Thứ Hai, 19 tháng 4, 2021

TPHCM chọn 38 ứng cử viên để bầu đại biểu Quốc hội khóa XV

 Ngày 17/4, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM trình Hội nghị hiệp thương lần thứ ba danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND TPHCM.

Bà Tô Thị Bích Châu, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM cho biết, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định: số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử đó ít nhất là hai người.

TPHCM có 10 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội, để đảm bảo số dư ít nhất 2 người ở mỗi đơn vị bầu cử thì số người trong danh sách ứng cử là 50 người.

Vì vậy, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM trình Hội nghị hiệp thương lần thứ ba danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu đại biểu Quốc hội khóa XV gồm 39 người để chọn ra 38 người.

38 người này cộng với số đại biểu do Trung ương giới thiệu (13 người) sẽ là danh sách ứng cử chính thức. Danh sách này được công bố chậm nhất vào ngày 28/4.

Ngày 23/5 tới, cử tri tại 10 đơn vị bầu cử sẽ bầu ra 30 đại biểu Quốc hội từ danh sách được công bố chính thức. 

Hai giáo viên 9X người dân tộc Cơ Tu ứng cử đại biểu Quốc hội

 Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Nam vừa tổ chức Hội nghị hiệp thương lần thứ 3 lập danh sách chính thức 10 người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV, nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Tại hội nghị lần này, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Nam đã báo cáo về tình hình và kết quả tổ chức lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với những người ứng cử và tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV, nhiệm kỳ 2021-2026.

Trước đó, tại hội nghị hiệp thương lần 2, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Nam lập danh sách sơ bộ 11 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV, trong đó có 1 trường hợp tự ứng cử là ông Hoàng Anh Hùng (trú xã Bình Quế, huyện Thăng Bình).

Theo kết quả hội nghị lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội do Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Nam tổng hợp, có 9/11 người ứng cử được cử tri nơi cư trú nhận xét, đánh giá cao với tỷ lệ tín nhiệm đạt 100%, 1 người đạt 65,63%.

Tại hội nghị, đại biểu biểu quyết bằng hình thức giơ tay để giới thiệu danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội. Kết quả, 100% đại biểu thống nhất lập danh sách chính thức 10 người ứng cử.

Đáng chú ý, trong danh sách chính thức 10 người ứng cử trong lần hiệp thương lần thứ 3 này có 2 giáo viên là người đồng bào dân tộc Cơ Tu thuộc thế hệ 9X đã ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV, nhiệm kỳ 2021 - 2026, là anh Zơrâm Duy (sinh ngày 4/3/1992); là giáo viên, Phó Bí thư Đoàn trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Quảng Nam và chị Arất Thị Thúy Nga (sinh ngày 20/2/1994); là giáo viên Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS huyện Nam Giang.

Được biết, tỉnh Quảng Nam có 13 người ứng cử (trong đó Trung ương giới thiệu 3 người) để cử tri bỏ phiếu bầu chọn 7 người làm đại biểu Quốc hội khóa XV vào ngày 23/5 tới.

DÂN CHỦ TRỰC TIẾP, DÂN CHỦ ĐẠI DIỆN

 


Mỗi quốc gia dân tộc có sự lựa chọn quyền tự do, dân chủ của mình, các quyền đó được ghi trong Hiến pháp của mỗi nước. Dân chủ trực tiếp hay dân chủ đại diện mỗi hình thức dân chủ đều có những ưu nhược điểm riêng, nhưng đều thể hiện mục tiêu tối thượng là thể hiện quyền dân chủ của mọi công dân. Nhưng vấn đề ở đây là mọi công dân cần phải thể hiện tốt quyền dân chủ của mình theo Hiến pháp đã quy định của từng nước đã được mọi người dân tham gia; không có tự do, dân chủ chung chung; không lấy quyền dân chủ của nước này áp đặt sang nước khác.

NIỀM VUI TRỌN VẸN

 


          Dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi. Trải qua 21 năm kháng chiến trường kỳ, nước ta đã hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước vào Mùa xuân 1975. Niềm vui vỡ òa trong lòng mọi người Việt Nam, cảm giác ấy, lúc ấy, thật thiêng liêng cao cả, cả dân tộc đã đoàn kết cùng nhau giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xứng đáng với liệt tổ, liệt tông của các đời trước, thế hệ trước. Vinh dự, tự hào lắm chứ Việt Nam ơi !

 

CẢNH GIÁC VỚI COVID

 


          Những ngày vừa qua, các cơ quan chức năng của Nước ta đã phát hiện và bắt giữ nhiều người nhập cư trái phép bằng đường biển và đường bộ. Trong điều kiện dịch Covid bùng phát dữ dội ở Campuchia, có nhiều nguy cơ dịch có thể tràn qua biên giới Tây Nam. Người dân cả nước nói chung hãy cảnh giác cao độ với mầm mống của dịch bệnh này, nhất là người dân ở các tỉnh có chung đường biên giới với Campuchia cả trên bộ và trên biển, để hạn chế tối đa các nguy cơ về dịch Covid ảnh hưởng đến Việt Nam, ảnh hưởng đến cuộc sống bình yên của của nhân dân ta. Mong rằng các cơ quan chức năng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, khép chặt biên giới để bảo vệ nhân dân.

CHIẾN THẮNG XUÂN LỘC

 


          Cách đây 46 năm, cánh cửa thép phòng thủ Xuân Lộc của bè lũ tay sai đã được mở, mở đường cho đại quân ta tiến công giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Để có chiến thắng Xuân Lộc vào mùa xuân năm ấy, có biết bao cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh vì sự thống nhất của Tổ quốc. Chúng ta hãy kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của họ, những người con yêu quý của dân tộc Việt Nam.

CÓ HẠNH PHÚC NÀO BẰNG

 


Hơn 1 năm qua, Nước ta đã chiến đấu với các đợt dịch Covid-19 và đã rất thành công, thành công lần sau cao hơn lần trước... Nhìn ra xung quang, không nhiều nước thành công như chúng ta. Phòng và chống Covid thành công đã mở ra cánh cửa hạnh phúc cho dân tộc ta, mặc dù chưa thông thương được với quốc tế, nhưng nhiều nước mơ cũng chưa được... Mặc dù cuộc sống của một bộ phận người dân vẫn còn khó khăn, nhưng người dân nước ta hạnh phúc hơn nhiều so với người dân của rất nhiều nước.

KHƠI DẬY KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

 


Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội. Trong đó có nhiệm vụ: khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế; có chính sách cụ thể phát triển văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam./.

GIỮ VỮNG ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ TIẾP TỤC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI

 


Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định nhiệm vụ: giữ vững độc lập, tự chủ; tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn viện lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước./.

Giữ giá trị cho từng lá phiếu tín nhiệm .

