Thứ Hai, 19 tháng 4, 2021

Luận điệu xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội ta nhất định bị phá sản .

Nhằm làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, các thế lực thù địch đã và đang dùng mọi thủ đoạn vừa âm thầm, vừa trắng trợn, xuyên tạc, phủ định bản chất, truyền thống của “Bộ đội Cụ Hồ”, nhất là sự trung thành tuyệt đối của Quân đội ta với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nâng cao cảnh giác, đập tan các luận điệu xuyên tạc của chúng là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. . Thời gian gần đây, những luận điệu xuyên tạc phẩm chất của Quân đội ta mà các thế lực thù địch tung ra là tập trung công kích trực tiếp vào sự trung thành của Quân đội đối với Đảng. Chúng ra sức rêu rao rằng: Quân đội “chỉ là của quốc gia - dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào”; Quân đội trung thành với Đảng là sự trung thành “mù quáng”, là “lạc hậu lỗi thời”; Quân đội “chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia - dân tộc, với nhân dân, bảo vệ nhân dân”, v.v. Họ cố tình cắt xén nội hàm phẩm chất trung thành của Quân đội nhân dân Việt Nam; đối lập sự trung thành với Đảng và trung thành với nhân dân, với dân tộc; đối lập phẩm chất trung với Đảng và hiếu với dân của Quân đội ta. Họ còn “khuyên nhủ” chúng ta rằng, cần phải thực hiện “chuyên nghiệp hóa” Quân đội càng sớm càng tốt, cần phải học tập kinh nghiệm xây dựng lực lượng vũ trang theo mô hình của Quân đội tư sản, v.v. Thực chất những luận điểm nêu trên là thủ đoạn lừa bịp, phản động, phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Họ không những xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội, mà còn tách rời, đối lập một cách vô lối các nội dung trong phẩm chất trung thành của Quân đội và các mối quan hệ của Quân đội với Đảng, dân tộc và nhân dân. Quan điểm “Quân đội chỉ là của dân tộc”, chỉ cần “trung thành với lợi ích quốc gia - dân tộc” là quan điểm phản động về chính trị và đặc biệt nguy hiểm. Quan điểm này có vẻ như được dựa trên “cơ sở” thực tiễn rằng, Quân đội ta có một truyền thống oai hùng gắn với vận mệnh của dân tộc, của đất nước, đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập, tự do của Tổ quốc trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam. Từ cơ sở đó, cho nên họ đặt vấn đề “Quân đội trung thành với dân tộc là “phù hợp”, chứ không cần thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, trung thành với một lực lượng chính trị nào! Điều này dễ làm cho một số người nhẹ dạ cả tin có thể lầm tưởng rằng, các quan điểm đó là phù hợp, cần thiết và những lời “khuyên nhủ” của họ là đầy thiện chí, là hợp lý, khách quan và đúng với thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta! Quan điểm Quân đội chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân”, “trung với Đảng là phản nhân dân” là một quan điểm phản động hết sức nguy hiểm. Biết không thể chia cắt được mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội ta với nhân dân, các thế lực thù địch đã lợi dụng mối quan hệ này để đẩy tới việc đưa ra luận điệu Quân đội “chỉ cần trung thành với nhân dân” là đủ, không cần nói đến phải trung thành với Đảng nữa. Họ hiểu rất rõ rằng, Quân đội ta có quan hệ máu thịt với nhân dân, là quân đội của dân, do dân và vì dân. Cho nên, họ đặt vấn đề Quân đội chỉ “trung thành và bảo vệ nhân dân” là “phù hợp”, là “khách quan”, chứ không cần thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, một lực lượng chính trị nào! Quân đội là của quốc gia - dân tộc, chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân”, “bảo vệ đất nước và lợi ích quốc gia - dân tộc”. Những giọng điệu đó, tưởng là khách quan, không chính trị, không giai cấp, nhưng lại nằm trong âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, thực chất là nhằm lái chính trị của Quân đội ta sang chính trị tư sản. Bằng quan điểm đó, các thế lực thù địch đã khéo léo che giấu mưu đồ nhằm loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội, xóa nhòa bản chất chính trị - giai cấp của Quân đội, tiến tới làm biến chất Quân đội ta. Đây mới là âm mưu đích thực của các thế lực thù địch trong mục tiêu chống phá Quân đội, nhưng lại rất dễ làm cho chúng ta rơi vào chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, khó nhận biết thực chất âm mưu, thủ đoạn của chúng. Thông qua thủ đoạn công kích, xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội ta, các thế lực thù địch mộng tưởng rằng, sẽ “kích hoạt” làm cho Quân đội mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu; sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội bị vô hiệu hóa, Đảng không thể nắm được, không thể “điều khiển” được Quân đội, đặc biệt trong những tình huống phức tạp và thậm chí Đảng có thể trở thành đối tượng trực tiếp của chính công cụ bạo lực này. Họ muốn chính công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước trở thành lực lượng, công cụ trực tiếp cho hành động chống Đảng và chống Nhà nước ta. Vậy là, vấn đề lái chính trị của Quân đội ta theo chiều hướng khác, làm cho Quân đội ngả theo các thế lực phản cách mạng, chống lại Đảng và chế độ là một âm mưu rất thâm độc của các thế lực thù địch mà việc tung ra những luận điệu xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội là một ngón đòn rất “lợi hại”. Lịch sử cách mạng Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua đã chứng minh, Quân đội ta không chỉ là công cụ, lực lượng chính trị tin cậy, trung thành của Đảng, Nhà nước mà còn là của nhân dân, của dân tộc, chiến đấu cho lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn và triệt để quần chúng nhân dân lao động, phấn đấu không mệt mỏi cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng và cũng là vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Quân đội ta sẵn sàng hy sinh phục vụ lợi ích của dân tộc, của giai cấp và của nhân dân Việt Nam; bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ nhân dân, bảo vệ lợi ích và cuộc sống an bình của nhân dân. Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dù công tác ở đâu, đi đến đâu, làm những nhiệm vụ gì, trong điều kiện chiến tranh hay hòa bình, ở đất liền hay trên biển đảo, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đều ra sức bảo vệ, giúp đỡ, tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, phấn đấu vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó là biểu hiện sự thống nhất giữa trung thành với Đảng và trung thành với nhân dân, với đất nước, dân tộc trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trung thành với Đảng, trung với nước, hiếu với dân là những nội dung phẩm chất cơ bản, cốt lõi gắn bó chặt chẽ với nhau trong bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thể hiện trong mọi công việc cách mạng của Ðảng, trong từng suy nghĩ, việc làm cụ thể của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội tất cả đều vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Trung thành với Đảng đã bao hàm cả nội dung hiếu với dân, với lợi ích quốc gia, dân tộc; trung với nước, hiếu với dân cũng bao hàm cả nội dung trung với Đảng. Đó là mối quan hệ biện chứng thống nhất nằm trong thuộc tính bản chất của Quân đội ta, không thể tách rời. Những luận đề trên, chúng ta thấy rõ tính chất phi lý, phản khoa học của luận điệu xuyên tạc về phẩm chất trung thành của Quân đội ta mà các thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền. Không thể cho rằng, “Quân đội là chỉ của dân tộc”, chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân và đất nước” một cách chung chung, không cần sự lãnh đạo của một đảng chính trị nào, không cần trung thành với Đảng. Quân đội là của dân tộc, của nhân dân, nhưng quân đội ấy do ai lập nên, do ai tổ chức, rõ ràng là phải có một lực lượng chính trị nhất định. Lịch sử nhân loại đã minh chứng: con đường phát triển của các quốc gia - dân tộc, sự nghiệp cách mạng của nhân dân các dân tộc bao giờ cũng do một lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia dân tộc dẫn dắt và lãnh đạo. Lực lượng chính trị lãnh đạo dân tộc và nhân dân ấy cũng đồng thời là lực lượng tổ chức và lãnh đạo “Quân đội của dân tộc, của nhân dân”. Quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định, của lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia - dân tộc, đang lãnh đạo và dẫn dắt dân tộc trên con đường phát triển. Thử hỏi, nếu quân đội chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân”, “bảo vệ đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”, không cần trung thành, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của lực lượng chính trị nào, đảng phái nào, thì quân đội ấy mang bản chất nào, của ai? hay là “không có bản chất”, “không có chính trị”! Đây là một chiêu trò nhằm để đánh lừa người khác, chứ bản thân những kẻ đưa ra các quan điểm trên cũng thừa hiểu quân đội phải mang bản chất chính trị và phải phục vụ cho ai, trung thành với ai. Nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân, nhưng chỉ có quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam như Quân đội nhân dân Việt Nam thì mới có thể làm tròn phận sự trung thành với Tổ quốc, với nhân dân theo đúng nghĩa của nó và gắn bó chặt chẽ sự trung thành với Đảng, Nhà nước, chế độ, Tổ quốc và nhân dân trong chỉnh thể thống nhất, không tách rời. Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức, lãnh đạo Quân đội và Quân đội phục tùng sự lãnh đạo của Đảng là hai mệnh đề song hành ngay từ khi mới thành lập đến nay suốt hơn bảy thập kỷ xây dựng, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân khi mới ra đời đã là đội quân mang bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, của dân tộc cũng là mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Hay nói cách khác, Quân đội ta chiến đấu là nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân Việt Nam, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của cách mạng, của dân tộc trong từng giai đoạn. Đó là sự biểu hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội ta, một tổ chức quân sự kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Quân đội nhân dân Việt Nam là của dân tộc, của nhân dân Việt Nam, đồng thời là của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Việc từ bỏ nội dung phẩm chất trung thành với Đảng, tách vấn đề trung thành với Đảng và trung thành với nhân dân, với dân tộc là không thể chấp nhận được vì nó không đúng với bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là sự cố tình xuyên tạc, bóp méo sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cũng như thực tiễn mối quan hệ giữa Quân đội với Đảng, với dân tộc và nhân dân, nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, chống phá cách mạng Việt Nam. Luận điệu xuyên tạc đó không đánh lừa được ai, nhất định sẽ bị phá sản.

