Thứ Hai, 19 tháng 4, 2021

Mạng xã hội và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên khi tham gia .

Những năm gần đây, lợi dụng sự phát triển nhanh chóng công nghệ thông tin, internet, các thế lực thù địch đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phát tán nhiều loại thông tin sai trái, thù địch, xấu xa, độc hại trên mạng xã hội với mức độ, tần suất ngày càng tăng, nhằm chống phá cách mạng nước ta, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. . Vì thế, một trong những vấn đề quan trọng đặt ra với mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hiện nay là cần phải tỉnh táo, nhận thức đúng trách nhiệm của mình trong việc chuyển tải thông tin trên mạng xã hội. Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy vậy, bên cạnh những thành tích đạt được, công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng gặp không ít khó khăn, trở ngại, trong đó có nguyên nhân từ việc tăng cường các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên nhiều phương diện. Đặc biệt, những năm gần đây, tận dụng tối đa những chức năng và lợi thế từ mạng xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã quyết liệt chống phá Đảng và Nhà nước ta với nhiều hình thức, mức độ ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Nội dung chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động thông qua thông tin trên mạng xã hội rất đa dạng, từ kinh tế, xã hội đến văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế đến pháp luật, quốc phòng, an ninh, trật tự, thậm chí đến cả diễn biến về tình hình sức khỏe của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước. Thực tế cho thấy, những người tham gia nêu quan điểm, ý kiến phân tích, bình luận, đánh giá tình hình đất nước trên mạng xã hội có thể chia ra theo 03 nhóm đối tượng. Nhóm 1: Nhóm có ý thức tốt, có trình độ nhận thức cao, hiểu rõ, đầy đủ, đúng đắn các vấn đề thực tiễn đất nước đang diễn ra. Họ chủ động đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch bằng cách tích cực tuyên truyền quan điểm, tư tưởng, đường lối của Đảng; chủ trương, chính sách của Nhà nước, quyết tâm bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhóm 2: Nhóm cố tình hiểu sai, cố tình bóp méo, “bôi đen”, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; cố tình nói xấu, vu khống, “thổi phồng”, “bơm căng” làm sai lệch những giá trị thực, tốt đẹp mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực xây dựng. Nhóm 3: Nhóm vô tình bị lôi kéo, hùa theo những ý kiến phản động của nhóm 2 mà chính bản thân họ cũng chưa thể nhận ra. Phần lớn họ là những người có trình độ nhận thức còn hạn chế, thiếu thông tin chính thống, có tâm lý a dua, tâm lý hiếu kỳ, đám đông,... Trong 03 nhóm nêu trên, nếu tỉnh táo xem xét, phân tích, dễ dàng nhận ra nhóm 2 tuy chiếm tỷ lệ ít, nhưng nguy hiểm và điều đáng quan ngại là nhóm này dễ dàng lôi kéo để có được sự “hậu thuẫn” của nhóm 3 - nhóm chiếm tỷ lệ rất đông. Vì thế, dù chiếm tỷ lệ ít, song phạm vi tác động của nhóm 2 lại rất rộng, làm cho nhiều người có cảm giác “cứ vào mạng xã hội là thấy toàn nghịch cảnh, chuyện sai trái, xã hội đầy màu đen”. Trong khi đó, nếu tỉnh táo xem xét, có thể thấy trên mạng xã hội hiện nay, những ý kiến phân tích, bình luận, phê phán của những người thuộc nhóm 1 chiếm tỷ lệ không nhiều, chủ yếu tập trung ở quan điểm của những nhà nghiên cứu chuyên sâu, phát ngôn của các cơ quan chuyên môn… Những người của nhóm 1 cũng gặp nhiều khó khăn trong thực hiện vai trò của mình trên mạng xã hội (thường phải hứng chịu “gạch, đá” của những cư dân mạng thiếu hiểu biết và những kẻ phản động, đội lốt dân chủ). Như vậy, chúng ta đã vô tình dành một “mảnh đất” rất rộng trên mạng xã hội cho các thế lực thù địch, phản động tuyên truyền, xuyên tạc; cho những người nhận thức chưa đầy đủ, thiếu thống tin chính thống, những người nắm và hiểu vấn đề còn nông cạn,… tham gia cổ xúy, tuyên truyền, quảng bá cho cái xấu, cái sai, bất chấp hậu quả tai hại của nó đối với đạo đức xã hội, đối với sự phát triển của đất nước. Các thế lực thù địch, phản động đã chọn mạng xã hội như một “mặt trận” mới để tăng cường chống phá chế độ ta. Một số người vì nhiều lý do, trong đó có lý do thiếu hiểu biết, đã cố ý hay vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải biết cách sử dụng, tận dụng mạng xã hội một cách đúng đắn và hiệu quả, biến mạng xã hội thành một phương tiện, một kênh hữu ích để tuyên truyền tính đúng đắn, cách mạng, khoa học của các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, góp phần phòng, chống, ngăn chặn những tư tưởng, quan điểm sai trái, lệch lạc một cách hiệu quả. Để tỉnh táo, sáng suốt làm tốt nhiệm vụ đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, các quan điểm xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, của các thế lực phản động, thù địch trong và ngoài nước trên mạng xã hội, thiết nghĩ, mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trước hết cần lưu ý và thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau: Một là, đẩy mạnh việc học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để củng cố vững chắc thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật trong nhận thức, phân tích, đánh giá và hoạt động thực tiễn, nhằm đấu tranh chống lại quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động. Hai là, tích cực học tập, quán triệt Cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược của Đảng, Nhà nước trên mọi lĩnh vực; chủ động nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn, tạo dựng cho bản thân nền tảng tri thức chính trị - xã hội đúng đắn, khoa học, cách mạng, đủ trình độ đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động trên mạng xã hội. Ba là, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện phong cách tư duy, phong cách ứng xử, phong cách làm việc, phong cách diễn đạt, phong cách sinh hoạt… theo phong cách Hồ Chí Minh, để hình thành kỹ năng phân tích, đánh giá, phản biện, đấu tranh vừa lịch sự, khiêm tốn, trí tuệ, thuyết phục nhẹ nhàng, kiên trì, nhưng vừa kiên quyết, triệt để, cách mạng… bảo đảm giành thắng lợi trên “mặt trận” mạng xã hội trước các thế lực thù địch. Bốn là, mỗi cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, chính quyền, đoàn thể trong sinh hoạt, công tác cần thường xuyên tổ chức sinh hoạt nhằm kịp thời trao đổi, làm rõ, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn từ những thông tin xấu xa, độc hại, ác ý của các thế lực thù địch, phản động. Cần dựa vào những tài liệu, thông tin chính thống, hướng dẫn của cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể cấp trên để tổ chức cung cấp nhanh cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức những luận cứ, thông tin xác đáng và dựa vào đó, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc trên mạng internet, mạng xã hội. Năm là, thực hiện nghiêm những quy định của Đảng, Nhà nước, các quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác. Đồng thời, thực hiện đúng quy định của các cơ quan chuyên môn về quy trình, biện pháp tiếp cận thông tin, xử lý thông tin và sử dụng thông tin để phản bác lại các luận điệu sai trái trên mạng xã hội, bảo đảm đúng chức năng, nhiệm vụ, đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng nội dung, đúng mục tiêu đặt ra. Sáu là, mỗi cán bộ, đảng viên khi tham gia mạng xã hội phải chú trọng thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân tại địa phương, cơ quan, đơn vị nơi mình sinh sống, công tác, nhất là nắm bắt trên không gian mạng xã hội. Qua đó, kịp thời phát hiện, góp ý, phê bình,… không để đồng chí, đồng nghiệp của mình bị lôi kéo, dụ dỗ mà cố ý hoặc vô tình ủng hộ, chia sẻ, loan truyền những thông tin phản động, độc hại trên mạng xã hội. Bảy là, phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với các cá nhân, tổ chức, cơ quan, đơn vị chuyên môn, hữu quan trong việc cung cấp, chia sẻ thông tin, xử lý thông tin, giúp cho công tác phát hiện, phân tích mức độ, diễn biến, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch được nhanh chóng, chính xác và lựa chọn phương án đấu tranh trên mạng xã hội kịp thời, hiệu quả nhất. Tám là, trên cơ sở nắm vững và tuân thủ các quy định của Luật An ninh mạng, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức cần biến trang mạng xã hội của mình thành một kênh thông tin, tuyên truyền thường xuyên những thông tin chính thống về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, chủ động và thường xuyên tham gia phân tích, bình luận, chia sẻ các bài viết về những điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, những mô hình mới, cách làm hay của các cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân trong tham gia thực hiện các phong trào thi đua yêu nước. Chín là, tích cực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; giữ vững bản lĩnh chính trị, tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên; nêu cao ý thức tự lực, tự cường vượt qua mọi cám dỗ vật chất, danh lợi; kiên gan, bền chí trước mọi thủ đoạn, mưu mô thâm độc của kẻ thù. Chế độ xã hội tiến bộ, văn minh mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn xây dựng hơn 7 thập niên qua không lúc nào không gặp phải sự phá hoại của các thế lực phản động, thù địch, phản tiến bộ, phi dân chủ. Hiện nay, lợi dụng các ưu thế của mạng xã hội, các cá nhân, tổ chức phản động trong và ngoài nước càng ráo riết, quyết liệt hơn trong việc chống phá chế độ ta, với mức độ ngày càng nghiêm trọng, phạm vi ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng phức tạp hơn. Vì vậy, hơn bao giờ hết, mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức cần phải tỉnh táo, sáng suốt trong việc thực hiện chức trách của mình với non song đất nước; phải trở thành nhân tố nòng cốt trong xây dựng mặt trận đoàn kết toàn dân; phải trí tuệ, bản lĩnh, khôn khéo, linh hoạt, tự tin, bền chí, kiên cường trong đấu tranh trên mạng xã hội. Mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức cần nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình khi tham gia mạng xã hội, nhằm tạo ra một hợp lực đủ mạnh để ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin sai lệch, xấu xa của thế lực phản động. Đó cũng là góp phần nâng cao nhận thức chính trị cho một bộ phận người dân vốn đang “đói” thông tin chính thống nhưng lại đang chới với, sắp “chết chìm” trong “biển thông tin” chưa rõ thực hư trên mạng xã hội./.