Nhiều địa phương đã hoàn thành việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu, thể hiện thước đo đánh giá của nhân dân đối với cán bộ. . Lá phiếu tín nhiệm - tấm gương phản ánh hiệu quả công việc Nhìn vào kết quả hoạt động lấy phiếu tín nhiệm tại các kỳ họp HĐND diễn ra trong tháng 12 này, có thể thấy, các lá phiếu tín nhiệm phần nào đã phản ánh được thực tế hoạt động của từng ngành tại địa phương, cũng như trước đó đã từng thể hiện được phần nào những đánh giá về kết quả công tác của từng bộ, ngành trên cả nước. Trong đó, những ngành mà hoạt động liên quan đến đời sống dân sinh, an ninh trật tự sẽ được đánh giá khắt khe hơn. Do đó, các cơ quan như Sở GTVT, Sở Thông tin truyền thông, Sở Giáo dục, Sở Công an... với mức phiếu tín nhiệm thấp đạt 25% - 30%. Cá biệt, Giám đốc Sở Tài chính Bến Tre, có tới 51%, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La có 54,93% số phiếu tín nhiệm thấp... Đánh giá về kết quả lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp bầu ra, PGS.TS Đào Duy Quát, nguyên Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, cho rằng: Việc Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 11 ra Quy định 262/QĐ-TW Về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội là một bước tiến rất quan trọng trong công tác cán bộ và xây dựng Nhà nước ta. Sau bỏ phiếu, chúng ta thấy những cán bộ có tín nhiệm thấp đã nỗ lực phấn đấu để từng bước khắc phục những khuyết điểm, nhược điểm. Nhân dân cũng thực sự quan tâm, có ý kiến đóng góp để cho đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp khi bỏ phiếu tín nhiệm sẽ có ý thức trách nhiệm, quan tâm, theo dõi, đánh giá quá trình phấn đấu, rèn luyện của các cán bộ. Tuy nhiên, PGS.TS Đào Duy Quát cũng bày tỏ băn khoăn trước những thông tin cho rằng, đã có tình trạng “chạy phiếu tín nhiệm” và cho rằng điều này thể hiện sự đối phó, không trung thực, từ chạy bằng cấp, chạy tuổi đến chạy phiếu tín nhiệm thì chạy chức và cuối cùng là chạy tội không phải là không thể xảy ra. Cùng quan điểm đó, ông Vũ Quốc Hùng - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương - cho rằng: Chủ trương bỏ phiếu tín nhiệm thể hiện có tính chất công khai minh bạch và mỗi Nhà nước lành mạnh phải thực hiện được điều đó. Đấy là hoạt động cần thiết xây dựng Nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, trước tình trạng một số cán bộ đạt số phiếu tín nhiệm thấp lên tới trên 50%, các chuyên gia và dư luận không khỏi băn khoăn: cần ứng xử với những trường hợp này như thế nào? Với những trường hợp 2 lần bỏ phiếu tín nhiệm đều đạt số phiếu tín nhiệm thấp ở mức cao thì nên có cách xử lý như thế nào? Điều 11 Quy định 262/QĐ-TW của Bộ Chính trị về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội có nêu rõ: “Những đồng chí có trên 50% số phiếu tín nhiệm thấp cần được xem xét đưa ra khỏi danh sách quy hoạch các chức vụ cao hơn khi rà soát, bổ sung quy hoạch và xem xét bố trí, sắp xếp công tác phù hợp. Những đồng chí có từ 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp trở lên cần kịp thời xem xét, nếu xét thấy không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thì cho từ chức hoặc cho thôi giữ chức vụ để bố trí công tác khác, không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác”. Quy định là như vậy, nhưng cho đến nay, chưa có trường hợp nào bị xử lý. Tăng sức nặng cho lá phiếu tín nhiệm Theo TS. Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, việc bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh tại Quốc hội, Trung ương, Hội đồng nhân dân và các cấp ủy địa phương nên làm hằng năm, chứ không phải chỉ giữa nhiệm kỳ. Có ý kiến cho rằng nếu làm nhiều sẽ ảnh hưởng đến tâm lý lo ngại của cán bộ. TS. Vũ Ngọc Hoàng cho rằng lo lắng này là không cần thiết: “Người được đánh giá coi đó như chuyện “soi gương”, nếu để lâu quá mới soi thì biết đâu mà chỉnh sửa. Nếu mỗi nhiệm kỳ có một lần thì ít có hoặc không còn cơ hội để hoàn thiện, sửa mình. Nếu làm tốt, khách quan, có đủ thông tin minh bạch thì kết quả bỏ phiếu sẽ có nhiều ý nghĩa. Ngăn chặn việc có người “chạy”, vận động bỏ phiếu cho họ với động cơ không trong sáng, lành mạnh. Dư luận đã nói đến các trường hợp này. Phiếu tín nhiệm nên thiết kế 2 cột thôi, tín nhiệm và không tín nhiệm là đủ rồi. Đừng sợ cán bộ bị bỏ phiếu bất tín nhiệm. Nếu sợ vậy thì bỏ phiếu để làm gì”. Cũng theo TS. Vũ Ngọc Hoàng, lấy phiếu tín nhiệm để đánh giá công tác cán bộ, đánh giá từng cán bộ, bản thân việc ấy cũng là một khâu của công tác cán bộ, tham gia lựa chọn, điều chỉnh việc phân công công tác cho cán bộ. Tất nhiên đây mới là một kênh thông tin, chưa phải đã hoàn toàn đầy đủ, nhưng cũng tốt hơn nhiều so với không có thông tin đó. Khi không được tín nhiệm, có thể vài lần liên tiếp nếu bỏ phiếu hằng năm, thì tốt nhất là cán bộ đó nên từ chức, đó là cách ứng xử có văn hóa, có tự trọng, và có thể từ việc từ chức đó mà người cán bộ ấy không mất uy tín, lại trưởng thành sau đó. Đồng quan điểm này, TS. Đào Duy Quát bổ sung: nên thực hiện nghiêm túc phê bình và tự phê bình. Tự phê bình ở đây chính là bản kiểm điểm cá nhân mà người cán bộ báo cáo lên Quốc hội hoặc HĐND các cấp, nhưng trước khi bỏ phiếu tín nhiệm thì Quốc hội, HĐND các cấp cũng phải tranh luận, chất vấn, thảo luận, phải phê bình, qua đó giúp từng đại biểu có nhận thức sâu sắc để bỏ phiếu tín nhiệm. Khi có kết quả bỏ phiếu tín nhiệm thì phải công bố ngay, những đồng chí trên 50% tín nhiệm thấp thì đưa ra ngay khỏi quy hoạch, nếu 2/3 tín nhiệm thấp thì dứt khoát phải từ chức hoặc phải chuyển ngay không cho giữ những cương vị như thế nữa. Theo ông Vũ Quốc Hùng, cùng với hoạt động giám sát thông qua bỏ phiếu tín nhiệm cần được tiến hành thường xuyên, khoa học khách quan không cảm tính để đánh giá cán bộ chuẩn xác thì còn cần phát huy văn hóa từ chức. Việc lấy phiếu tín nhiệm người cán bộ có thể nhìn nhận bản thân mình. Một người có trách nhiệm và có lòng tự trọng thì thường xuyên tự xem xét lại những việc làm của mình hàng ngày, những công việc mà mình giải quyết hàng ngày, lắng nghe ý kiến của nhân dân, cán bộ cấp dưới. Cho nên nếu thấy mình không xứng đáng (về phẩm chất đạo đức hoặc năng lực không đảm đương được) nên từ chức. Từ chức thể hiện lòng tự trọng và trách nhiệm. Những người không xứng đáng mà không tự rút lui thì lúc đó tổ chức sẽ vào cuộc và dẫn tới phải cách chức. Tổ chức Đảng các cấp cần biểu dương những người từ chức vì lòng tự trọng, phê phán những người từ chức vì trốn tránh trách nhiệm, thậm chí từ chức để khỏi bị kỷ luật. Việc lấy phiếu tín nhiệm được tiến hành định kỳ vào năm thứ 3 (năm giữa nhiệm kỳ đại hội đảng bộ các cấp). Cụ thể: Lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp bầu hoặc phê chuẩn thực hiện theo quy định của Quốc hội. Lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo cấp ủy tiến hành sau khi lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp bầu hoặc phê chuẩn. Lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý khác tiến hành sau sơ kết 6 tháng đầu năm của năm thứ 3 giữa nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ các cấp. Kết quả phiếu tín nhiệm được sử dụng để tham khảo trong đánh giá cán bộ, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, miễn nhiệm và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ./.

"Đánh tráo khái niệm", yêu thuật nguy hiểm .

Trong lịch sử nhân loại, “đánh tráo khái niệm” là một thủ đoạn được các thế lực chính trị sử dụng từ rất sớm để thoán đoạt quyền lực. . Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin năm 1999, “đánh tráo là hành động thay thế cái này bằng cái khác một cách khéo léo để giành phần lợi hoặc một mục đích nào đó", còn “khái niệm là một hình thức tư duy của loài người giúp người ta hiểu biết những đặc trưng chung, chủ yếu của các sự vật và hiện tượng của hiện thực khách quan”. “Đánh tráo khái niệm” có thể hiểu là hành động thay thế khái niệm này bằng khái niệm khác, khiến người ta hiểu sai về sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan nhằm đạt một mục đích nào đó. "ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM" VÀ NHỮNG MÀN KỊCH VỤNG VỀ Trong lịch sử nhân loại, “đánh tráo khái niệm” là một thủ đoạn được các thế lực chính trị sử dụng từ rất sớm để thoán đoạt quyền lực. Triệu Cao, thừa tướng và cũng là gian thần trứ danh của nước Tần bị sử sách Trung Quốc “lưu danh thiên cổ” với chiêu trò đánh tráo khái niệm “chỉ hươu thành ngựa”. Chuyện kể rằng, Triệu Cao khi làm thừa tướng nhà Tần có mưu đồ làm loạn, xưng vương nhưng sợ lòng người không phục nên nghĩ cách thử lòng quần thần. Ông tiến dâng Tần Nhị thế một con hươu nhưng lại bảo đó là con ngựa. Nhị thế cho rằng đó là con hươu nhưng đa số quần thần vì sợ Triệu Cao nên hùa theo khẳng định đó là con ngựa. Qua việc này, Triệu Cao kiếm cớ phao tin Nhị thế bị chứng loạn óc, cô lập nhà vua và thanh trừng những quần thần trung kiên, dám nói thật đó là con hươu… V.I. Lênin từng chiến đấu không biết mệt mỏi để chống lại các thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” của những người cơ hội chính trị. Ví dụ, khái niệm “bảo vệ Tổ quốc” một khái niệm tiến bộ trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định đã bị bọn cơ hội chủ nghĩa trong Quốc tế II lợi dụng để mị dân trong cuộc chiến tranh đế quốc 1914 - 1918 khi khẩu hiệu đó không phù hợp với hoàn cảnh nữa. Trong khi tố cáo sự phản bội của bọn xã hội sô-vanh, V.I.Lênin đã chỉ ra rằng khái niệm bảo vệ Tổ quốc thay đổi theo hoàn cảnh lịch sử. Khi chiến tranh là một công việc của nhóm đế quốc tham lam theo đuổi lợi ích của chính chúng thì khái niệm đó có nghĩa là bảo vệ lợi ích giai cấp tư sản “nước mình”, là sự phản bội quyền lợi của giai cấp công nhân. Trái lại khi nhân dân tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa chống kẻ thù ngoại xâm khi họ bảo vệ tự do của họ thì khái niệm đó lại biểu lộ lợi ích của những lực lượng tiến bộ. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống chủ nghĩa xã hội, “đánh tráo khái niệm” là thủ đoạn “át chủ bài” được họ sử dụng rất nhuần nhuyễn, thuần thục trên mặt trận tư tưởng - văn hóa. Sự “đánh tráo khái niệm” của họ dựa trên nguyên lý “khái niệm xuyên tạc, bịa đặt được tuyên truyền lặp đi, lặp lại hàng nghìn lần thì sẽ trở thành sự thật”. Biến không thành có, biến thiện thành ác, xâu chuỗi những hiện tượng đơn lẻ để vu khống thành bản chất… Nhiều học giả phương Tây đã nghiên cứu và khái quát các thủ đoạn tuyên truyền “đánh tráo khái niệm” thành các cấp độ sau: 1. Làm cho khái niệm không quan trọng trở nên quan trọng. 2. Biến những khái niệm vốn không liên quan gì đến nhau thành một chỉnh thể mà trên thực tế không hề có chỉnh thể này. 3. Dùng những khái niệm ám thị để thể hiện một sự việc chân thực. 4. Đưa ra những khái niệm miêu tả đặc trưng với mức độ đặc biệt nhằm tạo sự sợ hãi và lo lắng mơ hồ, vô căn cứ trong công chúng. Thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” từng được các thế lực thù địch sử dụng để lật đổ chế độ XHCN ở các nước Đông Âu. Năm 1989, các đài phát thanh phương Tây đã đưa ra khái niệm “bãi thảm sát” ở thành phố Đimixêva thuộc Rumani. Đây là khái niệm bịa đặt trắng trợn nhưng được truyền thông phương Tây phát tán với mật độ dày đặc đã tạo nên sự kiện chính trị chấn động thế giới. Trong các ngày 23 và 24-12-1989, hầu hết các phương tiện truyền thông phương Tây dồn dập đưa tin về sự phát hiện một “bãi thảm sát” ở Rumani với những hình ảnh mà chúng tung hô là “chân thực” như ảnh một bà mẹ bị mổ bụng chết cùng đứa con, ảnh một người đàn ông trần truồng, hai chân bị trói bằng dây thép dường như chết vì bị hành hạ. Với công chúng không hiểu rõ sự thật thì thông tin về “bãi thảm sát” quả đã lừa được họ. Nhiều nơi trên thế giới lên án “Đảng Cộng sản Rumani thực hiện một nền thống trị phát-xít”, “tàn ác vô nhân đạo”. Tâm lý chống đối chế độ trong nước Rumani được dấy lên từ khái niệm “bãi thảm sát” đã góp phần thúc đẩy diễn biến chính trị dẫn đến sự sụp đổ của chế độ XHCN. Sau khi đã đạt được mục đích, cũng chính báo chí phương Tây đã khẳng định không có “bãi thảm sát” nào cả. Những hình ảnh về “bãi thảm sát” đều là những xác chết được đào lên từ một nghĩa địa của một bệnh viện trong thành phố Đimixêvara. Ảnh hai mẹ con bị giết được ghép bởi một bé gái chết vì bệnh với một phụ nữ bị chết bị bệnh xơ gan biến chứng, đã chết trước em bé một tháng và chẳng có liên hệ nào với em bé. Bức ảnh người đàn ông bị hành hạ đến chết cũng là ảnh giả. “Đánh tráo khái niệm” sau đó còn được áp dụng thành công ở nhiều màn kịch khác. Tháng 2-1994, tại một khu chợ ở Bosnia, các cơ quan truyền thông cũng tạo dựng nên những hố chôn người tập thể giả để tạo cớ cho NATO không kích chống lại người Serbia. Hay câu chuyện về “nạn diệt chủng” và “thảm họa nhân đạo” ở Kosovo thực chất là trò bịp bợm lớn về “đánh tráo khái niệm”, được một số cơ quan truyền thông phương Tây dàn dựng công phu, sau đó được nhiều cơ quan báo chí quốc tế phụ họa, khuếch trương hết cỡ đã gây phẫn nộ, bức xúc trong một bộ phận không nhỏ dư luận quốc tế về cái gọi là “các cuộc thanh lọc sắc tộc” và “các chiến dịch xua đuổi người gốc Anbani ở Kosovo của chế độ S.Milosevich”. Vì lẽ đó mà một bộ phận công chúng các nước phương Tây coi việc trừng phạt bằng vũ lực đối với Nam Tư là “điều cần thiết”. Trong những ngày Nam Tư bị không kích, một máy bay Mỹ ném bom nhầm vào đoàn xe của người tị nạn làm chết 75 người thì lập tức đã có tờ báo vu khống rằng “binh lính Xerbi nã súng vào đoàn người tị nạn rồi đổ vấy cho NATO để kích động lòng căm thù của người dân Nam Tư”. Có thể nói, “đánh tráo khái niệm” trong lần này đã đạt đến trình độ điêu luyện “vừa ăn cướp, vừa la làng”.