Tăng cường vai trò của các tổ chức khu vực trong ngăn ngừa, giải quyết xung đột

 

Tăng cường vai trò của các tổ chức khu vực trong ngăn ngừa, giải quyết xung đột

Ngày 19/4, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Phiên thảo luận mở Cấp cao trực tuyến và trực tiếp về chủ đề "Tăng cường hợp tác giữa Liên hợp quốc (LHQ) và các tổ chức khu vực trong thúc đẩy xây dựng lòng tin và đối thoại trong ngăn ngừa, giải quyết xung đột". Đây là một trong những sự kiện quan trọng trong tháng Việt Nam giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng Bảo an LHQ.

Thông điệp cấp cao của Việt Nam

Hiện nay, các biện pháp xây dựng lòng tin (CBM) và đối thoại là một trong các nhóm công cụ ngăn ngừa và giải quyết xung đột tại Hội đồng Bảo an LHQ. CBM được sử dụng để tránh việc hai hoặc nhiều bên hiểu nhầm mục đích, chính sách của nhau (từ đó dẫn đến mâu thuẫn, xung đột) và thúc đẩy hợp tác.

Các biện pháp CBM góp phần củng cố các quan hệ song phương và đa phương thông qua thiện chí, trao đổi thường xuyên với nhau, cung cấp thông tin một cách minh bạch. Các cơ chế CBM tiêu biểu mà LHQ đang triển khai gồm: Cơ chế sáng kiến về khai trình vũ khí của LHQ (là hệ thống dữ liệu về tình hình chuyển giao, mua bán vũ khí của các quốc gia); Chương trình CBM của Hội đồng Nhân quyền LHQ (UNHCR) nhằm giải quyết các nhu cầu nhân đạo của người tị nạn và “củng cố niềm tin giữa các bên liên quan tới xung đột tại Tây Sahara”; Hội đồng tư vấn cấp cao về hòa giải của LHQ và các cơ chế hợp tác giữa LHQ và một số tổ chức khu vực như Khung thúc đẩy quan hệ hợp tác trong hòa bình và an ninh giữa LHQ và AU, Khung hành động LHQ-ASEAN trong các giai đoạn, gần đây nhất là giai đoạn 2021-2025.

Còn ở cấp độ khu vực, các tổ chức khu vực đã triển khai nhiều biện pháp đối thoại, CBM thông qua việc thành lập các quỹ với mục đích xây dựng hòa bình, giải quyết xung đột, ký kết các hiệp định, hiệp ước, thỏa thuận, tuyên bố khu vực, trao đổi đoàn, tiến hành đàm phán… nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định, giải quyết xung đột tại khu vực…

Theo đánh giá của các nhà phân tích, mặc dù Hội đồng Bảo an LHQ đã tổ chức một số phiên thảo luận về xây dựng lòng tin như Thảo luận mở về chống phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt và xây dựng lòng tin (tháng 1-2018) và có nhiều cuộc Thảo luận mở về hợp tác giữa LHQ và các tổ chức khu vực cụ thể, song chưa có phiên thảo luận mở nào tập trung vào vai trò của các tổ chức khu vực trong ngăn ngừa xung đột thông qua các CBM, đối thoại.

Đồng thời, Hội đồng Bảo an LHQ cũng chưa có văn kiện cụ thể nào về mối liên hệ giữa xây dựng lòng tin, đối thoại và ngăn ngừa xung đột. Gần đây nhất, Nghị quyết số 2167 (2014) của Hội đồng Bảo an LHQ chỉ nêu nội dung khuyến khích các tổ chức khu vực tăng cường tham gia vào các nỗ lực xây dựng lòng tin, ngăn ngừa xung đột và trung gian hoà giải.

Vì vậy, phiên thảo luận mở cấp cao này có ý nghĩa và tính chất rất quan trọng, thiết thực. Đây cũng là hoạt động đối ngoại đa phương đầu tiên có sự tham dự của lãnh đạo cấp cao Việt Nam ngay sau thành công rất tốt đẹp Đại hội XIII của Đảng; đồng thời lần đầu tiên lãnh đạo cấp cao Việt Nam chủ trì một sự kiện quan trọng của Hội đồng Bảo an LHQ.

Thứ trưởng Ngoại giao Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh: “Thông qua sự kiện này, Việt Nam sẽ thể hiện sự quan tâm cao đối với việc phát huy vai trò của các tổ chức khu vực cũng như hợp tác giữa LHQ với các tổ chức khu vực, trong đó có ASEAN, trong tiến trình duy trì hòa bình, ổn định, phát triển kinh tế-xã hội nói chung và trong ngăn ngừa xung đột nói riêng.

Đây cũng là dịp để chúng ta gửi thông điệp ở cấp cao nhất của Đảng và Nhà nước tới cộng đồng quốc tế về những định hướng, tầm nhìn và khát vọng phát triển của đất nước mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra, khẳng định mạnh mẽ đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế một cách toàn diện, sâu rộng và có hiệu quả”.

Phát huy sự hợp tác LHQ và các tổ chức

Trên thực tế, từ năm 1992, hợp tác giữa LHQ/Hội đồng Bảo an với các tổ chức khu vực ngày càng được quan tâm thảo luận trong chương trình nghị sự. Hội đồng Bảo an đã tổ chức nhiều cuộc thảo luận, tham vấn và thông qua các Nghị quyết và văn kiện, qua đó thể chế hóa một số hoạt động hợp tác giữa Hội đồng Bảo an cùng các tổ chức khu vực và được chia làm hai nhóm chính: hợp tác nói chung hợp tác riêng giữa LHQ với từng tổ chức khu vực cụ thể như Liên minh châu Phi, Liên minh châu Âu, Liên đoàn Arab… trong một số lĩnh vực cụ thể.

Riêng chủ đề ngăn ngừa và giải quyết xung đột, Hội đồng Bảo an LHQ đã đưa thành một trong những trọng tâm từ cuối những năm 1990, đầu những năm 2000 với việc công nhận nỗ lực ngăn ngừa xung đột là “một phần không thể thiếu của trách nhiệm chính của Hội đồng Bảo an LHQ về duy trì hòa bình và an ninh quốc tế”.

Đến nay Hội đồng Bảo an đã thông qua 6 Nghị quyết và 11 Tuyên bố chủ tịch về chủ đề ngăn ngừa xung đột và hòa giải. Hội đồng Bảo an LHQ cũng tổ chức nhiều phiên họp, phiên thảo luận mở để cập nhật thông tin thường xuyên từ các cơ chế ngăn ngừa xung đột và các cơ quan LHQ khác.

Gần đây, Hội đồng Bảo an LHQ còn tập trung thảo luận các biện pháp ngăn ngừa bền vững (giải quyết nguyên nhân gốc rễ, các nguy cơ toàn cầu có thể dẫn đến xung đột), đồng thời duy trì thảo luận về một số khu vực cụ thể như thảo luận mở về Khu vực Hồ lớn (21/3/2016), nghe báo cáo về các phát triển mới tại Gambia (12/12/2016), thảo luận mở về tình hình xung đột tại châu Âu (2/2017), tổ chức thăm và làm việc tại châu Phi (3/2018), thảo luận về tình hình Trung Đông và Bắc Phi (25/6/2018), nghe báo cáo về tình hình bất ổn chính trị tại Nicaragua (5/9/2018)…

Đối với các tổ chức khu vực, ngăn ngừa xung đột cũng dần trở thành trọng tâm trong chính sách, chiến lược hoạt động với mục tiêu góp phần ngăn ngừa bùng phát và tái diễn xung đột từ sớm, giảm thiểu tổn thất về người và vật chất do xung đột gây ra. Vấn đề ngăn ngừa xung đột dần được quy định, thể chế hóa trong những văn kiện chính sách, cơ quan trực thuộc quan trọng của các tổ chức khu vực.

Các quốc gia cũng đều đề cao tuân thủ luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ, vai trò của các tổ chức khu vực do trực tiếp liên quan và nắm bắt tình hình, đặc điểm, lịch sử và đặc thù của khu vực với quan điểm cần quan tâm, xử lý gốc rễ xung đột, trong đó có vấn đề đói nghèo, bất bình đẳng, nhấn mạnh mối liên hệ qua lại và tương hỗ nhau giữa hòa bình và phát triển bền vững; tăng cường hợp tác giữa LHQ và các tổ chức khu vực.

“Việt Nam lựa chọn chủ đề này, cùng với hai chủ đề của hai phiên thảo luận điểm nhấn khác trong tháng Chủ tịch Hội đồng Bảo an LHQ (khắc phục hậu quả bom mìn và bảo vệ cơ sở thiết yếu đối với sự sống của người dân) để thể hiện sự liên thông với chủ trương là “đối tác vì một nền hòa bình bền vững”.

Trước đó, Việt Nam đã chủ trì xây dựng và tích cực tham vấn với các nước để thông qua Tuyên bố Chủ tịch Hội đồng Bảo an LHQ với các nội dung quan trọng như: khẳng định tầm quan trọng của hợp tác giữa LHQ/Hội đồng Bảo an và các tổ chức khu vực trong ngăn ngừa, giải quyết xung đột thông qua các biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ; khẳng định các biện pháp xây dựng lòng tin và đối thoại là những thành tố thiết yếu góp phần ngăn ngừa, giải quyết xung đột; ghi nhận và nhấn mạnh vai trò quan trọng của LHQ, các tổ chức khu vực và các bên liên quan trong thúc đẩy các biện pháp xây dựng lòng tin và đối thoại trong khu vực của mình, vì lợi ích chung của hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên thế giới; kêu gọi các nỗ lực tăng cường hợp tác giữa LHQ/Hội đồng Bảo an và các tổ chức khu vực cũng như giữa các tổ chức khu vực với nhau trong ngăn ngừa, giải quyết xung đột hướng tới xây dựng nền hòa bình bền vững; khuyến khích LHQ và cộng đồng quốc tế hỗ trợ nâng cao năng lực cho các tổ chức khu vực trong ngăn ngừa, giải quyết xung đột, tái thiết hậu xung đột và duy trì hòa bình; đề nghị Tổng thư ký, trong các báo cáo của mình, có những đánh giá về thách thức, bài học kinh nghiệm và khuyến nghị trong thúc đẩy các biện pháp xây dựng lòng tin và đối thoại”, Thứ trưởng Ngoại giao Đặng Hoàng Giang cho biết.

