Chủ Nhật, 18 tháng 4, 2021

Phó cục trưởng giao thông Campuchia chết vì Covid-19

 Một quan chức của Bộ Giao thông Campuchia đã qua đời chỉ vài ngày sau khi mắc Covid-19. Trong khi đó, Campuchia cũng bắt giữ 2 người Trung Quốc bị cáo buộc đóng giả bác sĩ để "lách" lệnh phong tỏa.

Quan chức cấp cao Campuchia thiệt mạng vì Covid-19

Truyền thông Campuchia đưa tin, Phó cục trưởng Bộ Giao thông Uy Sovannarith, 55 tuổi, đã qua đời ngày 18/4, chỉ sau vài ngày có kết quả mắc Covid-19.

Ông Sovannarith là một trong ba quan chức của bộ trên bị xác định nhiễm SARS-Cov-2 hôm 14/4. Cả ba người đều là thành viên trong cùng một gia đình. Vợ và con trai ông Uy Sovannarith cũng đang được điều trị Covid-19.

Tình hình dịch bệnh ở Campuchia vẫn đang diễn biến phức tạp. Quốc gia này cho tới nay đã ghi nhận tổng cộng 6.389 ca bệnh và 44 người thiệt mạng. Theo số liệu không chính thức, Campuchia hôm nay có thể có thêm 600 ca mắc mới. Đây có thể sẽ là ngày thứ 2 liên tiếp Campuchia ghi nhận trên 600 ca bệnh/ngày dù họ đã áp dụng các biện pháp phong tỏa và cấm đi lại tại nhiều địa phương.

Đây được xem là đợt bùng dịch nghiêm trọng nhất ở Campuchia trong suốt 1 năm qua, bắt đầu từ ngày 20/2. Có những ngày Campuchia ghi nhận số ca Covid-19 còn nhiều hơn tổng số ca Covid-19 trong năm 2020 cộng lại.

Nguyên nhân của đợt bùng dịch này được cho là bắt nguồn từ vụ việc 4 công dân Trung Quốc nhiễm SARS-CoV-2 đút lót cho nhân viên bảo vệ ở khách sạn Sokha hồi tháng 2. Những người này sau đó đã di chuyển tới nhiều địa điểm và khiến dịch bệnh lây lan tại quốc gia Đông Nam Á.

Giới chuyên gia ước tính kinh tế Campuchia có thể thiệt hại ít nhất 250 triệu USD do đợt bùng dịch Covid-19 này.

Kiên Giang xin tiêm vắc xin Covid-19 cho 100% cư dân Phú Quốc

 Làm việc với Bộ Y tế, lãnh đạo Kiên Giang kiến nghị Bộ hỗ trợ để mua vắc xin phòng, chống dịch Covid-19 tiêm cho 100% cư dân TP Phú Quốc.

Lo người Việt ở Campuchia ồ ạt về nước

Trong những ngày qua, dịch Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp tại Thái Lan, Campuchia và các nước Đông Nam Á khác. Tỉnh Kiên Giang là địa phương có đường biên giới trên bộ và trên biển với Campuchia nên có nguy cơ rất lớn bị lây lan dịch Covid-19.

Theo báo cáo của UBND tỉnh Kiên Giang, hiện nay số người Campuchia gốc Việt Nam đang sinh sống tại Campuchia có trên 103.000 người. Riêng tại 3 tỉnh giáp biên giới với tỉnh Kiên Giang gồm tỉnh Kampot, Kép và Preah Sihanouk có trên 700 hộ, với trên 1.700 nhân khẩu là người gốc Việt đang cư trú.

Từ 20/2 đến nay đã có trên 1.300 người nhập cảnh qua cửa khẩu Quốc tế Hà Tiên. Bên cạnh đó, các lực lượng chức năng cũng đã phát hiện 31 vụ nhập cảnh trái phép vào địa bàn tỉnh với 142 đối tượng. Trong đó, cũng có nhiều trường hợp xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2 sau khi đã di chuyển sâu vào nội địa, đến các tỉnh, thành phố khác như Hải Phòng, TPHCM…

Trước diễn biến tình hình dịch bệnh phức tạp trong nước và trong khu vực, UBND tỉnh Kiên Giang đã tập trung chỉ đạo quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch trên địa bàn tỉnh như: Tăng cường kiểm soát chặt chẽ các cửa khẩu, đường mòn, lối mở, bổ sung lực lượng cho các chốt kiểm soát.

Hiện nay đã bố trí được trên 128 chốt, tổ và có trên 1.000 lượt chiến sĩ thường xuyên trực và trực luân phiên. Tăng cường kiểm soát người và hàng hóa nhập cảnh qua Cửa khẩu quốc tế Hà Tiên và Cửa khẩu quốc gia Giang Thành.

Mở rộng các khu cách ly tập trung tại thành phố Hà Tiên, tăng khả năng thu dung cách ly tập trung lên 2.350 người. Kích hoạt các khu cách ly tập trung của các huyện, thành phố phía sau để sẵn sàng tiếp nhận để cách ly tập trung trong tình huống người nhập cảnh với số lượng nhiều, vượt quá khả năng tiếp nhận của thành phố Hà Tiên.

Tuy nhiên, Kiên Giang cũng gặp nhiều khó khăn thách thức, như: tình hình nhập cảnh qua biên giới tiếp tục gia tăng, phức tạp; Điều kiện làm việc của cán bộ, chiến sĩ ở các chốt biên phòng còn nhiều khó khăn, chưa đảm bảo kiểm soát chặt chẽ tuyến biên giới trên bộ và trên biển; Dự trữ sinh phẩm xét nghiệm, vật tư y tế tiêu hao, phương tiện phòng hộ chưa đảm bảo; Năng lực xét nghiệm Covid-19 chưa đạt yêu cầu.

Ngân hàng Nhà nước xác định việc trọng điểm, cấp bách để xử lý

 Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu NHNN cần rà soát công việc, xác định những việc trọng tâm, trọng điểm, cấp bách để xử lý, đảm bảo phải có sản phẩm trong vòng 3-6 tháng tới.

Tại buổi làm việc mới đây với Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Thủ tướng nhấn mạnh sự việc ngày 16/4 vừa qua Bộ Tài chính Mỹ đã ban hành Báo cáo về "Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Mỹ", trong đó xác định trong giai đoạn năm 2020 không có đủ bằng chứng, dấu hiệu cho rằng Việt Nam thao túng tiền tệ.

Theo đánh giá của Thủ tướng, đây là sự nỗ lực lớn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong tiếp xúc ngoại giao và sự làm việc tích cực, trách nhiệm của một số bộ ngành, nhất là NHNN để Mỹ có đánh giá phù hợp liên quan đến vấn đề tiền tệ của Việt Nam.

Trong thời gian tới, NHNN cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành tiếp tục làm việc với các cơ quan chức năng của Mỹ trong tổng thể Kế hoạch hành động để hướng đến cán cân thương mại hài hòa bền vững giữa hai nước.

Ngành ngân hàng cần cơ chế để giải quyết một số vấn đề còn tồn đọng, cấp bách

Tại buổi làm việc, Thủ tướng yêu cầu NHNN báo cáo tình hình hoạt động ngân hàng, những vấn đề nổi lên trong thời gian qua, những khó khăn vướng mắc và hướng xử lý trong thời gian tới. Nguyên tắc là việc gì dễ, khả thi, đồng thuận và cấp bách làm trước, việc khó có ý kiến khác nhau cần tăng cường trao đổi, thảo luận để có hướng xử lý, làm việc gì dứt điểm việc đó.

Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng đã báo cáo Thủ tướng tình hình hoạt động ngân hàng theo những trụ cột quan trọng mà ngành đang tập trung, giải quyết.

Thứ nhất, về điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết, mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ xuyên suốt là kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng không chủ quan với lạm phát và phải đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng được quan tâm thực hiện. 

Bà cho biết thời gian qua, bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô tiền tệ trong nước và quốc tế, NHNN đã sử dụng đồng bộ các công cụ và giải pháp chính sách tiền tệ để cơ bản ổn định được thị trường tiền tệ, ngoại hối, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng và tạo lập niềm tin thị trường.

Tín dụng là vấn đề NHNN luôn đặt trọng tâm và điều hành với phương châm mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hiệu quả, tập trung vốn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên. Với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán, NHNN đã sử dụng các công cụ để kiểm soát rủi ro như giảm dần tỷ trọng sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn (hiện nay là 40%), áp dụng hệ số điều chỉnh rủi ro cao, giới hạn dư nợ cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán so với vốn điều lệ…

Kết quả cho thấy tốc độ tăng tín dụng vào lĩnh vực bất động sản có xu hướng chậm lại, dư nợ tín dụng để đầu tư kinh doanh chứng khoán chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng dư nợ tín dụng chung. Tỷ trọng đầu tư của các tổ chức tín dụng vào trái phiếu doanh nghiệp cũng chiếm tỷ trọng nhỏ và trên thực tế được kiểm soát như đối với khoản cấp tín dụng.