KHI "TRÒ CŨ" ĐƯỢC SOẠN LẠI

Đối với Việt Nam, kể từ khi Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp Đổi mới, các thế lực thù địch càng ra sức đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”. Trong đó, thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” được họ sử dụng với tần suất dày đặc hơn. Lợi dụng sự phát triển của Internet và mạng xã hội ở Việt Nam, họ coi đây là phương tiện thuận lợi nhất để “đánh tráo khái niệm” với giá thành rẻ nhất mà lại đạt được hiệu quả. Nội dung “đánh tráo khái niệm” của họ vẫn là những luận điệu lâu nay các “nhà tư tưởng” chống cộng đã từng nói và đã từng nhiều lần bị chúng ta vạch trần, phê phán, bác bỏ. Những khái niệm dù được che chắn dưới những vỏ bọc mới nhưng rốt cục vẫn là phủ nhận thành tựu của cách mạng; thổi phồng khuyết điểm, tồn tại của Việt Nam, bôi đen hiện thực, gieo rắc hoài nghi, phá rã niềm tin của nhân dân và cán bộ, quy kết là do đường lối sai, sự lãnh đạo, quản lý yếu kém của Đảng và Nhà nước. Phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ định con đường xã hội chủ nghĩa, định hướng xã hội chủ nghĩa; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, phê phán, đổ lỗi cho Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng. Kích động chia rẽ nội bộ, tung ra những luận điệu trong Đảng, trong Trung ương, Bộ Chính trị có phe này, phái kia; bịa đặt, xuyên tạc lịch sử; vu cáo, bôi nhọ một số đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, kể cả Bác Hồ, tìm mọi cách "hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh"... Những luận điệu của các thế lực thù địch và các phần tử phản động, cơ hội chính trị nói trên tuy không có gì mới, nhưng nó được tung ra, truyền bá vào từng thời điểm cụ thể, đánh trúng tâm lý một bộ phận nhân dân nên hết sức độc hại, nguy hiểm, gieo rắc hoang mang, nghi ngờ, phân tâm, mất niềm tin trong nội bộ ta, tác động hòng làm đội ngũ ta "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Ví dụ như mỗi khi Đảng ta chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc, họ tung tin trên mạng xã hội với tần suất dày đặc rằng nội bộ Trung ương cũng có phái “bảo thủ” và phái “cấp tiến”, phe “thân Tàu” và phe “thân Mỹ”; thậm chí dựng đứng những chuyện không thể tin nổi như “đồng chí này lên thì toàn dân phải học tiếng Trung, đồng chí kia lên thì Mỹ sẽ bảo vệ Việt Nam”.v.v. Hoặc như thời gian vừa qua, nhân việc Quốc hội khóa XIV đưa ra thảo luận, cho ý kiến dự thảo Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt. Đánh vào lòng yêu nước chân chính của mỗi người dân Việt Nam, các thế lực thù địch đã xoáy vào một số nội dung, khái niệm còn tranh cãi được đề cập trong dự án luật để thổi phồng, xuyên tạc. Như việc chúng liên tục tung tin “cộng sản lập đặc khu hay nhượng địa” để “đánh tráo khái niệm” từ chủ trương thành lập “Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt” của Đảng thành chủ trương “bán đất cho Trung Quốc”. Thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” này đã kích động một số người dân biểu tình, gây rối ở Bình Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh và một và địa phương khác.

DÙNG VŨ KHÍ SẮC BÉN ĐỂ CHỐNG LẠI TRÒ YÊU THUẬT

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần lưu ý những người làm công tác tuyên giáo rằng, kẻ thù luôn "kích động vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo là bốn đòn đột phá khẩu, bốn mũi xung kích để chọc thủng mặt trận tư tưởng chính trị". Có thể khẳng định, “bốn đòn đột phá khẩu” này cũng là bốn nội dung mà các thế lực thù địch áp dụng thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” nhiều nhất. Với vấn đề dân chủ, họ không ngừng rêu rao, xuyên tạc về chế độ ta là “độc tài, toàn trị” và cho rằng, còn Đảng Cộng sản thì Việt Nam còn mất dân chủ trầm trọng. Với vấn đề nhân quyền thì họ ra sức tuyên truyền cho luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” để kêu gọi các thế lực bên ngoài can thiệp nội bộ Việt Nam. Với vấn đề dân tộc thì họ ra sức kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động ly khai, xây dựng các “nhà nước độc lập” ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với vấn đề tôn giáo thì họ dựng chuyện vu khống Việt Nam “đàn áp tôn giáo”… Một số đối tượng phản động vi phạm pháp luật Việt Nam rất rõ ràng, khi bị cơ quan chức năng khởi tố, điều tra thì lập tức họ lu loa rằng Việt Nam “đàn áp người bất đồng chính kiến” và gọi những kẻ phạm pháp là “tù nhân lương tâm”..v.v. Hàng nghìn khái niệm đã và đang bị họ đánh tráo một cách trơ trẽn nhưng hằng ngày, hằng giờ vẫn xuất hiện trên mạng xã hội, trên những trang web, trang blog giả danh, ngụy tạo có máy chủ đặt ở nước ngoài và tác động vào một bộ phận không nhỏ công chúng, bạn đọc trong nước, thậm chí tác động cả vào một số cán bộ, đảng viên. Hiểu rõ bản chất, đặc điểm của thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” là yêu cầu cần thiết đối với mỗi công dân Việt Nam, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên trong việc phòng ngừa nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Những khái niệm bị kẻ xấu đánh tráo, dù có thiên biến vạn hóa, dù núp trong vỏ bọc mỹ miều của ngôn từ cũng không thể giấu được bản chất của nó là không mang “đặc trưng chung, chủ yếu của các sự vật và hiện tượng của hiện thực khách quan”. Vì lẽ đó, chỉ cần sử dụng thế giới quan, phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin; nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng là coi như nắm được “kính chiếu yêu”, luôn cảnh giác, thận trọng và nhận ra chân tướng của những khái niệm bị đánh tráo dù nó “yêu tinh” đến mức nào. Những năm gần đây, nhờ sự phát triển của công tác lý luận, qua mỗi kỳ đại hội hay qua các hội nghị Trung ương quan trọng, các cơ quan của Đảng thường xuyên cung cấp sách, tài liệu đến cán bộ, đảng viên để phổ biến, cập nhật những khái niệm, thuật ngữ mới. Đây cũng là cơ sở rất quan trọng mà mỗi cấp ủy, chi bộ cần quan tâm phổ biến, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh, nhận thức để nhận diện, phân biệt và chiến thắng thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” của các thế lực thù địch.

Dân chủ và đoàn kết để phòng và chống suy thoái .

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm nhuần sâu sắc những bài học kinh nghiệm về dân chủ và đoàn kết thống nhất trong Đảng từ buổi đầu thành lập và trong những bước chuyển của cách mạng; trước những thời cơ, thuận lợi và cả những nguy cơ, thách thức của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hơn bao giờ hết, việc đẩy mạnh thực hiện dân chủ và đoàn kết trong Đảng theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh để phòng và chống suy thoái sẽ góp phần thiết thực xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh. .Dân chủ và đoàn kết để thống nhất trong ý chí và hành động Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc rằng, để có thể đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi tới thắng lợi hoàn toàn, Đảng Cộng sản Việt Nam phải được “tổ chức một cách dân chủ. Điều đó có nghĩa là, tất cả mọi công việc của Đảng đều được toàn thể các đảng viên, hoàn toàn bình quyền và không có ngoại lệ nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu; đồng thời tất cả những người có trách nhiệm trong Đảng, tất cả các ban lãnh đạo của Đảng, tất cả các cơ quan của Đảng đều được bầu ra, đều có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị bãi miễn”[1]. Vì vậy, Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam đã không chỉ có ý thức về đoàn kết, luôn mang trong mình truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc và đoàn kết được coi là một phẩm chất đạo đức quan trọng của người đảng viên mà còn thường xuyên thực hiện dân chủ trong Đảng để xây dựng và củng cố khối đoàn kết, thống nhất, phát huy vai trò Đảng là trung tâm đoàn kết của toàn dân tộc để Đảng ngày một phát triển vững mạnh. Ngay từ khi mới ra đời, những văn kiện lịch sử Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo được thông qua tại Hội nghị (hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng), đã không chỉ vạch rõ tổ chức, nhiệm vụ, đối tượng của cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam còn khẳng định sẽ lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[2]. Cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, đặc biệt là đã luôn thực hiện dân chủ trong Đảng; “thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng” và xây dựng khối đoàn kết, thống nhất; đồng thời, "không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác”[3], Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò độc tôn lãnh đạo cách mạng Việt Nam của mình trong tiến trình lãnh đạo cách mạng. Trong những năm lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền (1930-1945), dù có những khúc ngoặt và cả những tổn thất, song với bản lĩnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính được lý luận Mác - Lênin dẫn đường, những người cộng sản Việt Nam đã luôn quán triệt hai nguyên tắc: 1) Bình đẳng là tiền đề của dân chủ và dân chủ là tiền đề của đoàn kết, thống nhất trong Đảng. 2) Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong xây dựng Đảng có ý nghĩa quan trọng, nhằm phát huy dân chủ, thống nhất ý chí và hành động để kiên định con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong đó, việc tuân thủ, thực hiện tập trung dân chủ không chỉ là nguyên tắc lãnh đạo, hoạt động và sinh hoạt Đảng mà còn là điều kiện bảo đảm để phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, tăng cường đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng. Mùa xuân năm 1941, trở về nước, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước, Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941); quyết định thực hiện sự chuyển hướng chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và tập trung cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Từ nhận thức sâu sắc về nguồn sức mạnh của khối toàn dân đoàn kết, Người đã không chỉ phát huy và nhân nguồn sức mạnh của tinh thần dân chủ và sự đoàn kết thống nhất trong Đảng mà còn khơi dậy và tổ chức thành công sức mạnh “dời non, lấp biển” của khối toàn dân đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh để lãnh đạo nhân dân đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật, “thành lập một Chính phủ nhân dân của Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc”. Một nước Việt Nam mới giành được độc lập, tự do sau hơn 80 năm trời nô lệ đang đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, bởi thù trong và giặc ngoài. Trong tình thế đất nước đang “ngàn cân treo sợi tóc” đó, cũng vẫn là Hồ Chí Minh - trung tâm ngọn cờ đoàn kết, thống nhất trong Đảng, linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân đã sớm tiên liệu, đặc biệt lưu tâm đến sự trong sạch, vững mạnh của một Đảng cầm quyền. Theo Người, tình hình và nhiệm vụ mới càng đòi hỏi Đảng phải xây dựng sự đoàn kết thống nhất và thực hiện dân chủ, phát huy dân chủ để củng cố và nhân nguồn sức mạnh nội lực của Đảng, để đưa sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc đi đến thành công. Vì vậy, để ngăn ngừa những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân như tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cậy quyền, ỷ thế, lên mặt làm quan cách mạng, v.v.. đã xuất hiện trong một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng, Hồ Chí Minh đã không chỉ yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải sửa đổi lối làm việc, phong cách công tác mà còn đồng thời chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân chính là nguy cơ dẫn đến sự thoái hóa, biến chất của Đảng, gây mất dân chủ và đoàn kết trong Đảng.

Chống chủ nghĩa cá nhân để thực hiện dân chủ và đoàn kết trong Đảng

Không chỉ khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng; đề cao yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh còn đồng thời nhấn mạnh: Muốn phòng và chống chủ nghĩa cá nhân, “đánh thắng lòng tà và kẻ thù trong mình”, mỗi người phải tự mình cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nhất là phải kiên quyết “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Cùng đó, Người cũng khẳng định, để đoàn kết, thống nhất trong nhận thức và hành động, điều cần thiết nhất là trong Đảng phải thực hành dân chủ, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; trong đó, cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới và ngược lại, cấp dưới cũng phải thường xuyên phê bình cấp trên. Mỗi cán bộ, đảng viên trong sinh hoạt Đảng: khi tự phê bình cũng như được góp ý phê bình phải dũng cảm thừa nhận, đề ra biện pháp và kịp thời sửa chữa khuyết điểm theo tinh thần của Lênin: “Bị một phen thất bại không nguy hiểm bằng không dám thừa nhận thất bại, không dám rút ra ở đây tất cả những kết luận”[4] và Hồ Chí Minh, đó là phải “có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó”[5]… Không chỉ luôn mẫu mực trong rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hiện tự phê bình và phê bình thường xuyên, liên tục trên cơ sở có lý, có tình, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh: Trong khi nêu cao và kiên quyết thực hiện dân chủ và đoàn kết trong nội bộ Đảng, cấp ủy các cấp cần thấu triệt rằng, dân chủ trong nội bộ Đảng phải thật sự, phải đúng nguyên tắc chứ dân chủ theo kiểu bị cắt xén, dân chủ nửa vời không đầy đủ sẽ dẫn đến mất đoàn kết và đoàn kết “theo kiểu bằng mặt không bằng lòng”, đoàn kết hình thức,v.v.. sẽ nhanh chóng dẫn đến cục diện bè cánh, phe phái, lợi ích nhóm và hơn thế nữa, đó là lý thuyết “dân chủ”, là “đoàn kết” nhưng thực tế “áp đặt”, “quan chủ”, là “rạn vỡ”, “tan rã”. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc rằng: Đảng trong sạch, vững mạnh chính là ở đạo đức, lối sống và sự gương mẫu hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ của cán bộ, đảng viên; ở sức mạnh đoàn kết nhất trí, tính tổ chức kỷ luật và nhất là phải tự giác thực hiện nguyên tắc then chốt nhất - đó là tập trung dân chủ; ở việc thực hiện nghiêm túc quy luật phát triển Đảng - đó là tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình; ở mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; ở sự vững mạnh của các tổ chức cơ sở Đảng,v.v.. Do đó, nếu không thực hiện được dân chủ và đoàn kết thật sự trong Đảng thì sức mạnh nội lực của Đảng sẽ không còn, niềm tin của nhân dân vào Đảng cũng vì thế mà xói mòn. Song cũng theo Người, muốn thực hiện được dân chủ, thực hiện được tập trung dân chủ và đoàn kết trong nội bộ để Đảng luôn “là đạo đức, là văn minh” thì phương thuốc đặc hiệu là tự phê bình và phê bình: mạnh dạn phê bình, hoan nghênh phê bình triệt để, ráo riết, chân thành như rửa mặt hằng ngày dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Đó phải là tập trung trên nền tảng dân chủ và dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung, để kịp thời có biện pháp phù hợp và kiên quyết để sửa chữa khuyết điểm với tinh thần cầu thị, cầu tiến bộ. Điều này vừa có ý nghĩa đòi hỏi lãnh đạo tập thể phải đi liền với trách nhiệm cá nhân; đồng thời, chống được sự chuyên quyền, độc đoán, chống dân chủ hình thức và chống cả tư tưởng dựa dẫm, ỷ lại của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, người lãnh đạo, quản lý nói riêng. Chỉ có làm được như vậy và phải làm thường xuyên, nghiêm túc, liên tục thì trong Đảng mới thực sự dân chủ, đoàn kết, thống nhất, mới phòng và chống được sự suy thoái, nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và Đảng mới luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong. Xây dựng và phát triển, thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ và củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng; luôn gắn bó mật thiết với nhân dân..., dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và thực hiện di huấn của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Suốt gần 9 thập niên qua, từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đến những văn kiện của Đảng qua 12 kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đều khẳng định rõ mục đích, tôn chỉ, nhiệm vụ giành độc lập tự do cho dân tộc, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu đó đã không chỉ làm nức lòng hàng triệu triệu trái tim, khối óc những con dân đất Việt mà còn khẳng định con đường đi hợp quy luật thời đại của dân tộc ta do Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn. Trong hành trình ấy, luôn thấm nhuần những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về dân chủ và đoàn kết, trong mọi thời điểm lịch sử và ở vào những khúc ngoặt cam go nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam - “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người” đã luôn thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức, ý chí và hành động; đã quy tụ, phát huy và nhân nguồn sức mạnh tổng hợp của con người, của dân tộc, của thời đại để biết đánh và biết thắng từng bước, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng phát triển giàu mạnh.