 

“NGƯỜI CÁCH MẠNG PHẢI CÓ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG LÀM NỀN TẢNG”

Trong những năm cuối thập niên 1950, miền Bắc đang tiến hành công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hành trình đấu tranh cách mạng đầy gian khó đó đòi hỏi sự nỗ lực cao độ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, đặc biệt đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, tâm trạng thời bình, biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên đã không còn là hiện tượng đơn lẻ, đó đã là căn bệnh, trở thành nguy cơ “suy thoái” của một Đảng cầm quyền. Nhận thức rõ những gian nan, trắc trở, những khó khăn phức tạp của chặng đường trước mắt, và sớm tiên liệu được tình hình, với bút danh Trần Lực, Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Ðạo đức cách mạng”. Là một cuốn sách mỏng, dày chưa đầy 20 trang, nhưng “Ðạo đức cách mạng” có nội dung phong phú; cách viết súc tích, văn phong giản dị, dễ hiểu, chứa đựng những tư tưởng lớn về đạo đức cách mạng. Trong đó, Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của đạo đức cách mạng, chỉ rõ kẻ thù, những nguy cơ rời xa đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà còn nêu rõ những biện pháp để ngăn ngừa và sửa chữa căn bệnh đó. 60 năm sau khi Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng” (12/1958 - 12/2018), những chỉ dẫn của Người vẫn vẹn nguyên ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn sâu sắc, thiết thực góp phần phòng và chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, thiết thực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong tác phẩm, Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, sự phát triển của các phương thức sản xuất, sự tiến bộ của xã hội loài người từ công xã nguyên thuỷ đến cộng sản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan, không thể đảo ngược. Trong hành trình đó, đã xuất hiện giai cấp và cũng như một tất yếu khách quan: cuộc đấu tranh giai cấp giữa những người bị bóc lột và những kẻ bóc lột, giữa “bọn phong kiến địa chủ, bọn tư bản và đế quốc” và “những tầng lớp người khác, nhất là công nhân và nông dân” ngày càng quyết liệt. Vì vậy, để giành lấy thắng lợi trong cuộc đấu tranh đó, cách mạng nhất định phải do giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo, bởi đó là giai cấp tiên tiến nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất. Điều này đã được lịch sử chứng minh và đó là xu thế tất yếu của thời đại. Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc rằng, dù là tập thể của những con người tiên phong nhất, song Đảng cũng là một thực thể xã hội và mỗi cán bộ, đảng viên cũng là những con người cụ thể. Đặc biệt, là một Đảng macxit được xây dựng, trưởng thành ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đội ngũ cán bộ, đảng viên vốn sinh trưởng trong chế độ xã hội cũ, nên vẫn mang trong mình, hoặc nhiều hoặc ít “vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ” về tư tưởng, về thói quen, tâm trạng thời bình, v.v.. Tất cả những biểu hiện đó chính là “chủ nghĩa cá nhân”, là “trái ngược với chủ nghĩa tập thể”, “là trái ngược với đạo đức cách mạng” và nếu còn lại trong mình, “dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”[1]. Vì vậy, để giành thắng lợi trong công cuộc cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới - “cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ”, “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”[2]. Lời nói và việc làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên có tác động lớn đến quần chúng; do đó, trong bất kỳ tình huống khó khăn nào, mỗi người cũng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, để trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm đều là những người tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân, mà “- Giàu sang không thể quyến rũ, - Nghèo khó không thể chuyển lay, - Uy lực không thể khuất phục”[3]. Đề cao vai trò của đạo đức cách mạng, Người nhấn mạnh: người có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước, vì lợi ích chung mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình, thậm chí sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình không tiếc,v.v.. “Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng”. Có đạo đức cách mạng, thấm nhuần đạo đức cách mạng sẽ giúp mỗi người khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không lo kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá,v,v.. Nhấn mạnh tầm quan trọng, vai trò của đạo đức cách mạng, Người cũng đồng thời chỉ rõ nội hàm đạo đức cách mạng mà mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện thường xuyên, liên tục, mỗi ngày là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” “là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, “là ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng” ; “là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”, “là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu”, “là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”, “ là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến quần chúng”[4]… Đồng thời, Người cũng khẳng định, trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân ta, trong Đảng đã có rất nhiều những người con ưu tú như Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai, v.v.. đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng, chí công vô tư, thực sự “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”; luôn “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình... Cũng theo Hồ Chí Minh, mỗi người cách mạng phải hiểu sâu sắc rằng: Đảng ta là một đội ngũ tiên tiến nhất và tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân và dân tộc, đồng thời là người lãnh đạo cách mạng. Do đó, mỗi người không chỉ phải nhận thức rõ sứ mệnh lịch sử vừa cải tạo thế giới mà còn phải luôn hiểu rõ nhiệm vụ tự cải tạo bản thân mình, rèn luyện đạo đức cách mạng để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

“CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN NHẤT ĐỊNH PHẢI TIÊU DIỆT”

Để xây dựng Đảng, giúp cán bộ, đảng viên nhận diện rõ kẻ thù, có biện pháp phòng và chống hiệu quả, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tên của từng kẻ địch, chỉ rõ mối quan hệ, liên minh giữa chúng khi nhấn mạnh: “Kẻ địch gồm có ba loại. Chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm. Thói quen và truyền thống lạc hậu, nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ… Loại địch thứ ba là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản thường xuyên ẩn nấp trong mỗi con người”[5], nên chủ nghĩa cá nhân là đồng minh của hai kẻ địch kia, luôn sẵn sàng “chờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi - để ngóc đầu dậy”, đè bẹp ý chí cách mạng của mỗi người. Cũng theo Người, đạo đức cách mạng trái ngược với chủ nghĩa cá nhân, vì “chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt”[6]. Khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, nhận thức rõ sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh đã chỉ ra hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên do sa vào chủ nghĩa cá nhân nên “việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết”; “ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem kinh quần chúng, đọc đoán, chuyên quyền”; “họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”, v.v.. khiến quần chúng nhân dân bất bình, thất vọng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: 1) Chủ nghĩa cá nhân “là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc. Vì thế mà càng nguy hiểm”[7]. 2) Đó là thứ vi trùng mẹ, đẻ ra nhiều bệnh khác, trái với đạo đức cách mạng và chừng nào chủ nghĩa cá nhân còn lại trong mình, dù thật ít, thì chừng đó vẫn sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên nỗ lực đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng, làm mất lòng tin cậy của nhân dân với Đảng và Chính phủ. 3) Chừng nào chủ nghĩa cá nhân vẫn còn ẩn náu trong mỗi cán bộ, đảng viên, dẫn đến sự suy thoái về đạo đức, lối sống, “ tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; vẫn xâm nhập vào “cơ thể Đảng”, làm giảm nguồn sức mạnh nội lực, sự đoàn kết thống nhất của Đảng, biến Đảng thành xa lạ, đối lập với nhân dân vẫn còn, thì chừng đó nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ vẫn còn hiện hữu. Theo lời Người, những người sa vào chủ nghĩa cá nhân, mang nặng tư tưởng cá nhân chủ nghĩa là những người chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Đó là những người “tự thấy mình cái gì cũng giỏi”, ngại gian khó, kiêu ngạo, hiếu danh, tự ái, thiếu kỷ luật; đã “luôn đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc” luôn “tự tư tự lợi”, gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ Đảng, làm mất dân chủ trong Đảng. Họ luôn “tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt”, chỉ ưa người khác “tâng bốc mình, khen ngợi mình”, “ưa sai khiến người khác”, “không lấy Đảng làm nền tảng. Mình muốn làm thế nào thì làm thế ấy”, “tỏ ra khinh thường kỷ luật của Đoàn thể, làm rối loạn hàng ngũ của Đoàn thể”,v.v.. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu quý họ, rời xa họ và “chung quy là họ không làm nên trò trống gì”[8]. Những biểu hiện của căn bệnh cá nhân chủ nghĩa này rất nguy hiểm, “rất tai hại cho Đảng, làm hại cho sự thống nhất”, “làm cho Đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí, thường hỏng việc” và “không thể phát triển”, vì làm mất sự thân ái, đoàn kết, gây mối nghi ngờ giữa những người đồng chí. Cũng theo Hồ Chí Minh, những cán bộ, đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc chỉ muốn “phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh”; coi thường và không lắng nghe ý kiến của quần chúng, “xem khinh những người cán bộ ngoài Đảng”, “xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ, v.v.. nên sẽ lạc hậu, thoái bộ, dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Trong khi đó, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là quá trình “tự diễn biến” theo chiều hướng suy thoái, biểu hiện cả trong nhận thức chính trị, đạo đức, lối sống, tư tưởng, niềm tin và ý chí…; diễn ra trước hết trong mỗi con người, với các mức độ và biểu hiện khác nhau về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Nếu không phòng và chống, “tự diễn biến” sẽ lan rộng trong nội bộ theo nhiều chiều hướng: từ một số cán bộ, đảng viên đến số đông, cán bộ, đảng viên, đến tổ chức mà cá nhân cán bộ, đảng viên đó công tác, sinh hoạt; từ cán bộ cấp thấp đến cán bộ cấp cao và chiều ngược lại - từ cán bộ cấp cao xuống cán bộ cấp thấp. Hơn thế nữa, “tự diễn biến” đến một mức độ nào đó sẽ chuyển sang “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, dẫn đến lan rộng trong nội bộ, trong cả một tổ chức, nhất là tổ chức đảng và hệ thống chính trị; gây nguy cơ, làm rạn nứt khối đoàn kết, thống nhất từ tư tưởng, nhận thức đến hành động trong Đảng, làm suy giảm nguồn sức mạnh của Đảng, tính tiền phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà còn trực tiếp đe dọa sự tồn vong của một Đảng cầm quyền, của chế độ Vì vậy, để phòng và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mỗi cán bộ, đảng viên phải chủ động, tự giác phòng, chống và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân để nâng cao đạo đức cách mạng. Đó vừa là yêu cầu tất yếu, thường xuyên, liên tục đối với quá trình rèn luyện, phấn đấu của mỗi cán bộ, đảng viên, vừa thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa xây và chống, trong xây có chống, trong chống có xây, nhằm xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

PHÒNG VÀ CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Hồ Chí Minh không chỉ là người đầu tiên nêu ra và thực hiện một cách sinh động trong thực tiễn những chuẩn mực đạo đức cách mạng; không ngừng tuyên truyền, vận động mọi người cùng rèn luyện mà trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã cùng Đảng ta lựa chọn, lãnh đạo nhân dân Việt Nam theo lý tưởng cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cở sở xác định đạo đức cách mạng đúng đắn. Quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của Người cũng chính sự kế thừa đạo đức truyền thống dân tộc, tiếp thu những tinh hoa tư tưởng đạo đức của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa nhân đạo cộng sản của học thuyết Mác - Lênin. Hồ Chí Minh đã không chỉ hướng đến mà còn dành cả cuộc đời mình, gắn bó chặt chẽ cuộc đời mình với lý tưởng cao đẹp: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, không màng đến vòng danh lợi. Cuộc đời Hồ Chí Minh thực sự là một tấm gương đạo đức cách mạng và nhân cách thanh cao của người chiến sĩ cộng sản hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân. Với Người, dù còn hoạt động bí mật, bị giam cầm trong nhà tù đế quốc hay khi đã trở thành một nguyên thủ quốc gia, một Chủ tịch Đảng cũng vẫn luôn là một là vị lãnh tụ thường xuyên quan tâm, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phải thường xuyên, liên tục chống chủ nghĩa cá nhân, tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân để rèn luyện đạo đức cách mạng. Người đã không chỉ tiên liệu, đưa ra những cảnh báo về sự suy thoái đạo đức, lối sống, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi cán bộ, đảng viên khi họ “thoái bộ”, rời xa nhân dân; chỉ rõ những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân cùng những phương thuốc đặc trị chúng mà chính Người còn là một tấm gương mẫu mực trong rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư... Hồ Chí Minh là Người mà “gia đình của Người là Nhân dân, là Đảng và Tổ quốc. Bởi lẽ đó, tất thảy điều gì Hồ Chí Minh dạy và làm, thì mọi người đều ngưỡng mộ và làm theo không chút đắn đo”[9]. Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, những nguy cơ dấn đến thoái hoá biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Hồ Chí Minh đã không chỉ nêu ra những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, chỉ rõ tên kẻ địch nội xâm nguy hiểm này mà còn đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ: 1) “Phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng”. 2) Chú trọng các nguyên tắc xây dựng Đảng; theo đó “chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”. 3) Mỗi cán bộ, đảng viên phải “kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”. 4) Trong mọi mặt công tác, “phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”. 5) Luôn cầu thị, “cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ” [10]… Theo đó, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, củng cố khối đoàn kết, kỷ luật của Đảng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, gương mẫu trước quần chúng, nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng và nhất là phải rèn luyện đạo đức cách mạng, kiên quyết phòng và chống chủ nghĩa cá nhân; phải thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình trên cơ sở có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, chứ không phải là đấu nhau, là “bới lông tìm vết”, “là ba phải”, “là trước mặt nói một đằng, phía sau làm một nẻo”… Chỉ có nêu cao tinh thần rèn luyện đạo đức cách mạng, quét sạch và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân của người cộng sản mới giúp nhau sửa chữa tốt khuyết điểm, phát triển ưu điểm, làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi. Như vậy, thì đoàn kết và thống nhất nội bộ trong Đảng mới được củng cố, tăng cường, góp phần nhân nguồn sức mạnh nội lực của Đảng. Cũng theo lời Người, chỉ có làm được như vậy, mỗi người cán bộ, đảng viên mới tự cải tạo mình, tự tiến bộ, “để khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước”; để họ thực sự là những người cộng sản gương mẫu đi đầu, luôn vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh cả lợi ích của cá nhân mình. Cùng với thời gian, luận điểm Hồ Chí Minh nêu ra: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[11], đã không chỉ phản ánh đúng thực tiễn mà còn luôn là lời cảnh tỉnh có ý nghĩa sâu sắc đối với mỗi cán bộ, đảng viên, với mỗi tổ chức cơ sở Đảng trong hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để phòng và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ theo lời dặn và những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải nỗ lực rèn luyện, phấn đấu theo những yêu cầu sau: Một là, trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường, phải tự giác thực hiện Chỉ Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, với các Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QÐ/TW ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”… Qua đó, mỗi người hằng ngày đấu tranh với những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân: vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân; kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, bè phái và các biểu hiện cơ hội, thực dụng vì lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”,v.v. như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ. Hai là, mỗi cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng phải nêu cao trách nhiệm gương mẫu, đi đầu của trên các mặt tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong, tự phê bình và phê bình, trong quan hệ với nhân dân, trách nhiệm trong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ. Nội dung rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu gương đạo đức cách mạng của mỗi người, tùy vị trí công tác và trách nhiệm được giao phải thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, tận tụy, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; làm việc có nguyên tắc, kỷ cương, có lý, có tình, không lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác, nói đi đôi với làm, đã nói thì phải làm; chống các hiện tượng chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy thi đua, tư tưởng cục bộ, bè phái và các biểu hiện cơ hội, thực dụng vì lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm” và các biểu hiện tiêu cực khác trên tinh thần tất cả vì dân. Ba là, để phòng và chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng phải khắc phục tình trạng “các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát… Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ; chưa chú trọng phát hiện và có cơ chế thật sự để trọng dụng người có đức, có tài; không kiên quyết thay thế người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực yếu kém”. Phải lựa chọn và đưa vào quy hoạch những cán bộ có đức, có tài, luôn tận tâm tận lực vì nhân dân phục vụ. Đồng thời, phòng chống sự suy thoái đạo đức, lối sống với 27 biểu hiện (trong đó có 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, 9 biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống, 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ) theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng; từng bước đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, của nhân dân vào Đảng và chế độ./.

Tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ để giữ vững sức mạnh lãnh đạo của Đảng

Nguyên tắc là hệ thống các quan điểm, tư tưởng bao trùm, cơ bản và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân phải tuân theo. Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc TTDC thì bắt buộc mọi cán bộ, đảng viên của Đảng phải chấp hành, thực hiện đến nơi đến chốn. Nguyên tắc này được ví như “la bàn” có vai trò định hướng cho đội ngũ đảng viên khép mình vào khuôn khổ tổ chức, tự giác chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và quy định của Đảng. Nếu xem nhẹ, xa rời hoặc nhận thức không đúng, thực hiện không thấu đáo, hành xử thiếu nhất quán nguyên tắc này sẽ khiến cán bộ, đảng viên “đi chệch" quỹ đạo, từ đó có thể dẫn đến nhiều khuyết điểm, vi phạm trong công tác và trong sinh hoạt Đảng. Hàng loạt tổ chức đảng, đảng viên, nhất là những cán bộ cao cấp của Đảng bị cách chức, bị kỷ luật nêu trên, là minh chứng sinh động, rõ ràng nhất về việc xa rời nguyên tắc TTDC. V.I. Lênin, một trong những lãnh tụ của giai cấp công nhân trên toàn thế giới, người đầu tiên nhắc tới khái niệm “tập trung dân chủ” đã giải thích rằng, một trong những nội dung chính của nguyên tắc này là mọi đảng viên được tự do trong thảo luận nhưng phải thống nhất trong hành động. Là người sáng lập, rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”. Chỉ có sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức, ý chí và hành động mới bảo đảm cho Đảng thể hiện và thực hiện sứ mệnh cầm quyền của mình trong xã hội. Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao một nguyên tắc tổ chức cao nhất của Đảng lại không được tuân thủ, thực hiện nghiêm túc ở nhiều cấp ủy, tổ chức đảng? Có nhiều lý do dẫn đến thực trạng này, nhưng lý do chủ yếu là không ít cấp ủy, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy vừa không bám sát vào các nội dung nguyên tắc, quy chế làm việc của cấp ủy, thiếu bàn bạc dân chủ trong nội bộ, vừa lợi dụng vị trí, chức trách, quyền hạn được giao để có những biểu hiện áp đặt ý kiến chủ quan cá nhân khiến nguyên tắc bị vi phạm, méo mó. Một trong những nội dung quan trọng của nguyên tắc TTDC là thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Nhưng một số cán bộ chủ chốt của cấp ủy, chính quyền và các cơ quan, ban, ngành vì động cơ, mục đích vụ lợi mà không thực sự tôn trọng, phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể, né tránh sự giám sát của tập thể và đề cao quá mức vai trò cá nhân dẫn đến hiện tượng mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền. Vì vậy, vấn đề cấp bách, mấu chốt hiện nay để đưa nguyên tắc TTDC vào đúng quỹ đạo của nó, cũng như bảo đảm cho nguyên tắc này được thực hiện triệt để, hiệu quả ở mọi cấp ủy, tổ chức đảng là phải sớm ban hành và thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực. Không có cơ chế kiểm soát quyền lực, nguyên tắc TTDC của Đảng vẫn rất dễ bị nhiều nơi, nhiều cán bộ lãnh đạo làm biến dạng, méo mó quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước, biến quyền lực công thành quyền lực tư, từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy khôn lường cho tổ chức đảng và dễ làm tổn thất cán bộ. Lịch sử của các đảng cộng sản và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, cũng như bài học đổ vỡ, tan rã, biến chất của nhiều đảng cộng sản ở châu Âu cho chúng ta bài học “xương máu”: Ở đâu, khi nào mà các lãnh tụ, người lãnh đạo, người đứng đầu của các đảng cộng sản và tổ chức đảng luôn tuyệt đối tuân thủ, coi trọng chấp hành và thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, hiệu quả nguyên tắc TTDC, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thì ở đó, lúc đó, đảng cộng sản giữ được vị thế, vai trò, sức mạnh lãnh đạo của đảng đối với nhà nước và xã hội. TTDC là nguyên tắc sống còn của đảng cộng sản. Vi phạm nguyên tắc này là vi phạm một trong những vấn đề cốt lõi thuộc về bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ những bài học kỷ luật liên quan đến nhiều tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cao cấp của Đảng thời gian qua cho thấy, đã đến lúc các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn Đảng phải quan tâm hơn nữa việc tuyên truyền, phổ biến, học tập nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết của cán bộ, đảng viên về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng, nội dung của nguyên tắc TTDC; đồng thời vừa chú trọng mở rộng, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường siết chặt kỷ cương, kỷ luật Đảng; kiên quyết ngăn chặn, xử lý kịp thời những biểu hiện manh nha vi phạm nguyên tắc này. Bên cạnh đó, cần phải phòng, chống, đấu tranh với mọi biểu hiện tập trung hà khắc, độc đoán, chuyên quyền, cũng như các biểu hiện dân chủ tùy tiện, vô tổ chức, vô chính phủ. Chỉ có như vậy mới góp phần củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, bảo đảm cho vai trò lãnh đạo và sức mạnh của Đảng được thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến chi bộ.

Một số quan chức cao cấp bị cách chức vì vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ

TTDC là một trong những nguyên tắc cơ bản của các tổ chức cộng sản và là một trong những đặc trưng cốt lõi để phân biệt chính đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các đảng phái chính trị khác. Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đều xác định TTDC là nguyên tắc cơ bản, bao trùm, xuyên suốt trong mọi tổ chức và hoạt động của Đảng. Vấn đề căn cốt này đã trang bị cho học viên tham gia lớp bồi dưỡng kiến thức về Đảng và chuẩn bị đứng trong hàng ngũ của Đảng. Đối với tổ chức đảng các cấp, việc tuân thủ, thực hiện TTDC không chỉ là nguyên tắc lãnh đạo, hoạt động và sinh hoạt Đảng, mà còn là điều kiện bảo đảm để phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, tăng cường đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng. Nhận thức chung là như vậy, nhưng thời gian qua, vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng đã “vi phạm nguyên tắc TTDC, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành”, một biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra. Sự vi phạm nguyên tắc TTDC biểu hiện ở nhiều khía cạnh, nhưng dễ thấy nhất là hiện tượng tách rời giữa tập trung và dân chủ; lợi dụng sự tập trung để lấy tập thể làm “bình phong” che chắn, lấp liếm nhằm “ý chí hóa cá nhân lãnh đạo” dẫn tới các hành vi độc đoán, gia trưởng của người lãnh đạo. Trong khi đó, phần vì nể nang, xuê xoa, dễ dãi; phần khác do ngại va chạm, lại đoàn kết theo kiểu hình thức, xuôi chiều và không loại trừ cả tư tưởng “lợi ích nhóm” mà các thành viên trong ban thường vụ, cấp ủy ở một số nơi đã bị “định hướng, lèo lái” theo ý chí của người lãnh đạo. Thực tế cho thấy, không ít chủ trương, nghị quyết của ban thường vụ, cấp ủy đã không được bàn bạc, thảo luận thấu đáo ở mọi khía cạnh, nên khi ban hành và đi vào cuộc sống hoặc chưa phát huy tác dụng và mang lại hiệu quả như mong muốn, hoặc đã bị “nhóm lợi ích” chi phối dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Đáng báo động hơn, sự vi phạm nguyên tắc TTDC không chỉ xảy ra ở những tổ chức đảng cơ sở thường có một bộ phận cán bộ, đảng viên trình độ, hiểu biết hạn chế, mà xảy ra ở cả ban thường vụ, cấp ủy cấp huyện, cấp tỉnh, cấp ngành Trung ương. Thời gian gần đây, dư luận xã hội không khỏi quan ngại trước những vụ sai phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng liên quan đến nhiều cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ cao cấp của Đảng đều có một nguyên nhân chủ yếu là xa rời, thậm chí làm biến dạng, méo mó bản chất của nguyên tắc TTDC. Trung ương đã kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2010-2015; Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020; Ban cán sự đảng Bộ Công Thương nhiệm kỳ 2011-2016; Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ 2011-2016… vì các tổ chức đảng này đã có biểu hiện vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, vi phạm quy chế làm việc của cấp ủy. Ngoài ra, nhiều cấp ủy cũng bị đề nghị xem xét, thi hành kỷ luật vì lý do vi phạm nguyên tắc TTDC, như: Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an); Ban Thường vụ Huyện ủy Hướng Hóa (Quảng Trị) nhiệm kỳ 2015-2020… Đáng nói hơn, không ít cán bộ cao cấp, nguyên cán bộ cao cấp của Đảng đã bị cách chức, xóa chức như các ông: Nguyễn Xuân Anh, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng; Phạm Văn Vọng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc; Lê Phước Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam; Vũ Huy Hoàng, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương; Nguyễn Bắc Son, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông; Nguyễn Phong Quang, nguyên Phó trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ; Trần Văn Minh, nguyên Phó bí thư Thành ủy, nguyên Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng… Những cán bộ cao cấp này đều có chung một vi phạm, khuyết điểm đã được Ủy ban Kiểm tra Trung ương chỉ ra là: “Vi phạm nguyên tắc TTDC” và có biểu hiện thiếu dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Mới đây, một trong những vi phạm rất nghiêm trọng đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật đối với ông Tất Thành Cang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thường trực Thành ủy TP Hồ Chí Minh đã được Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luận, cũng liên quan đến khuyết điểm “Vi phạm nguyên tắc TTDC”.

Không để các thế lực thù địch tạo "khoảng trống" về tư tưởng, văn hóa .

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, cả trước đây cũng như hiện nay, các thế lực thù địch luôn xác định tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa (TTVH) là một “mũi đột phá” và là một nội dung trọng yếu, là vũ khí lợi hại nhất. Trong cuốn sách “1999-chiến thắng không cần chiến tranh”, R.Nixon đã xác định: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu, nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng!". . Thực hiện mũi tiến công trên lĩnh vực TTVH hiện nay, cùng với việc thực hiện những phương thức, thủ đoạn quen thuộc, các thế lực thù địch luôn quan tâm đổi mới cách thức, thủ đoạn tiến công để tác động vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm, tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, làm nhụt ý chí, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, tạo điều kiện để cho hệ tư tưởng tư sản ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đời sống tinh thần của xã hội ta, nhằm đạt tới mục tiêu là xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trong đó, chúng tập trung tiến công vào một số nội dung chủ yếu như: Một là, tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm giảm niềm tin của nhân dân vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng tập trung mọi cố gắng để chứng minh sự “lỗi thời” của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện mục tiêu, tham vọng: “Giải thể ý thức hệ cộng sản!". Chúng coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là sản phẩm chủ quan của Mác, đồng thời cho rằng, những người cộng sản kế tục Mác nhưng không hiểu thực chất các luận điểm của Mác, nên đã vận dụng một cách giáo điều, dẫn đến sai lầm cả trong đường lối và cả trong tổ chức thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)! Chúng trắng trợn vu cáo Đảng ta “đem tư tưởng Chủ nghĩa Mác-Lênin áp dụng vào Việt Nam là một sự gán ghép, gượng gạo dẫn đến sai lầm!". Chúng ra sức ca tụng mô hình phát triển và thích ứng “vạn năng” của chủ nghĩa tư bản. Bằng nhiều thủ đoạn mới hết sức thâm độc, các thế lực thù địch tìm cách tạo ra sự phân hóa, đối lập, xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của nhân dân đối với CNXH, từng bước rơi vào vòng xoáy của tư tưởng, giá trị tư sản. Mặt khác, chúng còn hướng nhận thức của nhân dân tin theo con đường “CNXH dân chủ”, “CNXH nhân văn”, “nhân bản”, mà thực chất là từ bỏ CNXH khoa học. Hai là, tuyên truyền xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Người, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong khi toàn thể dân tộc và nhân loại đều khẳng định công lao và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các thế lực thù địch lại lớn tiếng xuyên tạc: Hồ Chí Minh du nhập Chủ nghĩa Mác-Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm! Rằng “Con đường Hồ Chí Minh đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải CNXH!". Chúng xuyên tạc trắng trợn nhằm thực hiện ý đồ “hạ thần tượng Hồ Chí Minh”, trong đó, dựng chuyện bôi nhọ thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng còn dùng thủ đoạn đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh đến mức đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin! Ba là, xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN; đồng thời, ra sức du nhập văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản. Nhận rõ vai trò to lớn của văn hóa, đạo đức, lối sống trong đời sống tinh thần của xã hội ta hiện nay, nhất là trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, dưới sự tác động của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, chúng ra sức xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN trong đời sống tinh thần của xã hội ta hiện nay; đồng thời, ra sức tuyên truyền, quảng bá, tìm cách du nhập văn hóa, lối sống phương Tây vào nước ta. Coi đây là một vấn đề then chốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa hiện nay. Chúng luôn khuyến khích khuynh hướng đòi văn hóa, văn nghệ (VHVN) hoạt động độc lập với chính trị, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sự quản lý của Nhà nước, đối với VHVN, tìm cách lôi kéo các văn nghệ sĩ sáng tác theo khuynh hướng văn hóa, nghệ thuật phương Tây, hạ thấp, coi rẻ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, khuyến khích các giá trị văn hóa cá nhân cực đoan, đề cao giá trị “dân chủ”, “tự do” tư sản; làm tha hóa thế hệ trẻ bằng “văn hóa, tư tưởng, lối sống Mỹ”, nhằm tạo ra một thế hệ “mất gốc”, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc, thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, kích thích các tệ nạn xã hội phát triển. Thông qua các quan hệ giao lưu văn hóa, chúng tìm mọi cách để tuyên truyền xuyên tạc làm cho tư tưởng, lối sống tư sản xâm nhập vào đời sống xã hội ta, lấn át các giá trị truyền thống dân tộc tốt đẹp. Các lực lượng phản động bên trong và bên ngoài phối hợp chặt chẽ với nhau để đưa một số lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình, băng nhạc, tán phát trên internet có nội dung phản động, đồi trụy. Chúng đưa nhiều thông tin sai lệch, độc hại lên internet, qua đó tác động xấu tới nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ, văn hóa, lối sống của nhân dân ta. Bốn là, sử dụng các cách thức, biện pháp, phương tiện để đưa TTVH, lối sống tư sản xâm nhập vào Việt Nam. Để thực hiện các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền phản động, các thế lực thù địch đã triệt để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng, như: Sách, báo, phim ảnh, internet, mạng xã hội… để phá hoại trận địa tư tưởng của ta. Chúng sử dụng các đài phát thanh và truyền hình, các tờ báo và tạp chí tiếng Việt, các nhà xuất bản ở nước ngoài để tuyên truyền chống phá ta trên mặt trận TTVH. Chúng triệt để lợi dụng các con đường hợp tác văn hóa để tiếp xúc, mời các nhà văn, các đoàn nghệ thuật sang thăm, học tập, “trao đổi” văn hóa; đặc biệt quan tâm tìm cách tiếp cận giới trẻ, văn nghệ sĩ để tác động, làm cho họ nhanh chóng quên đi lý tưởng xây dựng XHCN và say mê với lối sống, văn hóa phương Tây. Thúc đẩy việc truyền bá văn hóa phương Tây đối với học sinh, sinh viên, cán bộ đi học tập, công tác ở nước ngoài. Chúng coi đây là biện pháp tốt nhất để chuyển hóa TTVH, thực hành “diễn biến hòa bình” đối với lớp trẻ theo con đường tư bản chủ nghĩa với “giá rẻ”, mà hiệu quả đạt được lại cao, “một đô la cho tuyên truyền có tác dụng ngang với năm đô la chi cho quốc phòng". Để góp phần bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ vững trận địa tư tưởng vô sản; xây dựng và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới, cần phải thực hiện tốt một số nội dung và biện pháp chủ yếu sau: Một là, nâng cao chất lượng giáo dục, tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong toàn xã hội. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và nhân dân ta. Sự nghiệp đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trước hết và trên hết là do Đảng ta nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình hiện nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta. Nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trước hết cần tập trung: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng trong các văn kiện Đại hội XII và các nghị quyết Trung ương khóa XII, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX, khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; thống nhất chương trình, nội dung học tập cho các đối tượng trong toàn xã hội; chống làm theo kiểu phong trào, hình thức, phô trương. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ, phát triển và làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội ta. Giáo dục sâu rộng chủ nghĩa yêu nước XHCN, lý tưởng cách mạng; tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo ra sự “miễn dịch”, tăng cường “sức đề kháng” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước các đòn tiến công về chính trị tư tưởng của các thế lực thù địch và sự xâm nhập của tư tưởng tư sản. Hai là, đẩy mạnh đấu tranh tư tưởng, văn hóa. Đấu tranh TTVH là đòn trực diện tấn công vào các quan điểm phản động, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới. Theo đó, cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chính, như: Chủ động tiến hành cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận sâu rộng, củng cố nhận thức, quan điểm của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời, làm thất bại các quan điểm, tư tưởng chống đối từ nhiều phía. Tăng cường tính chủ động, tinh thần đấu tranh chống các luận điệu chống phá nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, cơ sở, cần có kế hoạch ngăn chặn ý đồ của các thế lực thù địch trong việc tác động, từng bước làm chuyển hóa tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta theo quan điểm tư tưởng tư sản phương Tây. Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng; vô hiệu hóa các luận điệu, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ thành công trận địa tư tưởng, quan điểm của Đảng trong quá trình đổi mới. Củng cố, giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào con đường đi lên CNXH trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội và mọi tầng lớp nhân dân trong đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ba là, bảo đảm định hướng chính trị trong các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng. Các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng phải hướng vào phục vụ, cải thiện và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần tích cực vào quá trình xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chống mọi biểu hiện “thương mại hóa”, “phi chính trị” trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Tăng cường lãnh đạo, quản lý công tác thông tin, báo chí, xuất bản, VHVN; kịp thời ngăn chặn những quan điểm lệch lạc, thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, lộ bí mật quốc gia, gây rối nội bộ. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng chính trị các hoạt động văn hóa, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng hệ “giá trị” văn hóa tư sản; bảo vệ và phát triển nền văn hóa truyền thống, cách mạng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong tình hình mới.

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị là nguy cơ liên quan đến tồn vong của Đảng, của chế độ

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, do tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị cùng với suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn biến phức tạp. Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam (2016) tiếp tục nhận định tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn; một số rất ít cán bộ, đảng viên, bị phần tử xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc, đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ rõ chín biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Cùng với đó, Nghị quyết cũng chỉ ra chín biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống và chín biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đó là bước phát triển về nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: Cái mới của lần này là Trung ương thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong đó nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin, nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; thậm chí sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lợi; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân. Suy thoái về tư tưởng chính trị và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ biện chứng với nhau: suy thoái về tư tưởng chính trị trong đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. “Tự diễn biến” xảy ra ở hai phạm vi: đối với cá nhân và tổ chức. "Tự diễn biến" đối với cá nhân là sự thay đổi về nhận thức chính trị - xã hội, thay đổi về quan điểm, tư tưởng theo chiều hướng tiêu cực, xấu đi, nhận thức và hành động xa rời, nhận thức, đi ngược lại chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. "Tự diễn biến" đối với tổ chức là những thay đổi ở tầm vĩ mô về đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, làm thay đổi bản chất chính trị, thậm chí làm suy yếu và tan rã tổ chức đó. "Tự diễn biến" của cá nhân có thể dẫn đến sự thay đổi của tập thể, tổ chức. "Tự diễn biến" của tổ chức chi phối, áp đặt, điều khiển đối với các cá nhân trong tổ chức đó. "Tự chuyển hóa" là hậu quả tất yếu của các quá trình "tự diễn biến", nếu không được ngăn chặn kịp thời. "Tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có mối quan hệ không tách rời với "diễn biến hòa bình". Đó là mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan, giữa nhân tố bên ngoài và bên trong. "Diễn biến hòa bình" thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Đến lượt nó, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thúc đẩy "diễn biến hòa bình", trong đó "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là nhân tố bên trong nguy hiểm nhất. Như vậy, sự suy thoái về tư tưởng chính trị sẽ dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và quá trình này chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đe dọa sự sống còn của Đảng, của chế độ. Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã cho thấy điều đó.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị là nhiệm vụ quan trọng, cơ bản, lâu dài của Đảng. Trong hơn 30 năm đổi mới, bám sát thực tế trong mỗi giai đoạn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thường xuyên, kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị; đề ra các chủ trương, giải pháp nhằm đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong những năm gần đây, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện các giải pháp chủ yếu sau: Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng đã coi trọng hơn việc đề cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là việc đấu tranh với những biểu hiện nói và làm trái với Cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Coi trọng xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở. Coi trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần tăng cường đoàn kết trong Đảng. Kịp thời phát hiện, đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Đấu tranh với những phần tử suy thoái về tư tưởng chính trị ngay từ chi bộ, khu dân cư. Hai là, thành lập các ban chỉ đạo đấu tranh chống "diễn biến hòa bình", chống suy thoái về tư tưởng chính trị. Ban Bí thư và Chính phủ đã thành lập một số ban chỉ đạo như: Ban Chỉ đạo đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa của Trung ương (gọi tắt là Ban Chỉ đạo Trung ương 94); Ban Chỉ đạo 609 đấu tranh trên mặt trận lý luận; Ban Chỉ đạo Đề án 213 đấu tranh trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật; Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại; Ban Chỉ đạo Nhân quyền của Chính phủ. Các địa phương, ban, ngành thành lập Ban Chỉ đạo 94 của địa phương, ban, ngành mình. Mới đây, Bộ Quốc phòng đã thành lập Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng. Ba là, tổ chức các hoạt động đấu tranh cụ thể, phong phú, đa dạng. Các ban chỉ đạo địa phương, ban, ngành định kỳ giao ban, định hướng thông tin, phối hợp với các lực lượng, tập trung đấu tranh theo các nội dung, lĩnh vực và nhóm đối tượng được phân công. Ban Chỉ đạo Trung ương 94 hàng tuần xây dựng kế hoạch đấu tranh, phân công viết các bài đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc. Tăng cường quản lý và định hướng thông tin, quyết liệt chặn, lọc các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội và internet. Chủ động làm việc với các nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước yêu cầu hợp tác ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật của Việt Nam; ngăn chặn, gỡ bỏ những nội dung đưa thông tin chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương có chuyên trang, chuyên mục, kịp thời định hướng thông tin và đấu tranh phê phán, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị. Bốn là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nâng cao sức đề kháng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng thời phê phán các quan điểm sai trái, phản động một cách kịp thời, thường xuyên bằng nhiều hình thức, phương pháp. Trên thực tế, các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã chủ động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, từng bước ngăn chặn được tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Bên cạnh những kết quả bước đầu, việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị cũng như suy thoái về đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn có những hạn chế, bất cập. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không những chưa bị đẩy lùi mà còn có mặt, có bộ phận diễn biến phức tạp hơn. Xét về tính chất là nghiêm trọng, kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ, chậm được khắc phục. Về phạm vi là tương đối phổ biến ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực. Về xu hướng là còn diễn biến phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Về hậu quả là giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tổn hại đến uy tín, thanh danh của Đảng, Nhà nước, thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Trong khi đó, nhiều cấp ủy, tổ chức đảng còn hạn chế trong nhận thức, lúng túng trong đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; lơ là, mất cảnh giác trước những âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”. Việc đấu tranh, phản bác những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Xử lý các đối tượng vi phạm đường lối, quan điểm, nguyên tắc của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa kịp thời…

Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị là nhiệm vụ quan trọng, cơ bản, lâu dài của Đảng. Trong hơn 30 năm đổi mới, bám sát thực tế trong mỗi giai đoạn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thường xuyên, kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị; đề ra các chủ trương, giải pháp nhằm đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong những năm gần đây, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện các giải pháp chủ yếu sau: Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng đã coi trọng hơn việc đề cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là việc đấu tranh với những biểu hiện nói và làm trái với Cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Coi trọng xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở. Coi trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần tăng cường đoàn kết trong Đảng. Kịp thời phát hiện, đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Đấu tranh với những phần tử suy thoái về tư tưởng chính trị ngay từ chi bộ, khu dân cư. Hai là, thành lập các ban chỉ đạo đấu tranh chống "diễn biến hòa bình", chống suy thoái về tư tưởng chính trị. Ban Bí thư và Chính phủ đã thành lập một số ban chỉ đạo như: Ban Chỉ đạo đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa của Trung ương (gọi tắt là Ban Chỉ đạo Trung ương 94); Ban Chỉ đạo 609 đấu tranh trên mặt trận lý luận; Ban Chỉ đạo Đề án 213 đấu tranh trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật; Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại; Ban Chỉ đạo Nhân quyền của Chính phủ. Các địa phương, ban, ngành thành lập Ban Chỉ đạo 94 của địa phương, ban, ngành mình. Mới đây, Bộ Quốc phòng đã thành lập Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng. Ba là, tổ chức các hoạt động đấu tranh cụ thể, phong phú, đa dạng. Các ban chỉ đạo địa phương, ban, ngành định kỳ giao ban, định hướng thông tin, phối hợp với các lực lượng, tập trung đấu tranh theo các nội dung, lĩnh vực và nhóm đối tượng được phân công. Ban Chỉ đạo Trung ương 94 hàng tuần xây dựng kế hoạch đấu tranh, phân công viết các bài đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc. Tăng cường quản lý và định hướng thông tin, quyết liệt chặn, lọc các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội và internet. Chủ động làm việc với các nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước yêu cầu hợp tác ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật của Việt Nam; ngăn chặn, gỡ bỏ những nội dung đưa thông tin chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương có chuyên trang, chuyên mục, kịp thời định hướng thông tin và đấu tranh phê phán, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị. Bốn là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nâng cao sức đề kháng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng thời phê phán các quan điểm sai trái, phản động một cách kịp thời, thường xuyên bằng nhiều hình thức, phương pháp. Trên thực tế, các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã chủ động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, từng bước ngăn chặn được tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Bên cạnh những kết quả bước đầu, việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị cũng như suy thoái về đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn có những hạn chế, bất cập. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không những chưa bị đẩy lùi mà còn có mặt, có bộ phận diễn biến phức tạp hơn. Xét về tính chất là nghiêm trọng, kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ, chậm được khắc phục. Về phạm vi là tương đối phổ biến ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực. Về xu hướng là còn diễn biến phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Về hậu quả là giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tổn hại đến uy tín, thanh danh của Đảng, Nhà nước, thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Trong khi đó, nhiều cấp ủy, tổ chức đảng còn hạn chế trong nhận thức, lúng túng trong đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; lơ là, mất cảnh giác trước những âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”. Việc đấu tranh, phản bác những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Xử lý các đối tượng vi phạm đường lối, quan điểm, nguyên tắc của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa kịp thời…

Tăng cường đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị

Để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị cần thực hiện tốt những giải pháp nổi bật sau: Một là, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (1). Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị. Hai là, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay; khuyến khích phát triển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng (2). Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy và học lý luận chính trị gắn với ứng dụng thực tế, tăng cường kiểm tra và quản lý chặt chẽ chất lượng dạy và học. Chủ động nắm bắt diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên để có chủ trương, giải pháp xử lý kịp thời, hiệu quả. Ba là, tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Hoàn thiện quy chế đánh giá cán bộ một cách khoa học, phù hợp; quy định lấy phiếu tín nhiệm ở các cấp, các ngành định kỳ hoặc đột xuất (3). Bốn là, chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc . Năm là, hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, phát tán tài liệu sai trái. Tổ chức diễn đàn trao đổi, đối thoại những vấn đề còn có nhận thức, quan điểm khác nhau liên quan đến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Sáu là, hoàn thiện quy định về tổ chức, bộ máy và công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm sự trong sạch về chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược. Chú trọng nắm tình hình và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Rà soát, hoàn thiện quy định về quản lý cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, lao động và công tác ở nước ngoài. Bảy là, xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có lời nói và việc làm biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" nghiêm trọng (4). Tám là, các cấp ủy, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 217-QĐ/TW về quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền./.

Cảnh giác với những mưu mô làm suy giảm uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam .

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tung nhiều thông tin xấu độc bôi nhọ, xuyên tạc về Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam và hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ nhằm làm suy giảm uy tín, hình ảnh của Quân đội ta, từ đó tác động tiêu cực đến niềm tin của nhân dân đối với quân đội. Trước những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm này, chúng ta càng phải kiên trì giữ vững bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng và bản chất, truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ của dân, do dân, vì dân. . Những ngày gần đây, sắp đến dịp kỷ niệm 74 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam và 29 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12), trên một số trang mạng tái xuất hiện những hình ảnh liên quan đến sai sót về lễ tiết, tác phong, hành vi ứng xử của số ít quân nhân. Động thái này không ngoài ý đồ làm cho cư dân mạng và người dân có cái nhìn thiếu thiện cảm về bộ đội. Theo thống kê của cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng, đến nay đã phát hiện hơn 300 trang báo điện tử, trang mạng xã hội (MXH) mà các thế lực phản động thường xuyên đăng thông tin chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội, công an. Chỉ tính trong 3 tháng gần đây (từ tháng 9 đến 11-2018) đã xuất hiện hơn 8.500 thông tin xấu độc về lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trong đó gần 50% là thông tin trên MXH. Những người tự xưng là “nhà báo công dân”, “phóng viên không biên giới” đều có mưu toan “bám lâu, ngoáy sâu” vào một vài hiện tượng bất cập nảy sinh trong hoạt động quân sự, quốc phòng để cố tình nghiêm trọng hóa vấn đề, qua đó nhằm gây nhiễu thông tin dư luận. Ý đồ của họ là lợi dụng triệt để mặt trái của công nghệ truyền thông và MXH để viết bài, thông tin tiêu cực, tán phát tài liệu sai trái về quân đội, từ đó tác động, thẩm thấu vào nhận thức, tình cảm, niềm tin của cán bộ, chiến sĩ, gây hoài nghi về chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước, qua đó làm cho bộ đội dễ dao động, phân tâm về tư tưởng, giảm sút ý chí, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Ví như, nhân việc hai nhà trường quân sự trả về địa phương hai thí sinh do chưa đủ điều kiện, tiêu chuẩn sức khỏe phục vụ lâu dài trong quân đội, họ lớn tiếng phê phán đó là “việc làm vô tâm, bất nghĩa” (!). Lợi dụng vụ va chạm giao thông giữa một quân nhân với người dân, họ cố tình dựng chuyện với những câu từ hằn học, như: “Sĩ quan quân đội hỗn chiến với người dân trên đường”; “Một sĩ quan quân đội đánh lộn với dân” (!). Lợi dụng sự bất cập trong quản lý đất quốc phòng ở một số đơn vị, họ coi nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là “do một đảng toàn trị, độc tài lãnh đạo quân đội nên quân đội được đặc quyền đặc lợi mà không ai kiểm soát” (!). Từ vụ việc hai quân nhân đã phục viên, ra quân do thoái hóa, biến chất rồi a dua với một số trí thức, văn nghệ sĩ cực đoan tham gia cái gọi là “phong trào từ bỏ đảng”, họ cố tình xuyên tạc rằng “phong trào bỏ đảng trong quân đội đang có dấu hiệu lan rộng” (!)… Thật không khó để nhận diện các chiêu trò của những kẻ chống phá, cơ hội bày tỏ thái độ quy chụp, vu khống, ít xít ra nhiều, bé xé ra to, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, thậm chí đổi trắng thay đen hòng thực hiện âm mưu thâm độc là bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, từ đó làm suy giảm uy tín của quân đội.

Uy tín, sức mạnh quân đội bắt nguồn từ yếu tố kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh

QĐND Việt Nam đã trải qua 74 năm xây dựng, chiến đấu và không ngừng trưởng thành, lớn mạnh. Sức mạnh của Quân đội ta không chỉ thể hiện sâu sắc ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân, mà còn thể hiện ở bản chất là một quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bên cạnh đó, uy tín, sức mạnh của quân đội còn xuất phát từ yếu tố kỷ luật tự giác, nghiêm minh, đòi hỏi mọi quân nhân phải tự giác tuân thủ triệt để, chấp hành đến nơi đến chốn. Quân đội là một lực lượng trong xã hội và chịu sự tác động, ảnh hưởng từ môi trường xã hội. Nhận thức sâu sắc điều đó, những năm qua, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội luôn quan tâm giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, giáo dục tư tưởng chính trị, giáo dục pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội cho mọi quân nhân; đồng thời chú trọng công tác quản lý, duy trì chặt chẽ, nghiêm túc điều lệnh, điều lệ, quy định, kỷ luật quân đội nhằm không ngừng củng cố, tăng cường sự thống nhất về ý chí và hành động cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân, qua đó xây dựng đội ngũ quân nhân cách mạng giàu lòng yêu nước, trung thành, kiên định, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Được bồi đắp, giáo dục truyền thống vẻ vang của quân đội, tình cảm cách mạng trong sáng, lý tưởng cao đẹp và được tôi luyện trong môi trường quân sự chặt chẽ về kỷ luật, thân thiện về tình đồng chí, đồng đội, lành mạnh về văn hóa, tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ đã đề cao ý chí trách nhiệm, ý thức kỷ luật nghiêm minh, sẵn sàng nhận và thực hiện tốt chức trách, cương vị được giao. “Ở đâu gặp khó, ở đó có mặt bộ đội kịp thời”, “Nơi nào gian khổ, nơi đó có bộ đội xung kích đi đầu”, “Nghiêm minh như kỷ luật quân đội”… Đó không chỉ là phương châm hành động của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, mà từ lâu đã trở thành niềm tin sâu sắc của các tầng lớp nhân dân dành cho quân đội. Phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ là một trong những giá trị đạo đức văn hóa tiêu biểu, mẫu mực của con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Điều này được các nhà nghiên cứu, nhà khoa học và nhân dân ta thừa nhận, khẳng định. Thế nên, một số ít quân nhân nào đó vi phạm kỷ luật quân đội, sai sót về lễ tiết, tác phong, giao tiếp ứng xử hay có thái độ, hành vi chưa chuẩn mực như văn hóa quân sự đòi hỏi thì đó chỉ là hiện tượng cá biệt. Tuy vậy, nói thế không có nghĩa là quân đội coi nhẹ, làm ngơ trước các sai phạm của một số quân nhân như có kẻ từng rêu rao trên MXH. Ngược lại, những trường hợp quân nhân vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội đều được cơ quan có thẩm quyền và cấp ủy, chỉ huy đơn vị liên quan phát hiện, xử lý kịp thời, đúng người, đúng lỗi sai phạm. Cách đây ít ngày, Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương đã xem xét và đề nghị thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo về Đảng đối với một tổ chức đảng và kỷ luật bằng hình thức khai trừ khỏi Đảng đối với 3 đảng viên, cảnh cáo về Đảng đối với 5 đảng viên; đồng thời đề nghị thi hành kỷ luật quân đội đối với 11 quân nhân, trong đó tước danh hiệu quân nhân đối với 5 người, cách chức, giáng cấp bậc quân hàm đối với một người, cảnh cáo đối với 5 người. Nhắc lại điều đó để thấy, với phương châm kỷ luật không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất cứ ai ở cương vị nào khi có sai phạm, khuyết điểm đều phải xử lý kịp thời, chính xác, công minh, Quân đội ta không bao giờ xem nhẹ hay “dung dưỡng” bất cứ trường hợp quân nhân nào có thái độ, hành vi gây phương hại đến bản chất truyền thống, ý chí thống nhất và sức mạnh kỷ luật của một quân đội cách mạng đã được tôi rèn, hun đúc, giữ gìn bền bỉ suốt hơn bảy thập niên qua. Được ví như “một xã hội thu nhỏ”, QĐND Việt Nam có nhiều lực lượng, tổ chức, cơ quan, đơn vị, thành phần… hoạt động ở nhiều lĩnh vực, ngành, nghề trên khắp mọi miền Tổ quốc. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh, “năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài”, trong một xã hội nói chung, một tập thể nói riêng cũng có “người thế này thế khác”, vấn đề là ở chỗ chúng ta phải khơi dậy, phát huy được cái tốt, cái hay, cái đẹp của mỗi người, đồng thời hạn chế, giảm được những khuyết điểm còn tồn tại trong mỗi con người. Thấm nhuần quan điểm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã kiên trì, nỗ lực nuôi dưỡng, vun đắp những giá trị truyền thống tích cực, tốt đẹp của dân tộc và QĐND Việt Nam cho mọi cán bộ, chiến sĩ; đồng thời thường xuyên bồi đắp, giáo dục mọi cán bộ, chiến sĩ tự giác tuân thủ, chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định, kỷ luật quân đội, qua đó không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần cùng nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đồ chơi không rõ nguồn gốc bủa vây học sinh

Túi bột "chất dẻo ma quái" slime, kẹo dẻo không rõ nguồn gốc, kẹo thuốc lá... được bày bán ngoài cổng trường, thu hút nhiều học sinh. Ngày 19/4, 3 ngày sau vụ 35 học sinh trường Tiểu học Hòa Khương, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng, phải cấp cứu do ngộ độc slime, việc bán chất dẻo này ở Đà Nẵng đã "hạ nhiệt". Những tiệm trước đó bán slime, nay đã dẹp, chỉ trưng bày đồ dùng học tập. Ông Nguyễn Thúc Dũng, Phó chủ tịch huyện Hòa Vang, cho biết chiều 16/4, các ngành chức năng huyện đã đi kiểm tra tất cả cửa hàng tạp hóa trước cổng trường tại 11 xã, phát hiện và tịch thu nhiều mặt hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ để tiêu hủy. Tại xã Hòa Nhơn, 3 kg đồ chơi các loại bị thu giữ. "Slime không bán nhiều, chủ yếu ở hai xã Hòa Khương và Hoà Nhơn. Ở những xã khác, trẻ đã không còn chơi lâu nay nên các cửa hàng tạp hóa không còn bán", ông Dũng nói, cho biết sẽ tiếp tục kiểm tra các hộ kinh doanh, tuyên truyền cho phụ huynh không để trẻ chơi smile. Ở nhiều thành phố lớn, slime cùng các đồ chơi, đồ ăn không rõ nguồn gốc vẫn được bán nhiều ở cổng trường. Xung quanh hai trường Tiểu học và THCS Nghĩa Tân, phố Tô Hiệu, quận Cầu Giấy, Hà Nội, các cửa hàng bán đồ văn phòng phẩm, lưu niệm và đồ chơi mọc lên san sát. Tại một cửa hàng sát trường Tiểu học Nghĩa Tân, khu đồ chơi trẻ em bày ngay cửa ra vào. Thấy khách hỏi đồ chơi trẻ yêu thích, chủ cửa hàng chỉ vào những kệ đặt slime đủ màu sắc, hình dáng và giới thiệu hàng "xịn" nhập từ Quảng Châu, Trung Quốc. Người bán cho biết slime xuất hiện khá lâu nhưng luôn giữ được độ "hot". Trước đây, cửa hàng của bà bán cả slime nước nhưng hiện chỉ bán loại dẻo, giá rẻ hơn. Các hộp slime được đựng trong hộp nhựa mỏng hoặc hộp có thiết kế chiếc đèn, quả dứa với màu sắc bắt mắt, giá 15.000-25.000 đồng. Ngoài các loại trên, còn một loại slime rẻ hơn giá 8.000 đồng được xếp riêng. Một hộp slime kim tuyến bày bán ở cửa hàng đồ chơi gần trường Tiểu học Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, Hà Nội, bán 10.000 đồng. Ảnh: Bình Minh Bấm để xem chi tiết Thấy khách thắc mắc về độ an toàn, người bán lấy dẫn chứng cháu mình chơi slime từ những ngày đầu xuất hiện, so sánh với việc chơi đất nặn và khẳng định "không sao". "Mọi người có ý kiến về việc chơi slime, tôi bán mặt hàng này đã rất lâu nhưng không có vấn đề gì. Slime tôi bán được sản xuất theo quy trình, không phải hàng trôi nổi ở cửa khẩu", người này nói. Tuy nhiên, bà cũng khuyên trẻ chơi xong cần rửa tay cẩn thận. Cách trường Tiểu học Nghĩa Tân vài trăm mét, một cửa hàng bán đồ lưu niệm lớn bày nhiều đồ chơi trẻ em. Khu đồ chơi được xếp ở gian cuối cùng, sau khu bán đồ dùng học tập và đồ lưu niệm. Có nhiều chủng loại đồ chơi, từ lắp ghép, hình dán (stickers), con quay, bộ đồ hàng, bộ đồ bác sĩ bằng nhựa đến đất nặn và slime. Ngoài một số loại dán tem công ty phân phối, phần lớn có chữ Trung Quốc. Trên kệ slime, các hộp nhựa được trang trí hình dán ngộ nghĩnh, bên ngoài có tem dán ghi bằng chữ tiếng Trung, giá 35.000 đồng và 55.000 đồng. Đưa cho khách lọ đất nặn slime màu hồng, nhân viên giới thiệu đây là một trong số đồ chơi "đang hot", vừa được nhập về và có nhiều biến thể. Sau khi mở nắp hộp, mùi dâu thơm nhẹ tỏa ra. Mỗi màu sẽ tương ứng với một mùi. Người bán hàng cho hay slime được nhiều em nhỏ yêu thích và mặt hàng này bán khá chạy do giá thành rẻ. Các hộp slime được giới thiệu không gây bám dính tay, trẻ có thể tự do sáng tạo nhào nặn. Tại phố Trưng Nhị, gần trường Tiểu học Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, có nhiều cửa hàng đồ chơi, thú bông. Hầu như cửa hàng nào cũng bán slime, với nhiều loại và mức giá khác nhau. Tất cả đều có nguồn gốc từ Trung Quốc. Đang chờ tính tiền hộp slime giá 55.000 đồng, một bà mẹ nói con gái mê slime sau khi xem video trên YouTube nên thỉnh thoảng mua về cho bé chơi. Từ ngày chơi, bé cũng chưa gặp sự cố gì, chị chỉ nhắc con chơi xong phải rửa tay sạch sẽ. Tại TP HCM, chiều 19/4 trước cổng trường Tiểu học Nguyễn Trực (đường Dương Bá Trạc, quận 8) có 5 người bán đồ chơi cho trẻ em, sạp hàng được treo trên xe máy. Các sạp lỉnh kỉnh đủ loại đồ chơi bằng nhựa, kẹo, nhiều loại không rõ nguồn gốc, một số có nhãn mác chữ Trung Quốc. Giờ tan học, một số học sinh đến các sạp mua đồ chơi, chủ yếu là các bé gái mua nhẫn, vòng tay. Bà Thu (chủ một sạp hàng) cho biết, những mặt hàng được nhập về theo sở thích của học sinh. "Tụi nhỏ coi trên tivi hoặc trên mạng thấy có gì hay thì kêu tôi lấy về bán", bà cho biết. Mặt hàng đắt nhất gần đây là chất dẻo slime, được đóng bột dẻo đủ màu, bán 5.000-7.000 đồng một túi nhỏ. Ngoài ra, nhiều học sinh thường xuyên mua bài Pokemon, bộ lắp ghép, siêu nhân... với giá 15.000-40.000 đồng. Khi được hỏi về sự an toàn của đồ chơi mình bán, bà Thu cho biết mấy năm nay "chưa từng xảy ra vấn đề gì, học sinh ngày nào cũng ghé mua, chơi bình thường". Trước cổng trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, TP Thủ Đức, chiều 19/4 có 3 bán hàng rong, trong đó một phụ nữ bán đồ chơi trẻ em trên chiếc xe đẩy. Ngoài kẹo màu, mặt nạ, soi môi, sạp này còn có hơn 10 hộp kẹo thuốc lá (smoke candy). Loại kẹo này bao bì giống gói thuốc lá, có mã vạch, xuất xứ Trung Quốc, giá bán 3.000 đồng. Bao bì ghi thành phần đường, siro, chất phụ gia, hương liệu..., nhưng không ghi ngày sản xuất, hạn sử dụng. Bên trong hộp là 5 que "kẹo" có hình dáng và thiết kế như điếu thuốc, mùi hắc. Người bán hàng rong cho biết, đồ chơi, đồ ăn cho trẻ được nhập về từ một nhà cung cấp theo dạng sỉ. Các mặt hàng thường được bán theo xu hướng, sở thích của trẻ, mỗi năm học, mỗi mùa khác nhau. Giờ tan học, lác đác học sinh vào sạp xem hàng nhưng ít em mua. Khi được hỏi về gói "smoke candy", một học sinh lớp 4 trả lời ngay là "kẹo thuốc lá" rồi mô tả "nó hình giống thuốc lá nhưng là kẹo, khi ăn có vị ngọt ngọt". "Em không mua, không thử vì ba mẹ không cho mua đồ linh tinh ở vỉa hè, nhưng có biết do mấy anh chị lớp trên kể, trên mạng cũng thấy", cậu bé cho hay.