"SÔNG CÓ THỂ CẠN, NÚI CÓ THỂ MÒN, SONG CHÂN LÝ ẤY KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI."

- Chỉ có CNXH mới có thể tạo ra một xã hội mà trong đó các nguồn tài nguyên thiên nhiên được khai thác vì lợi ích của cả xã hội! 


- Chỉ có CNXH mới có thể phân chia lợi nhuận công bằng nhằm chăm lo cho từng con người về lương thực, nhà cửa, giáo dục, chăm sóc y tế!

 - Chỉ có CNXH mới có thể mang đến sự bình đẳng giữa các quốc gia, loại bỏ nguyên nhân dẫn đến chiến tranh và giải trừ vũ khí hủy diệt toàn diện!


- Và cũng chỉ có CNXH mới có thể thay đổi cách mà chúng ta tác động đến hành tinh của mình và làm đảo chiều mối đe dọa từ những thảm họa sinh học.


- CNXH rõ ràng ưu việt hơn vì nó đại diện cho tương lai của nhân loại. Đảng Cộng sản Nam Phi từng khẳng định: “CNXH là tương lai, hãy xây dựng nó”.


Suy cho cùng thì CNXH sẽ chính là đích đến cuối cùng của nhân loại!

St

Hãy tỉnh táo trước ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

 


🔻🔻🔻 Đến hẹn lại lên, gần dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước (30/4), các thế lực thù địch, những phần tử phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ chiến thắng vĩ đại này của dân tộc Việt Nam. Gần đây, trên một số website, blog, tài khoản mạng xã hội cá nhân, những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị lại điên cuồng bày ra các chiêu trò để bóp méo giá trị, ý nghĩa lịch sử của chiến thắng 30/4/1975. Chúng ra sức nhào nặn những clip xưa cũ, cắt gọt sự thật để cố tạo ra những bài viết dối trá tung lên mạng xã hội. Chúng trắng trợn xuyên tạc “Chiến thắng Mùa Xuân năm 1975” thành “cuộc chiến tranh xâm lược của miền Bắc với miền Nam” hay chúng gọi đây là cuộc chiến “dụ dỗ dân miền Bắc cầm súng sát hại đồng bào miền Nam”. Tâm thần chính trị đến mức, chúng ra sức kêu gào đòi đổi Ngày chiến thắng, Ngày thống nhất Đất nước là “Ngày quốc hận”; gọi tháng 4 lịch sử là “tháng tư đen”... 


✖✖✖ Tất cả những “mưu hèn, kế bẩn” của chúng chỉ nhắm tới mục đích cuối cùng là kích động nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá thành quả cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đạt được. Nguy hiểm hơn trong tình hình hiện nay, với số lượng thông tin, hình ảnh, video clip khổng lồ trên không gian mạng, nếu những ai không có đủ trình độ nhận thức, sự tỉnh táo, bản lĩnh chính trị, nhẹ dạ cả tin sẽ có thể bị mắc bẫy để rồi hoài nghi, phân tâm, phai nhạt niềm tin, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”... 


🔹️🔹️🔹️ Lịch sử, hiện tại và tương lai cũng sẽ luôn khẳng định một sự thật tất yếu: Đây là cuộc đấu tranh anh dũng của quân và dân hai miền Nam, Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng, là cuộc đấu tranh chính nghĩa để thực hiện khát vọng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mang lại tự do, độc lập cho toàn thể Nhân dân ta đã được sự đồng tình ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới, trong đó có Nhân dân Mỹ. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV tháng 12/1976 đánh giá: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại nhất của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. 


➡️➡️➡️ Trả lời báo chí Mỹ về chiến tranh Việt Nam, cựu Tổng thống Mỹ G.Pho cũng phải thừa nhận thất bại, đồng thời bày tỏ sự cảm phục trước tinh thần dũng cảm, chiến đấu kiên cường của Nhân dân Việt Nam. Trong cuốn sách “Tường trình một người lính”, Tướng C.Oét-mô-lên, Tổng chỉ huy Quân đội Viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã thừa nhận: “Nhảy vào Việt Nam là một trong những sai lầm lớn nhất của chúng ta”. 


✳✳✳ Vì vậy, chúng ta phải giữ vững lập trường tư tưởng, luôn tỉnh táo sàng lọc thông tin để không mắc bẫy theo những xúi giục, kích động của các phần tử xấu; đồng thời chúng ta cũng cần đấu tranh phê phán, bác bỏ mọi luận điệu lệch lạc, xuyên tạc sự thật lịch sử của các thế lực thù địch./.

