Thứ Bảy, 17 tháng 4, 2021

Mỗi điểm bầu cử của quân đội là một điểm sáng, điểm bầu cử mẫu mực

Ngày 13-4, Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh tổ chức Lễ phát động thi đua cao điểm với chủ đề “Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021-2026”, làm trước cho toàn quân. Thượng tướng Trần Quang Phương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị dự và phát biểu chỉ đạo. Cùng dự có các đồng chí: Nguyễn Xuân Ký, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh Quảng Ninh; Trung tướng Nguyễn Quang Cường, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 3. Nhằm quán triệt và triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ bầu cử, động viên, khích lệ cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Đảng ủy, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh phát động đợt thi đua cao điểm, thời gian từ ngày 13-4 đến hết ngày 23-5-2021 với 4 nội dung, chỉ tiêu thi đua trọng tâm. Trong đó, Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh xác định, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, quy định, hướng dẫn của cấp trên về bầu cử, phấn đấu 100% cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Phối hợp chặt chẽ với Ủy ban bầu cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp chuẩn bị và tiến hành bầu cử, bảo đảm các điểm bầu cử trong các đơn vị quân đội trên địa bàn tỉnh thực sự dân chủ, đúng luật định, an toàn, thời gian hoàn thành nhanh nhất, chất lượng cao nhất, phấn đấu 100% cán bộ, chiến sĩ tham gia bầu cử với tinh thần trách nhiệm cao, đúng luật định, an toàn tuyệt đối. Duy trì nghiêm túc chế độ trực SSCĐ, tăng cường luyện tập các phương án sẵn sàng chiến đấu bảo vệ cuộc bầu cử, phòng, chống thiên tai dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, phấn đấu bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo, vùng trời; xử lý kịp thời, có hiệu quả các tình huống nảy sinh. Xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, 100% cán bộ, chiến sĩ chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, đảm bảo an toàn trong huấn luyện, sinh hoạt, công tác, tham gia giao thông, xây dựng nền nếp chính quy, gắn với củng cố cảnh quan, môi trường “sáng, xanh, sạch, đẹp”. Để góp phần tổ chức thành công bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, Thượng tướng Trần Quang Phương yêu cầu Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan, đơn vị thuộc Quân khu 3 và các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu, đó là: Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục về về ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử; quyền ứng cử, quyền bầu cử của công dân; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND; hướng dẫn, kế hoạch của các cấp về tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, góp phần nâng cao ý thức làm chủ, tinh thần tự giác của mọi công dân, cơ quan, tổ chức trong thực hiện công tác bầu cử. Trên cơ sở nội dung, chỉ tiêu thi đua đã phát động, các đơn vị và từng cá nhân cần quán triệt, cụ thể hóa các nội dung, chỉ tiêu thi đua, xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể, phù hợp với thực tiễn của từng đơn vị và cá nhân. Từng cơ quan, đơn vị cần tích cực, chủ động triển khai hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Trọng tâm là lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt phối hợp chuẩn bị, phục vụ bầu cử; tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ bầu cử, nhanh gọn, an toàn, đúng luật, hoàn thành trước thời gian quy định, để mỗi điểm bầu cử của quân đội là một điểm sáng, điểm bầu cử mẫu mực trong các đơn vị bầu cử tại địa phương. Cùng với việc nêu gương hoàn thành tốt nhiệm vụ bầu cử tại cơ quan, đơn vị, LLVT tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần nêu cao trách nhiệm, thực hiện tốt chức năng "Đội quân công tác", tiếp tục đẩy mạnh thực hiện hiệu quả phong trào thi đua "Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới", "Dân vận khéo”, xây dựng "Đơn vị dân vận tốt”, thường xuyên nắm chắc tình hình địa bàn, dư luận xã hội, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; tham mưu, phối hợp thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động cử tri trên địa bàn phát huy tốt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân, tự giác, tích cực tham gia bầu cử. Quá trình tổ chức đợt thi đua cao điểm, các đơn vị cần chú trọng tiếp tục làm tốt việc phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng và nhân điển hình tiên tiến; tuyên truyền về kết quả đợt thi đua của các cơ quan, đơn vị; các mô hình, nhân tố mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; khuyến khích phong trào đua, đuổi giữa các tập thể, cá nhân, noi gương điển hình tiên tiến. Thượng tướng Trần Quang Phương nhấn mạnh: Quân ủy Trung ương và lãnh đạo Tổng cục Chính trị tin tưởng rằng, cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh Quảng Ninh, LLVT Quân khu 3 và các cơ quan, đơn vị trong toàn quân sẽ phát huy truyền thống của Quân đội Anh hùng, nỗ lực cao nhất, cùng đồng bào và chiến sĩ cả nước tham gia tích cực, tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội

Từ ngày 5 đến 13-4, Đoàn công tác của Bộ tư lệnh Quân khu 3 đã kiểm tra công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội tại Bộ CHQS các tỉnh, thành phố từ năm 2019 đến nay. Đoàn công tác đã kiểm tra toàn diện các hoạt động công tác chính sách tại Bộ CHQS các tỉnh, thành phố và thống nhất đánh giá: Đảng ủy, Bộ CHQS các tỉnh, thành phố đã chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc triển khai thực hiện chính sách trong quân đội và hậu phương quân đội, hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, thăm hỏi, tặng quà các đối tượng chính sách. Việc chi trả chế độ, chính sách cho các đối tượng được thực hiện công khai, minh bạch, đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra sai sót, thất thoát, khiếu kiện; qua đó góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và đối tượng chính sách trên địa bàn, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định tình hình, phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Pháp luật Việt Nam luôn phù hợp với Công ước quốc tế

 Cứ mỗi năm khép lại, một số tổ chức phản động ở hải ngoại lại diễn trò trao “Giải thưởng nhân quyền”. Đây thực chất chỉ là màn kịch vụng về trên sân khấu chính trị hải ngoại, ngày càng phơi bày bộ mặt chống phá Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch và những kẻ phản động lưu vong. Chúng luôn cho rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền, nhưng thực tế cho thấy, Việt Nam thực hiện các quyền đã được công nhận trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, có thể bị giới hạn bởi những quy định của pháp luật và những giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền và tự do cơ bản của người khác.

Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam luôn giữ đúng nguyên tắc, sát với thực tế đất nước, phù hợp và không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên. Ở Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Hành vi tuyên truyền xuyên tạc, bịa đặt, kích động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam; âm mưu tổ chức hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân của các đối tượng rõ ràng đã gây bất ổn cho an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm quyền tự do cơ bản của người khác và phải chịu những hình phạt nghiêm minh của pháp luật là tất yếu./.

Cảnh giác với các đối tượng phản biện xã hội tiêu cực

 Mở rộng dân chủ, tăng cường phản biện tích cực, lắng nghe những ý kiến đóng góp tâm huyết của nhân dân là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Hưởng ứng tinh thần ấy, các hoạt động phản biện xã hội (PBXH) thời gian qua diễn ra khá sôi động và mang lại những kết quả tích cực. Thế nhưng, một thực tế rất đáng quan tâm là cả trong và ngoài nước xuất hiện một số người lợi dụng PBXH để gây nhiễu thông tin, làm rối tình hình, kích động, hòng tạo ra những mâu thuẫn trong xã hội. Lợi dụng tình hình này, các thế lực thù địch, một số tổ chức phản động đã móc nối, gieo mầm, nuôi dưỡng các đối tượng PBXH để sử dụng làm công cụ chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Thực tế chứng minh, để hoạt động PBXH đi đúng hướng, theo đúng ý nghĩa tích cực thì việc bày tỏ các quan điểm, nêu ý kiến đóng góp phải theo đúng quy trình, trên nền tảng khoa học, với thái độ khách quan, đặc biệt là phải đặt lợi ích của cộng đồng, lợi ích quốc gia-dân tộc lên trên hết. Thế nhưng, trên thực tế đã có không ít người lợi dụng hoạt động PBXH để mưu mô cơ hội, phản biện kiểu phủ nhận sạch trơn, với các quan điểm hoàn toàn không vì lợi ích của cộng đồng, lợi ích của đất nước. Những quan điểm này càng trở nên nguy hiểm khi được các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá./. 

Lật tẩy thủ đoạn phá rối bầu cử



Những luận điệu trên tuy không mới nhưng lại được che đậy dưới những thủ đoạn tinh vi và được tung ra trong thời điểm chuẩn bị bầu cử nên gieo rắc hoang mang, gây nghi ngờ, phân tâm trong nội bộ nhân dân. Nếu ai mất cảnh giác, có thể lầm tưởng, thậm chí bị dẫn dắt và tin theo.

Tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp - một biểu hiện suy thoái nghiêm trọng .

Một trong những biểu hiện của sự suy thoái trong cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, chỉ ra là "ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp". . Đúng như nhìn nhận của Ban Chấp hành Trung ương, điểm đáng lưu ý trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta những năm gần đây là sự xuất hiện của các tà đạo, những hình thức sinh hoạt tín ngưỡng chứa đựng những yếu tố mê tín, phản văn hóa, phi nhân tính, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Đáng tiếc là đã có những CB, ĐV chẳng những không tuyên truyền, đấu tranh ngăn chặn mà còn tham gia vào các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp này. Tà đạo phát sinh ở nhiều nơi Tà đạo ở đây được hiểu là những đạo lạ, đạo không chính tông, hoạt động trái pháp luật. Những địa bàn tà đạo thường xuất hiện và lan truyền nhanh là vùng núi, nông thôn, vùng sâu xa, nhất là địa bàn Tây Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ. Dư luận hẳn chưa quên thứ tà đạo mang tên "Hệ phục hưng" xuất hiện trên địa bàn huyện Cư Kuin (Đắc Lắc). Để lừa bịp những người dân thiếu hiểu biết, những kẻ cầm đầu tà đạo này tung tin, thường xuyên gặp Đức Chúa trời và được Đức Chúa trời ban cho nhiệm vụ cứu xét những con tin sau khi chết được lên thiên đàng... Ai muốn được xét ban cho đặc ân trên thì đi theo "Hệ phục hưng". Hay trên địa bàn huyện Đắc Min (Đắc Nông) xuất hiện tà đạo "Canh tân đặc sủng". Để lừa bịp người dân, kẻ cầm đầu tà đạo này tuyên truyền rằng, những ai theo "Canh tân đặc sủng" khi đau ốm, bệnh tật, không cần đến bệnh viện chữa trị, chỉ cần đến gặp những kẻ cầm đầu đạo này xoa “nước thánh” lên đầu làm "phép", cầu nguyện là sẽ khỏi. Từ Đà Lạt (Lâm Đồng), tà đạo mang tên “Thanh Hải vô thượng sư” đã lan truyền xuống nhiều nơi thuộc vùng Tây Nam Bộ. Cầm đầu tà đạo này là một phụ nữ có chồng, có con nhưng vẫn tự xưng là thượng sư, minh sư. Chiêu thức lừa bịp của “Thanh Hải vô thượng sư” là lợi dụng Phật giáo cải biến vài nội dung tư tưởng, quan điểm rồi tuyên truyền… Trên địa bàn các tỉnh thuộc Đồng bằng Bắc Bộ trước đây cũng xuất hiện khá nhiều tà đạo, trong đó có đạo “Long Hoa di lặc”. Những kẻ cầm đầu đạo “Long Hoa di lặc” thường dọa: “Ai theo đạo này thì phúc đẳng hà sa, ai không theo sẽ bị chết dịch”. Đạo “Hoa vàng” thì dùng thuyết “Tứ diệu đế”, sinh tử luân hồi, thuyết nhân quả nghiệp báo. Đạo này làm ảnh hưởng rất lớn đến nếp sống văn hóa, truyền thống đạo lý của dân tộc Việt Nam, gây đau khổ cho không ít gia đình. Trong những tà đạo xuất hiện trên địa bàn Tây Bắc, đáng chú ý là đạo “Vàng Chứ” ở những vùng có đông đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Gần đây nhất là sự xuất hiện và lan truyền của "Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ" tại nhiều địa phương. Hoạt động tôn giáo được pháp luật bảo hộ Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định, tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ; được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo theo quy định của pháp luật. Việc theo đạo và truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan; không được khống chế, ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái pháp luật. Truyền bá tà đạo như đã nói trên là hoạt động vi phạm pháp luật Nhà nước và quy định của các địa phương. Nguyên nhân cơ bản phát sinh, phát triển các tà đạo là sự lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của một số người hòng trục lợi về kinh tế, gây thanh thế cá nhân; các thế lực thù địch lợi dụng việc truyền đạo, phát triển tôn giáo để gây mất ổn định về an ninh chính trị nhằm mục tiêu chống phá CNXH ở nước ta. Sự xuất hiện của tà đạo tác động tiêu cực lên mọi mặt của đời sống xã hội, gây bức xúc trong cộng đồng, gây khó khăn trong công tác quản lý an ninh trật tự an toàn xã hội; làm thay đổi xáo trộn về nếp sống, tập quán truyền thống; xâm phạm về tài sản, tiền bạc, vật chất, thời gian lao động, thậm chí xâm phạm cả nhân phẩm của con người; chia rẽ mối đoàn kết trong dân cư, đoàn kết giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Hầu hết các tà đạo đều mang nặng yếu tố mê tín dị đoan làm mê hoặc con người, truyền bá đức tin nhảm nhí khiến tâm lý xã hội nghiêng về hữu thần, lấn át chủ nghĩa vô thần khoa học. Đặc biệt, tà đạo tạo ra cơ hội để các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động tư tưởng ly khai nhằm chống phá Việt Nam. Để ngăn chặn việc truyền bá tà đạo, có nhiều việc phải làm, nhưng trước tiên cần phải nhận thức rõ rằng những CB, ĐV ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp đã bị xử lý kỷ luật thời gian qua cho thấy sự suy thoái nghiêm trọng về nhận thức, tư tưởng. Hành động ấy không chỉ gây hậu quả đối với bản thân CB, ĐV mà còn tác động tiêu cực đến quần chúng nhân dân. Do đó, để đấu tranh với tà đạo, cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò tiên phong gương mẫu của CB, ĐV. Cùng với phát huy vai trò của mỗi tổ chức đảng trong công tác quản lý và giáo dục, bản thân từng đảng viên phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, kiên quyết nói không với các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Đối với những đảng viên vi phạm, cần phải xử lý nghiêm minh theo các hình thức kỷ luật đảng viên vi phạm về tín ngưỡng, tôn giáo được quy định cụ thể tại Điều 34, Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15-11-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Đi kèm với đó là tăng cường phát huy vai trò, hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội của các cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ quan chức năng ở cơ sở. Thực tế thời gian qua, phần lớn các tà đạo xâm nhập vào địa bàn tổ chức tuyên truyền hoạt động một thời gian khá dài, chính quyền địa phương, cơ quan chức năng mới phát hiện ra và có biện pháp xử lý. Nâng cao hiệu quả quản lý xã hội không đơn giản chỉ là làm tốt công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu, khai báo tạm trú, tạm vắng mà phải đi vào chiều sâu quản lý các sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng, hướng các hoạt động tín ngưỡng theo thuần phong mỹ tục của dân tộc và phù hợp với luật pháp. Đối với những đối tượng chủ mưu, đứng đầu các tà đạo, các cấp chính quyền, cơ quan chức năng phải kịp thời có biện pháp xử lý kiên quyết, triệt để theo pháp luật. CB, ĐV phải thường xuyên quan tâm chăm lo lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đẩy mạnh phong trào xây dựng làng văn hóa, khu dân cư văn hóa. Các tổ chức, đoàn thể chính trị, xã hội cần tăng cường đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động để tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân, giáo dục truyền thống yêu nước, tích cực tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội, tránh xa những cám dỗ không lành mạnh. Các ngành chức năng, các đoàn thể cần phối hợp giúp đỡ các tôn giáo chính tông hoạt động theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là nâng cao nhận thức cho người dân. Để công việc này tiến hành được thiết thực, hiệu quả không thể bỏ qua vai trò trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và từng CB, ĐV. Công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, giải thích, hướng dẫn của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và đoàn thể chính trị-xã hội cho người dân không chỉ tăng cường về cường độ, liều lượng mà phải đổi mới cả nội dung và hình thức. Khi nào quần chúng nhân dân hiểu rõ đâu là chính đạo, đâu là tà đạo thì việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo của họ chắc chắn sẽ theo đúng pháp luật.

Đảng viên nói không với tà đạo

Để ngăn chặn việc truyền bá tà đạo, có nhiều việc phải làm, nhưng trước tiên cần phải nhận thức rõ rằng những CB, ĐV ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp đã bị xử lý kỷ luật thời gian qua cho thấy sự suy thoái nghiêm trọng về nhận thức, tư tưởng. Hành động ấy không chỉ gây hậu quả đối với bản thân CB, ĐV mà còn tác động tiêu cực đến quần chúng nhân dân. Do đó, để đấu tranh với tà đạo, cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò tiên phong gương mẫu của CB, ĐV. Cùng với phát huy vai trò của mỗi tổ chức đảng trong công tác quản lý và giáo dục, bản thân từng đảng viên phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, kiên quyết nói không với các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Đối với những đảng viên vi phạm, cần phải xử lý nghiêm minh theo các hình thức kỷ luật đảng viên vi phạm về tín ngưỡng, tôn giáo được quy định cụ thể tại Điều 34, Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15-11-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Đi kèm với đó là tăng cường phát huy vai trò, hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội của các cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ quan chức năng ở cơ sở. Thực tế thời gian qua, phần lớn các tà đạo xâm nhập vào địa bàn tổ chức tuyên truyền hoạt động một thời gian khá dài, chính quyền địa phương, cơ quan chức năng mới phát hiện ra và có biện pháp xử lý. Nâng cao hiệu quả quản lý xã hội không đơn giản chỉ là làm tốt công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu, khai báo tạm trú, tạm vắng mà phải đi vào chiều sâu quản lý các sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng, hướng các hoạt động tín ngưỡng theo thuần phong mỹ tục của dân tộc và phù hợp với luật pháp. Đối với những đối tượng chủ mưu, đứng đầu các tà đạo, các cấp chính quyền, cơ quan chức năng phải kịp thời có biện pháp xử lý kiên quyết, triệt để theo pháp luật. CB, ĐV phải thường xuyên quan tâm chăm lo lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đẩy mạnh phong trào xây dựng làng văn hóa, khu dân cư văn hóa. Các tổ chức, đoàn thể chính trị, xã hội cần tăng cường đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động để tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân, giáo dục truyền thống yêu nước, tích cực tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội, tránh xa những cám dỗ không lành mạnh. Các ngành chức năng, các đoàn thể cần phối hợp giúp đỡ các tôn giáo chính tông hoạt động theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là nâng cao nhận thức cho người dân. Để công việc này tiến hành được thiết thực, hiệu quả không thể bỏ qua vai trò trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và từng CB, ĐV. Công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, giải thích, hướng dẫn của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và đoàn thể chính trị-xã hội cho người dân không chỉ tăng cường về cường độ, liều lượng mà phải đổi mới cả nội dung và hình thức. Khi nào quần chúng nhân dân hiểu rõ đâu là chính đạo, đâu là tà đạo thì việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo của họ chắc chắn sẽ theo đúng pháp luật.

Đừng để tái diễn những “ông vua con”, “ông quan” sống trên dân .

Không ngẫu nhiên mà người lãnh đạo cao nhất của đất nước đã sử dụng từ “ông vua con”, “ông quan”-những danh xưng chỉ có trong thời phong kiến chuyên quyền ngày xưa để ám chỉ, gắn vào một bộ phận quan chức thời nay. . Bởi những quan chức này mang danh là “đảng viên cộng sản”, “công bộc”, “đầy tớ” của dân, nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, nói hay làm dở, nhất là có tác phong quan cách, lối sống xa hoa và trái ngược với bản chất của những người chiến sĩ cách mạng, gây tổn hại nghiêm trọng đến thanh danh của Đảng, làm xói mòn niềm tin trong nhân dân. Quan chức sống, sinh hoạt xa hoa - một thái độ vô trách nhiệm với dân Khi nhìn nhận, xem xét, đánh giá nhân cách một con người, không thể không nói đến phong cách, lối sống của họ. Vì phong cách, lối sống vừa là những yếu tố quan trọng góp phần làm nên tư cách đạo đức của con người, vừa là một trong những quy chuẩn để soi chiếu, định vị giá trị văn hóa của họ trong mối quan hệ với tập thể, tổ chức, cộng đồng và xã hội. Điều này càng có ý nghĩa đối với cán bộ, đảng viên. Nói đến phong cách, lối sống của cán bộ, đảng viên chân chính là nói đến vẻ đẹp giản dị, tấm lòng trung thực, tinh thần cao thượng, tình cảm thân thiện, tâm hồn thanh khiết, thái độ giao tiếp ứng xử chuẩn mực và ý thức đối nhân xử thế giàu lòng nhân ái, bao dung. Đặc trưng phong cách, lối sống của cán bộ, đảng viên cộng sản tập trung ở đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phong cách, lối sống không phải là cái gì trừu tượng, khó hiểu, mà nó được thể hiện, bộc lộ từ trang phục, đồ dùng sinh hoạt cá nhân đến thái độ, hành vi ăn, mặc, ở, nói năng, đi lại, tiêu dùng, giải trí của cán bộ, đảng viên. Những cán bộ, đảng viên chuẩn mực thì thường cảm thấy xa lạ, thậm chí “dị ứng” với những trang phục lòe loẹt, mang mặc không đúng lúc, đúng chỗ, đúng hoàn cảnh giao tiếp và cũng không sử dụng những đồ dùng sinh hoạt cá nhân xa xỉ, đi những xe sang vượt tiêu chuẩn cho phép, ăn uống lãng phí, tiêu dùng xa hoa, giải trí phù phiếm. Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên lại thích nổi trội trước đám đông không phải bằng tài năng, công lao đóng góp, cống hiến cho tập thể, xã hội, mà bằng những thứ hào nhoáng bên ngoài như trang phục sang chảnh, trang sức lộng lẫy, biển số xe “lộc phát”, tiện nghi sinh hoạt cá nhân đẳng cấp, biệt thự siêu sang, ăn chơi xả láng, thậm chí tiêu tiền như… ném qua cửa sổ. Tất nhiên, với những cán bộ, đảng viên may mắn được hưởng quyền thừa kế khối tài sản lớn của ông cha để lại, hay có người thân ăn nên làm ra do kinh doanh đầu tư sinh lời... thì họ có quyền hưởng thụ sự giàu sang của mình mà không ai thắc mắc. Nhưng thực tế có không ít quan chức và người thân thích ruột thịt của họ sống, sinh hoạt khác xa với số đông người dân, mà số tiền chi tiêu xa xỉ, lãng phí này chủ yếu từ những khoản thu nhập bất minh, tham nhũng. Đây mới là điều đáng phải cảnh tỉnh, phê phán. Thời gian qua, dư luận từng xôn xao khi biết những thông tin về lối sống, sinh hoạt, giải trí xa hoa của một bộ phận cán bộ, đảng viên và người thân của họ. Như một hệ lụy tất yếu, những vật dụng trưng diện “đình đám” trước bàn dân thiên hạ của nhiều quan chức lại trở thành những “vật chứng” khiến cho chủ nhân của nó rơi vào tình cảnh “điêu đứng”, thậm chí có người còn lâm vào cảnh lao lý. “Trăm năm bia đá cũng mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Rồi đây, những quan chức “nhúng chàm” phải “vào nhà đá bóc lịch” cũng có ngày được trở lại vị thế một công dân tự do; hay có quan chức sai phạm vài ba năm sau sẽ được “xóa án” kỷ luật Đảng, nhưng dư luận sẽ khó quên những vật dụng xa hoa của chủ nhân, ví như chiếc xe sang Lexus của cá nhân một cựu phó chủ tịch UBND tỉnh lại được cấp biển số xanh (xe công); những biệt thự hoành tráng của một số quan chức và con em một số quan chức cao cấp mọc lên sừng sững ở những vị trí "đất vàng" hay trên những thửa ruộng đất nông nghiệp, lâm nghiệp bị sử dụng sai mục đích… Cán bộ, đảng viên cần có liêm sỉ để nhân dân được trông mong, nhờ cậy Nếu phong cách, lối sống của một người dân, dù hay-dở, tích cực-tiêu cực, văn minh-lạc hậu, cao thượng-thấp hèn… thường có ảnh hưởng trong phạm vi nhỏ thì phong cách, lối sống của cán bộ, đảng viên dù tốt hay xấu đều có sức tác động lớn hơn theo hai chiều hướng thuận hay nghịch. “Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa”. Đảng viên giữ cương vị, chức vụ càng cao, sức ảnh hưởng đối với xã hội càng lớn, thì phong cách, lối sống của họ càng trở thành tiêu điểm để mọi ánh mắt người dân đổ dồn vào. Người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta rất trăn trở và có lúc bày tỏ sự đau lòng về sự xuống cấp “không phanh” về phong cách, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý. Cách đây 3 năm, ngày 27-5-2016, khi phát biểu tại Hội nghị triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác dân vận, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lúc đó đã nghiêm khắc cảnh tỉnh: “Một số người có chức có quyền giữ tác phong quan cách, gia trưởng, phụ trách địa phương nào, đơn vị nào, thì như một “ông vua con” ở đấy!”. Mới đây, trả lời phỏng vấn các cơ quan báo chí nhân dịp Xuân Kỷ Hợi 2019, khi đề cập đến trách nhiệm nêu gương về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, thêm một lần Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng gióng lên hồi chuông cảnh báo: “Những “ông quan” nói một đằng, làm một nẻo, kêu gọi người khác tiết kiệm trong khi bản thân xa hoa, lãng phí, chi dùng bằng tài sản, công quỹ Nhà nước, bằng tiền thuế của dân, cờ bạc, tiệc tùng vô độ… thì chẳng những không làm gương được, mà còn làm mất uy tín của Đảng, mất niềm tin trong nhân dân”. Không ngẫu nhiên mà người lãnh đạo cao nhất của đất nước đã sử dụng từ “ông vua con”, “ông quan”-những danh xưng chỉ có trong thời phong kiến chuyên quyền ngày xưa để ám chỉ, gắn vào một bộ phận quan chức thời nay. Bởi những quan chức này mang danh là “đảng viên cộng sản”, “công bộc”, “đầy tớ” của dân, nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, nói hay làm dở, nhất là có tác phong quan cách, lối sống xa hoa và trái ngược với bản chất của những người chiến sĩ cách mạng, gây tổn hại nghiêm trọng đến thanh danh của Đảng, làm xói mòn niềm tin trong nhân dân. Sớm nhận ra lối sống xa hoa, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, 3 năm trở lại đây, Đảng ta đã ban hành nhiều quy định nhằm chấn chỉnh tác phong, lối sống không phù hợp cũng như yêu cầu cán bộ, đảng viên phải tự giác thực hành nêu gương sống, sinh hoạt giản dị, tiết kiệm, liêm chính. Những nội dung đó tập trung ở Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; và gần đây là Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”… Phong cách, lối sống của cán bộ, đảng viên là một phần làm nên diện mạo, tư cách, uy tín, danh dự của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu ai đó chót có phong cách lệch lạc, lối sống sai trái, tiêu cực, thì nên sớm tự uốn nắn, chấn chỉnh để tự giác đưa mình vào quỹ đạo nhằm tránh những hệ lụy không đáng có xảy ra đối với mình và gây phiền hà, liên lụy đến tổ chức, cơ quan, đơn vị. Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang từng tâm sự, khi cán bộ, đảng viên đã mang trọng trách phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thì mỗi người không chỉ cần có tài, có khát vọng cống hiến, mà phải có liêm sỉ để đất nước, đồng bào được trông mong, nhờ cậy. Nếu ai không lấy lại được niềm tin trước sự rộng lượng của nhân dân bằng cách thể hiện tính tiên phong trong nhận thức và hành động, nhất là tiên phong nêu gương về đạo đức, lối sống thì hãy tự nguyện rời bỏ con đường chính trị, nếu không, nhất định Đảng buộc họ phải ra đi.

Tác động của lợi ích nhóm tiêu cực đến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên .

Lợi ích nhóm tiêu cực hay thường gọi là “lợi ích nhóm” tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng tính chất nguy hại nhất của nó là làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Nhận diện rõ tính chất, mức độ nguy hại của “lợi ích nhóm” để sớm có chủ trương, giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. .“Lợi ích nhóm” là một thuật ngữ đang được nhắc đến nhiều trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI cũng như khóa XII và hiện nay được dùng khá phổ biến. Có nhiều quan niệm khác nhau về “Lợi ích nhóm”, theo Ủy ban Kinh tế Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho rằng: “Lợi ích nhóm là một tập thể gồm nhiều cá nhân, tổ chức cùng chia sẻ một mối quan tâm (lợi ích, mục đích) chung và cùng nhau thúc đẩy các mục tiêu đó bằng cách tác động vào các chính sách của chính phủ, thông qua vận động hành lang để tạo ra hay thay đổi những luật lệ và cách thực thi có lợi cho phe nhóm mình”(1). Lợi ích nhóm tiêu cực tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng tính chất nguy hại nhất của nó là làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, biểu hiện: Thứ nhất, lợi ích nhóm tiêu cực làm đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Thực tế cho thấy vì lợi ích nhóm tiêu cực, một tập thể cán bộ, đảng viên trong một tổ chức đảng có thể đánh mất đi tính chiến đấu, đồng lõa làm trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên. Chưa kể đến sự “tấn công” của lợi ích nhóm tiêu cực vào đội ngũ cán bộ, đảng viên bằng lợi ích cục bộ, bản vị, tham nhũng, hối lộ… làm thoái hóa, biến chất, làm mất vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên. Thứ hai, lợi ích nhóm tiêu cực thúc đẩy sự suy thoái về tư tưởng chính trị, sống thiếu lý tưởng, hoài bão, thờ ơ trước đời sống chính trị và vô cảm trước nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sự suy thoái này làm giảm sút sức chiến đấu của đảng viên, dẫn đến chuyển hóa về tư tưởng như: đòi xét lại, xuyên tạc và tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhóm lợi ích tiêu cực hoạt động càng mạnh, sự chia bè, kéo cánh, cục bộ, bản vị… sẽ làm sự suy thoái tư tưởng càng mạnh. Đây cũng chính là “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Tính nguy hại của lợi ích nhóm tiêu cực này luôn đi ngược lại với lợi ích và nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân; những sai phạm về quản lý đất đai ở Thủ Thiêm của một số cán bộ, đảng viên vừa qua là bài học đắt giá và là lời cảnh tỉnh cho mọi cán bộ, đảng viên. Thứ ba, lợi ích nhóm tiêu cực làm suy thoái đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Lợi ích nhóm hoạt động ngầm, tác động nhiều chiều cũng làm cho lối sống ngay thẳng, trung thực bị nhường chỗ cho lối sống thực dụng, giả dối, gian trá trong hoạt động của cán bộ, đảng viên. Lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, sử dụng đồng tiền lấn át tình cảm đồng chí. Các hiện tượng tiêu cực trước đây hoàn toàn xa lạ đối với cán bộ, đảng viên như bồi dưỡng, lại quả, phong bì, tiêu cực phí thì nay đã trở thành quen thuộc trong đời sống xã hội. Có không ít đảng viên đã trở thành trung gian thực hiện các phi vụ làm ăn mờ ám và béo bở, trở thành cầu nối cho các tệ nạn chạy chức, chạy quyền. Tệ hại nhất của sự suy thoái là tham nhũng về quyền lực, tham nhũng chính trị; nó bộc lộ sự thoái hóa, biến chất của người cán bộ, đảng viên, thiếu trong sạch trong bộ máy. Nếu như trước kia, sự suy thoái, tham ô, tham nhũng của từng cá nhân đảng viên là sự hư hỏng của một con người, diễn ra lẻ tẻ thì hiện nay, khi cá nhân đảng viên sa vào lợi ích nhóm tiêu cực sẽ kéo theo sự hư hỏng của một nhóm người, tập thể người, sức tàn phá của nó sẽ rất lớn. Trước đây, trong thời bao cấp, các vụ án tham nhũng chỉ có cá nhân phạm tội hay một số ít người phạm tội thì ngày nay, cả một tập thể người, nhóm người phạm tội, nhóm lợi ích tiêu cực đã chuyển thành nhóm phạm pháp. Ngoài ra, lợi ích nhóm tiêu cực cũng hình thành mâu thuẫn trong xã hội, sự tích cực hoạt động của các nhóm sẽ làm cho đảng viên tham gia nhóm lợi ích tiêu cực này hoặc nhóm khác, dần dần trở thành bè cánh và phe phái trong Đảng, tạo thành mâu thuẫn, mất đoàn kết. Từ đó, lợi ích nhóm càng có cơ sở để hoạt động, nó sẽ phá hoại Đảng ta một cách ghê gớm và sâu sắc nhất. PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN KỊP THỜI Tác động tiêu cực của lợi ích nhóm đến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên thời gian qua với những dạng khác nhau ở các cấp độ, mức độ khác nhau trong các cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội, tuy chưa nhiều, chưa phổ biến nhưng rất nguy hại, cần sớm có chủ trương, giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. Theo chúng tôi, để ngăn chặn tác động của nó cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp chính sau đây: Một là, nâng cao nhận thức cho các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu về tác động tiêu cực của lợi ích nhóm đến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Trên cơ sở đó nâng cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo việc nghiên cứu, ban hành các chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết, quy định, quyết định cũng như tổ chức thực hiện đúng công tác tổ chức, cán bộ; khắc phục triệt để lợi ích nhóm trong công tác tổ chức, cán bộ thời gian qua. Nâng cao nhận thức, phẩm chất đạo đức, trách nhiệm cho cán bộ tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế của Nhà nước về tác hại của lợi ích nhóm, để từ đó thực hiện đúng, tốt chức năng tham mưu trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, nghị quyết, chế độ của Đảng, Nhà nước về công tác tổ chức, cán bộ. Hai là, phải dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. Trong công tác cán bộ nhất là trong các khâu tuyển dụng, quy hoạch, điều động, luân chuyển, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật và bổ nhiệm cán bộ, vì đó là những khâu hết sức quan trọng trong quá trình phát hiện, bồi dưỡng, đề bạt, cất nhắc, quản lý và giám sát cán bộ. Cần quy định tiêu chuẩn chức danh chức vụ lãnh đạo, quản lý. Đây là việc làm rất cần thiết trong công tác cán bộ, bởi nó là cơ sở để tạo ra cơ chế minh bạch. Đồng thời, phải lượng hóa rất cụ thể tiêu chuẩn, tránh chung chung, nhất là tình trạng hiểu và áp dụng thế nào cũng được, thế nào cũng đúng, bị lợi dụng để phục vụ cho những quan hệ, ý đồ cá nhân không lành mạnh mà mục đích là vì “lợi ích nhóm”, “chạy chức, chạy quyền” để trục lợi. Thực hiện nghiêm túc quy chuẩn cán bộ và quy trình bổ nhiệm chặt chẽ để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống mẫu mực, có trình độ, năng lực đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Khi xây dựng được bộ quy chuẩn đánh giá và sử dụng cán bộ một cách khoa học, chặt chẽ, có giá trị như một bộ luật mà các tổ chức, cơ quan, đơn vị đều phải làm theo sẽ hạn chế được nhiều trường hợp bổ nhiệm tùy tiện những người trong gia đình, dòng họ, thân tộc, quen biết vào vị trí lãnh đạo hoặc các vị trí công tác quan trọng. Ba là, gắn cuộc đấu tranh chống lợi ích nhóm tiêu cực với việc nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Tăng cường sức chiến đấu và hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận theo Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), làm cho công tác tư tưởng luôn chủ động, kịp thời, sắc bén, có tính thuyết phục cao, góp phần củng cố sự đoàn kết thống nhất về chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng, toàn dân. Đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp gắn với thực hiện tốt việc học tập, làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Kiên quyết, kịp thời đấu tranh chống những biểu hiện cơ hội, những quan điểm sai trái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Trong sinh hoạt đảng, cần tập trung đấu tranh chống tư tưởng cơ hội, thực dụng cùng những biểu hiện suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Thực chất của lợi ích nhóm tiêu cực là chủ nghĩa cơ hội, điều mà V.I.Lênin từng nhắc nhở: “Điều rất cần thiết hiện nay là, về mặt tổ chức, phải hoàn toàn tách hẳn những phần tử cơ hội chủ nghĩa ấy ra khỏi các đảng công nhân”(2) dù cho bản thân đảng có “phải tạm thời chịu đau đớn kịch liệt đi nữa”(3). Thường xuyên phê bình và tự phê bình; có thái độ thành khẩn, trung thực, tôn trọng sự thật, lẽ phải, không giấu giếm, bao che, thổi phồng hoặc bóp méo sự thật. Tăng cường công tác bảo vệ Đảng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ góp phần phát hiện, ngăn chặn kịp thời và đưa những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng. Xây dựng và hoàn chỉnh các chế độ quản lý cán bộ, đảng viên, trước hết là đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Sự lỏng lẻo, dễ dãi trong quản lý mối quan hệ xã hội, nhất là mối quan hệ của cán bộ lãnh đạo, quản lý với giới kinh doanh hiện nay là mảnh đất màu mỡ cho sự lôi kéo, làm quen, cấu kết giữa người có chức, có quyền với giới kinh doanh, hình thành những nhóm lợi ích bất chính, ảnh hưởng xấu đến sự lãnh đạo của Đảng theo đúng quyết tâm chính trị của Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XII đó là: “Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”(4).

NHỮNG TÍNH CHẤT NGUY HẠI CỦA “LỢI ÍCH NHÓM”

Lợi ích nhóm tiêu cực tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng tính chất nguy hại nhất của nó là làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, biểu hiện: Thứ nhất, lợi ích nhóm tiêu cực làm đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Thực tế cho thấy vì lợi ích nhóm tiêu cực, một tập thể cán bộ, đảng viên trong một tổ chức đảng có thể đánh mất đi tính chiến đấu, đồng lõa làm trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên. Chưa kể đến sự “tấn công” của lợi ích nhóm tiêu cực vào đội ngũ cán bộ, đảng viên bằng lợi ích cục bộ, bản vị, tham nhũng, hối lộ… làm thoái hóa, biến chất, làm mất vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên. Thứ hai, lợi ích nhóm tiêu cực thúc đẩy sự suy thoái về tư tưởng chính trị, sống thiếu lý tưởng, hoài bão, thờ ơ trước đời sống chính trị và vô cảm trước nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sự suy thoái này làm giảm sút sức chiến đấu của đảng viên, dẫn đến chuyển hóa về tư tưởng như: đòi xét lại, xuyên tạc và tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhóm lợi ích tiêu cực hoạt động càng mạnh, sự chia bè, kéo cánh, cục bộ, bản vị… sẽ làm sự suy thoái tư tưởng càng mạnh. Đây cũng chính là “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Tính nguy hại của lợi ích nhóm tiêu cực này luôn đi ngược lại với lợi ích và nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân; những sai phạm về quản lý đất đai ở Thủ Thiêm của một số cán bộ, đảng viên vừa qua là bài học đắt giá và là lời cảnh tỉnh cho mọi cán bộ, đảng viên. Thứ ba, lợi ích nhóm tiêu cực làm suy thoái đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Lợi ích nhóm hoạt động ngầm, tác động nhiều chiều cũng làm cho lối sống ngay thẳng, trung thực bị nhường chỗ cho lối sống thực dụng, giả dối, gian trá trong hoạt động của cán bộ, đảng viên. Lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, sử dụng đồng tiền lấn át tình cảm đồng chí. Các hiện tượng tiêu cực trước đây hoàn toàn xa lạ đối với cán bộ, đảng viên như bồi dưỡng, lại quả, phong bì, tiêu cực phí thì nay đã trở thành quen thuộc trong đời sống xã hội. Có không ít đảng viên đã trở thành trung gian thực hiện các phi vụ làm ăn mờ ám và béo bở, trở thành cầu nối cho các tệ nạn chạy chức, chạy quyền. Tệ hại nhất của sự suy thoái là tham nhũng về quyền lực, tham nhũng chính trị; nó bộc lộ sự thoái hóa, biến chất của người cán bộ, đảng viên, thiếu trong sạch trong bộ máy. Nếu như trước kia, sự suy thoái, tham ô, tham nhũng của từng cá nhân đảng viên là sự hư hỏng của một con người, diễn ra lẻ tẻ thì hiện nay, khi cá nhân đảng viên sa vào lợi ích nhóm tiêu cực sẽ kéo theo sự hư hỏng của một nhóm người, tập thể người, sức tàn phá của nó sẽ rất lớn. Trước đây, trong thời bao cấp, các vụ án tham nhũng chỉ có cá nhân phạm tội hay một số ít người phạm tội thì ngày nay, cả một tập thể người, nhóm người phạm tội, nhóm lợi ích tiêu cực đã chuyển thành nhóm phạm pháp. Ngoài ra, lợi ích nhóm tiêu cực cũng hình thành mâu thuẫn trong xã hội, sự tích cực hoạt động của các nhóm sẽ làm cho đảng viên tham gia nhóm lợi ích tiêu cực này hoặc nhóm khác, dần dần trở thành bè cánh và phe phái trong Đảng, tạo thành mâu thuẫn, mất đoàn kết. Từ đó, lợi ích nhóm càng có cơ sở để hoạt động, nó sẽ phá hoại Đảng ta một cách ghê gớm và sâu sắc nhất.

Rèn luyện bản lĩnh chính trị để phòng, chống "tự diễn biến, tự chuyển hóa" .

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay thực chất là quá trình biến đổi từ bên trong theo chiều hướng từ đúng sang sai, từ tốt sang xấu, từ tích cực sang tiêu cực, từ tiến bộ sang phản tiến bộ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đến mức cao hơn là thay đổi lập trường, quan điểm chính trị, đạo đức, lối sống, đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân; cổ súy, ủng hộ, tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động, thậm chí chuyển sang hàng ngũ kẻ thù, chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân. . “TỰ DIỄN BIẾN” “TỰ CHUYỂN HÓA” LÀ SỰ SUY THOÁI “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là hệ quả của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống theo chiều hướng ngày càng tăng, tính chất ngày càng nghiêm trọng. Điều đó khiến cho vai trò tiên phong, gương mẫu của họ ngày càng giảm, không đủ “sức miễn dịch”, thiếu “sức đề kháng” trước những tác động tiêu cực trong xã hội, đồng lõa với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với cách mạng Việt Nam. Đó còn là biểu hiện rõ nhất của bản lĩnh chính trị không vững vàng, từ chỗ ban đầu là mơ hồ ảo tưởng, hoang mang, dao động về tư tưởng chính trị, phai nhạt mục tiêu lý tưởng cách mạng dẫn đến hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội… Cụ thể hơn, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn biểu hiện ở những việc sẵn sàng tiếp nhận những thông tin trái chiều, những luận điệu ly khai, chống đối, lý luận phản động; phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”; nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ, phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; móc nối, câu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật… Những biểu hiện trên cũng đã được V.I.Lênin chỉ ra từ những năm đầu của thế kỷ XX, dưới các biểu hiện khác nhau của những người đảng viên trong các Đảng dân chủ - xã hội Tây Âu như: tư tưởng cơ hội về chính trị, tư tưởng và tổ chức, khoác áo chủ nghĩa Mác nhưng chống chủ nghĩa Mác, đòi xét lại chủ nghĩa Mác, phủ nhận chủ nghĩa Mác… Đó chính là bọn cơ hội chủ nghĩa, tay sai của giai cấp tư sản. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ những biểu hiện: “Thấp kém về tinh thần và đạo đức cách mạng… mang nặng chủ nghĩa cá nhân… không có dũng khí cách mạng, ít lo nghĩ về trách nhiệm của mình, không quyết tâm vươn lên phía trước… hững hờ như những người không có lý tưởng,… không có thái độ người làm chủ tập thể, dám nghĩ dám làm”(1); “ít gắn bó với tổ chức, không tin ở lực lượng và trí tuệ của tập thể. Họ sống và làm việc một cách riêng rẽ, không đoàn kết và hợp tác với người khác… tự cao tự đại, vênh vang kiêu ngạo, tự cho mình tài giỏi hơn người… coi thường những quyết định của tổ chức,… coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài… chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình… phô trương, lãng phí… sống xa hoa hưởng lạc, từ đó mà đi đến tham ô, trụy lạc, thậm chí sa vào tội lỗi”(2), “biến thành người có tội với cách mạng” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái. Để khắc phục các biểu hiện, hiện tượng đó, Người khẳng định phải: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và mỗi “người đảng viên chẳng những phải ra sức rèn luyện và tu dưỡng, trong lúc gian khổ khó khăn, trong lúc thất bại, mà còn và càng phải rèn luyện và tu dưỡng trong lúc thuận lợi, trong lúc thành công”(3). BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ LÀ SỰ THỂ HIỆN “TÍNH ĐẢNG” Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, bản lĩnh chính trị là phẩm chất tuyệt đối cần thiết; là sự thể hiện “tính đảng”; là trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm đều phải: “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”(4); “quyết tâm suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân…, đó là đạo đức cách mạng, đó là tính Đảng, tính giai cấp”(5). Bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên thể hiện ở sự kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng - độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định đường lối đổi mới, các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ... Bản lĩnh chính trị của Đảng còn được thể hiện trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên; thể hiện ở sự vững vàng, kiên định, không dao động trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; quyết tâm phấn đấu, vượt mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ, vì lợi ích của Đảng và của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống phá chế độ của các thế lực thù địch, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên không phải tự nhiên mà có. Đó là sản phẩm của quá trình giáo dục, bồi dưỡng, học tập và rèn luyện thường xuyên, kiên trì, bền bỉ trong thực tiễn phong trào cách mạng của mỗi người. Khi mỗi người, trong mọi thời điểm thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, luôn thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình, có tinh thần vững vàng, niềm tin chắc chắn và sự kiên định thì “phú quý không dụ dỗ được ta, nghèo khổ không lay động được ta, oai lực không dọa nạt được ta. Mà khó khăn gì chúng ta cũng vượt qua được, việc gì chúng ta cũng làm được”(6). PHẢI RÈN LUYỆN BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là do sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, v.v.. Trong đó, có “không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(7). V.I.Lênin từng chỉ rõ, các thế lực thù địch không ai có thể đánh đổ được chúng ta, trừ chính những sai lầm của chúng ta và “không một ai trên thế giới này có thể làm mất được uy tín của những người Mácxít cách mạng nếu họ không tự làm mất uy tín của họ”(8). Vì vậy, phải rèn luyện bản lĩnh chính trị để phòng và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Theo đó, các cấp ủy cần tập trung thực hiện tốt các biện pháp căn cốt sau: Một là, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông” dẫn tới khuyết điểm và trước hết, nguy hiểm nhất là “khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan” mà “nếu không chữa ngay, để nó lây ra, thì có hại vô cùng”(9). Vì thế, học tập lý luận chính trị, đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị là công việc quan trọng, cần thiết, cấp bách, thường xuyên và lâu dài của mỗi tổ chức, cán bộ, đảng viên. Trau dồi, bồi dưỡng về lý luận chính trị; khắc phục những hạn chế trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng; giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng... sẽ giúp cán bộ, đảng viên hiểu sâu sắc bản chất cách mạng, khoa học; những nguyên lý, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cộng sản, đạo đức cách mạng; thấu suốt đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Từ đó có nhận thức chính trị, tình cảm chính trị đúng đắn, có thế giới quan, phương pháp luận khoa học. Trong học tập, phải gắn lý luận với thực tiễn, phục vụ nhu cầu công tác, phát huy tính độc lập, tích cực, chủ động, sáng tạo, “học đi đôi với hành”. Đa dạng hóa các phương thức giáo dục lý luận chính trị theo hướng thiết thực, hiệu quả nhằm nâng cao khả năng “tự miễn dịch, tự đề kháng” trước những tác động tiêu cực, trái chiều. Hai là, thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng và chống chủ nghĩa cá nhân. Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, phát huy vai trò nêu gương, thống nhất giữa nói và làm của mỗi cán bộ, đảng viên nhằm tăng cường “sức đề kháng” chống lại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị phải luôn gắn với “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” theo phương châm mọi tổ chức, cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục và rèn luyện hằng ngày. Trong đó, gắn thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng và Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”… Thực hiện tốt chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đối với việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết và đưa vào tiêu chí thi đua, đánh giá xếp loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền; kịp thời nêu gương người tốt, việc tốt, nhân rộng các tập thể, cá nhân tiêu biểu đi liền với nghiêm túc phê phán những biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Tạo không khí thi đua thiết thực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động ở từng cơ quan, địa phương, đơn vị. Ba là, đổi mới công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, 6, 7 khóa XII. Bố trí, sử dụng cán bộ đúng chỗ, đúng lúc, đúng năng lực, sở trường, đúng việc, đúng người. Lựa chọn và tìm được người tài đức xứng đáng với sự tin tưởng của tập thể và niềm tin nhân dân. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá, luân chuyển, bố trí cán bộ. Thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, với đổi mới cơ cấu, chức năng của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể trong hệ thống chính trị. Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại theo hướng thiếu cái gì đào tạo, bồi dưỡng cái ấy nhằm nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng của cán bộ, đảng viên để làm việc tốt hơn, hiệu quả hơn. Tăng cường luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý; tăng cường cán bộ cho các lĩnh vực và địa bàn cần thiết. Khắc phục tình trạng cục bộ, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ và sự khép kín trong từng vùng, ngành, từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Tạo điều kiện để cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch được rèn luyện trong thực tiễn. Hoàn thiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài, thu hút nhân tài vào những lĩnh vực quan trọng, không phân biệt những người trong Đảng hay ngoài Đảng, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao của tất cả các cấp, ngành trong hệ thống chính trị. Bốn là, nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng - nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở - để mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cán bộ, đảng viên xứng đáng là “người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Cán bộ, đảng viên phải tiên phong gương mẫu, vững vàng trước mọi biến động của tình hình chính trị - xã hội. Nâng cao chất lượng sinh hoạt của chi bộ, chăm lo xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh; gắn nâng cao chất lượng ra nghị quyết với tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát. Chủ động khắc phục những biểu hiện tiêu cực, sai trái, hạn chế, khuyết điểm. Kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, hành động thù địch để bảo vệ nền tảng, đường lối, quan điểm của Đảng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; thực hiện Điều lệ Đảng và quy định về những điều đảng viên không được làm; tự soi, tự sửa các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Có cơ chế để nhân dân tham gia vào công tác xây dựng Đảng; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí truyền thông... trong kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên. Gắn kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật Đảng; kiên quyết, nghiêm minh xử lý đối với những cán bộ, đảng viên vi phạm và những tổ chức đảng yếu kém. Tăng cường kiểm tra trách nhiệm chính trị, vai trò nêu gương của người đứng đầu trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm. Năm là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Chủ động triển khai các biện pháp, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị chức năng thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa, ngăn chặn, vô hiệu hóa những hoạt động phá hoại chính trị nội bộ. Cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấp luôn nắm vững và thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đồng thời, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo về công tác này. Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên; gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với xây dựng cơ quan, đơn vị, địa bàn cơ sở an toàn, vững chắc về mọi mặt...

Tăng cường công tác phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay .

Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin, coi Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là người cộng sản. Chúng cho rằng, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam là sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước. Chúng triệt để lợi dụng, khoét sâu những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, lợi dụng các vụ việc phức tạp xảy ra ở trong nước để xuyên tạc rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, cho rằng Việt Nam nên thay đổi Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản để “phù hợp với xu thế phát triển”. Chúng ra sức đẩy mạnh tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, cổ súy cho chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, cho rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là xã hội áp bức, bóc lột. Thông qua đó, nhằm làm một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về thành tựu đổi mới của đất nước, về mục tiêu, con đường đi lên xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam; kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN, lôi kéo, kích động nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất ổn định chính trị, xã hội ở nước ta. Để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch với nước ta, các thế lực thù địch đã xuất bản, tán phát các loại ấn phẩm, tài liệu như: Các báo cáo, nghị quyết, dự luật của nghị viện, quốc hội các nước (như Mỹ, Australia, Anh…); các văn bản pháp lý của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO) như: Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW)…; các ấn phẩm xuất bản, như: Sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước; các trang web, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng Việt, như: BBC, VOA, RFA, RFI… Trong đó, các thế lực thù địch đã lập hàng nghìn trang web, blog, hàng trăm tạp chí, báo, nhà xuất bản, hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, tổ chức hàng chục cuộc hội thảo, tọa đàm hàng năm hoặc qua tiếp xúc, làm việc trực tiếp với các cá nhân, cơ quan trong nước… để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng, phủ nhận thành tựu đã đạt được trong công cuộc đổi mới, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm kích động, lôi kéo nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất ANCT-TTATXH; qua đó nhằm hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Chúng triệt để lợi dụng thời điểm trong nước diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử Quốc hội… hoặc xảy ra các vụ việc phức tạp để đẩy mạnh các chiến dịch phá hoại tư tưởng nhằm tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc, thù địch đối với nước ta. Điển hình như, vào các thời điểm đoàn Việt Nam bảo vệ Báo cáo quốc gia theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, các đối tượng phản động lưu vong tập trung biểu tình, rải tờ rơi xuyên tạc chính sách, thành tựu nhân quyền ở trong nước, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Hoặc khi chính quyền tổ chức cưỡng chế giải tỏa chùa Liên Trì (TP Hồ Chí Minh), các đối tượng đã tán phát tài liệu vu cáo Nhà nước ta đàn áp chức sắc, tín đồ, vi phạm quyền tự do tôn giáo của người dân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh trên lĩnh vực này, như: Nghị quyết số 16/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa X về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu cầu mới; Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 17-4-2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, khóa X về tăng cường công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; nghị quyết Đại hội Đảng qua các thời

Đập tan âm mưu lợi dụng chính sách đối với người có công của các thế lực thù địch .

Trong thời gian qua, đã xuất hiện một số cá nhân lợi dụng chủ trương của Đảng, Nhà nước về chính sách đối với người có công, mạo danh, lợi dụng tên tuổi của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội để thành lập “Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” hoạt động trái phép và tìm cách phát triển tổ chức, tuyên truyền, lôi kéo người tham gia, trong đó có cả cựu sỹ quan, tướng lĩnh quân đội, cán bộ cấp cao đã nghỉ hưu, trí thức, hội viên các hội quần chúng… Cựu Thượng sĩ Nguyễn Ngọc Luận thường xuyên tự xưng là giáo sư, tiến sĩ đã bị cơ quan công an triệu tập làm rõ động cơ lập "Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam". (Ảnh do Cục Bảo vệ An ninh Quân đội cung cấp) Với tính chất hoạt động phức tạp, tinh vi của “Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” (Ban liên lạc) do ông Nguyễn Ngọc Luận, sinh năm 1942, là Thượng sỹ quân đội, nguyên giáo viên quân sự Trường Cao cấp nghiệp vụ ngân hàng đã nghỉ hưu nhưng tự xưng là Giáo sư, Tiến sỹ, Đại tá quân đội, đã đứng ra thành lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội đầu năm 2018. Ban liên lạc có ý đồ mở rộng phạm vi hoạt động ra các địa phương trên cả nước nên đã ra văn bản số 01/BLL gửi tới các Tỉnh ủy, Thành ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với nội dung giới thiệu về tôn chỉ, mục đích hoạt động về đề nghị tạo điều kiện quan tâm, giúp đỡ để triển khai thành lập các “Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Kèm theo văn bản này là một số tài liệu, trong đó đáng chú ý có nội dung: “Năm 2018, Thường trực Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam tiếp tục hướng dẫn để người có công trên toàn quốc đăng ký hội viên sáng lập Hội người có công Việt Nam, ra mắt Ban liên lạc người có công trên toàn quốc…”. Hoạt động của một số kẻ cầm đầu “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” có nhiều dấu hiệu lừa đảo, tính chất phức tạp nhằm trục lợi, lợi dụng tên tuổi của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội để hoạt động. Ngày 6/1/2018, “Ban liên lạc” ra văn bản có nội dung “Tôn vinh đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng là trưởng ban liên lạc danh dự” và công bố danh sách 89 người tham gia, trong đó có Thượng tướng Nguyễn Thế Trị, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Giám đốc Học viện Quốc Phòng; Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu IV; Thiếu tướng Nguyễn Thành Định, nguyên Phó Tư lệnh, Bộ Tư lệnh Công binh; ông Dương Minh Đỗ, nguyên Phó Cục trưởng Cục người có công, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, thực tế, các đồng chí trên đều không biết và không tham gia “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam”. Qua đấu tranh, cơ quan công an đã làm rõ cơ cấu tổ chức, tính chất hoạt động của “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” là tổ chức tự xưng, chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Thành Luân đã thừa nhận hành vi sai trái của mình và của “Ban liên lạc” để tuyên bố giải tán, chấm dứt hoạt động của “Ban liên lạc” ở các cấp, xóa bỏ các chức danh tự phong, giao nộp con dấu của “Ban liên lạc” cho cơ quan công an. Đến nay, tổ chức của “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” trên địa bàn Thành phố Hà Nội đã bị phá rã, không thực hiện được ý đồ mở rộng phạm vi hoạt động, thành lập các tổ chức tại các địa phương khác trên cả nước./.

Cảnh giác với nguy cơ dịch bệnh COVID-19 xâm nhập qua biên giới .

Sau khi ghi nhận 2 trường hợp nhập cảnh trái phép từ Campuchia về Việt Nam qua Cửa khẩu quốc tế Long Bình dương tính với SARS-CoV-2 (BN2746 và 2747), ngày 15/4, Ban Chỉ đạo Phòng, chống dịch COVID-19 tỉnh An Giang đã bàn giải pháp phòng, chống dịch COVID-19 trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp phía bên kia biên giới. Báo cáo nhanh của Trung tâm Y tế huyện An Phú, tỉnh An Giang cho biết kết quả điều tra có tổng cộng 11 trường hợp tiếp xúc gần với 2 bệnh nhân nêu trên. Tất cả các trường hợp này khi tiếp xúc gần đều mang khẩu trang, ngồi giữ khoảng cách trên 2m và cán bộ y tế có mặc đồ bảo hộ. Trung tâm Y tế huyện An Phú cũng ghi nhận 141 trường hợp F2. Hiện các trường hợp F1 đã được Đội đáp ứng nhanh của huyện An Phú, tỉnh An Giang đã phối hợp Trung tâm y tế xã Khánh An và Thị trấn Long Bình cách ly ngay và tiến hành lấy mẫu xét nghiệm COVID-19 theo quy định. Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh An Giang Phạm Thanh Tâm đề nghị tiến hành phun khử khuẩn xe chuyên chở đối tượng, Đồn biên phòng Cửa khẩu Long Bình, trạm kiểm dịch y tế và phòng ở của trường hợp nghi nhiễm COVID-19. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình đánh giá cao các lực lượng chức năng huyện An Phú đã kịp thời cách ly, khoanh vùng, truy vết kịp thời các trường hợp tiếp xúc gần 2 ca mắc COVID-19; yêu cầu ngành y tế tỉnh đẩy nhanh xây dựng nhanh Bệnh viện dã chiến tại huyện Châu Thành để phục vụ tốt công tác cách ly, điều trị; tránh bị lây nhiễm chéo trong các cơ sở y tế. Sở Y tế phải có sự hỗ trợ kịp thời cho Trung tâm Y tế huyện An Phú về trang thiết bị, kinh nghiệm điều trị bệnh COVID-19... Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang cũng yêu cầu lực lượng biên phòng chủ trì cùng lực lượng quân sự và công an xây dựng lực lượng dự phòng, sẵn sàng thay thế cho lực lượng tuyến đầu để đảm bảo tốt cho công tác phòng, chống dịch COVID-19, trong đó lực lượng biên phòng là nồng cốt và các xã, phường các huyện biên giới cần chú trọng xây dựng lực lượng tình nguyện để cùng phòng, chống dịch… Chiều 15/4, Công an huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước đã bàn giao 1 đối tượng buôn lậu, tiếp xúc với những người nhập cảnh trái phép từ Campuchia về Việt Nam đi cách ly y tế phòng, chống dịch COVID-19 theo quy định. Trước đó, Công an huyện Hớn Quản phối hợp Phòng Cảnh sát giao thông, Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an tỉnh Bình Phước tiến hành tuần tra, kiểm soát chống buôn lậu trên tuyến Quốc lộ 13. Đến địa phận xã Thanh Bình, huyện Hớn Quản, lực lượng chức năng phát hiện ôtô biển kiểm soát 51A-087.95 có dấu hiệu nghi vấn nên dừng phương tiện tiến hành kiểm tra hành chính theo quy định. Quá kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên xe vận chuyển 6.500 bao thuốc lá nhập lậu nhãn hiệu JET và HERO. Đối tượng khai nhận tên Dương Hoàng Nhân (51 tuổi, ngụ Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). Dương Hoàng Nhân khai nhận điều khiển xe ôtô từ Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực biên giới Việt Nam-Campuchia (thuộc huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước) mua thuốc lá nhập lậu về bán kiếm lời. Tại đây, Nhân tiếp xúc với các đối tượng vận chuyển thuốc lá lậu trái phép từ Campuchia về Việt Nam. Trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19 tại nước bạn Campuchia, Công an huyện Hớn Quản đã bàn giao đối tượng Dương Hoàng Nhân cho Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch COVID-19 huyện Hớn Quản đi cách ly y tế theo quy định; đồng thời, phối hợp ngành y tế truy vết, phun thuốc khử trùng hàng hóa, phương tiện vận chuyển, những nơi đối tượng đã đến. Vụ việc đang được Công an huyện Hớn Quản điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật./.

Nâng cao kỹ năng vận động tranh cử của nữ ứng cử viên .

Ngày 15/4, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nhóm nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam phối hợp với Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội và Ban Công tác đại biểu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức hội thảo “Nữ ứng cử viên đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và việc thúc đẩy bình đẳng giới” khu vực miền Nam. Hội thảo nhằm nâng cao kỹ năng vận động bầu cử cho các nữ ứng cử viên đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân, qua đó tăng cường tiếng nói và sự tham gia của nữ giới trong Quốc hội nói riêng và các cơ quan dân cử nói chung. Tại hội thảo, các nữ ứng cử viên được cung cấp thông tin cơ bản về Quốc hội, tình hình kinh tế-xã hội, một số chính sách pháp luật kinh tế-xã hội và bình đẳng giới mà cử tri quan tâm, chia sẻ kinh nghiệm, thực hành các kỹ năng tiếp xúc cử tri, vận động tranh cử, xây dựng chương trình hành động... Đồng thời, các ứng cử viên được các đại biểu, nguyên đại biểu Quốc hội hướng dẫn về các kỹ năng tiếp xúc cử tri, vận động tranh cử, xây dựng chương trình hành động, xây dựng hình ảnh xuất hiện trước các phương tiện truyền thông, tạo quan hệ với báo chí. Chia sẻ về kinh nghiệm tiếp xúc cử tri, vận động tranh cử, bà Nguyễn Thị Hoài Thu, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội khóa XI cho rằng, nữ ứng cử viên cần trang bị cho mình sự tự tin và khả năng giao tiếp, thuyết phục, ứng biến trong vận động cử tri. Thực tế cho thấy nhiều chị em còn rụt rè khi thực hiện vận động tranh cử hoặc lúng túng khi gặp những câu hỏi khó từ báo chí, cử tri. Nhằm khắc phục vấn đề này, nữ ứng cử viên cần thu thập đầy đủ thông tin về tình hình địa phương nơi mình ứng cử để xây dựng chương trình hành động sát với thực tế; nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan; tự hoàn thiện các kỹ năng lắng nghe, giao tiếp, trình bày, thuyết phục của bản thân; nắm bắt những vấn đề cử tri đang quan tâm, thể hiện sự dễ gần và gắn bó với cử tri... Bà Nguyễn Thị Hoài Thu cũng lưu ý các nữ ứng cử viên chuẩn bị chương trình hành động thật rõ ràng, đúng trọng tâm trước khi tiếp xúc cử tri, tránh dàn trải; cần thận trọng, cân nhắc khi đưa ra lời hứa với cử tri, tránh “hứa suông,” “hứa nhiều” hơn khả năng có thể thực hiện. Đặc biệt, nữ ứng cử viên không nên tỏ ra mệt mỏi, thờ ơ thiếu tập trung lắng nghe trong khi tiếp xúc cử tri hay tỏ thái độ mất bình tĩnh trong trường hợp cử tri chưa hiểu đúng về mình. Trong việc tiếp xúc với báo chí, truyền thông, nhà báo Nguyễn Vĩnh Quyên, Phó Giám đốc Kênh truyền hình Quốc hội (Đài Tiếng nói Việt Nam) cho biết, báo chí là nguồn cung cấp thông tin để các ứng cử viên nắm rõ tình hình địa phương, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời là phương tiện hữu hiệu để các ứng viên bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình đến công chúng. Các ứng cử viên nên chủ động trong mối quan hệ với các nhà báo và cơ quan báo chí, coi đây là mối quan hệ hai chiều, cởi mở, thân thiện; cố gắng đáp ứng yêu cầu phỏng vấn của báo chí nhưng thận trọng khi trả lời, đối với các câu hỏi “nhạy cảm” có quyền từ chối đưa ra ý kiến... Bà Lê Thị Nguyệt, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội cho biết, xác định bình đẳng giới là mục tiêu, nhân tố góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam luôn quan tâm tới việc thúc đẩy bình đẳng giới và sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị. Thời gian qua, hiến pháp, hệ thống chính sách, pháp luật về bình đẳng giới đã tạo khung pháp lý để phụ nữ phát triển, tham gia hoạt động chính trị. Nhiều nữ đại biểu Quốc hội đã thể hiện vai trò, bản lĩnh, trí tuệ, sự tận tụy trong công việc và có nhiều đóng góp vào thành tựu phát triển chung của đất nước. Trong hoạt động lập pháp, các nữ đại biểu Quốc hội đã tham gia nhiệt tình, có trách nhiệm trong việc thảo luận, đóng góp ý kiến vào việc sửa đổi văn bản pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV mới chỉ đạt 26,72%, còn tỷ lệ nữ Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021 ở cả 3 cấp cũng chưa đạt chỉ tiêu 30% theo như mong muốn dù đều cao hơn khóa trước. Theo bà Lê Thị Nguyệt, còn hơn một tháng nữa, cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 sẽ diễn ra. Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, tỷ lệ nữ ứng cử viên phải bảo đảm tối thiểu 35%. Để đạt được tỷ lệ này là thách thức rất lớn, đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực của chính các nữ ứng cử viên bằng cách nâng cao kỹ năng vận động tranh cử, thuyết phục cử tri của bản thân. Cuối buổi hội thảo, các nữ ứng cử viên đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã được Ban tổ chức chia thành nhiều nhóm nhỏ để cùng thảo luận những băn khoăn, trăn trở trong quá trình vận động bầu cử của mỗi người, đồng thời chia sẻ các giải pháp hoàn thiện kỹ năng tranh cử. Ý kiến của các ứng cử viên sẽ được tổng hợp theo nhóm và thuyết trình cho Ban tổ chức vào ngày 16/4 để nhận giải đáp và góp ý./.

Lựa chọn, lập danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu QH, HĐND .

Các địa phương tiếp tục tổ chức hội nghị hiệp thương để lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2021-2026. Ngày 16/4, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Long An và Khánh Hòa đã tổ chức Hội nghị hiệp thương lần thứ ba để lựa chọn, lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2021-2026. Việc tổ chức lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với những người ứng cử đại biểu Quốc khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình khóa XV, nhiệm kỳ 2016-2021 bảo đảm dân chủ, khách quan, đúng luật, đúng tiến độ thời gian theo kế hoạch. Sau khi thảo luận, 100% đại biểu dự hội nghị đã biểu quyết nhất trí lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV tại tỉnh Ninh Bình gồm 8 người; danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình khóa XV, nhiệm kỳ 2021-2026 gồm 85 người. Danh sách những người ứng cử đảm bảo về cơ cấu, thành phần theo quy định. Ngay sau Hội nghị hiệp thương lần 3, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Ninh Bình sẽ phối hợp với các đơn vị, địa phương, tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch tiếp xúc cử tri, vận động bầu cử cho những người ứng cử. Trong khi đó, theo Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Vĩnh Phúc, đến ngày 13/4, 100% Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã đã tổ chức xong Hội nghị lấy ý kiến nhận xét, tín nhiệm của cử tri nơi cư trú, nơi công tác đối với người được giới thiệu ứng cử, tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV. Kết quả, 10 người được giới thiệu ứng cử được cử tri tín nhiệm đạt 100%; 2 người tự ứng cử đều có tỷ lệ tín nhiệm thấp. Đối với người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, có 95 người đạt tín nhiệm 100%; 1 người đạt tín nhiệm 99,2%; 1 người đạt tín nhiệm 98,7%; 1 người đạt tín nhiệm 96%; 1 đạt tín nhiệm 93% và 1 người đạt tín nhiệm dưới 50%. Qua thực hiện các bước quy trình hiệp thương, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã tiếp nhận đơn xin rút khỏi danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội của 2 người, 2 người không đạt tỷ lệ tín nhiệm của cử tri theo quy định; 14 người xin rút khỏi danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Các đại biểu đã thảo luận, biểu quyết thống nhất lập danh sách 8 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV với cơ cấu: nữ 62,5%, ngoài Đảng 12,5%, trẻ tuổi 12,5%. Danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026 gồm 85 người, với cơ cấu nữ đạt 44,7%, trẻ tuổi 37,6%, ngoài Đảng 12,9%, dân tộc 2,4%. Tại tỉnh Phú Thọ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã tổ chức Hội nghị hiệp thương lần thứ ba, thống nhất danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV gồm 10 người (chưa tính 3 người do Trung ương giới thiệu). Cơ cấu, thành phần người ứng cử đại biểu Quốc hội gồm 6 người là nữ, 6 người là người dân tộc thiểu số, người trẻ dưới 40 tuổi là 7 và 4 người ngoài Đảng. Hội nghị cũng thống nhất danh sách chính thức những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XIX, nhiệm kỳ 2021-2026 gồm 113 người với cơ cấu, thành phần gồm 46 nữ, 12 người ngoài Đảng, 34 người dưới 40 tuổi, 12 người dân tộc thiểu số và 3 người tôn giáo. Tỉnh Khánh Hòa lập danh sách chính thức gồm 10 người do địa phương giới thiệu đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và 84 người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026. Ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với 10 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV, 8 người có số phiếu tín nhiệm đạt 100%, 2 người có số phiếu tín nhiệm trên 98%. Trong số 10 ứng cử viên, có 3 nữ (tỷ lệ 30%), 1 người dân tộc thiểu số (tỷ lệ 10%), 1 người dưới 40 tuổi và 1 người tái ứng cử. Ngoài ra, tỉnh Khánh Hòa có 3 ứng cử viên do Trung ương giới thiệu. Đối với 87 người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2021 – 2026, qua lấy ý kiến nhận xét, tín nhiệm của cử tri nơi cư trú, có 86 người đạt tín nhiệm 100%, 1 người đạt tín nhiệm trên 90%. Tuy nhiên, có 3 người xin rút khỏi danh sách ứng cử vì lý do cá nhân và được chấp thuận. Danh sách ứng cử chính thức còn 84 người; trong đó có 27 nữ (tỷ lệ 32,14%), 5 người dân tộc thiểu số (tỷ lệ 5,95%), 9 người ngoài Đảng (tỷ lệ 10,71%), 18 người tái cử (tỷ lệ 21,42%), 24 người trẻ tuổi (dưới 40 tuổi), chiếm tỷ lệ 28,57%. Căn cứ kết quả Hội nghị hiệp thương lần thứ hai, tỉnh Long An có 14 người giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã, phường, thị trấn đã tổ chức 14 hội nghị lấy ý kiến tín nhiệm của cư tri nơi cư trú. Kết quả, 13/14 người ứng cử đạt 100%, 1 người đạt 98,5% sự tín nhiệm của cư tri nơi cư trú. Tất cả đều đủ điều kiện ứng cử theo điều 22 Luật Tổ chức Quốc hội. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba tổ chức ngày 16/4 đã nhất trí đơn xin rút, không tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội của 3 người, biểu quyết thống nhất thông qua danh sách 11 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV. Đối với đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, 112 người ứng cử đạt 100% sự tín nhiệm của cư tri. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba đã nhất trí đơn xin rút, không tham gia ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân của 14 người; biểu quyết thống nhất thông qua danh sách 98 người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026./.

Mệnh lệnh của trái tim: “Đảng là đầy tớ của dân” .

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên về nâng cao ý thức “Đảng là người đày tớ của dân”. Đó luôn là một mệnh lệnh, một tiêu chí bắt buộc, một phẩm chất, lý tưởng cao đẹp trong hoạt động lãnh đạo của Đảng và trong mỗi cán bộ Đảng viên. .Dảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển, luôn rất chú trọng xây dựng Đảng trên cả hai phương diện: vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ (người phục vụ) trung thành của nhân dân. Đây là hai nội dung có nội hàm khác nhau về mặt bản chất, nhưng đối với Đảng ta, do ra đời từ phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, được nhân dân ủy thác sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, nên giữa hai nội dung đó có mối liên hệ thống nhất, gắn bó, bổ trợ và có tầm ảnh hưởng lẫn nhau. Trong quan điểm Hồ Chí Minh và Đảng ta, đây là một luận điểm vừa thể hiện quan điểm cách mạng vô sản vừa có ý nghĩa cơ bản và sâu sắc về quan hệ giữa cơ quan lãnh đạo của Đảng, của Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Nếu không đồng thời làm trọn cả hai nội dung này thì Đảng sẽ thất bại và ắt sẽ bị thời đại và nhân dân đào thải. Ở bài viết này, xin không bàn về vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của công tác lãnh đạo, chỉ xin đề cập một nội dung liên quan đến việc nâng cao ý thức “Đảng là người đày tớ của dân” mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng giáo dục và thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”(1). Với tầm nhìn chiến lược và lo xa công việc của Đảng, ngay từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám 1945 mới thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài huấn thị “Chính phủ là công bộc của dân” đăng trên báo Cứu quốc số 46 ngày 19-9-1945, chỉ rõ: “Các công việc Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu cầu tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cho nên, Chính phủ bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy”(2). Tiếp ngay sau đó, Người gửi thư cho Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, nêu rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân...”(3) và Người khẳng định: “Dân là chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân chứ không phải làm quan cách mạng”(4). Đây chính là một luận điểm được phát triển sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh đối với học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng mác xít ở nước ta; đồng thời, thể hiện rõ sự khác biệt về bản chất của Nhà nước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trong Thời đại Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó, trở thành phương châm, đạo lý và tôn chỉ hành động trong công tác của Đảng, giúp Đảng ta bước lên vũ đài chính trị với tinh thần cách mạng và nhân văn cao cả. Năm 1951, trong bài phát biểu tại lễ ra mắt Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”(5). Như một sự cam kết với dân tộc, với nhân dân, Hồ Chí Minh suốt cả cuộc đời đã vất vả, chăm lo cho sự nghiệp cách mạng theo tinh thần đó. Hằng ngày, hằng giờ, Người là biểu tượng mẫu mực, nêu tấm gương cao quý ấy. Khi coi Đảng cũng như bản thân mình là đày tớ, là công bộc của nhân dân, Hồ Chí Minh đã không làm mất đi vị thế lãnh đạo mà còn để lại một sự nghiệp, một tư tưởng, đặc biệt là một nhân cách lớn - Nhân cách Hồ Chí Minh không lẫn vào ai - một nhân cách cao cả, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống chính trị, xã hội của dân tộc, của đồng bào Việt Nam và của sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Nhân cách ấy thấm sâu trong hệ tư tưởng của Đảng, làm sâu sắc thêm tính tiên phong, cách mạng, dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thực tiễn gần 90 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng đã chứng minh, sự toàn tâm toàn ý xây dựng Đảng ta vì lợi ích của nhân dân. Ngoài lợi ích cao cả đó, Đảng không có lợi ích nào khác. Trong mọi hoàn cảnh, Đảng luôn coi sứ mệnh phục vụ nhân dân là tôn chỉ hoạt động cơ bản của Đảng. Tất cả vì nhân dân, tất cả dựa vào dân là đường lối số một trong hoạt động của Đảng. Từ nhân dân mà ra, hòa mình vào nhân dân là phương pháp cơ bản nhất của Đảng. Sự tín nhiệm và ủng hộ của quần chúng nhân dân là thước đo tối cao đánh giá tất cả giá trị các mặt công tác của Đảng. Những phương châm cơ bản ấy, đã giúp cho Đảng ta đứng vững trên vũ đài chính trị mà không có một lực lượng nào hòng có thể thay thế. Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trên thực tế, có nhiều lúc, nhiều nơi chúng ta làm chưa tốt công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên nêu cao ý thức là công bộc, là đày tớ của dân, dẫn đến một bộ phận không nhỏ cán bộ trong Đảng, nhất là những người có chức, có quyền đã quên mất vị trí, vai trò của mình, tạo nên sự “đổi ngôi” chủ - tớ, tự cho mình cái quyền đứng trên dân, gây nên nhiều hậu quả trong Đảng. Trong điều kiện lịch sử mới, đổi mới, hội nhập và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khác nhiều so với trước đây trong chiến tranh, Đảng phải lãnh đạo một khối lượng công việc khổng lồ để cải biến xã hội. Theo đó, cán bộ đảng viên cũng được giao nhiều trọng trách, nắm giữ, thực thi nhiều chính sách và quản lý, thu chi khối lượng lớn tài nguyên, tài sản xã hội nếu không có ý thức là công bộc, là đày tớ của dân, không có thái độ làm việc vì nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm trên hết thì rất dễ bị tha hóa, đổ gục trước những cám dỗ về danh lợi, vật chất. Trên thực tế, điều đó đã xảy ra, là bài học rất đau xót, gây nên nhiều hậu quả trong Đảng và trong xã hội Chúng ta cũng không khỏi lo lắng khi biết rằng, số cán bộ, đảng viên bị phát hiện, xử lý kỷ luật ngày càng tăng. Theo Báo cáo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi kỷ luật hơn 490 tổ chức đảng, xử lý kỷ luật 53.107 cán bộ, đảng viên, hàng chục ngàn đảng viên bị khai trừ khỏi Đảng. Trong số các bị cáo bị các cơ quan chức năng điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm về tham nhũng, kinh tế có hơn 60 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 13 ủy viên Trung ương, nguyên là ủy viên Trung ương bị thi hành kỷ luật; một ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị bị khai trừ đảng. Những con số nêu trên cùng với nhiều vụ việc khác từ những hoạt động của các “nhóm lợi ích” không chỉ trong kinh tế mà cả trong công tác cán bộ, đào tạo; cùng với hơn 30% cán bộ, công chức, viên chức làm việc không có chất lượng, hiệu quả đang gây nhiều hậu quả trong Đảng và trong xã hội, có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chắc chắn đều có chung một nguyên nhân sâu xa từ sự đánh mất ý thức trách nhiệm là “người đày tớ trung thành của nhân dân”. Có thể thấy, công tác xây dựng Đảng có nhiều nội dung, nhưng gọn lại trọng tâm nằm ở tổ chức Đảng và mấu chốt nằm ở con người, ở cán bộ, đảng viên. Sau khi đường lối chính trị được xác định, cán bộ, đảng viên chính là nhân tố quyết định thực hiện thành công đường lối đó. Nếu chỉ có đường lối đúng mà không có một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, giàu phẩm chất đạo đức, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng làm “trâu ngựa của dân”, phục vụ nhân dân hết lòng hết sức, thì không thể thực hiện được mục tiêu to lớn của Đảng. Ý thức đó cần phải được tất cả cán bộ, đảng viên, nhất là những người có trách nhiệm từ trên xuống dưới trong bộ máy của Đảng và của Nhà nước nêu cao. Hiện nay, chúng ta đang thực hiện công cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đồng thời gắn với triển khai thực hiện Quy định nêu gương mới được Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa XII ban hành. Những công việc đó đã và đang tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong nội bộ của Đảng. Hơn lúc nào hết, ý thức “Đảng là người đầy tớ của dân” phải được sốc lại như một mệnh lệnh, một tiêu chí bắt buộc, một phẩm chất, lý tưởng cao đẹp trong hoạt động lãnh đạo của Đảng và trong mỗi cán bộ, đảng viên. Làm đúng vai trò ấy, thì tinh thần nêu gương sẽ trở nên dễ dàng, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của mỗi cán bộ, đảng viên, và cũng mới có thể thực hiện được trọn vẹn di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc thiêng liêng, bất hủ của Người: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(7). Đây là công việc lâu dài, khó khăn, phức tạp nhưng là trách nhiệm, bổn phận và đạo lý của người cán bộ, đảng viên. Nhìn rộng ra, nó còn là một phương thức lãnh đạo của Đảng, một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ cũng như mong đợi của nhân dân. Nếu thực hiện tốt cả hai vế: Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân thì hiệu quả vô cùng to lớn, bởi nó không chỉ đưa con tàu cách mạng đi đúng hướng mà còn thuyết phục quần chúng bằng sức mạnh của niềm tin, sự yêu mến và tinh thần cảm phục. Ngược lại, chỉ thiếu một trong hai vế đó, thì hậu quả vô cùng nguy hại đối với Đảng, với dân tộc. Với tinh thần kiên quyết, kiên trì xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cùng với ý thức tu dưỡng, rèn luyện của đa số cán bộ, đảng viên, nhất định cái xấu, các ác sẽ dần bị loại trừ, Đảng sẽ giành được những thành quả to lớn trong công cuộc đổi mới, phát triển theo nhịp bước của thời đại./.

Ngăn chặn sự xuống cấp đạo đức trong xã hội: Tiếp cận từ văn hóa .

Đạo đức xã hội xuống cấp là vấn đề đáng lo ngại ở nước ta hiện nay. Chúng ta đều nhận thức được tác hại khôn lường của nó đối với sự phát triển của dân tộc. Đặt câu hỏi sự xuống cấp đó từ đâu mà ra thì hẳn là có rất nhiều câu trả lời và câu trả lời nào cũng có những lý do và giải pháp cơ bản. Tuy nhiên giải pháp nào cũng khó mà thực hiện một cách thấu đáo, bền vững. Từ cách tiếp cận của văn hóa cũng như vậy. . NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ XUỐNG CẤP ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI Xét ở một khía cạnh nào đó, văn hóa là sản phẩm của một xã hội. Tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều phản ánh vào văn hóa. Sự xuống cấp đạo đức cũng nằm trong một bối cảnh chung như thế. Xét theo chiều lịch đại, chúng ta thấy sự thay đổi nhanh chóng của xã hội Việt Nam. Nhiều thành tựu chính trị, kinh tế, xã hội và cả văn hóa đã được người dân chứng kiến, đặc biệt từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc Đổi mới. Tuy nhiên, không có bất cứ thứ gì không có mặt trái của nó. Sự mở cửa về kinh tế, xã hội, quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông, bên cạnh những tác động tích cực, cũng để lại rất nhiều hệ quả. Ở góc độ văn hóa, sự thay đổi xã hội khiến cho lôgic vận hành của văn hóa thay đổi, bao gồm những vấn đề của định hướng giá trị, thói quen và phong tục, tập quán của một xã hội đang trên đà chuyển đổi. Với định hướng giá trị, thì đó là những giá trị cũ, có những thứ không còn thích hợp thì chưa mất hẳn, còn những giá trị mới, phù hợp hơn thì chưa thực sự định hình. Có những tấm gương đạo đức trước kia có tác dụng rất lớn, giờ không còn đóng đúng vị trí của nó nữa! Xã hội rơi vào tình trạng khủng hoảng giá trị. Từ khủng hoảng giá trị dẫn đến mất niềm tin và định hướng trong xã hội, đó là lý do quan trọng của tình trạng xuống cấp đạo đức vì xung đột và khủng hoảng giá trị và niềm tin. Kể cả những nghề được xã hội coi trọng, xem là cao quý như nghề giáo và nghề y đang chứng kiến nhiều hiện tượng xuống cấp đạo đức cũng chính vì những lý do này. Sự thay đổi thói quen, phong tục, tập quán cũng trong vòng quay như vậy. Những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc giờ đây bị thách thức bởi những thói quen mới được ra đời từ cuộc sống giàu sang và tiện nghi hơn, bị quyến rũ bởi những thông tin về cuộc sống xa lạ ở các xã hội xa lạ. Điều này dường như còn được làm đậm hơn bởi những “người của công chúng” khi đưa ra những ca khúc phản cảm với những ca từ nhảm nhí, lối sống tạo scandal để nổi tiếng bằng mọi giá, bất chấp những giá trị đạo đức của dân tộc. Tất cả khiến cho nhiều chủ nhân tương lai của xã hội (thế hệ trẻ) lạc lối trong cách xác định lý tưởng sống cũng như phong cách sống. Những lối sống mới xa lạ, đua đòi, những phong cách thời trang, nghệ thuật không phù hợp với chuẩn mực đạo đức dân tộc đã khiến cho xã hội trở nên hỗn loạn hơn, và đó cũng là nguyên nhân của sự xuống cấp đạo đức trong xã hội xét từ cách nhìn văn hóa. Các phương tiện truyền thông đang khiến cho những giá trị phản văn hóa được dung dưỡng, lan truyền bằng những thông tin thiếu định hướng. Việc xuất hiện của các phương tiện truyền thông mới với internet và điện thoại di động thông minh, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, cũng tác động tiêu cực đến sự phát triển nhân cách, đặc biệt trong tầng lớp thanh, thiếu niên. Thế giới ảo nhưng tác động thực là những thứ mà xã hội chúng ta chưa từng chứng kiến và chưa có giải pháp hữu hiệu để đối phó. Trào lưu cá nhân hóa khác rất nhiều so với lối sống vì cộng đồng từng phổ biến trong xã hội truyền thống. Các cá nhân tưởng tượng mình vô danh trên thế giới ảo, có thể thể hiện ý kiến (kể cả bức xúc) của mình theo cả những cách tiêu cực nhất. Và khi chính sự tự kiểm soát bản thân không thể thực hiện được trên môi trường mạng, cái xấu sẽ lan tràn ra toàn xã hội. Đó là những điều chúng ta thực sự lo ngại. GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG XUỐNG CẤP ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI Chắc sẽ còn nhiều hơn nữa những lý do giải thích cho sự xuống cấp đạo đức, nhưng câu trả lời cho giải pháp nào để giúp giảm bớt và tiến tới loại trừ hẳn hiện tượng tiêu cực này có lẽ sẽ quan trọng hơn việc mải miết đi tìm nguồn gốc mà không đưa ra những cách làm hữu hiệu để loại bỏ nó. Dưới đây là một vài gợi ý nhỏ cho một vấn đề lớn được tiếp cận từ góc độ văn hóa: Thứ nhất, cần quan tâm hơn đến vai trò của nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng con người mới, xác định những giá trị xã hội mới được xã hội tôn vinh. Trước kia, cha ông chúng ta chỉ sử dụng các loại hình nghệ thuật như tuồng, chèo, cải lương, sử dụng tục ngữ, dân ca để chuyển tải các thông điệp nhân văn, mà giáo huấn được cả xã hội đi theo tiếng gọi của lương tri, đạo đức. Bối cảnh xã hội hiện nay không cho phép chỉ sử dụng những biện pháp cũ, nhưng nếu chúng ta cho nghệ thuật, hình thành những tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, thu hút sự quan tâm của nhiều người dân trong xã hội, thì sức lan tỏa của các thông điệp từ nghệ thuật có tác dụng cao hơn nhiều lời hiệu triệu. Chứng kiến cả chục ngàn người đứng lên hát vang quốc ca trong một trận đấu bóng đá và cả nước hân hoan, vẫy cờ, ào xuống phố một cách trật tự, văn minh cùng với niềm vui chiến thắng của dân tộc, cũng là lúc chúng ta hiểu thêm những giá trị tốt đẹp mà văn hóa đem lại cho cả xã hội. Từ những niềm vui tinh thần do văn hóa mang lại đó, bầu không khí xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn, thuận tiện hơn để cả dân tộc có thể tạm quên đi những khó khăn, tiếp bước trên hành trình vinh quang của mình. Thứ hai, xây dựng và củng cố hệ thống các quy tắc đạo đức trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của đời sống xã hội. Khi viết cuốn sách “Nền đạo đức Tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản”, Max Weber đã nhấn mạnh đến khía cạnh dẫn dắt sự phát triển của xã hội từ các giá trị đạo đức. Theo đó, chính các giá trị đạo đức đã có tác dụng vừa ổn định xã hội, vừa tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Muốn làm được như vậy, xã hội cần hình thành hệ thống các quy tắc đạo đức ở tất cả các lĩnh vực khác nhau. Nghề giáo, nghề y hay bất kỳ một ngành nghề nào cũng có một bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Bộ quy tắc đạo đức ấy sẽ giúp đạo đức xã hội được ổn định trong từng nhóm nhỏ, rồi từ đó lan ra toàn xã hội (việc Hội Nhà báo Việt Nam vừa cho ra đời Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam là một ví dụ cho thấy, chúng ta cần có thêm các bộ quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức cho các lĩnh vực khác nhau để bảo đảm sự ổn định, rõ ràng trong hành vi ứng xử của từng nhóm xã hội trong những lĩnh vực hoạt động cụ thể). Thứ ba, phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông trong việc truyền đi thông điệp tích cực về những lối sống đẹp, những tấm lòng nhân ái trong xã hội, và hình thành một dư luận xã hội ủng hộ các giá trị chân - thiện - mỹ. Về bản chất, xã hội là tốt và con người là hướng thiện. Vì thế, để cái tốt và lòng hướng thiện lan tỏa trong xã hội sẽ khiến cho cuộc sống đẹp hơn. Chính cái thiện, cái đẹp của văn hóa trong xã hội sẽ góp phần đẩy lùi tệ nạn và cái xấu, đạo đức tốt đẹp trong xã hội sẽ dần trở lại. Từ đó, văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, là hệ điều tiết cho sự phát triển xã hội./.

Nêu cao cảnh giác, ngăn chặn kịp thời việc bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước .

Một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra là: Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. . Như vậy, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước là một trong các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, đó cũng là một nội dung trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Do đó, kịp thời ngăn chặn biểu hiện này không chỉ là nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng mà còn là biện pháp để đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Trong các lãnh tụ tiền bối, người bị các thế lực thù địch xuyên tạc, bịa đặt nhiều nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng bịa đặt, Hồ Chí Minh thực chất chỉ là người “dân tộc chủ nghĩa”(!). Chúng xuyên tạc tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, không có gì quý hơn độc lập tự do của Hồ Chí Minh là “phi nhân tính”(!). Chúng suy luận: “Nhân dân Việt Nam đi theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh là sai lầm, là đi vào ngõ cụt”(!). Chúng còn dựng những câu chuyện hoang đường về thân thế, đời tư của Người cùng với việc vẽ lên “chân dung” người cộng sản không có tình cảm, tình nghĩa cha con, vợ chồng, anh em; công khai mục tiêu phá bỏ thần tượng Hồ Chí Minh. Để tăng cường xuyên tạc, vu cáo, các thế lực thù địch đã tổ chức một số cuộc hội thảo, tọa đàm, diễn đàn quốc tế ở các nước có đông bà con Việt kiều sinh sống và làm việc như: Australia, Mỹ, Canada... rồi gửi thư ngỏ, tài liệu truyền bá tư tưởng phản động, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam và các cơ quan chức năng trong nước, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài. Qua đó, chúng ra sức rêu rao rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, lạc hậu, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới. Sự chống phá của các thế lực thù địch quyết liệt là vậy, nhưng thực tế đã cho thấy, thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là một di sản quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam. Cho đến nay, nhiều công trình khoa học, chương trình nghiên cứu, bài nói, bài viết của các học giả, nhân sĩ, trí thức, nhà chính trị… trong và ngoài nước đã công bố là minh chứng rõ nét. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh được toàn thể nhân dân Việt Nam qua nhiều thế hệ và nhiều tổ chức, cá nhân có lương tri trên thế giới ngưỡng mộ, tôn vinh. Trong đó, Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), năm 1987, đã ra Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; trong đó, đánh giá Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Với ý nghĩa đó, mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người đã trở thành giá trị văn hóa có sức thẩm thấu và lan tỏa mạnh mẽ; là tài sản tinh thần vô cùng quý báu của dân tộc Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển; cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, các vị lãnh tụ tiền bối khác cũng bị bôi nhọ, xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo. Điển hình như, ngày 27-9-2018, Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt (thành phố Cần Thơ) đã xét xử sơ thẩm bị cáo Bùi Mạnh Đồng (“tự” Beo, 40 tuổi, ngụ quận Thốt Nốt) về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Theo đó, từ năm 2017 đến tháng 7-2018, Bùi Mạnh Đồng đã lấy hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Tôn Đức Thắng từ trên mạng internet, sau đó chèn chữ vào hình ảnh, tạo nên nội dung xuyên tạc, vu khống, nhằm bôi nhọ lãnh tụ. Qua đó, đã tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước chống phá chế độ; gây khó khăn cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Không chỉ lãnh tụ tiền bối, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng luôn bị bịa đặt, vu cáo. Thủ đoạn của chúng là tạo hàng loạt bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc để đăng tải trên tất cả các mạng xã hội. Điển hình như Nguyễn Chí Khương (23 tuổi, trú tại Bến Tre) quay và đăng tải lên Facebook đoạn clip bịa đặt “Đoàn xe Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân về thăm Bến Tre”. Clip cho thấy sự xuyên tạc trắng trợn khi ngày hôm đó (27-10-2016), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đang điều hành phiên họp Quốc hội tại Hà Nội. Thực chất, đoạn clip mà Khương quay và tải lên mạng xã hội là đoàn xe của các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đơn vị chức năng của tỉnh Bến Tre tham gia diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh năm 2016. Nhìn chung, hành động bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch tuy không mới nhưng hết sức thâm độc, qua đó gieo rắc hoang mang, sự nghi ngờ, phân tâm, mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, tác động thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hành vi tung tin bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã được một số nước xếp ngang với những nguy cơ đe dọa an ninh lớn nhất. Chính phủ Anh xếp loại tội phạm này ngang hàng với tấn công khủng bố, tấn công bằng vũ khí hóa học. Trên tinh thần đó, đối với các cơ quan pháp luật Việt Nam, dù đề cao tính giáo dục thuyết phục nhưng phải chủ động trong đấu tranh, phòng ngừa và đẩy lùi các hoạt động bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước; phải kết hợp chặt chẽ nhiều biện pháp trong đó có cả biện pháp xử lý hành chính, xử lý hình sự. Đặc biệt, với những kẻ cố tình xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo vì động cơ chính trị, ảnh hưởng tới an ninh, trật tự an toàn xã hội cần được xử lý một cách kiên quyết, nghiêm minh. Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 1-1-2019 là cơ sở pháp lý và là biện pháp răn đe đủ mạnh để xử lý các đối tượng tung tin, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên mạng xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng. Đối với đảng viên, bên cạnh việc đề cao cảnh giác, sẵn sàng phản bác luận điệu xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch, cần thực hiện nghiêm Quy định số 102-QĐ/TƯ ngày 15-11-2017 của Ban Chấp hành Trung ương quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, trong đó áp dụng hình thức cao nhất là khai trừ khỏi Đảng đối với nhiều vi phạm, trong đó có trường hợp bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước… Cuối cùng, để kịp thời ngăn chặn tình trạng bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải chủ động trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng văn hóa nhằm phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá, bịa đặt, vu cáo của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị. Tuy nhiên, phải có phương pháp đấu tranh khoa học; trong phê phán phải lập luận chặt chẽ; phải thể hiện tính chiến đấu, tính sắc bén và tính thuyết phục cao. Bên cạnh đó cần phải kịp thời chấn chỉnh những tư tưởng, quan điểm không đúng, lệch lạc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về biểu hiện bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Làm được như vậy sẽ góp phần thực hiện thành công Nghị quyết hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.