Đấu tranh chống các thủ đoạn ngụy tuyên truyền của các thế lực thù địch về phòng, chống tham nhũng

Trước sự chống phá ngày càng điên cuồng và tinh vi trên không gian mạng, các phương tiện truyền thông xã hội của các thế lực thù địch và những hậu quả khôn lường mà nó có thể gây ra, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII thẳng thắn đánh giá, chúng ta “chưa chủ động và thiếu giải pháp phù hợp để định hướng thông tin trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ. Việc quản lý thông tin còn lỏng lẻo, thiếu giải pháp đủ mạnh để đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị”(5). Do đó, hiện nay, công tác đấu tranh trên môi trường mạng cần được coi trọng đặc biệt, trong đó có đấu tranh phản bác những luận điệu ngụy tuyên truyền về tham nhũng, trên cơ sở một số quan điểm mang tính nguyên tắc sau: Những ưu điểm và mặt trái của các phương tiện truyền thông xã hội luôn luôn tồn tại song hành, do đó công tác tuyên truyền phản bác các luận điệu ngụy tuyên truyền của các thế lực thù địch trên không gian mạng là cuộc đấu tranh thường xuyên, lâu dài, cần chủ động, có chiến lược bài bản, khoa học và phương pháp linh hoạt. Không cường điệu hóa, nhưng cũng không được chủ quan trước những tác động tiêu cực từ sự chống phá bằng các phương tiện truyền thông xã hội của các thế lực thù địch. Lấy việc tận dụng những ưu thế của các phương tiện truyền thông xã hội làm chủ đạo, thay vì phiến diện chỉ thấy các yếu tố tiêu cực, mặt trái của nó. Từ đó, sử dụng các phương tiện này để thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của truyền thông đại chúng trong phòng, chống tham nhũng; lan tỏa nhanh chóng thông tin chính thống của ta tới đông đảo người dân; là công cụ hữu hiệu để các tổ chức đảng, chính quyền và người dân gia tăng sự tương tác, lắng nghe, sẻ chia, thấu cảm, đồng thuận; là cơ hội để thực hiện mô hình chính quyền mở, minh bạch, thân thiện và phục vụ. Đặc biệt, các phương tiện truyền thông xã hội là kênh thông tin tổng hợp quan trọng để đánh giá, đo lường, nắm bắt và giải quyết các cuộc khủng hoảng thông tin nhằm bình ổn, điều hòa các xung đột, mâu thuẫn, “điểm nóng” xã hội nảy sinh do tác động từ việc ban hành các chính sách. Lấy chính các phương tiện truyền thông xã hội nhằm khắc chế thủ đoạn dùng các phương tiện truyền thông xã hội hòng chống phá ta của các thế lực thù địch, theo phương châm “lấy độc trị độc”. Trong đấu tranh tư tưởng hiện nay, tuyệt đối không bỏ trống, coi nhẹ không gian mạng hay lảng tránh việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, vô tình “nhường” trận địa cho thế lực thù địch. Cần phá thế lan truyền thông tin của các thế lực thù địch bằng số lượng, chất lượng thông tin tích cực. Để áp đảo được đối phương, cần xây dựng đội ngũ “chiến sĩ thông tin mạng” đủ số lượng, vừa hồng, vừa chuyên để chủ động tham gia đấu tranh phản bác trên không gian mạng. Đồng thời, thay vì tư duy cứng nhắc và cách làm cơ học thiên về “chặn”, “xóa” thông tin khi sự vụ đã xảy ra, cần chuyển đổi thành tư duy chủ động “làm loãng” thông tin và chú trọng các giải pháp “mềm”, nhất là trang bị kỹ năng, khả năng tự miễn dịch thông tin cho người dùng các phương tiện truyền thông xã hội. Sử dụng đồng bộ các giải pháp trong đấu tranh với các thế lực thù địch trên môi trường mạng, lấy giải pháp về nghiệp vụ phản tuyên truyền là chính. Kết quả thực tiễn của công tác phòng, chống tham nhũng của ta là yếu tố quyết định tới hiệu quả công tác tuyên truyền, là cơ sở thuyết phục nhất phản bác lại những luận điệu ngụy tuyên truyền của các thế lực thù địch. Từ một số quan điểm mang tính nguyên tắc trên, xét riêng từ góc độ tuyên truyền, công tác đấu tranh chống ngụy tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng cần tập trung một số giải pháp sau: Thứ nhất, xây dựng lực lượng “tác chiến” tuyên truyền trên không gian mạng, là hiệp đồng của nhiều “binh chủng” tuyên truyền, với vai trò tổ chức, lĩnh xướng, chủ lực của cơ quan tuyên giáo, báo chí chính thống của ta, cùng đội ngũ cán bộ, đảng viên, thành viên của các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp khác trong hệ thống chính trị, kết thành mạng lưới thông tín viên rộng khắp, có khả năng hiện diện và góp tiếng nói ở mọi không gian truyền thông xã hội, từ đó lan tỏa sự ủng hộ, đồng tình tới đông đảo các tầng lớp nhân dân. Các cơ quan báo chí của ta phải luôn giữ vững vai trò, nhịp độ chủ đạo trong định hướng thông tin, thực hiện kết nối, tích hợp một cách hợp lý các ứng dụng truyền thông xã hội phổ biến vào sản phẩm báo chí của mình hoặc tạo dựng những kênh truyền thông xã hội riêng nhằm tận dụng lợi thế của các phương tiện này để lan tỏa thông tin chính thức, chính thống tới đông đảo công chúng. Đặc biệt, có chính sách xây dựng, bồi dưỡng, trọng dụng những “thủ lĩnh thông tin” là cây bút chủ lực có sức ảnh hưởng trên cộng đồng mạng (key opinion leader) từ các nhà báo, nhà khoa học của ta. Đây là những người có tài năng, bút lực, tâm huyết, dần tạo vị thế, thẩm quyền, uy lực ngày càng lớn trên hệ thống báo chí chính thống và các phương tiện truyền thông xã hội, có số lượng lớn người theo dõi, đối trọng với lực lượng phản động, bằng hệ thống bài viết có chất lượng, bút chiến mạnh mẽ, kịp thời và đanh thép chủ động đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, thù địch, có sức hấp dẫn và thuyết phục công chúng, từ đó có khả năng tham gia dẫn dắt, định hướng, định hình dư luận xã hội, tránh để rơi vào thế bị động. Thứ hai, công tác thông tin và định hướng thông tin, tuyên truyền cần nhanh nhạy, chủ động hơn, không bị động, theo đuôi sự việc; đặc biệt cần công khai sớm, đầy đủ các thông tin về xử lý tham nhũng cho công luận, nhất là các kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý các vụ, việc, vụ án tham nhũng, kinh tế lớn, chủ động cung cấp thông tin về những vấn đề nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm, giúp định hướng tốt dư luận xã hội và thể hiện rõ sự công khai, minh bạch của Đảng, Nhà nước trong xử lý tham nhũng. Lấy tuyên truyền về gương người tốt, việc tốt trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng để lấn át cái xấu, tiêu cực... Thời gian tới, bên cạnh việc chống phá hệ tư tưởng, các thế lực thù địch sẽ ngày càng đẩy mạnh việc công kích vào hệ thống pháp luật của ta, nhất là với các chính sách quan trọng liên quan tới sự phát triển của đất nước và có tác động sâu rộng tới đời sống xã hội, hướng lái dư luận hiểu sai, hiểu ngược, tạo nhiễu loạn thông tin, biến những chính sách cần thiết ra đời vì sự phát triển của đất nước và sự ổn định của xã hội thành những “vấn đề nhạy cảm”, từ đó nham hiểm ngăn cản việc ban hành những đạo luật này. Đồng thời, chúng tiếp tục lợi dụng những vấn đề dân chủ, nhân quyền, cái gọi là “tương thích với luật pháp quốc tế” để ra sức thúc đẩy ra đời những đạo luật liên quan về hội, biểu tình..., nhưng với ý đồ xấu, cài cắm thông tin sai lệch một cách tinh vi, mưu toan tạo “cơ sở pháp lý” dễ bề chống phá. Do đó, công tác tuyên truyền và định hướng tuyên truyền về sự cần thiết ban hành các chính sách, đạo luật quan trọng, như Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi), Luật Đất đai (sửa đổi)..., cũng như phản bác các luận điệu xuyên tạc, cả trên báo chí và các phương tiện truyền thông xã hội, cần đi trước một bước để tạo sự đồng thuận xã hội, tránh đi sau, bị động, có những khoảng trống hay tuyên truyền thiếu sự thống nhất giữa các cơ quan báo chí, để lọt các bài viết chất lượng thấp, có nhiều sở hở, thậm chí thông tin sai lệch, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng... Cần coi trọng đúng mức việc đánh giá những tác động, rủi ro của việc ban hành các chính sách; quy định chặt chẽ quy trình lấy ý kiến phản biện của các chuyên gia và đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách; lắng nghe dư luận xã hội. Quá trình giải quyết các mâu thuẫn xã hội phát sinh phải dựa trên giá trị quan hoặc sự giao tiếp, đối thoại, thay cho sự áp đặt hay lối thỏa hiệp tùy tiện; trang bị kỹ năng xử lý, ứng biến với khủng hoảng thông tin cho cấp ủy, chính quyền các cấp. Thứ ba, khoanh vùng các tổ chức, đối tượng đầu sỏ chống phá ta để chặn, xóa thông tin trên các phương tiện truyền thông xã hội theo từ khóa, theo tuyến vật lý, vị trí địa lý, cụm máy chủ, tên miền...; điều tra, truy tìm dấu vết phát tán thông tin, lưu trữ lịch sử thông tin để xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật những đối tượng cầm đầu nhằm răn đe và ngăn chặn từ gốc các thông tin bẩn, xấu độc. Đây là giải pháp ngăn chặn cần thiết được nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện nhằm bảo vệ an toàn, an ninh mạng và đã được quy định rõ tại Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng của nước ta. Mặt khác, hiện nay, các công ty như Google, Facebook thực tế đã có rất nhiều máy chủ đặt ở Việt Nam; thông tin được lưu trữ, chia sẻ, sao lưu, khôi phục, nhân bản tự động hoặc tự động tạo tài khoản nhờ công nghệ điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo..., nên khó lòng chặn, lọc được. Mặc dù chúng ta tích cực làm việc với các nhà cung cấp dịch vụ truyền thông xã hội về yêu cầu gỡ bỏ những thông tin xấu độc, nhưng do lượng thông tin quá lớn, nên thường thông tin đã phát tán mới đề nghị lọc, chặn. Hơn nữa, những ràng buộc của các điều ước quốc tế, sự khác nhau về quan điểm chính trị... cũng khiến việc gỡ bỏ chưa đạt được mong muốn. Do đó, cần chủ động, tích cực và thường xuyên làm loãng thông tin xấu độc bằng các biện pháp kỹ thuật và nghiệp vụ. Khi có thông tin xấu độc, ta cần tạo dựng cơ số những thông tin tương tự, nhưng có nội dung tích cực, để làm chìm đi thông tin xấu độc. Về mặt kỹ thuật, có thể tận dụng ngay công cụ tìm kiếm Google, tối ưu hóa tìm kiếm (SEO) để làm nổi thông tin phản bác lên trên thông tin xấu độc. Công việc trên cần một bộ phận trực “tác chiến” liên tục trên không gian mạng. Lực lượng này đưa thông tin tích cực tới cộng đồng, thúc đẩy việc chia sẻ (like, share) để phủ thông tin tốt lên các phương tiện truyền thông xã hội. Thứ tư, xây dựng các “thiết chế ảo” trên các phương tiện truyền thông xã hội, như các diễn đàn, hội nhóm, fanpage, câu lạc bộ... theo tâm lý, sở thích, nhu cầu cá nhân, có chất lượng, thu hút được nhiều hội viên, thành viên, tạo thành những cộng đồng mạng rộng lớn, từ đó khéo léo điểm xuyết việc xen ghép những định hướng tuyên truyền của ta trong các nội dung trao đổi, thảo luận, sinh hoạt trên không gian trực tuyến. Đây là cách thức thu hút người dùng một cách tự nhiên và tuyên truyền hiệu quả hơn so với việc tạo lập ngay từ đầu các kênh, diễn đàn, sản phẩm truyền thông xã hội mang tính chính trị, có phần khô cứng, ít thành viên tham gia; cũng phù hợp với quan điểm sử dụng chính nền tảng các kênh truyền thông xã hội phổ biến nhất hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam để phản tuyên truyền đối với các thế lực thù địch. Chính những “thiết chế ảo” này sẽ là những nguồn phát và lan tỏa thông tin chính xác của ta trên các phương tiện truyền thông xã hội. Thiết lập và sử dụng hệ thống lắng nghe và phân tích truyền thông xã hội (social listening) để tự động dò quét, theo dõi, tổng hợp, phân tích các dòng thông tin chủ lưu hằng ngày trên các phương tiện truyền thông xã hội. Việc nắm bắt, bao quát những diễn biến chính trên không gian mạng là rất cần thiết để các cơ quan chức năng của ta có thể chủ động, kịp thời xử lý khi có tình huống, nhất là với những diễn biến, khủng hoảng nghiêm trọng. Đẩy mạnh hợp tác và đấu tranh với các nhà cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng in-tơ-nét trong và ngoài nước phải lưu trữ những dữ liệu do người sử dụng dịch vụ trong nước tạo ra tại Việt Nam, là cơ sở, hệ thống chứng cứ để xử lý theo luật định khi có tình huống, sự việc phát sinh. Có chiến lược xây dựng nền tảng các ứng dụng phương tiện truyền thông xã hội trọng điểm mang thương hiệu Việt Nam, có chất lượng, sức cạnh tranh, tính hấp dẫn, tính giáo dục và phù hợp với văn hóa dân tộc, từ đó góp phần gia tăng năng lực tự chủ thông tin quốc gia, từng bước giảm dần sự lệ thuộc vào các tập đoàn truyền thông lớn của nước ngoài. Đây cũng là chiến lược phát triển dài hạn được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn. Xây dựng và ban hành bộ quy tắc ứng xử và chuẩn mực đạo đức trên các phương tiện truyền thông xã hội ở Việt Nam, quy định cụ thể những thái độ, hành vi nên, không nên thực hiện, góp phần làm lành mạnh hóa và hướng tới một môi trường mạng văn minh hơn. Đây là sự bổ trợ cần thiết cho các giải pháp kỹ thuật và pháp lý khác, lấy quy chuẩn đạo đức và sức ép đánh giá từ dư luận xã hội để điều chỉnh các hành vi trên không gian mạng một cách tự giác. Coi trọng việc trang bị kỹ năng sử dụng, ứng xử trên các phương tiện truyền thông xã hội cho người dùng, trong đó có khả năng tự sàng lọc thông tin và chối bỏ các thông tin bẩn, xấu độc, không chia sẻ (like, share) một cách vô ý thức. Tuy nhiên, hiện nay, việc trang bị những kỹ năng này vẫn còn bị bỏ ngỏ trong cộng đồng, nhất là trong các môi trường giáo dục ở Việt Nam. Cần thiết xây dựng và ban hành cẩm nang về kỹ năng sử dụng và ứng xử trên các phương tiện truyền thông xã hội để phổ biến rộng rãi, giúp người dùng học cách làm chủ, tự bảo vệ mình trước những rủi ro truyền thông. Đặc biệt, công cuộc phòng, chống tham nhũng cần tiếp tục giữ vững nhịp độ, được thực hiện quyết liệt, hiệu quả. Dựa trên hiệu quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng cùng việc giải quyết những vấn đề nổi cộm khác mà dư luận xã hội quan tâm, bức xúc và dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, như lợi ích nhóm, chạy chức, chạy quyền; quản lý đất đai, giải phóng mặt bằng; các vấn đề an sinh xã hội..., công tác phản tuyên truyền sẽ có cơ sở vững chắc và thêm sức nặng để đập tan từ gốc dã tâm chống phá và những luận điệu ngụy tuyên truyền của các thế lực thù địch./.

 LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA (20/4/1963)


“Trong công tác phục vụ cần coi trọng cả hai mặt vật chất và tinh thần. Có thuốc hay, thức ăn ngon, còn cần phải có thái độ phục vụ tốt, coi người bệnh như ruột thịt. Lương y phải như từ mẫu”.

Nhân dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm bệnh xá xã Vân Đình, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Khi đến đây, Người đi thăm từ phòng khám bệnh, phòng điều trị đến vườn trồng cây thuốc, nhà bếp, khu vệ sinh… Bác ân cần thăm hỏi các bệnh nhân, khen cán bộ, nhân viên đã giữ gìn bệnh xá sạch sẽ.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy thuốc (lương y) phải là người có lòng nhân ái, thương yêu người bệnh như mẹ hiền (từ mẫu) thương yêu các con của mình. “Lương y phải như từ mẫu” là y đức, đặt nền tảng chính là sự “Tôn trọng sinh mạng con người”. Vì vậy, đã là người thầy thuốc thì phải coi trọng đức - nhân, tận tình chăm sóc người bệnh, vì quyền lợi, sức khỏe của người bệnh, không phân biệt đối xử, luôn công bằng và trung thực.
Thực hiện lời dạy của Người, ngành y tế nói chung, quân y trong quân đội nói riêng qua các thời kỳ cách mạng, luôn trau dồi y đức, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để chăm sóc bệnh nhân. Vì thế, trong sự khó khăn, thiếu thốn về thuốc men, thiết bị y tế trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các y, bác sĩ quân đội vẫn ngày đêm tận tụy cứu chữa, chăm sóc người bệnh, chăm sóc thương bệnh binh, góp phần quan trọng vào thắng lợi của 2 cuộc kháng chiến.
Lời dạy của Bác về y đức vẫn còn nguyên giá trị và trở thành phương châm, tôn chỉ mục đích nghề nghiệp cho những người làm công tác y tế, để hướng tới mục tiêu thay đổi nhận thức, thái độ, phong cách phục vụ người bệnh, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử, củng cố niềm tin và sự hài lòng của người bệnh, xây dựng hình ảnh đẹp của người cán bộ y tế Việt Nam theo đúng phương châm: “Bệnh nhân đến đón tiếp niềm nở, bệnh nhân ở chăm sóc tận tình, bệnh nhân về dặn dò chu đáo”.

Xử lý trí thức - đảng viên sai phạm không phải là kỳ thị cả đội ngũ .

Sau khi báo chí, công luận gần đây thông tin về việc xử lý những sai phạm của ông Chu Hảo theo kết luận của Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương, dư luận cán bộ, đảng viên và nhân dân bày tỏ sự đồng tình. . Tuy nhiên, trên mạng xã hội và đài, báo nước ngoài lại xuất hiện một số ý kiến cố tình làm sai lệch sự việc với dụng ý nói xấu Đảng, Nhà nước Việt Nam; cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang kỳ thị, “gạt ra bên lề”, “đánh” những trí thức “chân chính”… Những lời thương vay khóc mướn Trang BBC tiếng Việt thời gian gần đây có một số bài viết với thông tin cho rằng ông Chu Hảo là “trí thức chân chính”, bị kỷ luật Đảng thì sẽ “trở về với nhân dân”, đóng góp cho sự phát triển đất nước tốt hơn “với tư cách là người tự do”. Trang này lượm lặt thông tin về một số nhân vật bất mãn để “thổi” lên thành sự kiện: “Rộ trào lưu bỏ Đảng sau vụ TS Chu Hảo bị đề nghị kỷ luật”. Trên trang cá nhân, một số nhân vật tự cho mình là những nhà dân chủ, cấp tiến thay vì nhìn thẳng vào sự thật lại lấp liếm, đổi trắng thay đen, biến những việc làm vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Đảng của ông Chu Hảo thành những công lao, như: Đã dũng cảm cho in những cuốn sách có giá trị, thúc đẩy tự do, dân chủ; bỏ nhiều công sức cho việc chấn hưng dân trí... Họ nêu, kỷ luật ông Chu Hảo “với những lý do đầy tính chất vu khống là “đánh vào những người trí thức yêu nước, có tài và có tâm”, sẽ dẫn đến tình trạng “sĩ phu ngoảnh mặt”. Đài Á Châu tự do vẫn với giọng điệu cực đoan vốn có còn dựng chuyện: “Kỷ luật Giáo sư Chu Hảo là tuyên chiến chống giới trí thức Việt Nam”. Một số người với cái nhìn cảm tính, phiến diện vội quy kết cho rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam hành xử thô bạo với đội ngũ trí thức. Họ cố tình gạt bỏ, không đếm xỉa đến những sai phạm về pháp luật và kỷ luật Đảng của ông Chu Hảo mà quay sang đả phá Đảng, Nhà nước, cho rằng đây là một “nỗi đau”, một sự “lạc hậu”… Pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh, công bằng Với một số sai phạm được nêu trong thông báo của UBKT Trung ương cho thấy ông Chu Hảo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Đảng. Ở đây hoàn toàn không có chuyện “kỷ luật ông Chu Hảo với những lý do đầy tính chất vu khống” hay Đảng Cộng sản Việt Nam “đánh vào người trí thức yêu nước, có tài và có tâm” như những ý kiến phiến diện từng rêu rao. Từ tháng 11-2011, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Quy định số 47-QĐ/TW thay thế Quy định số 115-QĐ/TW vẫn có những nội dung hết sức chặt chẽ về vấn đề trên. Theo đó, đảng viên không được: 1-Nói, làm trái hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; làm những việc mà pháp luật không cho phép. 2-Cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng những thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước hoặc những việc chưa được phép công bố; tàng trữ, tuyên truyền, tán phát hoặc xúi giục người khác tuyên truyền, tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những quan điểm trái với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước... 6-Tổ chức, tham gia các hội trái quy định của pháp luật; biểu tình, tập trung đông người gây mất an ninh, trật tự. Thế nhưng, trong suốt nhiều năm qua, ông Chu Hảo đã nhiều lần vi phạm các điều nêu trên. Theo UBKT Trung ương, trong việc nói, viết và làm theo Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước, ông Chu Hảo đã có những vi phạm được đánh giá là rất nghiêm trọng. Trong đó, có việc tham gia ký vào các thư kiến nghị, thư ngỏ và có nhiều bài viết trên báo chí trong và ngoài nước, mạng xã hội, như: “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992” nêu lên 7 kiến nghị tập trung vào 3 vấn đề cốt lõi: (1) Đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp; (2) Yêu cầu đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; (3) Đòi phi chính trị đối với lực lượng vũ trang; “Thư ngỏ gửi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản”, nội dung thư ngỏ cho rằng Đảng đã dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội cùng với bộ máy cầm quyền quan liêu, tha hóa đã đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện... “Thư kiến nghị về Luật An ninh mạng” trong đó kiến nghị bãi bỏ hoàn toàn một số điều của luật, tự ý đưa tên một vị tướng công an (không được sự đồng ý của vị tướng này) vào danh sách những người đứng tên thư kiến nghị, đưa lên mạng xã hội gây xôn xao dư luận, ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình chính trị, tư tưởng của nhân dân. Ông Chu Hảo còn có nhiều bài viết trên mạng xã hội với nội dung sai trái, cùng nhiều bài trả lời phỏng vấn các đài, báo nước ngoài (BBC, RFA, RFI) có các nội dung sai trái. Ông Chu Hảo cũng là người sáng lập, tham gia các hội, nhóm, diễn đàn, câu lạc bộ và các tổ chức có các hoạt động truyền bá tư tưởng, quan điểm sai trái; là một trong những thành viên đầu tiên của cái gọi là “Nhóm kiến nghị 72”, thành viên tích cực của “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Nhóm kiến nghị 61”, “Nhóm tinh thần khai minh”... Đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương đã mời ông Chu Hảo đến làm việc, trao đổi, phân tích, làm rõ và yêu cầu chấm dứt vi phạm từ năm 2016 nhưng ông không chuyển biến và tiếp tục tái phạm. Trả lời phỏng vấn đài BBC tháng 9-2017, ông Chu Hảo nêu rõ quan điểm muốn thay đổi thể chế, ủng hộ cái gọi là xã hội dân sự: “Bên cạnh nhà nước, doanh nghiệp, thì xã hội dân sự có thể là chìa khóa dẫn đến những áp lực để thay đổi thể chế”. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra 9 biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Nếu đối chiếu vào những thông tin, việc làm nêu trên, ông Chu Hảo vi phạm nhiều biểu hiện, như: 1-Phản bác, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện "đa nguyên, đa đảng". 2-Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), Nhà nước pháp quyền XHCN; đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", phát triển "xã hội dân sự". Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. 3-Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Tại Điều 7, Quy định số 102/QĐ-TW của Bộ Chính trị ban hành cuối năm 2017 cũng chỉ ra nhiều vi phạm về quan điểm chính trị và chính trị nội bộ mà đối chiếu theo đó, ông Chu Hảo đã có rất nhiều sai phạm. Các quy định tại Khoản 3, Điều 7, Quy định số 102/QĐ-TW nêu rõ sẽ xử lý bằng hình thức khai trừ khỏi Đảng với đảng viên: a) Cố ý nói, viết có nội dung xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật, phủ nhận vai trò lãnh đạo và thành quả cách mạng của Đảng và dân tộc. b) Phản bác, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ, nền dân chủ XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", "xã hội dân sự", "đa nguyên, đa đảng". Như vậy, việc kết luận những vi phạm của ông Chu Hảo là rõ ràng, đúng theo quy định của kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước, hoàn toàn không có chuyện kỳ thị, “đánh” trí thức. Theo thông tin từ Cổng thông tin điện tử UBKT Trung ương, nguyên nhân cơ bản, chủ quan và lớn nhất dẫn đến sai phạm là do bản thân ông Chu Hảo thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không giữ vai trò tiền phong, gương mẫu của người cách mạng chân chính. Đứng trước nhiều vấn đề bức xúc của đời sống xã hội, ông Chu Hảo đã lựa chọn phương pháp sai lầm trong tư duy, hành động và kết cục là vi phạm như hiện nay. Trong thời gian công tác, lúc đương chức, ông không góp ý với Đảng trên cương vị công tác của mình trong phạm vi tổ chức, nhưng khi nghỉ hưu lại có những hành động sai trái. Khi bị kiểm điểm, nhắc nhở, ông khôn khéo thừa nhận sai lầm, khuyết điểm của mình ở mức độ nhất định nhằm tránh bị kỷ luật và giữ vững vai trò “hợp pháp” để rồi vẫn giữ quan điểm, lập trường riêng, không chấp hành yêu cầu của các cơ quan chức năng và sau đó lại tiếp tục có vi phạm. Sai phạm trên còn do sự thiếu kiên quyết xử lý vi phạm của tổ chức đảng, chính quyền để xảy ra vi phạm kéo dài. Việc kiểm điểm, nhắc nhở đối với ông Chu Hảo diễn ra nhiều lần nhưng có phần nể nang, né tránh; không được tổ chức đảng thực hiện bằng văn bản; không giám sát hay yêu cầu báo cáo kết quả sửa chữa khuyết điểm và cũng không có biện pháp quản lý chặt chẽ hoạt động của đảng viên có vấn đề về “tư tưởng chính trị”. Vi phạm của ông Chu Hảo ngày càng nghiêm trọng. Qua sự việc vi phạm của ông Chu Hảo, vấn đề đặt ra đối với tổ chức đảng là phải làm tốt hơn công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên, để đảng viên thường xuyên được rèn luyện, giữ vững lập trường, quan điểm. Mặt khác, sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội là môi trường “dung dưỡng” cho các quan điểm, hành vi sai trái của ông Chu Hảo. Các quan điểm sai trái đó được các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội về chính trị lôi kéo, cổ vũ, tiếp sức, các hội, nhóm, diễn đàn… Để thanh lọc bộ máy và giữ nghiêm kỷ luật Đảng Ngay tại Điều 1, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định về tiêu chuẩn đảng viên, có tiêu chí đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, các nghị quyết của Ðảng và pháp luật của Nhà nước. Tại Điều 2 về nhiệm vụ đảng viên chỉ rõ đảng viên phải: Tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Ðảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị của Ðảng, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Ðảng. Với những người như ông Chu Hảo, về thực chất đã từ bỏ lý tưởng, từ bỏ hàng ngũ, không còn xứng đáng với tiêu chuẩn, danh hiệu đảng viên cộng sản. Lẽ ra, với những sai phạm trên, ông Chu Hảo đã bị xử lý từ lâu, nhưng Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn trên tinh thần tôn trọng đội ngũ trí thức, cân nhắc, thận trọng, xem xét toàn diện khi xử lý những vụ việc liên quan tới những trí thức có ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội, từng là cán bộ lãnh đạo cấp cao. Dư luận cho rằng, thời gian gần đây, có một số hiện tượng cán bộ, đảng viên có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" phức tạp, công khai phủ nhận, tuyên truyền trái đường lối, quan điểm của Đảng… nhưng chưa bị xử lý làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Vì vậy, đã đến lúc phải xử lý nghiêm một số sự việc để làm gương, tránh tình trạng “nhờn luật”, “nhờn kỷ luật của Đảng”. Những sai phạm của ông Chu Hảo có cả sai phạm về mặt pháp luật thì phải được xử lý đúng pháp luật, không dừng ở việc chỉ xem xét kỷ luật Đảng. Xử lý một vài trường hợp trí thức vi phạm không phải là tuyên chiến hay kỳ thị đội ngũ trí thức mà chính là làm trong sạch đội ngũ trí thức. Kỷ luật của Đảng Cộng sản Việt Nam là tự giác và nghiêm minh, đồng thời cũng bình đẳng trong Đảng, không phân biệt đảng viên đương chức hay nghỉ hưu, đảng viên là lao động bình thường hay là lãnh đạo, nguyên lãnh đạo. Ai vi phạm đều được kiểm điểm, làm rõ và xử lý nghiêm minh, bảo đảm sự trong sạch đội ngũ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng, nếu kỷ luật của Đảng lỏng lẻo thì những kẻ cơ hội, những phần tử phản động dễ dàng chui vào hàng ngũ để phá hoại Đảng. Những biểu hiện sai phạm của ông Chu Hảo cũng để lại bài học đắt giá đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn rèn luyện, tu dưỡng suốt đời như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn. Thật đáng tiếc khi ông Chu Hảo sinh ra và trưởng thành trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, có cha từng là cán bộ cao cấp của ngành công an và ngành văn hóa. Bản thân ông những năm chiến tranh đã được Nhà nước ưu đãi, cho đi du học, làm việc ở Liên Xô suốt nhiều năm và kinh qua nhiều vị trí công tác quan trọng, từng là Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ. Lẽ ra, với tri thức và kinh nghiệm sâu sắc của mình, ông có thể chọn cho mình con đường, cách thức phù hợp hơn, đúng đắn hơn để phát huy vai trò người trí thức chân chính, cống hiến nhiều hơn, thiết thực hơn cho đất nước, thay cho những việc làm lợi bất cập hại, đi ngược với chính mục tiêu, lý tưởng của Đảng, với lời thề của người đảng viên cộng sản mà chính ông từng tuyên thệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời cũng từng căn dặn: Để xây dựng nước nhà, chúng ta cần càng ngày càng nhiều trí thức tốt… Đảng và Chính phủ phải giúp bằng cách giáo dục, để trí thức có lập trường vững vàng, quan điểm đúng đắn, tư tưởng sáng suốt, tác phong dân chủ. Nói tóm lại: Giúp đỡ các bạn trí thức chính tâm và thân dân. Tinh thần ấy cũng đã thấm sâu trong mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với đội ngũ trí thức. Vì vậy, cùng với quan tâm, tạo điều kiện mọi mặt thì việc tăng cường quản lý, chấn chỉnh và xử lý nghiêm túc những hiện tượng sai phạm là cần thiết và bình thường. Trí thức dù là tầng lớp tinh hoa, nhạy cảm với thời cuộc nhưng không thể đứng trên, không thể đi ngược con đường của Tổ quốc và nhân dân, không thể làm trái pháp luật, càng không thể đi ngược, làm trái đường lối, quan điểm của Đảng khi trí thức ấy đứng trong hàng ngũ của Đảng. Việc xử lý một vài hiện tượng cá nhân sai phạm là sự thanh lọc cần thiết để Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch hơn, luôn giữ vững vai trò tiên phong, bản chất giai cấp công nhân và mục tiêu lý tưởng nhất quán; đó cũng là sự thanh lọc cần thiết đối với đội ngũ trí thức cách mạng, chân chính, giúp cho đội ngũ trí thức ngày càng hoàn thiện hơn, đóng góp hiệu quả hơn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Phòng, chống bệnh “kiêu ngạo cộng sản” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay .

Ngay từ những ngày đào tạo, bồi dưỡng các hạt giống cán bộ đầu tiên, Bác Hồ đã sớm nhận ra những biểu hiện, tính nguy hại của bệnh “kiêu ngạo cộng sản”. Nhận diện và đấu tranh phòng, chống bệnh “kiêu ngạo cộng sản” cũng là vấn đề rất cần thiết hiện nay. . Kiêu ngạo - xa nhân tâm quần chúng, tạo cho mình kẻ thù Ngay từ rất sớm, trong những bài giảng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tổ chức ở Quảng Châu (Trung Quốc) từ năm 1925 đến năm 1927 được tập hợp lại và xuất bản thành sách Đường Kách mệnh năm 1927, khi bàn về “Tư cách của người cách mạng” đã chỉ rõ: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo” [1]. Như vậy, theo Người, tư cách của người cách mạng chân chính không có chỗ ngự trị cho bệnh “kiêu ngạo cộng sản”. Nguyễn Ái Quốc đã nhận diện rõ những biểu hiện của bệnh kiêu ngạo của cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) và tính nguy hại khôn lường của nó. Trong tác phẩm Người cách mạng mẫu mực, Người viết: “Không kiêu ngạo. Kẻ kiêu ngạo thì xa lánh nhân tâm quần chúng và tạo cho mình kẻ thù. Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình” [2]. Người giải thích rõ hơn: “Kiêu ngạo-Tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân gian, nói phô, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên. Không biết rằng, thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín của Chính phủ” [3]. Quan điểm này là sự cụ thể hóa và phát triển quan điểm của V.I.Lênin về “tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa”. Trong bài viết Chính sách kinh tế mới và Những nhiệm vụ của các ban giáo dục chính trị để báo cáo tại Đại hội II toàn Nga các ban giáo dục chính trị ngày 17-10-1921, V.I.Lênin đã vạch ra ba thứ kẻ thù chính-kẻ thù “nội xâm” mà những người cộng sản Nga phải kiên quyết đấu tranh tiêu diệt chúng. Một trong ba thứ kẻ thù ấy, kẻ thù mà V.I.Lênin nói đến đầu tiên, chính là “tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa”, tức “tưởng rằng chỉ bằng những pháp lệnh cộng sản là có thể giải quyết được tất cả mọi nhiệm vụ của mình”. V.I.Lênin cảnh báo, rằng “Không có gì nguy hại và tai hại đối với chủ nghĩa cộng sản bằng thói lên mặt ta đây là cộng sản” [4]; rằng “nếu một người cộng sản cứ tưởng rằng ta biết tất cả rồi… thì chính cái tâm trạng ngự trị trong chúng ta đó làm cho chúng ta thất bại” [5]. Trong tác phẩm Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn, Hồ Chí Minh một lần nữa cắt nghĩa bệnh kiêu ngạo và chỉ ra hậu quả khôn lường của nó: “Kiêu ngạo là: Khi công tác có ít nhiều thành tích, ít nhiều thắng lợi, thì lên mặt anh chị, lên mặt công thần. Rồi đối với việc học tập thì lười biếng, không ra sức nâng cao trình độ của mình. Trong công tác thì xem thường nhân dân, xa rời quần chúng. Ở trong Đảng thì không thực hiện chế độ dân chủ tập trung, không tuân theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo. Phớt kỷ luật và chính sách của Đảng và của Chính phủ. Khinh rẻ ý kiến của cấp dưới. Xem thường chỉ thị của cấp trên. Không muốn chịu kiểm tra, không muốn nghe phê bình. Thân với những kẻ xu nịnh tâng bốc mình. Xa tránh những người tính trực nói thẳng... Kết quả của bệnh kiêu ngạo là: Thoái bộ, xuống dốc, rồi đi đến bất mãn, hủ hóa” [6]. Đó là những CB, ĐV mà “số người ấy không hiểu sức mạnh của Đảng chính là ở sự tập trung thống nhất, ở kỷ luật sắt của Đảng. Họ ít gắn bó với tổ chức, không tin ở lực lượng và trí tuệ của tập thể. Họ sống và làm việc một cách riêng rẽ, không đoàn kết và hợp tác với người khác. Hễ có đôi chút hiểu biết, đôi chút thành công thì tự cao tự đại, vênh vang kiêu ngạo, tự cho mình tài giỏi hơn người. Ở cương vị phụ trách thì tự cho mình có quyền hơn hết thảy, định đoạt mọi việc; ở ngành nào, địa phương nào thì coi đó như một giang sơn riêng, không biết đến lợi ích toàn cục. Họ coi thường những quyết định của tổ chức, họ là những "ông quan liêu", chỉ thích dùng mệnh lệnh đối với đồng chí và nhân dân” [7]. Nguồn gốc bệnh “kiêu ngạo” từ đâu? Theo Hồ Chí Minh, bệnh “kiêu ngạo” của CB, ĐV không tự nhiên sinh ra, không thuộc về bản chất vốn có của họ, lại càng không phải bản chất của Đảng ta, nó do nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại. Về nguyên khách quan, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người cho rằng, “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa v.v.. Những thói xấu đó có đã lâu, nhất là trong 80 năm nô lệ. Những thói xấu đó, họ mang từ xã hội vào Đảng. Cũng như những người hàng ngày lội bùn, mà trên mình họ có hơi bùn, có vết bùn. Như thế thì có gì là kỳ quái? Vì lội bùn thì nhất định có hơi bùn. Cần phải tắm rửa lâu mới sạch. Trái lại, nếu lội bùn mà không có hơi bùn, mới thật là kỳ quái. Nếu trong Đảng ta, một đảng mới từ trong xã hội cũ bước ra, nếu nó hoàn toàn không có những người xấu, việc xấu như thế mới là kỳ quái chứ! Cố nhiên nói thế không phải là để tự bào chữa” [8]. Những tư tưởng “thâm căn cố đế” của xã hội cũ vẫn còn ăn sâu, bám chặt vào nhận thức, tư tưởng, hành vi của họ: “Nhưng chúng ta cũng phải nhận rằng: Ảnh hưởng xấu của xã hội cũ làm cho một số đảng viên và cán bộ (trong Đảng và ngoài Đảng) hủ hóa. Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó mà họ mắc những sai lầm: Kiêu ngạo, chưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân dân” [9]. Về nguyên nhân chủ quan, Người cho rằng, nó xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân mà ra: “Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu. Kềnh càng. Kiêu ngạo. Chậm chạp. Làm cho qua chuyện. Ham chuộng hình thức” [10]. Theo Người, nguyên nhân chủ yếu là “Đảng ta là một đảng có tính chất quần chúng, có hàng chục vạn đảng viên. Vì hoàn cảnh nước ta mà số đông đảng viên thuộc thành phần tiểu tư sản. Điều đó không có gì lạ. Dù vì ảnh hưởng của tư tưởng tư sản mà lúc đầu có đảng viên lập trường thiếu vững chắc, quan điểm còn mơ hồ, tư tưởng thiếu đúng đắn, nhưng được rèn luyện trong cách mạng và trong kháng chiến, nói chung đảng viên ta là tốt, trung thành với Đảng, với cách mạng…". Trong tác phẩm Đạo đức cách mạng , Người một lần nữa nhắc lại: “Nhưng vẫn có một số ít đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng. Họ không biết rằng: Có hoạt động thì khó mà hoàn toàn tránh khỏi sai lầm” [11]. Phương thức khắc phục bệnh “kiêu ngạo” Hồ Chí Minh đã chỉ ra những phương thức khắc phục bệnh này. Theo Người, để thủ tiêu được kẻ thù nguy hại và tai hại này, trước hết, CB, ĐV phải nhận thức rõ rằng không thể xây dựng chủ nghĩa cộng sản bằng việc chỉ dựa vào những kết luận cộng sản và chỉ thuộc lòng những khẩu hiệu cộng sản. Người yêu cầu: “Chúng ta phải cố gắng làm, cố gắng học, cố gắng tiến bộ mãi… Chúng ta phải tuyệt đối chống bệnh kiêu ngạo, phải luôn luôn khiêm tốn. Mọi công tác phải dựa hẳn vào quần chúng, hoan nghênh quần chúng đôn đốc và kiểm tra. Trong đoàn thể thì phải giữ vững dân chủ tập trung, tập thể lãnh đạo, phải mở rộng tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên trên… Khiêm tốn là một đạo đức mà mọi người cách mạng phải luôn luôn trau dồi” [12]. Theo Người, phải biết gạt bỏ thái độ huênh hoang cộng sản, tính tự phụ kiểu trí thức, “tính tự cao tự đại của người cộng sản”. Người đã từng cảnh báo thái độ tự cao tự đại cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến các đảng cách mạng đi đến chỗ tiêu vong. Người nhấn mạnh: “Phải khiêm tốn, thật thà… Không ai có thể tự xưng mình là giỏi lý luận. Do đó phải nêu cao tinh thần khiêm tốn, thật thà. Đào sâu suy nghĩ khi nghiên cứu các tác phẩm của Mác-Lênin, các bài giảng của các đồng chí giáo sư bạn, khiêm tốn học tập các đồng chí giáo sư bạn, cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” [13]. Phê phán thái độ tự cao tự đại, trong tác phẩm “Anh hùng” giả, anh hùng thật, Người chỉ ra: “Anh hùng giả là những người có độ lượng nhỏ bé, như cái vỏ hến, một giọt nước cũng đủ đầy tràn. Khi có chút ít thành tích, thì họ liền ra mặt “anh hùng”. Họ không hiểu rằng: Có thành tích đó là nhờ lực lượng của quần chúng, nhờ chính sách của đoàn thể. Họ tự cao tự đại, xa rời quần chúng, xa rời thực tế, không cầu tiến bộ nữa” [14]. Phải tăng cường mối liên hệ của Đảng, của CB, ĐV đối với quần chúng được Hồ Chí Minh coi là rất cần thiết. Trong tác phẩm Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội, Người yêu cầu: “Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai… Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan. Phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công vô tư”, và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Đó là đạo đức của người cộng sản” [15]. Đồng thời, phải ra sức học tập ở nhân dân: “Chẳng những phải lãnh đạo quần chúng, mà lại phải học hỏi quần chúng”. Câu đó nghĩa là gì? Nghĩa là: Người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình… Nghĩa là phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”[16]. Những lời căn dặn của Bác Hồ về phòng, chống bệnh “kiêu ngạo cộng sản” vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Chúng ta cần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống bệnh “kiêu ngạo cộng sản” trong quán triệt và thực hiện triệt để Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng và nhất là thực hiện Quy định “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương” theo tinh thần Hội nghị lần thứ 8, khóa XII; Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây là các nghị quyết, chỉ thị căn bản của Đảng ta, nếu được quán triệt và thực hiện tốt, thì chẳng những khắc phục có hiệu quả bệnh “kiêu ngạo cộng sản” của CB, ĐV, mà còn giúp xây dựng đội ngũ CB, ĐV “vừa hồng, vừa chuyên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới.

Phản đối Trung Quốc tung đội tàu áp đảo Ba Đầu, tạo quyền kiểm soát thực tế, ý định độc chiếm Biển Đông thành “ao nhà” dù không có cơ sở pháp lý.

 

Phản đối Trung Quốc tung đội tàu áp đảo Ba Đầu, tạo quyền kiểm soát thực tế, ý định độc chiếm Biển Đông thành “ao nhà” dù không có cơ sở pháp lý.

Theo Giảng viên Hoàng việt (Đại học luật TP.HCM), thành viên Ban nghiên cứu luật biển và hải đảo, liên đoàn Luật sư việt nam. Cuối tuần qua, khi 1 tàu sân bay Trung Quốc tiến vào Biển Đông và 1 nhóm tấn công viễn chinh của Hải quân Mỹ kết thúc tập trận, vùng biển này trở nên “bận rộn” khác thường.

Trong khi nhóm chiến hạm Mỹ do tàu sân bay USS Roosevelt dẫn đầu từ hướng Nam đi lên Biển Đông, nhóm tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc đi xuống vùng biển này từ hướng Bắc. Những tàu này xuất hiện vài ngày sau khi Philippines phản ứng gay gắt về sự hiện diện của hàng trăm tàu dân quân biển Trung Quốc ở đá Ba Đầu. 

Biển Đông nóng lên không chỉ bởi sự xuất hiện của các tàu chiến Mỹ, Trung mà còn bởi cuộc tập trận quân sự chung giữa Mỹ và Philippines.

Chỉ huy quân đội Philippines, Trung tướng Cirilito Sobejana cho biết, ngày 12/4, hơn 1.700 binh sĩ Mỹ và Philippines đã bắt đầu các cuộc tập trận quân sự kéo dài 2 tuần, ưu tiên là kiểm tra khả năng sẵn sàng trong việc ứng phó với các sự kiện như các cuộc tấn công của lực lượng cực đoan và thảm họa thiên nhiên. 

Theo tuyên bố của Lầu Năm Góc, cuộc tập trận diễn ra sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin hôm 11/4 đề xuất với Bộ trưởng Quốc phòng Philippines tăng cường các biện pháp nhằm làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ giữa quân đội 2 nước. Các đề xuất bao gồm cách thức để "nâng cao nhận thức về các mối đe dọa ở Biển Đông".

Ngày 9/4, ba tàu đổ bộ trong Nhóm tác chiến sẵn sàng đổ bộ USS Makin Island của Mỹ đã tập trận chung cùng nhóm tác chiếc tàu sân bay USS Theodore Roosevelt ở vùng biển quốc tế trong khu vực Biển Đông. Phó đô đốc Stewart Bateshansky thuộc Hải đội đổ bộ số 3 khẳng định, sự có mặt của nhóm tàu tác chiến sẵn sàng đổ bộ USS Makin Island cùng các đơn vị viễn chinh là để "ứng phó với mọi tình huống bất trắc, ngăn chặn hành động xâm lược".

"Vùng xám" để "cướp" đá Ba Đầu

Tình hình căng thẳng tại đá Ba Đầu vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt. Ngày 11/4, Bộ Quốc phòng Philippines cho biết vẫn còn 32 tàu dân quân Trung Quốc neo đậu dù họ liên tục yêu cầu Trung Quốc rút các tàu ra khỏi đây. Một số nhà phân tích báo động Bắc Kinh đang có dấu hiệu sử dụng chiến thuật vùng xám để “cướp” đá Ba Đầu.

Bắc Kinh từ lâu đã có ý định độc chiếm Biển Đông thành “ao nhà”. Dù không có cơ sở pháp lý nhưng Trung Quốc vẫn cố ý đưa ra cái gọi là yêu sách đường 9 đoạn, bao trùm gần hết Biển Đông.

Bị nhiều quốc gia phản đối, Trung Quốc sử dụng chiến lược “tằm ăn dâu”, bằng cách từng bước làm thay đổi nguyên trạng, như bồi đắp đảo nhân tạo và quân sự hóa các đảo mà nước này đã chiếm đóng bất hợp pháp ở Biển Đông trước đây.

Trung Quốc cũng tìm cách thay đổi nguyên trạng bằng cách thực hiện các chiến dịch có thể được miêu tả là “chiến tranh hỗn hợp”: Tiến hành các chiến dịch làm thay đổi nguyên trạng nhưng lại không bao giờ tiến đến ngưỡng có thể gây ra xung đột. Do đó, các nước trong khu vực khó có thể đơn phương đối đầu.

Bắc Kinh thường xuyên sử dụng lực lượng “dân quân biển” để tăng cường sự hiện diện bất hợp pháp của mình. Lực lượng này được cho là trực thuộc Quân ủy Trung ương Trung Quốc, nhưng lại không phải là Hải quân hay Hải cảnh.

Sử dụng lực lượng dân quân biển, đó cách là buộc các nước khác hoặc không làm gì hết, hoặc phải bước vào leo thang căng thẳng. Qua đó, Trung Quốc có thể cân nhắc hoặc tìm cách để biến Philippines thành bên điều lực lượng cảnh sát biển hay hải quân đến trước và như vậy phải chịu trách nhiệm về leo thang chính trị, thậm chí là leo thang quân sự. 

Chiến thuật này là sự lặp lại của những gì Trung Quốc đã làm trong lịch sử ở khu vực đảo Thị Tứ trong mấy năm gần đây. Họ đã sử dụng cả trăm tàu dân quân biển để bao vây khu vực này, không đánh bắt nhưng cứ neo đậu ở đó để “tạo quyền kiểm soát trên thực tế”, đồng thời xua đuổi tàu thuyền nước khác, đặc biệt là của các nước có tuyên bố chủ quyền trong khu vực.

Chiến thuật này đặc biệt hiệu quả đối với trường hợp bãi cạn Scarborough và trên thực tế, Trung Quốc đã chiếm đoạt thực thể này từ năm 2012.

Khi Philippines thắng kiện tại Tòa Trọng tài ở La Hay vào năm 2016, Tổng thống Rodrigo Duterte đã không gây sức ép với Trung Quốc. Điều này khiến ông bị những người theo chủ nghĩa dân tộc chỉ trích là đánh đổi lãnh thổ quốc gia để lấy những khoản đầu tư của Trung Quốc. Lập trường đó của ông Duterte đã buộc phải thay đổi sau khi các tàu Trung Quốc bao vây xung quanh khu vực đá Ba Đầu, khiến dư luận Philippines trở nên giận dữ.

Quốc tế hoá tình hình

Chiến lược mà Manila áp dụng gần đây là quốc tế hóa tình hình, truyền đạt rộng rãi nhất có thể bằng cách xác định những gì đang xảy ra, tố cáo những gì Trung Quốc đang làm và mời Mỹ cũng như những nước khác lên tiếng về tình hình trong khu vực.

Căng thẳng Trung Quốc - Philippines: Chiến thuật 'vùng xám' tái diễn

Để bày tỏ mối quan ngại và trấn an đồng minh, ngày 28/3, Mỹ ra tuyên bố khẳng định sẽ sát cánh với các đồng minh để duy trì trật tự quốc tế dựa trên các quy tắc.

Tuyên bố nhắc nhở Trung Quốc rằng, một cuộc tấn công vũ trang nhằm vào các lực lượng vũ trang, tàu thuyền hoặc máy bay của Philippines ở Thái Bình Dương, bao gồm cả Biển Đông, có thể buộc Washington phải can dự theo Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ - Philippines. 

Do đó, Mỹ nhắc nhở Trung Quốc rằng họ nên tôn trọng phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài theo UNCLOS, vì đây là phán quyết cuối cùng và có tính ràng buộc về mặt pháp lý đối với tất cả các bên.

Tương tự, Đại sứ Nhật Bản tại Philippines Koshikawa Kazuhiko cũng nhận xét rằng vấn đề Biển Đông liên quan trực tiếp đến hòa bình và ổn định, và là mối quan tâm của tất cả các bên.

Ông nói thêm: “Nhật Bản cực lực phản đối bất kỳ hành động nào làm gia tăng căng thẳng. Chúng tôi ủng hộ việc thực thi pháp quyền ở biển và hợp tác với cộng đồng quốc tế để bảo vệ các vùng biển tự do, rộng mở và hòa bình”. 

Đại sứ Australia tại Philippines Steven Robinson cũng bày tỏ mối quan ngại tương tự khi tuyên bố rằng các hành động gây bất ổn có thể khiến tình hình khu vực leo thang.

Ông nhắc nhở các bên liên quan rằng Australia ủng hộ một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương an toàn, cởi mở và bao trùm, và Biển Đông - một tuyến hàng hải quốc tế quan trọng - đang được quản lý theo các quy tắc và chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển. 

Ấn Độ trong nhiều trường hợp cũng đã thể hiện các quan điểm tương tự. 

Ngoại trưởng Philippines Teodoro Locsin Jr. ngày 10/4 viết trên Twitter rằng ông sẽ làm việc để bất kỳ cuộc tấn công nào nhằm vào tàu dân sự Philippines sẽ kích hoạt cơ chế viện trợ phòng thủ lẫn nhau. Bình luận của ông được đưa ra sau khi một nhóm thủy thủ Philippines nói rằng tuần trước thuyền của họ đã bị các tàu của Trung Quốc truy đuổi khi họ đến gần bãi Cỏ Mây thuộc Trường Sa.

Một số chuyên gia cho rằng để đối phó hiệu quả với những chiến thuật này của Trung Quốc, các quốc gia Đông Nam Á có chủ quyền tại Biển Đông như Philippines cần sớm đưa các vi phạm của Trung Quốc ra công luận quốc tế, đồng thời kiên trì đấu tranh ngay tại khu vực xảy ra xung đột.

Việc kiên trì duy trì sự hiện diện tại thực địa đóng một vai trò quan trọng. Mỹ và Philippines đã từng có kinh nghiệm đau thương trong việc để Trung Quốc thành công chiếm Scarborough năm 2012. 

 

Không thể xuyên tạc, bôi đen hình ảnh đất nước trong đổi mới, hội nhập quốc tế .

Lợi dụng internet, mạng xã hội và những mặt tiêu cực trong xã hội chưa được khắc phục, một số kẻ đã tán phát luận điệu, xuyên tạc bản chất của xã hội XHCN, bôi đen hình ảnh của đất nước Việt Nam. . Hơn 30 năm qua kể từ khi Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới (từ năm 1986 đến nay), nhìn tổng thể, công cuộc đổi mới của đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội-nhất là sau cuộc khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu (1985-1991). Từ tình trạng một quốc gia kém phát triển, lương thực không đủ… đến nay Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên: Chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Thế nhưng lợi dụng internet, mạng xã hội (MXH) và những mặt tiêu cực trong xã hội chưa được khắc phục, một số kẻ đã tán phát luận điệu, xuyên tạc bản chất của xã hội XHCN, bôi đen hình ảnh của đất nước Việt Nam. Về tình hình trong nước, họ cường điệu những khó khăn trên lĩnh vực kinh tế, rằng “nền kinh tế Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm”. Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng họ viết: Đó chỉ là “cuộc đấu đá giữa nhóm tham nhũng mới với nhóm tham nhũng cũ”. Về chế độ xã hội họ viết: Ở Việt Nam “các quyền của người, nhất là quyền tự do ngôn luận, quyền “tự do internet, MXH” bị xâm phạm bởi Luật An ninh mạng…". Tuy nhiên, nhìn từ thực tiễn có thể thấy, từ khi được hoàn toàn giải phóng đến nay, Việt Nam đã trải qua những thời kỳ đầy khó khăn, do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong thời kỳ trước đổi mới (1975-1985), dân tộc Việt Nam đã phải đấu tranh với cuộc bao vây cấm vận nghiệt ngã của Mỹ (từ năm 1975 đến năm 1994). Trong thời kỳ này, Mỹ đã cản trở các tổ chức tài chính quốc tế và các nước cho Việt Nam vay tín dụng… Đến năm 1994, Mỹ mới tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam vào tháng 7/1995. Cũng trong thời kỳ 1975-1985, những sai lầm của mô hình xây dựng xã hội theo mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) kiểu cũ khiến nền kinh tế đất nước trì trệ, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Là một quốc gia nông nghiệp, đất đai phì nhiêu, người dân cần cù, sáng tạo thế nhưng ở nhiều nơi đã xuất hiện tình trạng thiếu đói. Còn nhớ thời kỳ này, trong khi vết thương chiến tranh chưa được hàn gắn, thì dân tộc Việt Nam lại phải tiến hành hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Bước sang thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), mở đầu là Đại hội VI (năm 1986), dựa trên đổi mới tư duy lý luận-chính trị và kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện đường lối chính sách xây dựng xã hội theo mô hình mới của CNXH. Về chính trị, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong mô hình này, các quyền bình đẳng về dân sự và chính trị được bảo đảm (về phương diện pháp lý). Về kinh tế đó là nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần, cạnh tranh bình đẳng… theo định hướng XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Về đối ngoại, Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Như vậy có thể nói, trong mô hình mới của CNXH các quyền bình đẳng về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa đã được bảo đảm. Nét đặc sắc trong xây dựng xã hội theo mô hình mới của CHXH, đó là các quyền con người, quyền công dân được bảo đảm bằng pháp luật cũng như trên thực tế. Hiến pháp năm 2013 dành một chương (Chương II) quy định về đầy đủ về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Những quy định về quyền con người tại chương này hoàn toàn tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có những quyền được xem là “nhạy cảm” cũng đã được đưa vào văn kiện này. Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã gia nhập, ký kết, Quốc hội Việt Nam vừa qua đã sửa và xây dựng nhiều đạo luật mới. Đó là Luật Báo chí (năm 2016), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2013), Luật An ninh mạng (năm 2018)... Các quy định của những bộ luật trên đều nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và quyền con người. Việt Nam hòa mạng internet toàn cầu khá sớm so với nhiều quốc gia trong khu vực-từ ngày 1-12-1997. Theo tổ chức nghiên cứu về MXH quốc tế-Next Web, hiện nay Việt Nam nằm trong “Top 10 quốc gia có nhiều người dùng Facebook nhất thế giới” với 64 triệu người, chiếm 3% tổng số tài khoản Facebook toàn cầu. Trên lĩnh vực kinh tế, hình ảnh đất nước, cuộc sống của nhân dân đã được nâng cao đáng kể. Triển khai Chương trình 135 về phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, vùng xa… cho đến nay các xã, cụm dân cư đã có đủ cơ sở xã hội thiết yếu, như: Điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế. Tỷ lệ hộ đói, nghèo giảm nhanh, luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành và vượt mức mục tiêu Thiên niên kỷ về giảm nghèo trước 10 năm… Giai đoạn 1992-1998, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam bình quân mỗi năm giảm 2-3%. Đến hết năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam là 9,45%, vượt mục tiêu đề ra là 10%. Chính phủ Việt Nam đã xây dựng Định hướng giảm nghèo giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu giảm số hộ nghèo còn 4-5% vào năm 2020. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong hơn một thập kỷ và là một trong những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, có thể nói chưa nhiệm kỳ nào Đảng Cộng sản Việt Nam triển khai một chiến lược bài bản, quy mô như hiện nay. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh này là “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” và “phải làm đến cùng”; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Trong quan hệ quốc tế, vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao vượt bậc. Cho đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 13 quốc gia; Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Ấn Độ, Nga, Trung Quốc. Với Hoa Kỳ, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện. Trong thời kỳ đổi mới Việt Nam tham gia vào nhiều cơ quan quan trọng của tổ chức quốc tế rộng lớn: 1) Là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009; 2) thành viên Hội đồng Kinh tế-xã hội nhiệm kỳ 2016-2018; 3) Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền (nhiệm kỳ 2014-2016)… Ngày 25-5-2018 vừa qua, trong cuộc họp của Nhóm châu Á-Thái Bình Dương tại Liên hợp quốc, các nước trong khu vực đã nhất trí thông qua đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của nhóm vào vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (nhiệm kỳ 2020-2021-tại cuộc bầu cử sẽ được tổ chức vào tháng 6-2019). Là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã và đang tham gia vào lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. "Từ năm 2014, Việt Nam đã cử các sĩ quan tham gia các phái bộ gìn giữ hòa bình ở Cộng hòa Trung Phi và ở Nam Sudan. Mới đây, ngày 25-6-2018, Cục Hỗ trợ thực địa Liên hợp quốc đã công bố kết quả thanh sát địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại các nước thuộc ASEAN, theo đó Việt Nam cùng với 3 nước là Campuchia, Indonesia, Thái Lan được chọn làm địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình quốc tế luân phiên. Việt Nam cũng đang nỗ lực để triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 tại Nam Sudan”(1). Đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam không chỉ đã giành được quyền con người mà còn có những đóng góp to lớn trên lĩnh vực này từ tư tưởng lý luận cho đến thực tiễn. Công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế là một thời kỳ phát triển vượt bậc của Việt Nam về các phương diện, trong đó có quyền con người. Các quyền con người đều có những bước bảo đảm cao hơn, vị thế của dân tộc, đất nước được nâng cao hơn; được cộng đồng quốc tế trân trọng ghi nhận./.

Giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn để không tự “đánh mất mình” .

Đảng, Nhà nước ta luôn phát huy dân chủ, tiếp thu, lắng nghe ý kiến của các tầng lớp nhân dân, trong đó có các cán bộ hưu trí-những người có kinh nghiệm thực tiễn, đóng góp tích cực, hiệu quả vào nhiệm vụ xây dựng Đảng, xây dựng bộ máy Nhà nước. Tuy nhiên, thời gian qua, lợi dụng dân chủ, một số đảng viên, cán bộ hưu trí đã có những phát ngôn đi ngược lại quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam. Trước hết phải khẳng định rằng, đại đa số cán bộ nghỉ hưu, nghỉ công tác luôn giữ vững chí khí cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Nhiều cán bộ không những đóng góp tích cực khi còn công tác mà khi nghỉ hưu cũng luôn gương mẫu, đi đầu trong vận động, hướng dẫn, tổ chức nhân dân chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, trở thành tấm gương mẫu mực cho thế hệ trẻ học tập, noi theo. Đã có rất nhiều cán bộ dành những đồng lương hưu ít ỏi để giúp đỡ, hỗ trợ người nghèo khó; có những cựu chiến binh tự nguyện hiến hàng nghìn mét vuông đất để mở đường, xây dựng các công trình góp sức cùng nhân dân trong xây dựng nông thôn mới... Tuy nhiên, cũng thật đáng tiếc, vẫn còn một số cán bộ nghỉ hưu do những bức xúc cá nhân, hoặc không giữ được chí khí người cộng sản, nói, viết trái đường lối, quan điểm của Đảng, đi ngược lại lợi ích chính đáng của nhân dân. Có người thậm chí còn phủ nhận tất cả những nỗ lực, cố gắng không chỉ của dòng họ, gia đình mà còn là sự hy sinh xương máu của cả dân tộc. Thực tế, một số cán bộ khi đương chức thì không có ý kiến đóng góp thẳng thắn cho Đảng, cho đất nước, cho cơ quan nơi mình công tác, nhưng khi nghỉ hưu thì có biểu hiện phát ngôn tùy tiện, không mang tính xây dựng, thậm chí sử dụng những thông tin không chính thống để “đưa chuyện”… Một số đảng viên, cán bộ nghỉ hưu, một phần do thiếu thông tin, nên khi tham gia mạng xã hội đã có biểu hiện xa rời tổ chức, “luận bàn thế sự” một cách thiếu trách nhiệm, thiếu ý thức chính trị, thậm chí bị lôi kéo, kích động. Đáng lẽ, trước những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, với nền tảng lý luận và thực tiễn của mình, được tích lũy trong nhiều năm công tác, những cán bộ đó phải có lập luận sắc bén, phản biện quyết liệt với những thông tin xuyên tạc, sai lệch, kiểu “đánh bùn sang ao”, “vơ đũa cả nắm” nhằm kích động, chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, không những không làm được điều đó, một số cá nhân còn nhầm lẫn giữa hiện tượng và bản chất; dẫn đến bình luận chủ quan, hoặc chia sẻ thông tin sai lệch, phiến diện, thiếu tin cậy và không được kiểm chứng. Khi một số cán bộ nghỉ hưu không giữ được khí tiết của người cộng sản, phẩm chất cách mạng của người đảng viên, không giữ được “lòng trong, tâm sáng”, họ bị sa đà và đánh mất mình với những phát ngôn sai lệch. Họ là những người “khi rời tập thể… dễ tan vào đám đông”, “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong chính nội tại bản thân. Đáng buồn hơn, có những cán bộ sắp nghỉ hưu đã có biểu hiện “chợ chiều cuối khóa” cả trong thực hiện nhiệm vụ và chấp hành kỷ luật phát ngôn. Trong khi hầu hết cán bộ, đảng viên khi nghỉ hưu luôn kiên định với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; tự giác, gương mẫu chấp hành cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xác định dù nghỉ hưu vẫn tiếp tục đóng góp cho cách mạng, cho quê hương, xóm, phố… thực hiện “sống vui, sống khỏe, sống có ích”… thì vẫn còn một số cán bộ, đảng viên hưu trí đã có những phát ngôn không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng. Điều này đã được Đại hội XII của Đảng cảnh báo và chỉ rõ: “Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên”. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cũng chỉ rõ: “Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu”... Đặc biệt, lợi dụng tự do ngôn luận, một số cán bộ, đảng viên nghỉ hưu còn đăng đàn lôi kéo, hoặc bị lôi kéo kích động nói xấu Đảng, Nhà nước, làm những điều đi ngược lợi ích quốc gia, dân tộc. Họ vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân đáng chê trách trong thời đại công nghệ số. Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do, dân chủ của công dân, tổ chức; trong đó có quyền bày tỏ chính kiến, ý kiến, thậm chí cả những ý kiến chưa đồng thuận, trái chiều, nhưng phải bảo đảm tôn trọng sự thật, khách quan; đóng góp mang tính xây dựng và tuân thủ pháp luật. Đặc biệt với cán bộ, đảng viên dù đang đương chức hay đã nghỉ hưu, đều phải nói và làm theo đúng nghị quyết của Đảng; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; góp ý, kiến nghị đúng nơi, đúng chỗ, đúng quy định; trên cơ sở biện chứng, khoa học; tránh tình trạng sự việc, sự kiện đã qua, không còn phù hợp với hiện tại vẫn được một số người cố tình “xới lên”, thêu dệt, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang, dao động trong quần chúng nhân dân. Đó cũng chính là những biểu hiện không giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng của người cộng sản, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lợi dụng tự do, dân chủ để xuyên tạc, lôi kéo, kích động chống phá Đảng, Nhà nước. Đảng, Nhà nước ta luôn trân trọng, ghi nhận những đóng góp to lớn, tích cực của đội ngũ cán bộ nghỉ hưu trong xã hội. Những năm qua, hằng năm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều tổ chức hội nghị gặp mặt cán bộ lão thành, nguyên cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ở 3 miền Bắc, Trung, Nam, để báo cáo kết quả phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng; kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; cung cấp thông tin chính thống liên quan đến các vụ việc, vấn đề dư luận quan tâm. Các ban, ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương… trong cả nước cũng định kỳ và thường xuyên tổ chức gặp mặt, đối thoại, cung cấp thông tin chính thống cho các cán bộ hưu trí đang sinh sống tại địa bàn. Thông qua các kênh khác nhau, việc lấy ý kiến cán bộ, công chức đã nghỉ hưu được Đảng, Nhà nước và các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc… thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, cầu thị, trân trọng những đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm, trên tinh thần xây dựng của các đồng chí nguyên lãnh đạo các cấp và đội ngũ cán bộ hưu trí, coi đây là một kênh quan trọng để đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên hưu trí cần thấy rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong đóng góp, hiến kế tham gia xây dựng đất nước. Cần nắm chắc và thực hiện đúng các quy trình, thủ tục, cách thức tham gia đóng góp ý kiến, phát biểu trước diễn đàn; trong mọi tình huống phải phát biểu chính danh, đúng cách, nhìn nhận sự việc khách quan, đa chiều, tôn trọng sự thật; luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết. Mỗi ý kiến phát biểu, phát ngôn cần được cân nhắc thận trọng, thấy rõ cả tác động tích cực và tiêu cực; tác dụng và tác hại; khi phân tích, xem xét phải được đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể... Cùng với phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ hưu trí, công tác tuyên truyền, vận động cần được tiếp tục quan tâm hơn nữa; trong đó, việc cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính thống cho cán bộ hưu trí là hết sức cần thiết. Bởi thực tế, một số cán bộ nghỉ hưu phát ngôn chưa đúng là do thiếu thông tin, hoặc chưa tỉnh táo thanh lọc thông tin; bị lợi dụng… Nhiều cán bộ hưu trí, tuy đã “hưu” nhưng với “trí” sáng, “tâm” trong vẫn luôn nhiệt huyết đóng góp cho cách mạng và cộng đồng. Tiếng nói của các đồng chí có uy tín, có sức thuyết phục nhờ kiến thức, vị thế xã hội, kinh nghiệm và uy tín tích lũy sau nhiều năm công tác. Khi nghỉ hưu cũng là dịp để mỗi cán bộ có điều kiện, thời gian chiêm nghiệm, đúc kết thực tiễn và tiếp tục hiến kế cho Đảng, Nhà nước, đóng góp cho xã hội và cộng đồng. Điều đó rất đáng trân trọng. Tuy vậy, chúng ta không đồng tình khi có một số ít cán bộ hưu trí, do tác động của tuổi tác, sức khỏe, tâm lý; do thông tin, sự tiếp xúc xã hội hạn chế, nên đã có những hành động, lời nói thiếu nhất quán, không đúng đường lối, quan điểm của Đảng; đánh mất vai trò “cây cao bóng cả”; dễ bị đối tượng xấu lợi dụng, kích động, thậm chí phản bội lý tưởng, đi chệch con đường mà chính họ đã suốt cuộc đời cống hiến, hy sinh. Với mỗi người, niềm tin, lý tưởng, nhân sinh quan, lẽ sống là hết sức quan trọng. Đó cũng là bản lĩnh chính trị, là lời thề trước Đảng, là sự trung thành, kiên định với con đường đã chọn của mỗi cán bộ, đảng viên khi đang công tác cũng như khi nghỉ hưu./.