Chiêu trò lợi dụng vấn đề BOT để xuyên tạc, kích động

Một trong những phương thức đầu tư góp phần làm thay đổi diện mạo hệ thống hạ tầng giao thông ở nước ta những năm qua là sự ra đời của mô hình đầu tư BOT (xây dựng-kinh doanh-chuyển giao) trên các tuyến đường giao thông huyết mạch, quan trọng của quốc gia. Tuy nhiên, thời gian gần đây, lợi dụng một vài bất cập xảy ra, các đối tượng quá khích, cực đoan, cơ hội đã có nhiều âm mưu, hành động xuyên tạc, kích động gây rối. CHỐNG "BOT BẨN" HAY "TRÒ BẨN" CHỐNG PHÁ CHÍNH QUYỀN? Sau khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh ra quyết định khởi tố bị can Hà Văn Nam để điều tra hành vi “Gây rối trật tự công cộng” tại trạm thu phí BOT Phả Lại, trên mạng xã hội đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh video nhằm kêu gọi “ủng hộ những người dấn thân trong cuộc đấu tranh chống các “BOT bẩn”(!). Nhân cơ hội này, một số tờ báo điện tử nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam lại bình luận ác ý, xuyên tạc bản chất vấn đề. Không chỉ rêu rao rằng, ông Nam đã bị “vu oan” và còn phong cho đối tượng này là “người hùng diệt BOT bẩn”. Nhiều bài viết còn tung ra những thông tin mang tính kích động, như: “Vụ bắt bớ này có nhiều uẩn khúc”, “dù người hùng bị bắt nhưng vẫn “được nhiều người ủng hộ vì chống BOT bẩn”(!), thậm chí có đối tượng còn ra lời “hiệu triệu” cư dân mạng “cùng nhau góp gió thành bão, cùng nhau chia sẻ một status, một ảnh avatar, băng rôn, khẩu hiệu, bài viết, chữ ký… dù nhỏ lúc này nhưng cũng góp phần đòi tự do cho người hùng chống BOT bẩn”; đồng thời “yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện, vì ông ấy là một tù nhân lương tâm”(!) “Tiền hô hậu ủng” cho một số đối tượng có tư tưởng bất mãn, cực đoan, trang mạng của một tổ chức khủng bố hải ngoại đã mở cái gọi là “cuộc thăm dò dư luận” cho rằng, trong số cả ngàn ý kiến về hành động phản đối BOT của những tài xế, có gần 90% ý kiến đã bênh vực những tài xế phản đối “BOT bẩn”(!). Từ đó, chúng quy chụp vụ bắt giữ “người hùng chống BOT bẩn” là hành động tấn công, đàn áp tài xế nhằm bảo vệ các nhóm lợi ích, “cố tình hình sự hóa một vụ việc dân sự”; “có những hành động thô bạo để ngăn cản quyền giám sát chính đáng của người dân”(!)… Gắn vấn đề BOT với vấn đề chính trị, có đối tượng lâng láo cho rằng, cần phải hủy bỏ các dự án BOT vì nó gắn liền với chế độ “độc đảng toàn trị”, "nó chỉ làm lợi cho quan chức, nhưng lại gây phương hại đến lợi ích của nhân dân"(!). Đây thực chất là một "chiêu trò bẩn” của các phần từ cơ hội, bất mãn trong nước cấu kết với các thế lực thù địch bên ngoài nhằm xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, do đó chúng ta phải cảnh giác, kiên quyết phê phán, bác bỏ. Phải khẳng định rằng, cơ quan điều tra có đủ bằng chứng để khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt giam Hà Văn Nam, vì đối tượng này đã nhiều lần vi phạm tội danh “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015. Đây là việc làm bình thường, cần thiết của cơ quan thực thi pháp luật nhằm góp phần giữ gìn kỷ cương phép nước, giáo dục mọi công dân phải có trách nhiệm, nghĩa vụ thượng tôn pháp luật. MỘT CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG, GÓP PHẦN "BA TĂNG", "BA GIẢM" Giao thông được ví như “mạch máu của nền kinh tế”. Vì thế đầu tư phát triển hạ tầng giao thông là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng, Nhà nước. Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16-1-2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã xác định: “Huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực của xã hội, bảo đảm lợi ích hợp lý để thu hút các nhà đầu tư, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội… Phát triển kết cấu hạ tầng là sự nghiệp chung, vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của toàn xã hội, mọi người dân đều có trách nhiệm tham gia đóng góp;... bảo đảm lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, người dân và nhà đầu tư”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng xác định, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ là một trong ba khâu đột phá chiến lược. Quán triệt quan điểm của Đảng và sự chỉ đạo của Chính phủ, những năm qua, Bộ Giao thông vận tải (GTVT) đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp, đẩy mạnh tái cơ cấu đầu tư công, huy động tối đa mọi nguồn lực để tạo đột phá trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Từ năm 2011 đến nay đã huy động được 68 dự án BOT đường bộ, với tổng mức đầu tư 207.987 tỷ đồng, đã hoàn thành đưa vào khai thác 58 dự án. Các dự án có 88 trạm BOT thu phí. Phần lớn các dự án đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông từ nguồn vốn ngoài ngân sách đã phát huy hiệu quả, góp phần “ba tăng” (tăng vận chuyển, lưu thông hàng hóa; tăng kích cầu sản xuất trong nước; tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế) và “ba giảm” (giảm áp lực nợ công; giảm ùn tắc, tai nạn giao thông; giảm thiểu ô nhiễm môi trường). Theo tính toán của các đơn vị tư vấn độc lập, nhiều dự án BOT đường bộ sau khi đưa vào khai thác đã tiết kiệm đáng kể chi phí vận hành khai thác, tiết kiệm thời gian vận chuyển hàng hóa, nhất là giảm thời gian đi lại của hành khách so với khi công trình chưa được đầu tư nâng cấp, mở rộng. Ví như đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai, cao tốc TP Hồ Chí Minh-Long Thành-Dầu Giây giảm khoảng 50% thời gian đi lại; Quốc lộ 1 đoạn Hà Nội-Vinh giảm khoảng 30% thời gian đi lại; Quốc lộ 14 đoạn Pleiku-Cầu 110 (tỉnh Gia Lai) giảm khoảng 35% thời gian đi lại; Quốc lộ 14 đoạn qua Đắk Nông giảm khoảng 30% thời gian đi lại... Vì thế, chủ trương đầu tư xây dựng các dự án BOT đường bộ là đúng đắn, cần thiết, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta trong tình hình hiện nay. Không riêng ở Việt Nam, hàng chục quốc gia trên thế giới, trong đó có nhiều nước ASEAN, nhiều nước phát triển như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canada hay nhiều nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ… vẫn duy trì mô hình đầu tư này. TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH VỀ BOT, BẢO ĐẢM LỢI ÍCH TỐI ĐA CHO NGƯỜI DÂN Qua giám sát, phản ảnh của người dân, doanh nghiệp, cơ quan chức năng và dư luận báo chí, ngành GTVT đã thấy rõ một số bất cập, như: Một số trạm thu phí BOT đặt vị trí chưa phù hợp, giá thu phí thời gian đầu khá cao nên gây thắc mắc cho người dân và doanh nghiệp vận tải. Trước tình hình đó, ngành đã phối hợp với các nhà đầu tư tính toán, điều chỉnh theo hướng giảm giá thu phí trên nhiều tuyến đường BOT; thực hiện công bằng đối với người dân địa phương và doanh nghiệp vận tải sử dụng đường BOT; lắp đặt đồng loạt hệ thống thu phí tự động không dừng đối với tất cả các dự án BOT trên Quốc lộ 1 và Đường Hồ Chí Minh qua Tây Nguyên… Đến nay, Bộ GTVT đã xử lý những bất cập về giá sử dụng đường bộ tại các trạm, gồm: Trạm Quốc lộ 6 Xuân Mai-Hòa Bình, trạm Quốc lộ 32 (Phú Thọ), trạm cầu Hạc Trì (Phú Thọ), trạm Quốc lộ 3 (Thái Nguyên), trạm Bến Thủy (Nghệ An), trạm Cầu Rác (Hà Tĩnh), trạm Km1064, Quốc lộ 1 (Quảng Ngãi)… Mới đây, Tổng cục Đường bộ Việt Nam (Bộ GTVT) đã lập kế hoạch kiểm tra, giám sát công tác thu phí của 11 trạm thu phí đường bộ BOT trên cả nước, qua đó góp phần bảo đảm công khai, minh bạch trong việc thu phí. Những việc làm này cũng không ngoài mục đích phát huy hiệu quả hơn nữa các dự án BOT đường bộ, đồng thời bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân và doanh nghiệp vận tải. Thực tế cho thấy, đưa vào khai thác, vận hành các dự án đầu tư BOT đường bộ thời gian qua tuy còn một số bất cập, hạn chế nhất định, nhưng không thể phủ nhận những hiệu quả mà mô hình này đã góp phần khơi thông “huyết mạch” cho nền kinh tế quốc dân phát triển. Do đó, khi nhìn nhận, đánh giá về mô hình đầu tư này nói chung, các trạm thu phí BOT đường bộ nói riêng, cần phải khách quan, toàn diện, thấu đáo, tránh nhìn hiện tượng đơn lẻ rồi quy về bản chất, dễ gây nhiễu loạn thông tin và tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá. Trong bối cảnh nguồn lực ngân sách Nhà nước hạn chế và nguồn vốn ODA đang thu hẹp dần, việc huy động nguồn lực thông qua hình thức BOT là hướng đi đúng đắn và giải pháp hữu hiệu để phát triển hệ thống giao thông hiện đại, đồng bộ. Với phương châm bảo đảm lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, người dân và nhà đầu tư, chúng ta đang chủ động khắc phục một số bất cập của một số dự án BOT; đồng thời tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về thực hiện các dự án BOT để khai thác hiệu quả hơn nữa mô hình đầu tư này, góp phần phục vụ đắc lực công cuộc phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Vì vậy, mọi người dân và các doanh nghiệp vận tải khi tham gia giao thông trên các dự án BOT đường bộ cần hiểu đúng quyền lợi, nghĩa vụ của mình, có thái độ, hành vi đúng mực, tuân thủ luật pháp, tránh bị các phần tử quá khích, cơ hội, bất mãn cấu kết với các thế lực thù địch kích động, lôi kéo tụ tập đông người tại các trạm thu phí BOT gây cản trở giao thông, mất trật tự an ninh, an toàn xã hội./.

Hãy để người dân Việt Nam tự "chấm điểm" cho cuộc sống của mình

 

         Vừa qua, một tổ chức phi chính phủ ở bên kia bán cầu tự cho mình cái quyền được "chấm điểm" để xếp hạng về "quyền tự do" của mỗi quốc gia. Đương nhiên, cái chiêu trò chống phá kiểu này đã quá nhàm, là cái cớ để một số đối tượng phản động, sống lưu vong ở nước ngoài và một số phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong nước được dịp a dua, bình phẩm trên mạng xã hội.

          Theo kết quả công bố trên Đài Á châu Tự do (RFA) thì năm 2020 này, Tổ chức Freedom House đã chấm Việt Nam được 19 trên thang điểm 100, tụt đi 1 điểm so với năm 2019 về  mức độ "Tự do".

          Chả biết đánh giá "Tự do" của Freedom House được xây dựng trên những tiêu chí cụ thể ra sao nhưng năm 2020, khi cả thế giới biến động và thay đổi vì ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 thì ở Việt Nam, người dân được sống trong một môi trường có thể nói là "đáng mơ ước" với rất nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia tiên tiến.

          Rất nhiều người Việt Nam sinh sống, học tập tại nước ngoài, kể cả nhiều công dân nước ngoài mong muốn được nhập cảnh vào Việt Nam nhằm "trốn dịch". Một số người nước ngoài thì tận dụng sự ngưng trệ về giao thông hàng không để tránh phải về nước. Các tờ báo, các Chính phủ nước ngoài cũng ca ngợi mô hình chống dịch hiệu quả của Việt Nam.

          Vậy thì tại sao một đất nước như họ nói là "mất tự do" lại thu hút, níu kéo nhiều người đến như vậy? Những người đang sống ở Việt Nam đã đành, những người Việt Nam sinh sống, học tập ở nước ngoài và người nước ngoài chọn Việt Nam để sống và làm việc, tại sao họ lại muốn trở về, muốn gắn bó với mảnh đất hình chữ S này để đổi lại họ bị mất "tự do", bị kìm hãm trong một đất nước "tù túng"? Tổ chức "Ngôi nhà tự do" (Freedom House) khi chấm điểm có trả lời được sự nghịch lý này không?

          Thực ra, họ đã biết và thậm chí biết rất rõ những thành tựu của Việt Nam trên mọi lĩnh vực, trong đó có quyền con người, quyền tự do của công dân trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước. Nhưng họ vẫn làm ngơ vì mục đích của họ là chống phá, là giật dây, hà hơi, tiếp sức cho các phần tử chống đối, nên Freedom House không trừ một thủ đoạn "ăn không nói có" nào để xuyên tạc, vu khống tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

          Nhìn lại lịch sử của Freedom House cho thấy rõ điều đó: Được sáng lập từ năm 1941, tổ chức phi chính phủ này được tài trợ nhằm thúc đẩy đấu tranh dân chủ cực đoan tại các quốc gia trên thế giới, trong đó tập trung chủ yếu vào những quốc gia XHCN. Trong thập niên 40 của thế kỷ trước, Freedom House ủng hộ kế hoạch phát xít hoa ávà có chủ trương chống Cộng cao. Trong thập niên 50, 60, họ ủng hộPhong trào Dân tộc cực đoanở Hoa Kỳ.

          Trong thập niên 80, họ giúp đỡ phong trào Công đoàn cực đoan ở Ba Lan và phe đối lập dân chủ ở Philippines. Gần đây, Freedom House can dự vào việc lật đổ chính quyền ở Serbia, Ukraina và Kyrgyzstan, Iraq, Syria. Như vậy, động cơ chính trị của Freedom House là rõ ràng khi hằng năm công bố mức điểm về "Tự do" của trên 200 quốc gia. Với động cơ chính trị như vậy thì làm sao Feedom House có thể khách quan khi nhìn nhận tình hình của mỗi nước, nhất là khi nước đó nằm trong "tầm ngắm" chống phá của họ.

          Năm 2019, chính Freedom House cũng công bố cái gọi là "Báo cáo về tự do Internet", trong đó, phần về Việt Nam, họ đánh giá chúng ta "không có tự do Internet". Việc đánh giá thiếu khách quan này trong thời điểm Nhà nước xây dựng và ban hành Luật An ninh mạng nhằm mục đích gây hoài nghi, kích động người dân phản đối việc xây dựng pháp luật trên lĩnh vực này.

          Thực tế, theo nghiên cứu của một tờ báo thuộc Nhật Bản thì Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có tỷ lệ người dùng internet cao nhất châu Á. Từ năm 2010 đến nay, Việt Nam liên tục đứng trong nhóm 20 quốc gia có số người sử dụng Internet lớn nhất thế giới. Chính từ việc có số lượng sử dụng mạng xã hội quá lớn, kéo theo nhiều vi phạm trong lĩnh vực này, từ việc bán hàng lừa đảo, đưa những clip trái với thuần phong mĩ tục lên mạng đến việc lợi dụng mạng xã hội để đưa thông tin sai sự thật vì động cơ cá nhân v.v... nên Nhà nước phải xây dựng Luật An ninh mạng để kiểm soát, nhằm làm lành mạnh hóa không gian trên mạng xã hội chứ không hề cấm đoán, kiểm soát người dân sử dụng Internet như nhận định của Freedom House đưa ra.

          Trở lại việc chấm điểm của Freedom House: Năm 2020, Việt Nam bị tụt một điểm về chỉ số "Tự do". Khi thông tin này được công bố và được một số đài nước ngoài thông tin, kèm theo những bài phỏng vấn một vài phần tử phản động lưu vong, trong đó có Nguyễn Văn Đài, một đối tượng vi phạm pháp luật, ra tù và đang sinh sống tại nước ngoài. Theo Nguyễn Văn Đài, năm 2020, Nhà nước Việt Nam đã "đàn áp" 32 nhà hoạt động dân sự, trong đó có Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng - đó là lý do để Freedom House hạ điểm về quyền "Tự do" của người dân Việt Nam...

          Nếu Freedom House chấm điểm dựa theo việc thực thi pháp luật của Nhà nước Việt Nam đối với những công dân vi phạm pháp luật (như Nguyễn Văn Đài đã trả lời phỏng vấn RFA), thì càng thể hiện việc Freedom House đã dùng những điểm số nhằm mục đích chính trị, can thiệp vào hoạt động tư pháp bình thường của Nhà nước Việt Nam.

          Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định: Ở Việt Nam không có "tù nhân lương tâm", không có việc đàn áp, bỏ tù những người bất đồng chính kiến, mà chỉ có việc điều tra, xét xử những công dân vi phạm pháp luật. Một tổ chức phi chính phủ hay một quốc gia dù lớn mạnh cỡ nào cũng không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác và càng không thể gây sức ép với Việt Nam bằng những nhận xét về tình hình tự do, nhân quyền một cách thiếu trách nhiệm.

          Nhân dân Việt Nam đã và đang được sống trong một đất nước tự do, trong đó, những quyền cơ bản của con người được tôn trọng và bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật. Cho nên mọi sự xuyên tạc từ các tổ chức hay các thế lực từ bên ngoài không làm thay đổi được tình hình ở Việt Nam, bởi chỉ có người dân sống trên Tổ quốc này mới cảm nhận rõ những gì tốt đẹp mà họ đang thụ hưởng.


Các nguyên tắc cơ bản của bầu cử ở Việt Nam hiện nay .

Với tư cách một thiết chế bảo đảm dân chủ, bầu cử có những nguyên tắc chung nhất, mà bất cứ hoạt động bầu cử ở đâu cũng đều phải tuân theo. Ở nước ta, bầu cử là một định chế quan trọng của dân chủ, nền tảng hợp pháp để hình thành các chức danh, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị. Bầu cử là một quá trình đưa ra quyết định của công dân hoặc của thành viên một tổ chức để chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền, thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan, đơn vị nào đó. Đây là cơ chế phổ biến được các nền dân chủ hiện áp dụng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, đôi khi cả ở bộ máy hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực của Nhà nước. Trong văn bản pháp luật, thuật ngữ “bầu cử” được hiểu là thủ tục thành lập cơ quan nhà nước hay chức danh nhà nước. Thủ tục này được thực hiện bởi sự biểu quyết của cử tri (đại cử tri, đại diện cử tri) nhằm bầu ra một đại biểu (chức danh) với điều kiện phải có từ hai ứng cử viên trở lên. Định nghĩa trên cho phép phân biệt bầu cử với phương pháp khác trong việc thành lập cơ quan nhà nước, như bổ nhiệm, chỉ định. Ngoài những cuộc bầu cử mang tính chất chính trị (thành lập cơ quan nhà nước), bầu cử còn được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội, chính trị, như các đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng… Bầu cử cũng thường được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức thương mại và tư nhân, từ các câu lạc bộ cho đến các hội từ thiện và các tập đoàn,... Khác với cuộc bầu cử được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cuộc bầu cử thành lập cơ quan nhà nước hay một chức danh nhà nước được điều chỉnh bởi Hiến pháp và pháp luật do Nhà nước ban hành. Thông thường, cơ quan đại diện của chính quyền địa phương được thành lập bằng con đường bầu cử. Ở một số nước, các cơ quan nhà nước khác như Tổng thống, Chính phủ, Tòa án cũng được thành lập thông qua bầu cử. Bầu cử cho phép người dân có quyền rất lớn để hành động như những "chủ nhân" chọn những "công bộc" chính quyền cho chính họ. Điểm đặc biệt của các nền dân chủ và cộng hòa là sự nhận thức rõ rằng, để Nhà nước có được quyền hợp pháp, thực sự là Nhà nước "của dân, do dân và vì dân", thì phải có sự đồng thuận của người dân hay những người bị trị. Cần phân biệt giữa bầu cử với chế độ bầu cử, theo đó, chế định bầu cử là một tổng thể gồm các nguyên tắc, các quy định của pháp luật về bầu cử cùng những quan hệ được hình thành trong toàn bộ quá trình tiến hành bầu cử: từ lúc công dân ghi tên trong danh sách bầu cử đến lúc các lá phiếu được bỏ vào thùng phiếu và xác định kết quả bầu cử. Đó là tổng thể các quan hệ xã hội hợp thành trình tự bầu cử. Bên cạnh đó, cũng cần phân biệt “bầu cử” với “quyền bầu cử”. Quyền bầu cử được hiểu là khả năng của công dân được Nhà nước bảo đảm tham gia vào quá trình thành lập các cơ quan nhà nước ở Trung ương và cơ quan chính quyền địa phương. Quyền bầu cử là tổng thể những quy định cụ thể cho công dân. Các nguyên tắc bầu cử là những quy định được áp dụng cho quyền bầu cử của chủ thể (quyền bầu cử chủ động và quyền bầu cử bị động). Nguyên tắc bầu cử là điều kiện được quy định bởi luật bầu cử của mỗi nước, mà việc thực hiện và tuân thủ quy định đó trong quá trình bầu cử quyết định tính hợp pháp của cuộc bầu cử. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định 4 nguyên tắc bầu cử: nguyên tắc phổ thông, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc trực tiếp và nguyên tắc bỏ phiếu kín. Nguyên tắc phổ thông Pháp luật bầu cử của các nước đều khẳng định, nguyên tắc phổ thông đầu phiếu là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật), đến tuổi trưởng thành đều được trao quyền bầu cử. Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử. Ví dụ: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân của nước ta quy định đối với việc bầu cử đại biểu Quốc hội: - Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, được Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; - Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập công khai, có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân; - Thời gian bỏ phiếu được quy định thống nhất trong cả nước từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối (trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật); - Mọi công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri; - Danh sách cử tri được niêm yết công khai chậm nhất là 40 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; - Danh sách ứng cử viên cũng được lập và niêm yết công khai chậm nhất là 20 ngày trước ngày diễn ra bầu cử để cử tri tìm hiểu và lựa chọn. Nguyên tắc bình đẳng Bình đẳng trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Nội dung của nguyên tắc bình đẳng là mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo,... Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của công dân. Nội dung nguyên tắc bình đẳng: Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú; Mỗi ứng cử viên chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; Mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu. Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu thích đáng. Nguyên tắc trực tiếp Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện các thủ tục bỏ phiếu. Trái với nguyên tắc bầu cử trực tiếp là nguyên tắc bầu cử gián tiếp. Theo nguyên tắc này, cử tri không trực tiếp bầu ra người đại diện cho mình, mà bầu ra thành viên của tuyển cử đoàn, sau đó tuyển cử đoàn mới bầu ra cơ quan đại diện hay chức danh nhà nước. Bầu cử gián tiếp có thể qua hai cấp, như bầu Tổng thống Mỹ (cử tri bầu ra Đại cử tri đoàn), Thượng nghị viện Pháp; hoặc bầu qua ba cấp, như bầu Quốc hội Trung Quốc (Đại hội đại biểu nhân dân toàn Trung Quốc). Nguyên tắc bỏ phiếu kín Nguyên tắc bỏ phiếu kín thể hiện ở việc loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài đối với việc thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri. Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, các nước thường quy định việc bỏ phiếu kín. Ví dụ: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín. Theo nguyên tắc này, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu. Bốn nguyên tắc nói trên là một chỉnh thể, thiếu sót ở nguyên tắc nào cũng ảnh hưởng đến nguyên tắc khác. Để buộc các chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc nói trên, Nhà nước pháp điển hóa các nội dung của chúng thành các quy phạm pháp luật. Có nguyên tắc được quy định rõ trong một quy định, có nguyên tắc được thể hiện bằng nhiều quy phạm pháp luật khác nhau. Theo chiều hướng của sự phát triển xã hội ngày càng mở rộng dân chủ, thì các hình thức biểu hiện của các nguyên tắc bầu cử trên đây càng đa dạng, càng phong phú, càng góp phần đảm bảo tính chất dân chủ của các cuộc bầu cử. Tóm lại, bầu cử là biểu hiện quan trọng của dân chủ trong xây dựng chính quyền nhà nước. Chế độ bầu cử là nền tảng của dân chủ, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc kiến tạo chế độ dân chủ. Chế độ bầu cử là một trong những trụ cột trong cấu trúc dân chủ ở bất cứ nhà nước nào, bất cứ tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội nào. Dân chủ và bầu cử gắn bó mật thiết như hình với bóng. Ở đâu có bầu cử tự do và trung thực, thì ở đó một chế độ dân chủ được nảy nở và phát triển. Dân chủ có nghĩa là nhân dân là nguồn gốc, là chủ thể của quyền lực nhà nước; các cơ quan quyền lực phải được nhân dân bầu hoặc bãi miễn thông qua bầu cử tự do, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Bầu cử là một định chế quan trọng của dân chủ, nền tảng hợp pháp để hình thành các chức danh, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức thành viên thuộc hệ thống chính trị, trong đó có Đảng Cộng sản cầm quyền. Việc thiết kế, thực thi chế độ bầu cử tiến bộ, phù hợp, thực sự dân chủ là công việc quan trọng hàng đầu đối với bất cứ cơ quan chính quyền nhà nước, cũng như đối với tất cả các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay. /

Cần nghiêm trị đối tượng dùng mạng xã hội xâm phạm an ninh quốc gia

Những thông tin cho rằng không bao giờ có chuyện “Tuổi trẻ Việt Nam hôm nay đã có sự chuyển hướng về suy nghĩ…”, ám chỉ là sự chuyển hướng về chính trị của thanh niên như các thế lực thù địch vẫn rêu rao khi đánh đồng một số gương mặt cơ hội chính trị, những phần tử “thanh niên” phản cách mạng… hoặc thông tin Việt Nam yêu cầu Trung Quốc chấm dứt xâm phạm chủ quyền ở Biển Đông tại các cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc nhiều tàu Trung Quốc hoạt động tại Bãi Ba Đầu thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao khẳng định: Hoạt động của các tàu Trung Quốc trong phạm vi lãnh hải của Sinh Tồn Đông thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã xâm phạm chủ quyền của Việt Nam.Việt Nam yêu cầu Trung Quốc chấm dứt hành động xâm phạm; tôn trọng chủ quyền của Việt Nam; thiện chí thực hiện UNCLOS; nghiêm chỉnh tuân thủ DOC, đặc biệt là nghĩa vụ kiềm chế, không làm phức tạp tình hình; tạo môi trường thuận lợi cho tiến trình đàm phán COC; đóng góp vào việc duy trì hòa bình, an ninh, ổn định và trật tự pháp lý trên biển tại khu vực. Thông điệp đó một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta đối với vấn đề Biển Đông, bác bỏ những thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội.

Hoặc các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải một số quy định liên quan công tác bầu cử được quy định trong Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu HĐND, trong đó nêu rõ các hành vi bị cấm khi vận động bầu cử như lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác; lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử;  lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình; sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri; các tổ chức phụ trách bầu cử và thành viên của các tổ chức này vận động bầu cử cho người ứng cử.

Từ những quy định trên có thể thấy cơ quan công an đã thực hiện đúng quy định của pháp luật khi bắt giữ và xử lý một số đối tượng tự xưng là“ ứng viên độc lập” sử dụng mạng xã hội để livestream tuyên truyền chống phá, phỉ báng chính quyền nhân dân; kích động các hoạt động bất mãn, chống đối.  
Như vậy, tình hình tội phạm tiếp tục diễn biến phức tạp, nổi lên là các thế lực thù địch và tổ chức phản động tiếp tục lôi kéo những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, lợi dụng triệt để sơ hở, thiếu sót của cơ quan Nhà nước để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân; kích động biểu tình, chống đối, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nhằm chống phá Đảng và Nhà nước. Đó là vụ giết người, gây rối trật tự công cộng, bắt giữ người trái pháp luật xảy ra tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội. Bên cạnh đó, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường ở miền Trung, Quốc hội thảo luận về dự thảo luật Đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt và luật An ninh mạng…, để kích động gây rối, đập phá, hủy hoại tài sản của cơ quan Nhà nước tại một số địa phương, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về chính trị, xã hội. Hiện có hàng trăm fanpage trên facebook là tin giả và trang giả mạo có nội dung về dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19 và vaccine ngừa căn bệnh này mà bị giới chuyên gia dán nhãn là thông tin sai lệch.


Cần vạch trần mưu đồ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

 

Trong lúc Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng đang gấp rút tiến hành những bước cần thiết theo quy định của pháp luật để chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, thì trên mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc, sai trái hòng làm suy giảm niềm tin của cử tri và nhân dân, phá hoại cuộc bầu cử.

Một số đối tượng đòi mở rộng dân chủ trong hoạt động bầu cử và hoạt động của Quốc hội để từ đó đưa ra những yêu sách, luận điệu hoàn toàn sai trái như: Đòi Quốc hội phải độc lập với Đảng; cho rằng Đảng lãnh đạo Quốc hội là đứng ngoài và đứng trên luật pháp; rằng Đảng lãnh đạo Quốc hội là biểu hiện của mất dân chủ; đòi phải cân bằng quyền lực giữa Quốc hội và Đảng nên cần có ít nhất 50% đại biểu Quốc hội không phải là đảng viên, vì chỉ có đại biểu Quốc hội không phải là đảng viên mới đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, còn đại biểu Quốc hội là đảng viên chỉ bảo vệ ý chí của Đảng...
Phương thức lãnh đạo của Đảng với Quốc hội, trước tiên bằng nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, đại diện cho cử tri, toàn thể nhân dân nên việc Đảng lãnh đạo Quốc hội chính là để thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, từ đó đưa vào thực tiễn cuộc sống.

Đảng lãnh đạo Quốc hội trực tiếp, toàn diện nhưng không làm thay, mà Đảng lãnh đạo Quốc hội là để phát huy vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, phát huy trí tuệ của Đảng Đoàn Quốc hội, các đoàn ĐBQH, từng ĐBQH và thực hiện ý nguyện của nhân dân. Thông qua hoạt động của Quốc hội (lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước) tác động lại sự lãnh đạo của Đảng trong việc đưa ra các chủ trương, chính sách mới để đưa đất nước ngày càng phát triển.

Ý kiến đòi ĐBQH không phải là đảng viên phải chiếm 50% Quốc hội là không phù hợp. Đó là vì, Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua Đảng Đoàn Quốc hội và thông qua các đảng viên tại Quốc hội. Trong Quốc hội, số lượng đảng viên chiếm đa số, thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp, thành phần trong xã hội. Có thể nói, số lượng đảng viên trong Quốc hội cũng chính là một đặc trưng, thể hiện bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đảng viên được bầu làm ĐBQH nhìn chung đều có trình độ, có tri thức, có đạo đức, có vị trí, vai trò nhất định trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước cũng như thực hiện đường lối chính sách của Đảng. Thông qua hoạt động của mình, các đảng viên giữ các vị trí quan trọng trong xã hội tham gia giải quyết những vấn đề của Quốc hội và cũng chính là thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng thông qua các đảng viên. Muốn nâng cao chất lượng công tác lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, cần định hướng, xây dựng các ĐBQH, đội ngũ cán bộ hoạt động tại Quốc hội có nhận thức chính trị vững vàng, đạo đức tốt, có tri thức và chuyên môn sâu.

Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong công tác bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Quan điểm cho rằng, chỉ có người ngoài đảng mới đại diện tốt cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, còn ĐBQH là đảng viên không đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân là hoàn toàn xằng bậy. Bởi vì, bản chất cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là cầm quyền vì lợi ích của nhân dân, đại diện cho lợi ích của nhân dân, cầm quyền theo pháp luật, cầm quyền một cách dân chủ và khoa học. Đảng cầm quyền không có mục đích nào khác vì sự phồn vinh của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời tới nay thì mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, mọi thành tựu của đất nước Việt Nam, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam đều có vai trò lãnh đạo của Đảng. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” xác định là phương thức vận hành tổng thể của hệ thống chính trị Việt Nam. Cơ chế này là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân, đồng thời xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới. Vì thế, các đảng viên là ĐBQH không chỉ để giữ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước mà còn là đại diện chân chính cho tiếng nói, lợi ích chính đáng của nhân dân.
Có thể thấy, trong những năm qua, Quốc hội với đại đa số đại biểu là đảng viên đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đóng góp tích cực về trí tuệ, công sức vào công cuộc phát triển đất nước, thực hiện tốt vai trò là đại diện, bảo vệ cho quyền, nguyện vọng và lợi ích hợp pháp của cử tri và nhân dân. Những thành tựu trong phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh, đối ngoại..., trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; trong phòng, chống dịch bệnh; trong việc bảo đảm và từng bước nâng cao đời sống nhân dân đã thể hiện rõ hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó có Quốc hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hoạt động của Quốc hội ngày càng dân chủ, với các hoạt động chất vấn, tranh luận rất sôi nổi, hiệu quả tại nghị trường, được cử tri và nhân dân cả nước quan tâm, đánh giá cao.

Bên cạnh đó, các ĐBQH không phải là đảng viên cũng đã tham gia tích cực, hiệu quả vào hoạt động của Quốc hội. Bởi vậy, việc những người ngoài Đảng tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp là hoàn toàn hợp pháp. Nếu hội đủ các tiêu chuẩn, được sự tín nhiệm của cử tri và nhân dân theo các quy định trong hiệp thương, bầu cử thì người không phải đảng viên đều có thể trở thành ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp. Cánh cửa Quốc hội và HĐND các cấp luôn rộng mở đối với những người ngoài Đảng.

Cần một lần nữa nhấn mạnh rằng, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng đã được Hiến định, được nhân dân đồng tình ủng hộ và đã mang lại những thành tựu cho đất nước trong những năm qua. Tất nhiên, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội vẫn cần phải được đổi mới cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Hoạt động của Quốc hội luôn được đổi mới theo hướng ngày càng dân chủ hơn. Thế nhưng, dù cho đổi mới thế nào thì những thành tựu, hiệu quả cần được khẳng định, những vấn đề có tính nguyên tắc trong mối quan hệ giữa Đảng và Quốc hội, những vấn đề thuộc bản chất của chế độ chính trị vẫn cần được giữ vững. Những ý kiến, nhận xét thiếu tính xây dựng, mang động cơ chính trị đen tối, mưu đồ cá nhân không đàng hoàng cần phải được nhìn nhận rõ. Các luận điệu sai trái đòi đặt hoạt động của Quốc hội ra ngoài sự lãnh đạo của Đảng, đòi ĐBQH không phải là đảng viên phải chiếm đa số, rồi Quốc hội phải hoạt động theo mô hình của các nước tư bản... thực chất chính là muốn thúc đẩy sự chuyển hóa của Quốc hội nước ta, muốn cài cắm một lực lượng đối lập trong Quốc hội, để biến nghị trường Quốc hội thành diễn đàn để chống phá chế độ chính trị-xã hội ở nước ta. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên, cử tri và nhân dân cần nhận thức đúng, tránh mắc mưu của những đối tượng xấu.

 

Vạch trần chiêu trò “ăn vạ” phía sau tự ứng cử

 


Nhà nước luôn khuyến khích người có đức, có tài tự ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) để góp sức xây dựng đất nước. Thực tế đã có những người hội tụ đủ phẩm chất, tiêu chuẩn đã tự ứng cử thành công, được cử tri bầu làm đại biểu và có đóng góp tích cực cho nước nhà. Bên cạnh đó, cứ mỗi dịp bầu cử ĐBQH, đại biểu HĐND, các phần tử chống phá đều ráo riết thực hiện chiêu trò tự ứng cử. Khi biết chắc không đạt được mục đích, họ dùng thủ đoạn bôi nhọ, xuyên tạc công tác bầu cử, qua đó làm giảm niềm tin của cử tri, nhân dân và tiến tới phá hoại bầu cử. Cuộc bầu cử ĐHQB khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 cũng vậy. Những phần tử chống phá bịa đặt, xuyên tạc rằng hội nghị cử tri nơi cư trú chỉ là nơi đấu tố. Trong khi họ tung ra những bảng thu thập chữ ký ảo trên mạng xã hội thì lại rất sợ đứng trước hội nghị cử tri nơi cư trú-nơi tập hợp những cử tri thật, gần họ nhất, hiểu họ nhất và có những nhận xét cực kỳ chính xác về họ.

Từ Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam năm 1946 cho đến tất cả những bản Hiến pháp sau này đều quy định rất rõ: Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử, từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND (Điều 18, Hiến pháp năm 1946; Điều 23, Hiến pháp năm 1959; Điều 57, Hiến pháp năm 1980; Điều 54, Hiến pháp năm 1992; Điều 27, Hiến pháp năm 2013).
Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND cũng quy định công dân Việt Nam đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Luật quy định rõ: “Người tự ứng cử nộp hai bộ hồ sơ ứng cử tại Ủy ban bầu cử ở tỉnh nơi mình cư trú hoặc công tác thường xuyên” (điểm b, khoản 1, Điều 36, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND). Chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 cũng nêu rõ: “Bảo đảm các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật”.

Tất cả các đợt bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp từ trước tới nay đều không có cản trở vì ứng cử là quyền của công dân. Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền ứng cử. Người tự ứng cử hay người được giới thiệu ứng cử đều cùng chung thủ tục về hồ sơ, quy trình.
Thực tế đã có rất nhiều người tự ứng cử được cử tri nơi cư trú tín nhiệm cao, vượt qua các vòng hiệp thương để vào danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và được cử tri nơi ứng cử tín nhiệm bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND. Danh sách cụ thể những người tự ứng cử đủ tiêu chuẩn ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và danh sách những người tự ứng cử được bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND các nhiệm kỳ đều rất dễ tìm thấy trên mạng internet.
Như vậy, từ chủ trương, chính sách của Đảng; quy định của Hiến pháp, pháp luật đến thực tiễn đều không có bất cứ hạn chế nào về quyền ứng cử của công dân, ngoại trừ những trường hợp không được ứng cử quy định tại Điều 37, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND (người đang bị tước quyền ứng cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang chấp hành hình phạt tù, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; người đang bị khởi tố bị can; người đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của tòa án; người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của tòa án nhưng chưa được xóa án tích; người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn). Theo quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, người ứng cử ĐBQH phải đáp ứng tiêu chuẩn của ĐBQH quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội; người ứng cử đại biểu HĐND phải đáp ứng tiêu chuẩn của đại biểu HĐND quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Do vậy, chỉ những người ứng cử đáp ứng đủ tiêu chuẩn mới có tên trên danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử sau hội nghị hiệp thương lần thứ 3. Theo quy định, cử tri nơi cư trú hoặc cử tri nơi công tác sẽ nhận xét người ứng cử có đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không và trực tiếp biểu quyết nhất trí hay không nhất trí để người đó ứng cử ĐBQH/đại biểu HĐND. Kết quả của hội nghị cử tri là một trong những căn cứ quan trọng để MTTQ Việt Nam hiệp thương và quyết định điền tên người ứng cử vào danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không.

 Những phần tử chống đối, phá hoại bầu cử biết rất rõ mình không thể đáp ứng đủ tiêu chuẩn của ĐBQH, đại biểu HĐND, đặc biệt là các tiêu chuẩn trung thành với Hiến pháp; gương mẫu chấp hành pháp luật. Ngay những hành vi chống phá Đảng, không công nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Nhà nước mà họ thực hiện đã thể hiện rất rõ họ không trung thành với Hiến pháp và không chấp hành pháp luật. Vì thế, họ rất sợ các quy trình về hiệp thương, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú. Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, nguyên tắc nghị sĩ/đại biểu Quốc hội phải trung thành với Hiến pháp là nguyên tắc được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Ngay tại Mỹ, các nghị sĩ khi đắc cử cũng phải thực hiện thủ tục tuyên thệ, thề trung thành với Hiến pháp. Nghị sĩ/đại biểu Quốc hội làm việc tại cơ quan lập pháp, nên chắc chắn không có nước nào ủng hộ nghị sĩ nước mình không tôn trọng luật pháp, không tuân thủ pháp luật.

Hơn ai hết, cử tri nơi người ứng cử cư trú/công tác là những người hiểu rõ về người ứng cử đó nhất. Nếu người ứng cử thực sự là người có đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật thì không có lý do gì phải e ngại việc lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú. Quy định về tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri cũng thể hiện rõ tính khách quan. Cụ thể, theo hướng dẫn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Nghị quyết số 1186/2021/UBTVQH14, hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi cư trú được tổ chức tại thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố nơi người ứng cử thường trú hoặc tạm trú. Đối với nơi có dưới 100 cử tri thì tổ chức hội nghị toàn thể cử tri và phải bảo đảm số lượng cử tri tham dự đạt ít nhất 50% tổng số cử tri được triệu tập. Đối với nơi có từ 100 cử tri trở lên thì có thể tổ chức hội nghị toàn thể hoặc hội nghị cử tri đại diện hộ gia đình và phải bảo đảm có ít nhất 55 cử tri tham dự hội nghị. Quy định như vậy để loại trừ trường hợp lựa chọn cử tri đi dự hội nghị, giúp hội nghị cử tri nơi cư trú cho ý kiến khách quan nhất, toàn diện nhất về người ứng cử.

Ấy vậy mà những phần tử chống phá đội lốt “người tự ứng cử” lên tiếng rêu rao trên mạng xã hội và một số trang thông tin nước ngoài rằng, hội nghị cử tri nơi cư trú là nơi để đấu tố, lên án, loại bỏ người tự ứng cử. Điều rất hài hước là những kẻ đội lốt “người tự ứng cử” để chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, phá hoại bầu cử rất tự tin trưng ra những bản tập hợp chữ ký ảo trên mạng để giới thiệu ứng cử, nhưng đứng trước cử tri thật ở chính nơi họ cư trú thì họ lại tỏ ra run sợ. Riêng điều này đã thể hiện rõ sự lòe bịp của họ về những bản “tập hợp chữ ký” và thể hiện rõ uy tín của họ ở nơi cư trú thảm hại đến mức nào. Đến cử tri nơi họ cư trú còn không muốn để họ lọt vào danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử, mà họ còn muốn ra oai đại diện cho cử tri cả nước được sao? Khi không vượt qua được hội nghị cử tri nơi cư trú, họ bèn sử dụng chiêu “rạch mặt ăn vạ” khi rêu rao rằng hội nghị cử tri chỉ là nơi đấu tố, lên án họ để loại họ ngay từ vòng đầu!

Cũng vì nhận thức rõ với sự quay lưng của cử tri nơi cư trú và với lý lịch bất hảo về chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, xâm phạm lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, họ chắc chắn không thể vượt qua được các vòng hiệp thương do MTTQ Việt Nam tổ chức, nên họ rêu rao rằng, tổ chức hội nghị hiệp thương là vi hiến vì Hiến pháp không có quy định về hiệp thương hay về cơ cấu, thành phần ĐBQH. Chiêu “rạch mặt” này lại làm lòi ra cái dốt khác của họ về kiến thức pháp luật. Ai am hiểu về luật pháp cũng hiểu một điều rất đơn giản: Hiến pháp là đạo luật gốc, là đạo luật cơ bản nên chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất. Không có một bản hiến pháp nào trên thế giới quy định đầy đủ mọi quy phạm để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội. Chẳng hạn, không thể nói rằng Hiến pháp không quy định về hợp đồng nên mọi quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp... là vi hiến. Thực tế, quy định về hiệp thương và các bước tiến hành hiệp thương được thể hiện rất rõ trong Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND nên việc MTTQ Việt Nam tổ chức hiệp thương là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật và không vi hiến. Kiến thức sơ đẳng về pháp luật như vậy mà còn không hiểu, thì những thành phần đó sao đủ tiêu chuẩn về trình độ, chuyên môn, năng lực để trở thành ĐBQH-người sẽ hoạt động ở cơ quan có chức năng rất quan trọng là lập pháp?

Vậy, đằng sau chiêu trò “tự ứng cử” của các phần tử chống đối, phá hoại là gì? Họ “tự ứng cử” với hy vọng hão huyền nếu trúng cử sẽ biến Quốc hội, HĐND trở thành diễn đàn cho họ thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, gây rối hoạt động của cơ quan dân cử nói riêng và của Nhà nước nói chung, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” ngay trong cơ quan dân cử của nước ta. Khi không thực hiện được mục tiêu của mình, họ quay ra bịa đặt, xuyên tạc để phá hoại bầu cử. Tuy nhiên, dù dùng âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm, ngụy quân tử đến mức nào, họ cũng không thể đánh lừa được cử tri. Bằng chứng là dù đợt bầu cử nào họ cũng ra sức hoạt động, ra sức “tự ứng cử” nhưng đều bị cử tri nơi cư trú vạch mặt thẳng thừng. Vì cử tri cực kỳ sáng suốt, nên họ chưa và sẽ không bao giờ thực hiện được mưu đồ thiếu tử tế của mình.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác đối ngoại hiện nay


Trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong công tác đối ngoại của Đảng càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Trong đó, giữ vững các quyền dân tộc cơ bản gắn với độc lập tự chủ, tự lực, tự cường. Bác đã dặn: “Muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã”; “Muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm”; “Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dẫu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”(2). Người cũng đã đúc kết thành chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Và chân lý ấy, đến ngày nay vẫn là một yêu cầu thiết yếu trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. 

Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện tốt trách nhiệm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Chủ tịch ASEAN, đề cao vai trò của Liên hợp quốc trong việc bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản gắn với độc lập tự chủ của các nước, nâng cao vai trò trung tâm của ASEAN trong khu vực, đóng góp tích cực vào công việc chung của thế giới, trong đó có tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc… Việt Nam cũng đã chủ động, tích cực thúc đẩy đàm phán, hợp tác giải quyết những tồn tại trong phân định biên giới trên bộ và trên biển, vừa bảo vệ được chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của ta theo phương châm đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nêu rõ là “phải luôn kiên trì, bình tĩnh, sáng suốt xử lý đúng đắn mọi vấn đề phức tạp, trong đó có vấn đề chủ quyền, lãnh thổ”, “thực hiện phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, nhất là giữ “trái tim nóng, cái đầu lạnh” và “kiên quyết, kiên trì” để xử lý các thách thức đối ngoại”(3). Việt Nam đang thể hiện lập trường chủ động, mạnh mẽ, tích cực hơn về các vấn đề lợi ích cốt lõi của mình nhằm dẫn dắt dư luận, tạo sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế.

Tiếp đó, tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Trong đó, tư tưởng chủ đạo là độc lập tự chủ, tự lực, tự cường gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cái gốc, cái điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh”. Người nhấn mạnh: “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn”(4). Bác Hồ cũng đã chú trọng xây dựng và phát huy sức mạnh của công tác đối ngoại nhân dân, nhờ đó đã vận động được nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Bác đã dặn rằng: Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới....

Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục tăng cường thế và lực, phát huy sức mạnh của dân tộc theo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, bao gồm cả sức mạnh vật chất và tinh thần; cả vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực và các giá trị lịch sử, truyền thống, văn hóa, lòng yêu nước, tinh thần cần cù lao động và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam... Đồng thời, Đảng ta chủ trương kết hợp sức mạnh đó với sức mạnh thời đại là các trào lưu tiến bộ chính trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng... Sau đại dịch SARS-CoV-2, Đảng và Chính phủ đang tận dụng tối đa khả năng các nước và tập đoàn kinh tế lớn chuyển hướng tới thị trường Việt Nam; đồng thời, tiếp tục thu hút nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự phát triển đất nước. 

Tư tưởng yêu chuộng hoà bình, chống chiến tranh xâm lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định thực hiện mục tiêu cao cả nhất của cách mạng là hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, chống chiến tranh xâm lược với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Trong khi kiên quyết giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự xâm lược, đô hộ của ngoại bang, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì đường lối hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước, trước hết là các nước lớn và các nước láng giềng, qua đó đã thu hút được sự đoàn kết và ủng hộ của đông đảo nhân dân trên thế giới, ngay cả nhân dân của các nước xâm lược từ bản xứ.

Trong bối cảnh hiện nay, xu hướng chung của thế giới và khu vực vẫn là hòa bình, ổn định, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển. Tuy nhiên, tình hình thế giới có những thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường với những bất ổn như xung đột ở Trung Đông, châu Phi, chủ nghĩa khủng bố, cạnh tranh chiến lược giữa các nước, chủ nghĩa đơn phương, chính trị cường quyền, thiếu tôn trọng luật pháp quốc tế, khiến thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống, đòi hỏi Đảng và Chính phủ ta phải vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các đối sách ngoại giao và hợp tác quốc tế.

Tư tưởng hòa hiếu, thêm bạn bớt thù. Từ hoàn cảnh cách mạng, có lúc phải đối phó với nhiều đối thủ, Người có phương châm“... làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết”. Bác Hồ và Đảng ta phân biệt rõ bạn, thù, bạn gần, bạn xa, bạn lâu dài, bạn nhất thời, tìm cách giảm bớt kẻ thù, để tập trung đấu tranh với kẻ thù chính. Ngay khi còn trong nhà tù ở Trung Quốc (1942-1943), Bác Hồ đã bày tỏ đoàn kết với phong trào chống thực dân của Ấn Độ. Năm 1944, Người đích thân đưa Trung úy phi công W. Shaw đi Côn Minh trao trả cho Mỹ, qua đó để Mỹ hiểu cuộc chiến đấu của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh. Người cũng giáo dục nhân dân ta phân biệt rõ bạn, thù, phân biệt thực dân Pháp và đế quốc Mỹ với nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ để tranh thủ sự đoàn kết và ủng hộ của họ, cô lập và chĩa mũi nhọn đấu tranh vào thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương tiếp tục kiên trì nguyên tắc giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, đồng thời nêu cao tinh thần hòa hiếu với tất cả các nước, đặc biệt các nước lớn và láng giềng; vận dụng phương châm mà Bác Hồ đã chỉ đạo là “biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự”, cố gắng không để bùng phát những vấn đề gây cấn, bất lợi trong quan hệ, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển của ta. 

Do quan hệ quốc tế phức tạp, đa chiều, lợi ích các quốc gia, dân tộc nhiều khi đan xen hoặc đối lập, Đảng ta đã có cách nhìn nhận biện chứng với phương châm “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”; xác định đồng minh, đối thủ là bộ phận quan trọng trong sách lược cách mạng, giúp xử lý hiệu quả các mâu thuẫn, thu hút sự ủng hộ của bạn bè và cô lập kẻ thù. Tính biện chứng còn được thể hiện ở chỗ xác định rõ các khái niệm “đối tác”, “đối tượng” nhằm phân biệt rõ “đối tác” cần hợp tác và “đối tượng” cần đấu tranh trong từng trường hợp cụ thể. Đảng và Nhà nước ta cũng đã thực hiện tốt các chủ trương từ “thêm bạn, bớt thù” trước đây đến “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển”. Tư tưởng đó đã phát huy hiệu quả, đưa vai trò và vị thế quốc tế của Việt Nam lên một tầm cao mới.

Tư tưởng mở cửa và hợp tác quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấu hiểu tầm quan trọng của việc mở cửa và hợp tác quốc tế, ngay đầu tháng 12-1946, trong Lời kêu gọi gửi Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đối với các nước dân chủ, Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”; đón nhận đầu tư của các nhà tư bản và công nghệ nước ngoài; mở rộng các hải cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc...

Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta đã đề ra và kiên trì thực hiện chủ trương mở cửa và hợp tác quốc tế. Nghị quyết số 22- NQ/TW (10-4-2013) của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, “Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” và Nghị quyết số 06-NQ/TW (5-11-2016) của Ban Chấp hành TƯ khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng, tham gia hàng chục hiệp định kinh tế và FTA thế hệ mới cả song phương, khu vực và đa phương thể hiện rõ chủ trương lớn của Đảng về công tác đối ngoại.

Quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh cả về tư duy và thực tiễn, đã chuyển mạnh từ phạm vi “hội nhập kinh tế” sang “hội nhập toàn diện” với các nội dung chủ yếu là: hội nhập về kinh tế, chính trị, quốc phòng-an ninh, văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác như lao động, y tế, thể thao... Trong hợp tác chính trị và quốc phòng - an ninh, Việt Nam đã tích cực tham gia các cơ chế như Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN (APSC), Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN (TAC, 1976), Hiệp ước Khu vực phi vũ khí hạt nhân Đông Nam Á (SEANWFZ, 1995) cũng như các cơ chế Đối thoại về an ninh như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS).

Sáu là, tư tưởng “Ngoại giao là một mặt trận”. Lịch sử đấu tranh của dân tộc ta chống các kẻ thù xâm lược mạnh hơn gấp nhiều lần đã hình thành nên nghệ thuật kết hợp giữa ba hình thức đấu tranh: chính trị, quân sự và ngoại giao. Trong đó, ngoại giao là một mặt trận, là một trong những nội dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh”, và cũng theo quan điểm của Người: Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập. Trên thực tế, đấu tranh ngoại giao khôn khéo có thể tránh được xung đột hay chiến tranh hoặc có thể “lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh “ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng” và “có thể thắng trước kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần”.  

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, nước ta đã duy trì được hòa bình, ổn định, nguy cơ chiến tranh bị đẩy lùi nhưng công tác đối ngoại vẫn có vai trò to lớn trong xử lý các vấn đề quốc tế. Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đề cao tầm quan trọng của mặt trận đối ngoại, kết hợp chặt với mặt trận chính trị và bảo vệ quốc phòng - an ninh, tạo sức mạnh tổng hợp, giữ gìn hòa bình, ổn định và thúc đẩy hợp tác phát triển. Mặt trận đối ngoại luôn được triển khai chủ động, tích cực và toàn diện gồm ngoại giao chính trị, ngoại giao quốc phòng - an ninh, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa. Trong đó, ngoại giao cùng với quốc phòng, an ninh tạo thành thế chân kiềng vững chắc, tiếp tục đóng góp chủ động, tích cực vào việc bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước còn chưa nguy, phục vụ thiết thực các lợi ích an ninh, phát triển, nâng cao vị thế đất nước.

Tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” như một phương pháp, phong cách và nghệ thuật đối ngoại của Hồ Chí Minh. Truyền thống đấu tranh ngoại giao của cha ông ta đã hình thành một phương cách ứng xử kiên trì về nguyên tắc nhưng linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo về sách lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Mục đích bất di bất dịch của chúng ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì giữ vững mục tiêu cách mạng, đồng thời ứng phó linh hoạt, phù hợp với mọi sự biến chuyển nhanh chóng và khó lường của tình hình, tương quan và tập hợp lực lượng, ý đồ của các nước lớn… Trong bối cảnh mới, việc vận dụng tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là một yêu cầu quan trọng. Cái “bất biến” vẫn là lợi ích quốc gia, dân tộc, mà cốt lõi là độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và biển đảo của Tổ quốc, chế độ XHCN, vai trò và quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cái “vạn biến” là sự biến chuyển nhanh chóng, khó lường của tình hình, sự điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước, của tương quan và tập hợp lực lượng, sự chuyển hóa của “đối tác”, “đối tượng”… Đảng và Nhà nước ta đã và đang kiên trì nguyên tắc bất biến là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đồng thời tiếp tục thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, xác định đúng đắn một cách biện chứng về “đối tác” và “đối tượng” trong từng vấn đề thuộc lợi ích quốc gia, dân tộc để kịp thời đề ra những chính sách, biện pháp hợp tác và đấu tranh phù hợp và hiệu quả.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đạt được những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, giải phóng và thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu vĩ đại của dân tộc có phần đóng góp hết sức quan trọng của công tác ngoại giao. Ngoại giao Việt Nam đã luôn đồng hành cùng dân tộc trong mọi giai đoạn cách mạng. Ngày nay, trong bối cảnh tình hình mới, ngoại giao Việt Nam tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, đi tiên phong kiến tạo môi trường hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác và kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại nhằm phục vụ hiệu quả nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam.