các cơ quan nhà nước trong nhiệm kỳ mới, bảo đảm tính liên thông, thống nhất với kết quả đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu cử, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu sai trái, khi cho rằng bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Những luận điệu xuyên tạc này của chúng nhằm hướng lái dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc để hiện thực hóa mục đích "cài cắm mầm mống dân chủ" vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp với mưu đồ biến nghị trường thành diễn đàn để các đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và thực hiện "chiến lược diễn biến hòa bình" làm nước ta tự suy yếu từ bên trong. Trong lịch sử, có thể thấy chiêu bài "đòi ghế" trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị không phải là vấn đề mới. Từ năm 1946, trong lần Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong bối cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội đã đòi 70 ghế trong Quốc hội. Mặc dù, một trong năm phương thức lãnh đạo của Đảng là thông qua công tác cán bộ và vai trò tiên phong gương mẫu của người đảng viên. Đối với những cơ quan dân cử, các cấp ủy đảng cần trực tiếp xem xét, tập thể quyết định việc lựa chọn, đánh giá, giới thiệu những cán bộ giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội. Trên thực tế, sau khi chỉ thị của Bộ Chính trị được ban hành, hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử được tổ chức để kịp thời quán triệt, xây dựng kế hoạch triển khai công tác bầu cử. Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội... ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử từ Trung ương đến địa phương. Các cấp ủy đảng, Mặt trận Tổ quốc, chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở địa phương cũng tiến hành khẩn trương, nghiêm túc các công việc chuẩn bị bầu cử và lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử ở các cấp. Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập theo đúng quy trình và triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ theo quy định. Việc chuẩn bị nhân sự ứng cử đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì và tổ chức các hội nghị hiệp thương, hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thông qua công tác cán bộ nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc Đảng sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Bởi vì, Đảng chỉ định hướng cơ cấu, số lượng nhân sự và xây dựng bộ tiêu chuẩn đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Bên cạnh đó, yếu tố quyết định trong việc lựa chọn người đại diện cho tiếng nói của mình thuộc về nhân dân, ngay từ khâu chuẩn bị nhân sự thông qua việc lấy ý kiến cử tri nơi công tác và nơi cư trú và trực tiếp thông qua những lá phiếu cử tri trong quá trình bầu cử. Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có chức năng lập pháp, quyết định những chủ trương, chính sách quan trọng của đất nước về đối nội, đối ngoại và giám sát tối cao hoạt động của bộ máy nhà nước; Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Do đó, thực hiện thành công cuộc bầu cử sẽ thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng: "Việc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự"... là hoàn toàn xuyên tạc, sai sự thật, nhằm xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trước thềm bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026./.

NIỀM TIN VÀ THẮNG LỢI


Các vị trí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội đã được kiện toàn. 4 vị trí quan trọng nhất mà Nhân dân mong đợi đã được Quốc hội phê chuẩn, bao gồm: Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ.

Nhìn vào 4 vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội mọi người dân Việt Nam dù đang sống ở trong nước hay nước ngoài đều cảm thấy rất hân hoan, phấn khởi và tràn đầy niềm tin vào một tương lai tươi sáng của đất nước.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, người lãnh đạo Đảng đầy tâm huyết và trách nhiệm, là người mà bao năm qua đã là vị thuyền trưởng giữ vững tay chèo cho con thuyền cách mạng Việt nam tiến bước. Chính con người với tấm lòng trong sáng, với quyết tâm sắt đá để tiếp tục thực hiện công cuộc chỉnh đốn Đảng, để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc là một người tâm huyết, trách nhiệm với bao trăn trở để phát triển nền kinh tế, đem lại cuốc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh. Suốt nhiệm kỳ Thủ tướng, dù đất nước gặp muôn vàn khó khăn nhưng Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng đã có nhiều chủ trương, quyết sách đúng đắn, làm một Chính phủ kiến tạo, đưa nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng với con số ấn tượng. Đại dịch hoành hành thế giới, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vẫn cùng Chính phủ lãnh đạo toàn dân vững vàng đối phó và thực hiện được mục tiêu kép vừa chống dịch vừa phát triển kinh tế. Với tài và tâm của mình, nay Thủ Tướng đã được Đảng và nhân dân gio trọng trách Chủ tịch nước, người dân cảm thấy hoàn toàn yên tâm và tin tưởng vào một Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính là một người có sức trẻ và năng động, dám nghĩ, dám làm. Điều này được thể hiện từ khi Thủ tướng còn là Bí thư Quảng Ninh, đưa một Quảng Ninh cất cánh cho tới khi Thủ tướng làm Trưởng ban tổ chức Trung ương. Rất nhiều chủ trương, quyết sách lớn được đưa ra mang lại hiệu quả ấn tượng. Do đó, người dân hoàn toàn tin tưởng Thủ Tướng cùng Chính phủ tiếp tục đưa con thuyền cách mạng Việt Nam sớm cập bến vinh quang.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ là người vẹn toàn cả đức và tài. Ông có học hàm giáo sư, phong cách làm việc điềm tĩnh và chắc chắn. Với vai trò là người đứng đầu cơ quan quyền lực cao nhất, chắc chắn ông cùng Quốc hội sẽ đại diện cho nhân dân đề ra nhiều chủ trương, quyết sách đúng đắn, xây dựng một đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

Với niềm tin, sự đoàn kết của toàn dân tộc, chúng ta tin tưởng và hy vọng rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự chỉ đạo sâu sát của Chính phủ, Việt Nam sẽ trở nên hùng cường, sớm sánh vai các cường quốc năm châu trên thế giới./.


KHÉP LẠI QUÁ KHỨ, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI

 

Chiến tranh đã lùi xa 46 năm, nỗi đau vẫn còn đó; tuy nhiên, với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta đã "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai", để xây dựng một nước Việt Nam ngày càng tươi đẹp hơn như mong muốn của Chủ tịch Hồ chí Minh vĩ đại.

Với chính sách đầy nhân văn cao cả, chúng ta đã giúp cho nhiều lính Mỹ bị tử trận tại Việt Nam trở về với người thân; đồng thời, nhiều cựu binh Mỹ sau khi tham chiến ở Việt Nam đã tình nguyện trao trả lại cho thân nhân gia đình liệt sĩ những kỷ vật họ thu lượm được của những người lính Việt Nam trên chiến trường. Trong số những kỷ vật ấy có chiếc mũ cối của liệt sĩ Bùi Đức Hưng ở xã Hương Nộn, huyện Tam Nông, tính Phú Thọ. 52 năm kể từ trận đánh ác liệt ở căn cứ Đức Lập, tỉnh Đắc Nông, 18 cựu binh Mỹ đã sang quê hương Tam Nông, trực tiếp trao trả chiếc mũ cối của liệt sĩ Hưng với tất cả sự cảm phục trước sự hy sinh anh dũng của anh.

Liệt sĩ Bùi Đức Hưng sinh năm 1939, trong một gia đình nghèo, mồ côi cha mẹ từ năm 6 tuổi, trải qua tuổi thơ chịu nhiều đắng cay, vất vả, rồi may mắn được một gia đình khá giả nhận làm con nuôi. Anh Hưng được bố mẹ nuôi cho đi học đến lớp 4, sau khi trưởng thành, lấy vợ và sinh con, anh đi làm công nhân ở nông trường Tam Thắng (Tam Thanh, Vĩnh Phú) và được kết nạp Đảng.

Tháng 5 - 1967, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Bùi Đức để lại người vợ hiền và đứa con thơ lên đường vào Nam chiến đấu, biên chế tại Đại đội 7, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66, Sư đoàn 1. Đầu tháng 8/1968, đơn vị được lệnh tiến công quận lỵ Đức Lập, căn cứ Đắc Sắc, tỉnh Đắc Nông. Sau gần 10 ngày chiến đấu anh dũng, đơn vị anh loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên địch, trong đó có 15 cố vấn Mỹ; tiêu diệt 20 đại đội, bắn rơi 14 máy bay địch (*). Tuy vậy, quân ta cũng chịu nhiều thiệt hại và Bùi Đức Hưng hy sinh trong trận này.

Hoàn cảnh hy sinh của liệt sĩ Hưng hết sức oanh liệt. Theo lời kể của cựu binh Mỹ John Wast, người trực tiếp tham gia trận đánh cho biết: Suốt 3 ngày đêm bộ đội Việt Nam đấu súng với quân đội viễn chinh Mỹ, khi tất cả đồng đội đã ngã xuống, chỉ còn một mình người lính Cộng sản ấy chiến đấu với chúng tôi đến khi hy sinh. Sau đó, tôi tiến đến lật chiếc mũ cối lên để xem mặt người lính dũng cảm, bên trong chiếc mũ cối găm 11 vết đạn có khắc một cành cọ và con chim bồ câu đang sải cánh bay. Lúc này, tôi mới biết hóa ra những người bên kia chiến tuyến cũng yêu hòa bình như bao người khác.

Sau đó, John Wast đã mang chiếc mũ cối ấy về Mỹ, nâng niu như kỷ vật để nhắc nhở bản thân phải trân trọng cuộc sống sau chiến tranh. Cùng đi với John Wast sang Việt Nam, có 17 cựu binh Mỹ cùng với sự ăn năn, hối tiếc và cầu mong được tha thứ.

Khi kể lại những ký ức về người cậu của mình, ông Bùi Đức Dục (khu 7, xã Hương Nộn, huyện Tam Nông) không khỏi nghẹn ngào: “Có lẽ chỉ đến khi hết đạn, ông ấy mới chịu ngã xuống”. Hiện nay, ông Dục là người chịu trách nhiệm thờ cúng liệt sĩ Bùi Đức Hưng. Ông chỉ có mong mỏi là tìm được hài cốt liệt sĩ Hưng, mang về an táng tại quê nhà. Sự hy sinh của liệt sĩ Hưng và đồng đội là biểu tượng cao đẹp cho cuộc chiến tranh chính nghĩa, bảo vệ độc lập tự do của nhân dân Việt Nam.

Trước khi rời khỏi Việt Nam, những cựu binh Mỹ đã ngỏ ý muốn góp chút công sức và đã tài trợ xây dựng cổng làng Hương Nộn. Cổng làng khang trang, đẹp đẽ sẽ là sợi dây kết nối tình đoàn kết, hữu nghị của hai đất nước, hai dân tộc cùng vững bước tiến tới tương lai./.
LVK