Đề cao dân chủ và đoàn kết để phòng và chống suy thoái

Dân chủ và đoàn kết thống nhất trong Đảng là sức mạnh vô địch, là một truyền thống quý báu của Đảng và nhân dân ta; được thực hiện trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa vào Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng. Trong hành trình đó, các tổ chức cơ sở Đảng từ Trung ương đến địa phương đã không ngừng củng cố, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; gắn bó mật thiết với nhân dân... Các cấp uỷ, tổ chức cơ sở Đảng đã thể hiện rõ vai trò lãnh đạo toàn diện tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế làm việc của cấp uỷ nghiêm túc, đúng Điều lệ, quy định của Đảng. Cấp ủy các cấp đã hướng về cơ sở, bám sát địa bàn, gắn bó với nhân dân, tăng cường đối thoại với nhân dân, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những đề xuất, kiến nghị của nhân dân để tham mưu, đề xuất với các cấp ủy, chính quyền xây dựng các các chủ trương, chính sách phù hợp liên quan trực tiếp đến đời sống người dân. Cùng với đó, việc phát huy tập trung dân chủ trong tự phê bình và phê bình, trong công tác lãnh đạo, kiểm tra, thi hành kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng được tiến hành theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, góp phần tăng cường sự thống nhất trong ý chí và hành động. Những bất cập, bức xúc nảy sinh từ thực tiễn đều được giải quyết thông qua quá trình phát huy dân chủ, thảo luận với tinh thần xây dựng, tạo sự đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động tại mỗi cấp ủy, góp phần tăng cường và củng cố khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ trên tình thương yêu đồng chí lẫn nhau. Việc xử lý có lý có tình đối với các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chia rẽ, bè phái, mất đoàn kết và các hành vi vi phạm khác của cán bộ, đảng viên, làm trong sạch tổ chức Đảng các cấp cũng được chú trọng thực hiện, thiết thwucj xây dựng và chỉnh đốn Đảng… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, tại một số cấp ủy và chi bộ, nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng chưa được tôn trọng. Vẫn còn tồn tại tình trạng đảng viên và tổ chức đảng vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm ảnh hưởng tới việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tình trạng thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, thiếu tinh thần trách nhiệm, coi thường kỷ luật Đảng và luật pháp của người đứng đầu trong sinh hoạt và công tác vẫn có nơi, có lúc làm cho việc thực hiện quy chế làm việc không nghiêm, mất dân chủ. Việc tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức, ngại va chạm, chưa thực sự sâu sát thực tế. Trong khi đó, tình trạng quan liêu, độc đoán, cục bộ địa phương, kèn cựa địa vị, cá nhân chủ nghĩa,v.v.. dẫn đến mất đoàn kết ở nhiều cơ quan, đơn vị vẫn còn. Cùng với đó, trong thực tế cũng vẫn có không ít chủ trương, nghị quyết của ban thường vụ, cấp ủy đã không được bàn bạc, thảo luận thấu đáo ở mọi khía cạnh, cho nên khi ban hành và triển khai vào cuộc sống hoặc bị “nhóm lợi ích” chi phối dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa phù hợp, chưa phát huy tác dụng, hiệu quả như mong muốn... Trong thực tế, ở một số cấp ủy vẫn còn tình trạng 1) Tập trung không trên cơ sở dân chủ, thể hiện ở việc cấp trên có quyền ra lệnh cho cấp dưới, cấp dưới phải tuân theo cấp trên, song những mệnh lệnh của cấp trên lại là quyết định của một nhóm người, thậm chí là của một người nên dân chủ chỉ là hình thức. Vì thế, đó không phải là tập trung mà là quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, là gây hậu quả nghiêm trọng. 2) Dân chủ không trong khuôn khổ tập trung, biểu hiện ở việc dân chủ được mở rộng, trong khi lại buông lỏng tập trung, không nghiêm chỉnh chấp hành quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. 3) Dân chủ hình thức, để nhằm hợp thức hóa ý kiến của lãnh đạo hoặc người chủ trì công việc mà thực chất là bảo thủ; không chỉ dẫn đến kìm hãm, làm thui chột tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của mỗi cán bộ, đảng viên mà còn dẫn đến nguy cơ né tránh sự thật, “im lặng là vàng”, “dĩ hòa vi quý”, “ngại nêu ý kiến trái chiều”… phát triển, phá vỡ khối đoàn kết, thống nhất của tổ chức đảng, gây mất lòng tin trong nhân dân. Trong thời gian tới, để thực hiện tốt dân chủ và đoàn kết trong Đảng, thiết thực phòng và chống suy thoái trong nội bộ để Đảng luôn xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, các cấp ủy Đảng cần phải thấm nhuần sâu sắc những cảnh báo, những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh và tập trung thực hiện tốt những yêu cầu sau: Một là, cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt nghiêm túc công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; trong đó chú trọng phát huy dân chủ, tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ gắn với đấu tranh phòng và chống chủ nghĩa cá nhân, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đi đôi với phát huy, mở rộng dân chủ phải giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật; đề cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân của mỗi cán bộ, đảng viên gắn với “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, góp ý, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trên cơ sở có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau để đảm bảo và nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong bất kỳ thời điểm lịch sử nào. Hai là, thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, chú trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong mọi mặt công tác để xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng từ Trung ương xuống đến địa bàn cơ sở. Theo đó, mở rộng dân chủ nội bộ đi đôi với dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội là phương thuốc đặc hiệu góp phần chống lại nguy cơ suy thoái chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống của Đảng cầm quyền, giữ gìn bản chất cách mạng tốt đẹp của Đảng và Nhà nước ta. Ba là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, tinh thần đoàn kết cho đội ngũ cán bộ, đảng viên thông qua việc học tập nghiêm túc chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng.Tiếp tục triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; nhất là trong thực hiện Chỉ thị 05- CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Nghị quyết trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Bốn là, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng bằng nhiều hình thức khác nhau; thường xuyên trao đổi, thảo luận để thống nhất nhận thức trong cán bộ, đảng viên về tác dụng và bản chất của phát huy dân chủ trong sinh hoạt chi bộ. Gắn nội dung sinh hoạt Đảng với thực hiện nhiệm vụ chính trị tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị thông qua các chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hằng năm, hằng quý tại sinh hoạt chi bộ. Đồng thời, trên cơ sở hiểu rõ tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, coi công tác kiểm tra, giám sát là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng ở từng Đảng bộ, từng chi bộ cơ sở và nghiêm túc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát gắn với việc phát huy vai trò giám sát của nhân dân. Qua đó, kịp thời phát hiện những vi phạm của cán bộ, đảng viên; uốn nắn, sửa chữa những sai phạm và đưa ra khỏi Đảng những kẻ xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ và đoàn kết, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thiết thực xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong từng tổ chức cơ sở Đảng. Năm là, tiếp tục xây dựng, bồi dưỡng và nhân rộng những gương cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo Bác, nhất là theo chủ đề năm 2019 về “Xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Trong mọi mặt công tác, lấy kết quả việc rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và và thực hiện Điều lệ, quy định của Đảng làm chuẩn mực đạo đức, lối sống; làm mục tiêu phấn đấu, rèn luyện; làm phương châm hành động, biện pháp công tác gắn với việc tự soi mình của mỗi cán bộ, đảng viên qua 27 biểu hiện suy thoái (chi tiết thành 82 biểu hiện) theo đúng yêu cầu, để đánh giá kết quả công tác và tiến hành khen thưởng, kỷ luật hằng năm đối với mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng.

Quá khứ tặng chúng ta món quà vô giá! .

Ở miền bắc trước năm 1975 và trên cả nước từ tháng 5-1975 đến năm 1986, Việt Nam đã trải qua một thời kỳ lịch sử thường được gọi là thời bao cấp. Nhiều thế hệ đã trải qua thời kỳ này và vẫn nhắc lại kỷ niệm vui buồn về một thời gian khổ. Tuy nhiên, trong khi mọi người tự hào và khẳng định về việc cả dân tộc đã dồn sức, nỗ lực vượt qua muôn vàn khó khăn để từng bước phát triển, thì một số người lại có xu hướng xuyên tạc, bôi đen thời bao cấp. Từ đó tìm cách bôi đen, vu cáo chế độ, phủ nhận, xúc phạm các thế hệ đã nỗ lực và sáng tạo để đưa đất nước bước vào thời kỳ hòa bình và phát triển. . Đến hôm nay, các thế hệ người Việt Nam đã sống ở miền bắc từ khoảng năm 1960 đến 1975, và trên cả nước từ năm 1975 đến 1986, vẫn chưa quên những tháng, ngày gắn liền với một thời kỳ lịch sử gọi là thời bao cấp. Trong tâm trí của rất nhiều người vẫn còn lưu giữ hình ảnh hàng người xếp hàng chen chúc trước cửa hàng lương thực, chất đốt, thực phẩm, bách hóa,… Cùng với đó là tem phiếu mua vải vóc, thực phẩm, chất đốt, phụ tùng xe đạp,… luôn được mọi gia đình cất giữ cẩn thận, vì nếu để mất có thể đẩy gia đình vào cảnh thiếu thốn trong một thời gian. Đó là lý do để một thời “mất sổ gạo” tồn tại như thành ngữ dùng chỉ người có vẻ mặt buồn bã, “mì chính cánh” được coi như biểu thị cho đắt đỏ, hiếm hoi, còn “bữa tươi” là niềm vui không dễ có của không ít gia đình… Thời bao cấp qua đi, đất nước không ngừng đổi mới, phát triển, cuộc sống toàn dân được cải thiện, nâng cao. Trong bối cảnh đó, các bức ảnh, thước phim, bài báo, tài liệu, hiện vật,... thời bao cấp trở lại như lẽ tự nhiên, vì dẫu thế nào, dù đời sống vật chất, tinh thần đã thay đổi thì một thời dù khó khăn, vất vả vẫn luôn là những ký ức, kỷ niệm không thể phai mờ trong đời sống tinh thần của những người đã từng sống, làm việc và cống hiến trong giai đoạn đó. Trong nhiều gia đình, người lớn tuổi vẫn vui vẻ kể cho con cháu nghe về những câu chuyện, kỷ niệm của thời bao cấp. Còn khi đứng trước những hiện vật được trưng bày trong một số triển lãm, bảo tàng, họ bùi ngùi nhớ về một thời vất vả, phải nỗ lực như thế nào để vượt qua. Đặc biệt, có một sự thật mà hậu thế phải suy nghĩ là bất kỳ người nào từng trải qua thời bao cấp cũng đều khẳng định, đánh giá là tuy kham khổ, thiếu thốn trăm bề song mọi người thời đó vẫn giữ được lối sống thẳng thắn, trung thực, làm việc hết mình, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, sẵn sàng đùm bọc, san sẻ với người thiếu thốn hơn mình. Nói cách khác, tình người giữ vai trò như là một trong các yếu tố cơ bản, quan trọng góp phần để các thế hệ đi trước đồng lòng vượt qua khó khăn. Nhìn từ lịch sử, phải nói rằng sau khi hòa bình lập lại ở miền bắc vào năm 1954, từ tro tàn của chiến tranh, từ một nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ lại kiệt quệ vì chiến tranh chưa có khả năng nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của con người, trong khi sự giúp đỡ từ bên ngoài hầu như không có, Đảng, Nhà nước đã lãnh đạo nhân dân miền bắc nỗ lực quên mình để tổ chức xã hội, hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi và tổ chức lại nền kinh tế, Vừa từng bước tích lũy cơ sở vật chất, tinh thần xây dựng xã hội mới, vừa ủng hộ sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước của đồng bào miền nam. Nhưng sau chưa đầy 10 năm, khi chúng ta vừa đạt được một số thành tựu kinh tế - xã hội thì đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền bắc, từ đó miền bắc bước vào thời kỳ mà “tự lực cánh sinh” là tất yếu, “tất cả vì miền nam ruột thịt” là nghĩa vụ thiêng liêng. Trong bối cảnh nền kinh tế có sức sản xuất thấp, không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội thì sử dụng tem phiếu phân phối lương thực, thực phẩm theo đầu người là phương án khả dĩ có thể giải quyết những vấn đề liên quan nhu cầu vật chất cơ bản của xã hội, con người. Trong hơn 30 năm chiến tranh, nhân dân miền bắc và đồng bào ở khu giải phóng miền nam luôn đồng tâm hiệp lực, chắt chiu, đồng cam cộng khổ cùng Đảng và Nhà nước vượt muôn ngàn gian khổ để bảo vệ miền bắc, giải phóng miền nam. Năm 1975, đất nước thống nhất, việc phân phối hàng hóa thiết yếu trong xã hội theo chế độ tem phiếu tiếp tục tồn tại trên phạm vi cả nước, phần do điểm xuất phát về kinh tế thấp, sức sản xuất hạn chế, Nhà nước vẫn vận hành theo cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Mọi vùng miền đất nước đều bị tàn phá, trong chiến tranh, hàng triệu nạn nhân chiến tranh cần được hỗ trợ, phần là do chúng ta phải chịu sự tác động nghiệt ngã phi lý từ chính sách cấm vận của Mỹ, lại phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở biên giới tây nam và biên giới phía bắc, trong khi đó sự giúp đỡ của các nước anh em, bè bạn cũng không còn như trước... Hơn 10 năm sau ngày đất nước thống nhất thật sự là thời gian thử thách bản lĩnh, trí tuệ, năng lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Trong giai đoạn khó khăn đó, nhiều giải pháp đã được đề xuất, áp dụng,… nhưng để giải quyết một cách đồng bộ, có hiệu quả, tạo đà cho sự phát triển cần phải có một bước chuyển trong nhận thức, cần đổi mới tư duy, tìm ra phương thức giải quyết các vấn đề trực tiếp liên quan tới vận mệnh đất nước, tới cuộc sống của nhân dân. Nhận thức đó đã thể hiện cụ thể trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa V) trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) khi nhấn mạnh “điều quan trọng là phân tích sâu sắc các nguyên nhân chủ quan, nêu rõ các sai lầm, khuyết điểm trong hoạt động của Đảng và Nhà nước”. Với sự tiếp cận khách quan, phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đảng đã chỉ ra được những hạn chế, khuyết điểm, sai lầm, từ đó có bước đột phá để mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước. Từ năm 1986 đến nay, trên cơ sở đổi mới tư duy chính trị và kinh tế, Đảng và Nhà nước cùng toàn dân thực hiện sự nghiệp đổi mới, kết hợp hài hòa giữa xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng với xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng hướng đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Sau hơn 30 năm, diện mạo đất nước và đời sống của nhân dân đã có sự phát triển vượt bậc, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, sức mạnh mọi mặt của đất nước được nâng lên… Hôm nay, cái ăn, cái mặc đã không còn là nỗi lo của hầu hết gia đình Việt Nam. Bát cơm độn ngô, sắn, hạt bo bo… thiếu thịt cá đã trở thành hình ảnh của quá khứ rất xa. Từ thành thị tới nông thôn, nhà tranh vách đất được thay thế bằng nhà mái ngói, nhà xây kiên cố. Hàng chục triệu xe máy, ô-tô lưu thông trên mọi nẻo đường cũng đồng thời “soán ngôi” của xe đạp một thời. Tiện nghi hiện đại không còn là tài sản riêng của đô thị, mà lan tỏa đến mọi miền đất nước. Từ thành thị tới nông thôn tràn đầy hàng hóa tiêu dùng từ bình dân đến cao cấp. Và nhiều năm qua mỗi khi Tết đến, thay cho thói quen tích trữ, lo chuẩn bị “túi hàng Tết” bảo đảm sinh hoạt cả gia đình suốt mấy ngày, nhiều gia đình bận bịu tới tận ngày giáp Tết vẫn có thể ghé qua siêu thị mua đủ thực phẩm, hàng hóa, hoa quả, bánh trái… Chuyện thiết thực, cụ thể hằng ngày đó trở nên bình thường đến mức làm nhiều người trẻ tuổi sinh ra và lớn lên khi đất nước đã phát triển lại ngỡ cuộc sống vốn như vậy. Để rồi khi biết về khó khăn, vất vả cha ông đã phải chịu đựng trong quá khứ, một số người đã thiếu sự chia sẻ, đồng cảm và biết ơn thế hệ đi trước. Một số người thì tò mò, nghi ngờ về những gì được kể lại, nghi ngờ cả sự cố gắng, nỗ lực của một thế hệ, không tin cuộc sống đã từng như thế. Thậm chí, từ đó đã đi đến chỗ giễu cợt, mỉa mai, coi thời bao cấp là “bất bình thường, không thể chấp nhận”. Chưa kể, với những kẻ thiếu thiện chí, trong đó có người từng trải qua, còn đi xa hơn khi xưng xưng thời bao cấp là “bản chất của chế độ, đày đọa, đẩy nhân dân cảnh đói nghèo”, cố tình xuyên tạc, “bôi đen” quá khứ nhằm lèo lái, dẫn dắt nhận thức của người tiếp nhận theo hướng mơ hồ, tiêu cực... Với mỗi con người, dù dồn hết tâm sức cho hiện tại cũng không thể chối bỏ quá khứ. Và đối với mỗi dân tộc, mọi mất mát, hy sinh trong quá khứ luôn có ý nghĩa nền tảng cho hiện tại - tương lai. Do đó, khắc ghi tấm gương hy sinh của hàng triệu chiến sĩ và đồng bào, nhớ về tổn thất vô cùng to lớn của toàn dân trên hai miền nam - bắc trong quá khứ, cũng phải khắc ghi, phải nhớ về gương của hàng triệu con người từ trẻ đến già đã tự giác, đã thầm lặng hạn chế và hy sinh các nhu cầu chính đáng của bản thân mình vì sự nghiệp lớn. Chính vì thế, những ai đang muốn chối bỏ, giễu cợt, phê phán thời bao cấp, muốn chối bỏ, giễu cợt, phê phán quá khứ của dân tộc cần suy nghĩ nghiêm túc xem lại mình. Về vấn đề này, một bạn trẻ đã từng viết và công bố cách đây chưa lâu: “Cách tốt nhất để đánh giá những gì mình có trong hiện tại là bằng cách nhìn lại quá khứ. Không chỉ quá khứ của chính mình, mà cả quá khứ, hoàn cảnh của gia đình, xã hội và rộng hơn là của đất nước mình… Nếu như bạn nhìn thấy những hình ảnh chết chóc, mất mát, đau thương trong chiến tranh, bạn sẽ cảm thấy cuộc sống của chúng ta ở hiện tại quá tuyệt vời, cho dù nó không hoàn hảo hoặc vẫn còn “thiếu thốn” đối với bạn. Bạn được sống, được học hành, bạn không sợ bị đói, bạn có nhà để ở, có cơ hội để làm việc có thu nhập… Cuộc sống tốt đẹp hiện tại bạn có chính là nhờ sự cố gắng của những người đi trước, của thế hệ ông bà, bố mẹ, những người đã nỗ lực bằng mọi giá để tặng cho bạn món quà cuộc sống vô giá của ngày hôm nay. Chúng ta luôn nên cảm thấy biết ơn về điều đó. Nếu như ý thức được điều đó một cách sâu sắc, có thể bạn sẽ bớt đi những suy nghĩ ích kỷ mà nghĩ nhiều cho những người chung quanh hơn, cố gắng đầu tư vào bản thân để đóng góp nhiều hơn sao cho cuộc sống hôm nay và ngày mai còn tốt hơn nữa cho tất cả mọi người để sự tồn tại của bạn không trở nên vô nghĩa”.

Cảnh giác với chiêu trò xuyên tạc vai trò cán bộ và công tác cán bộ của Đảng ta .

Đã thành thói quen, cứ trước mỗi sự kiện lớn của đất nước, nhất là các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương là trên một số trang mạng phản động, các thế lực thù địch lại đăng phát nhiều tin, bài xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong dịp Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII khai mạc và bế mạc, những âm mưu và hành động chống phá ấy lại tái diễn. NHỮNG GIỌNG ĐIỆU XUYÊN TẠC NGUY HIỂM Tại Hội nghị lần thứ 9, Ban Chấp hành Trung ương tập trung bàn về công tác quy hoạch cán bộ cho nhiệm kỳ Đại hội XIII và một số nội dung quan trọng khác. Lợi dụng những yếu kém, bất cập của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị càng gia tăng chống phá với những giọng điệu bịa đặt, bóp méo, xuyên tạc nguy hiểm. Chúng cho rằng nguyên nhân dẫn đến tình trạng thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ thời gian qua là do sai lầm trong công tác cán bộ của Đảng. Trước việc Đảng ta kiên quyết, xử lý nghiêm minh các sai phạm của hàng loạt cán bộ từ Trung ương đến cơ sở thời gian qua, chúng bóp méo, xuyên tạc rằng đó chỉ là các "phe cánh triệt tiêu nhau". Chúng trắng trợn xuyên tạc rằng, bản chất công tác cán bộ của Đảng ta là không dân chủ, thiếu minh bạch, làm theo kiểu “áo gấm đi đêm”, việc quy hoạch, sắp xếp cán bộ chỉ nhằm “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ”, “lợi ích nhóm”... Đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng, khoét sâu những bức xúc của nhân dân trước tình trạng một bộ phận cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, chính quyền các cấp tham nhũng, tiêu cực; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... để tung ra những bài viết mang tính chủ quan, phiến diện một chiều, quy chụp mọi sai lầm, khuyết điểm, yếu kém trong các lĩnh vực của đời sống xã hội cho đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng. Nguy hiểm hơn, chúng cho rằng mục đích của quy hoạch cán bộ không vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích nhân dân mà chỉ là phục vụ "lợi ích nhóm", là bước chuẩn bị để các cán bộ đương chức “hạ cánh an toàn", chuẩn bị cho con em, "vây cánh" tiến thân... Từ đó chúng trắng trợn bịa đặt rằng, trong việc quy hoạch bố trí, sắp xếp cán bộ có sự "thương lượng", "thỏa hiệp" giữa các "phe cánh". Lại có kẻ lên mặt khuyên rằng: “Đảng tốt hay xấu, quan chức tốt hay xấu, người dân đều rõ cả. Do vậy, thay vì chống "luận điệu xuyên tạc"... thì Đảng nên tôn trọng các giá trị dân chủ-nhân quyền-pháp quyền và chứng minh Đảng trong sạch...”... Những giọng điệu thâm hiểm ấy ít nhiều đã tác động, ảnh hưởng đến tư tưởng, lòng tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng ta. Trước tình hình ấy, hơn lúc nào hết, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần nhận thức rõ vấn đề, từ đó đề cao cảnh giác, kiên quyết vạch trần, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc bịa đặt, sai trái của các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội. THỰC TIỄN KHẲNG ĐỊNH RÕ VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ Đề cập về vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ, trong nhiều bài viết, bài nói V.I.Lênin đã khẳng định, cách mạng muốn thành công thì phải coi trọng việc tuyển chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ, vì cán bộ có ý nghĩa quyết định thành bại của cách mạng. Thực tiễn Cách mạng Tháng Mười Nga đã chứng minh rõ điều ấy. Nói về vai trò của công tác cán bộ, V.I.Lênin cũng chỉ rất rõ: “Nhiệm vụ tổ chức của chúng ta chính là ở chỗ tìm ra những nhà lãnh đạo và những nhà tổ chức trong quần chúng nhân dân”(1)... Nghiên cứu và vận dụng sáng tạo những tư tưởng của V.I.Lênin, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Đề cập đến vai trò của cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"(2). "Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(3). Nói về vai trò của công tác tổ chức cán bộ, Người cũng chỉ rõ: “Tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng để có thể sử dụng tốt đội ngũ cán bộ có chất lượng cao là điều kiện cơ bản cho bộ máy tổ chức Đảng và các cơ quan công quyền vận hành tốt, có hiệu quả và ít bệnh tật”(4). Quan điểm, tư tưởng ấy của Người luôn được Đảng ta quán triệt, vận dụng linh hoạt khi tiến hành công tác cán bộ. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, chứ không có chuyện "áo gấm đi đêm", “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ” hay vì “lợi ích nhóm”... như giọng điệu thâm hiểm mà các thế lực thù địch, phản động rêu rao. Nhờ đó mà Đảng ta đã xây dựng được đội ngũ cán bộ ngày càng trưởng thành, lớn mạnh. Cần khẳng định rõ rằng, đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước mặc dù số lượng không đông nhưng nhờ giáo dục, bồi dưỡng, tôi luyện được đội ngũ cán bộ có chất lượng, luôn vững vàng trước mọi gian khó, hiểm nguy, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp cách mạng, luôn đi tiên phong trên mọi mặt trận nên Đảng ta đã đoàn kết, động viên, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, đánh thắng kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Sau giải phóng, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới, đội ngũ cán bộ của ta đã có sự phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Nhờ phát huy tốt vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ mà Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sau 20 năm thực hiện “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng ta đã có bước trưởng thành, phát triển cả về phẩm chất đạo đức và trình độ năng lực, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, bắt nhịp tốt với xu thế hội nhập, có trình độ ngoại ngữ và khả năng ứng dụng công nghệ tốt, đáp ứng kịp yêu cầu làm việc trong môi trường quốc tế. Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín. Cán bộ cấp chiến lược vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dân thực hiện. Hầu hết cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang được tôi luyện, thử thách qua thực tiễn, trung thành với Đảng, với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân...

KHÔNG VÌ "CON SÂU LÀM RẦU NỒI CANH" MÀ PHỦ NHẬN VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ

Đúng như đánh giá của Ban Chấp hành Trung ương tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 (khóa XII), bên cạnh những ưu điểm là cơ bản, nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ của ta đông nhưng chưa mạnh. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp... Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc cầm chừng, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ, nhất là cán bộ quản lý doanh nghiệp Nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật Đảng và xử lý theo pháp luật. Chỉ tính trong hai năm gần đây, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra làm rõ nhiều sai phạm đặc biệt nghiêm trọng, quyết định kỷ luật và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật đối với 59 cán bộ diện Trung ương quản lý, 13 cán bộ Ủy viên Trung ương và nguyên Ủy viên Trung ương; một Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hàng nghìn cán bộ, đảng viên vi phạm... Công tác cán bộ vẫn còn những hạn chế, bất cập, như: Việc thực hiện một số nội dung có nơi còn hình thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất... Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương... Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh. Luân chuyển cán bộ và thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh không phải là người địa phương, trong đó có bí thư cấp ủy các cấp còn bất cập, chưa đạt yêu cầu. Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, "cánh hẩu" xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Chủ trương thu hút nhân tài chậm được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách phù hợp. Chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành có mặt còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ... Phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình, còn tập trung nhiều ở cấp trên... Việc kiểm tra, giám sát thiếu chủ động, chưa thường xuyên, còn nặng về kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp hiệu quả để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn bị động, chưa theo kịp tình hình... Đầu tư xây dựng đội ngũ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ... Tuy nhiên, cần phải thấy rằng những khuyết điểm, sai phạm của một số tập thể, cá nhân nói trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi canh”. Chúng ta không thể chỉ "thấy cây mà không thấy rừng", không thể lấy cái cá thể để suy diễn, quy chụp lên cái tổng thể. Không thể chủ quan, phiến diện dựa vào thiếu sót, khuyết điểm của một vài tập thể, cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ. Có thể khẳng định rằng, sự trưởng thành, lớn mạnh của đội ngũ cán bộ những năm qua là nhân tố then chốt, quyết định làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong điều kiện mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ. Dư luận đồng tình với quan điểm của Đảng ta được thể hiện trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: “Phải coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”(5). Đặc biệt đối với việc chuẩn bị nhân sự cán bộ cho nhiệm kỳ tới, tại Hội nghị Trung ương 9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp tục chỉ đạo: “Trong quá trình thực hiện phải hết sức thận trọng, bảo đảm đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định của Đảng về công tác cán bộ, phải thật sự công tâm, khách quan, tuyệt đối không được thiên vị, cá nhân, không để lọt vào quy hoạch những người không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, có quan điểm lệch lạc, mất đoàn kết, tham nhũng, tiêu cực”. Những giọng điệu tuyên truyền xuyên tạc về vai trò cán bộ và công tác cán bộ, nhất là nội dung Hội nghị Trung ương 9 là chiêu trò hết sức lố bịch, đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đảng ta càng tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ thì các thế lực thù địch, phản động càng gia tăng sự xuyên tạc chống phá. Những kết quả đạt được, những bài học rút ra từ thực tiễn càng tiếp thêm ý chí, quyết tâm để chúng ta tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị; phát huy được trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong xây dựng đội ngũ cán bộ. Mặt khác, toàn xã hội cần đề cao cảnh giác, nhận diện, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch để kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta./.

Bảo toàn danh dự đảng viên - điều cao quý, thiêng liêng .

Danh dự được ví như một thứ nước hoa. Giữ được danh dự đảng viên không chỉ giữ được danh thơm cho cả gia đình, người thân, bạn bè, dòng họ, mà còn góp phần làm lan tỏa tiếng tốt của mình trong tập thể, cấp ủy, tổ chức đảng và rộng hơn là trong toàn Đảng, toàn xã hội. Nhưng danh dự lại được ví như một que diêm, khi đã cháy một lần là hết ngay. Nói thế để thấy, xây dựng được danh dự đã khó, để bảo toàn được danh dự lâu dài còn khó hơn nhiều. . Trong cuộc đời, ai cũng từng mang nặng một lời thề nào đó. Lời thề luôn khởi nguồn từ những điều thiêng liêng, sâu kín nhất từ trong trái tim con người. Thuở xưa, nhiều người là đồng niên, đồng môn, đồng nghiệp muốn gắn bó lâu bền với nhau đã cùng uống chén rượu thề trước trời đất chứng giám cho tình bằng hữu được keo sơn gắn bó. Trong ngày lễ thành hôn, một trong những việc hệ trọng nhất của cuộc đời, tình nghĩa phu thê đã được nhiều người thề thốt là sống thủy chung bên nhau đến đầu bạc răng long. Cũng có nhiều binh sĩ trước khi ra sa trường hay biên ải đối mặt với quân xâm lăng, đã quyết giữ trọn lời thề trung quân ái quốc, đánh tan kẻ thù để xứng với chí khí của bậc nam nhi quân tử. Người Việt vốn sống trọng tình, trọng nghĩa nên rất trọng lời thề. Vì lời thề gắn liền với tính cách khảng khái, trượng phu, quang minh chính đại của một nhân cách chân chính. “Quân tử nhất ngôn”, “Nói lời phải giữ lấy lời”, “Lời thề như dao chém đá”… không chỉ là những câu châm ngôn đầy chất ứng xử văn hóa mà người xưa gửi gắm, trao truyền và nhắc nhớ hậu thế, mà nó còn toát lên và thể hiện ý chí, bản lĩnh, khí phách trước sau như một của những bậc dũng tướng, sĩ phu, văn nhân, quan chức giàu lòng tự trọng. Ngược lại, với những kẻ đầu môi chót lưỡi, nói đâu bỏ đấy, hứa trước quên sau, vô thủy vô chung, nói một đằng làm một nẻo thì chỉ coi lời thề là “lời nói gió bay”, “thề cá trê chui ống”… Đừng ai nghĩ rằng lời thề đơn giản. Không chỉ là lời hứa danh dự, mà hơn thế, đó là lời hứa chứa đựng cả giá trị đạo đức, văn hóa và thể hiệu chiều sâu nhân cách tử tế của một con người. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, có một lời thề làm lay động tâm can và tạo ra sức lan tỏa, truyền cảm hứng cho cả dân tộc ta, đó là lời thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” của các chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô. Tinh thần của lời thề đó tiếp tục tạo niềm tin nâng bước cho lớp lớp thanh niên trên khắp mọi miền đất nước tình nguyện nhập ngũ và ra chiến trường xung trận với một ý chí mãnh liệt: “Ra đi giữ trọn lời thề/ Đánh xong giặc Mỹ mới về quê hương!”. Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, vào mỗi buổi lễ chào cờ đầu tuần, đầu tháng, bao giờ cũng có một nghi thức trang nghiêm là một quân nhân tiêu biểu đứng dưới Quốc kỳ đọc Mười lời thề danh dự của quân nhân. Những lời thề ấy như chứa đựng cả hồn sông khí núi, tạo thêm khí thế và sức mạnh tinh thần cho mỗi chiến sĩ tiến về phía trước, đạp bằng mọi chông gai, vượt qua mọi thử thách, nỗ lực hoàn thành bổn phận giữ gìn giang sơn bờ cõi; đồng thời là lời động viên, nhắc nhớ mỗi người luôn giữ tròn chữ “trung” với Đảng, với nước và chữ “hiếu” với dân. Danh dự đảng viên - khởi nguồn từ lời tuyên thệ trong ngày kết nạp Đảng Một trong những kỷ niệm khó phai trong đời người đảng viên là ngày được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong buổi lễ trang nghiêm ấy, chắc hẳn mỗi người không quên khoảnh khắc và cảm xúc khi nói những lời tuyên thệ: “Hôm nay vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam, trước cờ Tổ quốc, cờ Đảng, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và trước sự chứng kiến của các đảng viên trong chi bộ, tôi xin thề: “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tuyệt đối phục tùng kỷ luật và sự phân công của Đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao…”. Nói đến lời thề của đảng viên là nói đến lương tâm, danh dự, phẩm chất, giá trị, uy tín, thanh danh của người cộng sản. Với những đảng viên có ý thức và giàu lòng tự trọng, lời thề trong ngày lễ kết nạp Đảng đã trở thành một trong những động lực rèn luyện, tu dưỡng tốt hơn, phấn đấu bền bỉ hơn, có nhiều đóng góp tích cực hơn cho tập thể, cho tổ chức đảng nơi mình công tác, qua đó góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về mọi mặt và cũng nhờ đó, bản thân ngày càng hoàn thiện về phẩm chất nhân cách và không ngừng tiến bộ, trưởng thành. Lời thề của những đảng viên chân chính thực chất là lời bảo đảm cam kết chính trị hàng đầu về lòng trung thành, chí tiến thủ và tinh thần suốt đời phấn đấu, hy sinh vì những mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của Đảng và cách mạng. Vì mang theo lời thề thiêng liêng ấy, trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, có gần 160.000 đảng viên đã chiến đấu và anh dũng hy sinh vì nước, vì dân. Tuy nhiên, có một thực tế đáng buồn là những năm gần đây, một bộ phận cán bộ, đảng viên đang tự đánh mất những phẩm giá thiên lương của người cộng sản, làm hoen ố danh dự của đảng viên. Nguyên nhân sâu xa dẫn tới thực trạng này là cán bộ, đảng viên không thấm thía những lời thề thiêng liêng từ ngày đầu là đảng viên mới; không ứng xử trọn vẹn, thủy chung với những lời tuyên thệ đã từng cất lên từ trái tim mình trong buổi lễ kết nạp Đảng; không kiên tâm, bền bỉ nuôi dưỡng, bồi đắp và bảo toàn danh dự hai chữ “đảng viên”-một danh xưng là niềm ước mơ, khát vọng cháy bỏng mà mình hằng phấn đấu, theo đuổi và ngưỡng mộ. Không ngẫu nhiên mà người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta từng bày tỏ nỗi lòng sâu kín nhất của mình khi đặt câu hỏi: “Mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai?”. Vốn suy tư và nặng lòng trăn trở cho sự trường tồn của Đảng và chế độ ta, vị lãnh đạo cao nhất của đất nước không dưới một lần bày tỏ cảm xúc “đau lòng” khi một loạt cán bộ cao cấp và nguyên cán bộ cao cấp bị xử lý kỷ luật; đồng thời cảnh báo, cảnh tỉnh mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp và cán bộ cao cấp trong hệ thống chính trị phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, tự soi, tự sửa để tránh đi vào những vết xe đổ; nếu tay trót “nhúng chàm” thì phải “tự giác gột rửa”; đồng thời đừng quên rằng, danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất đối với mỗi con người, trước hết là mỗi cán bộ, đảng viên. Không trăn trở sao được khi trong 7 năm (2011-2017), có tới gần 51.000 đảng viên bị xóa tên khỏi Đảng, trong đó hơn 38.500 trường hợp bị xóa tên do vi phạm, ngoài ra có gần 12.500 đảng viên bị kỷ luật khai trừ khỏi Đảng. Đấy là chưa kể trong vòng chưa đầy 3 năm kể từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, Đảng ta đã xử lý kỷ luật hơn 60 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, một con số nói lên “kỷ lục” buồn về sự tổn thất cán bộ. Đáng nói hơn, có những cán bộ khi còn ở cương vị thấp luôn giữ được sự trong sáng của người đảng viên chân chính; cũng có cán bộ từng nếm mật nằm gai, từng trải qua những năm tháng vào sinh ra tử, từng lên rừng xuống biển, lặn lội xông pha với nhân dân trong thực tiễn cơ sở; nhưng khi phấn đấu vươn lên và được trao quyền lực lớn hơn đã thiếu nghiêm khắc rèn luyện bản thân, bị mê hoặc, quyến rũ bởi “cái bả” tiền tài danh vọng nên từng bước trượt dài, lún sâu vào con đường sai phạm. Để rồi khi tỉnh ngộ ra, những cán bộ bị kỷ luật, bị rơi vào vòng lao lý mới hiểu thế nào là nỗi đau âm ỉ: “Mất tiền bạc là mất ít, mất sức khỏe là mất nhiều, mất danh dự là mất tất cả”! Danh dự được ví như một thứ nước hoa. Giữ được danh dự đảng viên không chỉ giữ được danh thơm cho cả gia đình, người thân, bạn bè, dòng họ, mà còn góp phần làm lan tỏa tiếng tốt của mình trong tập thể, cấp ủy, tổ chức đảng và rộng hơn là trong toàn Đảng, toàn xã hội. Nhưng danh dự cũng được ví như một que diêm, khi đã cháy một lần là hết ngay. Nói thế để thấy, xây dựng được danh dự đã khó, để bảo toàn được danh dự lâu dài còn khó hơn nhiều. Vậy nên, khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ đội tiền phong của những người chiến sĩ cách mạng, dù ở đâu, lúc nào, trên cương vị gì, nhất là trong những lúc khó khăn, cam go, thử thách và trước những cám dỗ “mồi phú quý, bả vinh hoa”, mỗi đảng viên đừng bao giờ quên mình đã có một lời thề thiêng liêng trước lá cờ Tổ quốc, cờ Đảng và trước anh linh Bác Hồ vĩ đại. Muốn trọn đời theo Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên hãy biết khắc cốt ghi tâm những lời thề trong ngày kết nạp Đảng, góp phần làm cho danh hiệu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là niềm tin, niềm tự hào và trở thành “danh thơm, tiếng tốt” có sức hút, sức hấp dẫn đối với mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Đó cũng là một cách bảo vệ uy tín, danh dự của Đảng Cộng sản Việt Nam bền vững nhất. Đồng thời, đó cũng là một việc làm thiết thực để góp phần phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng.