Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

30/4 – Ngày hội của non sông Việt Nam

 Chiến thắng 30/4/1975 là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Suốt 46 năm qua, ngày 30/4 hằng năm đã trở thành ngày hội non sông, hội tụ hào khí giang sơn, kết tinh bản sắc văn hóa dân tộc. Đường lối hòa hợp dân tộc, phát huy sức mạnh toàn dân chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước đã được Đảng ta thực hiện ngay sau ngày Nam Bắc liền một dải. Từ đó đến nay, Đảng và nhân dân ta luôn luôn coi kiều bào là bộ phận không thể tách rời của dân tộc. Càng ngày, những chủ trương, chính sách của Đảng và các hình thức hợp tác, kết nối của các cấp, các ngành, các địa phương càng tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi để kiều bào gắn kết với quê hương. Hàng triệu kiều bào yêu nước luôn sát cánh bên Đảng và đồng bào, chiến sĩ trong nước, đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại dịch Covid-19 trên phạm vi toàn cầu trở thành một “phép thử” của thời đại. Càng hoạn nạn, khó khăn, thực tiễn càng chứng minh, Đảng và nhân dân Việt Nam là một khối đoàn kết không thể tách rời. Tính ưu việt của một chế độ xã hội không phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế, sức mạnh quân sự, tốc độ phát triển của văn minh công nghiệp…, mà phụ thuộc vào chủ trương, vị thế, uy tín của Đảng cầm quyền. Trở thành quốc gia được chọn là hình mẫu của thế giới về hiệu quả phòng, chống đại dịch Covid-19, chúng ta đã chứng minh cho thế giới thấy rõ tính ưu việt, bản chất nhân văn của chế độ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Mọi đường lối, chủ trương, sách lược, giải pháp lãnh đạo đều hướng đến chăm lo quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân và kiều bào ta ở nước ngoài. Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác.

Hướng về kỷ niệm 46 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/42021), dù bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, song qua truyền thông và mạng xã hội, người dân Việt Nam, nhiều tổ chức, cá nhân kiều bào ở các quốc gia, vùng lãnh thổ đã hướng về quê hương bằng những chương trình hành động thiết thực. Bạn bè quốc tế cũng dành sự ngưỡng mộ, tình cảm tốt đẹp nhất cho Đảng, Chính phủ, quân và dân Việt Nam. Đó là những thanh âm, sắc màu thể hiện giá trị nhân văn, tinh thần đoàn kết, góp phần nâng cao niềm tin, vị thế đất nước trên trường quốc tế.

 

HÀNH ĐỘNG QUYẾT LIỆT CHỐNG ĐẠI DỊCH

 Với việc nhanh chóng nhập những lô vaccine đầu tiên và triển khai kế hoạch tiêm phòng Covid-19 đại trà nhanh hơn nhiều so với dự kiến, Việt Nam đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá rất cao về chiến lược phòng, chống dịch, sớm tạo tấm khiên vững chắc trong cuộc chiến với đại dịch. Việt Nam cũng đã ghi tên mình vào chiến dịch tiêm chủng lớn nhất lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, vừa qua lại xuất hiện những tiếng loa rè lạc lõng xuyên tạc những nỗ lực đầy tính nhân văn của Đảng, Nhà nước ta.

Chiến lược đúng đắn của Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh và tầm nhìn của một Đảng biết lo cho dân mà sinh thời Bác Hồ từng căn dặn: “...Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi”.

Khó khăn, thách thức do đại dịch Covid-19 đặt ra chưa từng có trong lịch sử nhân loại cũng như lịch sử Đảng ta. Đại hội XIII của Đảng cũng là lần đầu tiên, danh từ "Covid-19" xuất hiện trong văn kiện đại hội. Cũng chưa bao giờ tại một đại hội của Đảng diễn ra nhiều cuộc họp bên lề ngay tại nơi tổ chức đại hội để bàn giải pháp cấp bách khi làn sóng Covid-19 thứ 3 xuất hiện tại Việt Nam. Trong những quyết sách lớn được quyết định tại đại hội, có một quyết định kịp thời, đúng đắn, công bố ngay ở phiên bế mạc sáng 1-2. Quyết sách ấy đã trở thành một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm (nhiệm vụ thứ 2), được ghi trong Nghị quyết Đại hội XIII: "Tập trung kiểm soát đại dịch Covid-19, tiêm chủng đại trà vaccine Covid-19 cho cộng đồng...".
Có thể nói đây là một quyết định đúng đắn, mang tính lịch sử và đầy trách nhiệm, thể hiện bản lĩnh, tầm nhìn của một đảng biết lo cho dân khi mà trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, nhận thức về vaccine Covid-19 còn khác nhau. Với quyết định đó, Đảng, Nhà nước đã đưa Việt Nam vào danh sách không nhiều quốc gia trên thế giới sớm chủ trương tiêm vaccine Covid-19 đại trà cho toàn dân./.

TÍCH CỰC ĐẤU TRANH PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI PHỦ NHẬN TƯ TƯỞNG VÀ SỰ NGHIỆP CỦA HỒ CHÍ MINH TRÊN MẠNG INTERNET

Những năm gần đây, các phần tử cơ hội chính trị ráo riết đẩy mạnh việc truyền bá các quan điểm sai trái, phủ nhận tư tưởng và sự nghiệp của Hồ Chí Minh trên mạng Internet. Đặc biệt là từ sau khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang đẩy mạnh thực hiện việc Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và các phần tử chống đối cách mạng ngày càng tinh vi, thâm độc, xảo quyệt hơn.

Với những ưu thế vượt trội trong lưu giữ và chuyển tải thông tin, hình thức thiết kế hấp dẫn, lôi cuốn người xem, mạng Internet được các thế lực thù địch sử dụng như một trong những công cụ chủ yếu, đắc lực nhất phục vụ cho hoạt động chống phá cách mạng nước ta; đặc biệt chúng tìm mọi cách xúc phạm, hạ thấp uy tín để đi đến "hạ bệ" thần tượng Hồ Chí Minh, phủ nhận tư tưởng của Người với tư cách là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta.

 Thực hiện âm mưu thâm độc này, các thế lực thù địch đã xuyên tạc cả thân thế, sự nghiệp cũng như đạo đức và tư tưởng, phong cách của Hồ Chí Minh. Đây là những phương thức, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm trực tiếp tác động vào nhận thức, tâm tư, tình cảm của các đối tượng khai thác thông tin trên mạng Internet, làm xuất hiện tâm lý hoài nghi, hoang mang, dao động về giá trị của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, từng bước làm giảm sút niềm tin vào con đường mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Đấu tranh chống các quan điểm sai trái để bảo vệ tư tưởng và sự nghiệp của Hồ Chí Minh là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ này, một mặt phải không ngừng nghiên cứu phát triển, hoàn thiện và hiện thực hoá tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong đời sống. Mặt khác, phải vạch trần âm mưu, bản chất, thủ đoạn của các thế lực thù địch, có như vậy mới tạo được sức đề kháng cao cho các đối tượng tham gia khai thác thông tin trên mạng Internet.

 

 Hồ Chí Minh đến với V.L.Lênin

Khi Nguyễn Ái Quốc sang Nga thì V.I.Lênin đã mất, Người không gặp được V.I.Lênin. Nhưng trong quá trình nghiên cứu để tìm con đường cách mạng, Người phát hiện ra muốn cứu nước thì phải đến với V.I.Lênin.
Người đã nói về V.I.Lênin trong hàng loạt bài viết như: “Lênin và các dân tộc thuộc địa” (Báo Sự Thật 27.1.1924), “Lênin và các dân tộc phương Đông” (Báo Người cùng khổ 7.1924), “Lênin và phương Đông” (Báo Tiếng Còi 20.1.1926)... Trong cuốn sách “Đường cách mệnh”, Người đã viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”. Qua nghiên cứu, học tập và hoạt động thực tiễn, Người đã tìm thấy ở chủ nghĩa Lênin con đường đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin với tinh thần độc lập tự chủ và sáng tạo để nắm lấy cái linh hồn, cái bản chất cách mạng và khoa học ở học thuyết của Mác - Lênin, chứ không phải là những câu chữ máy móc, khô cứng. Trong các bài viết, bài nói của mình rất ít khi Hồ Chí Minh trích kinh điển Mác-Lênin, nhưng chủ nghĩa Mác-Lênin luôn là cơ sở lý luận để Người vận dụng vào đường lối cách mạng Việt Nam. Trong bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, không thấy có một từ nào trích dẫn Mác-Lênin. Trong bản Di chúc lịch sử Người để lại cũng không có một chữ nào nói về chủ nghĩa Mác-Lênin. Nhưng Người tự coi mình là học trò trung thành của Mác-Lênin, là người kiên trì mục tiêu XHCN “hơn tất cả mọi người”. Trong cuốn sách “Đường cách mệnh”, tài liệu đầu tiên Người viết để truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin cho những người cách mệnh Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã mở đầu bằng bài: “Tư cách của một người cách mệnh”, điều ít thấy ở những người khác khi làm công việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin cho cộng sự của mình.
Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập ở V.I.Lênin hoàn toàn không phải thụ động. Người cho rằng nếu không có tinh thần độc lập thì chỉ phụ thuộc vào người khác, nếu không làm chủ được mình thì chỉ theo đuôi người khác, nếu không sáng tạo thì chỉ có giáo điều, rập khuôn máy móc. Cho nên, Người đến với V.I.Lênin bằng cách tiếp cận phương pháp cách mạng và tư duy khoa học của ông, để từ đó rút ra cho mình những vấn đề cụ thể, phù hợp với cách mạng Việt Nam. Như là vấn đề Đảng, V.I.Lênin cho rằng sự ra đời của Đảng cộng sản là sản phẩm của chủ nghĩa Mác kết hợp với phong trào công nhân. Nhưng ở Việt Nam, sự ra đời của Đảng cộng sản theo Hồ Chí Minh là sản phẩm kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. V.I.Lênin cho rằng, Đảng cộng sản là Đảng của giai cấp công nhân và xem đó là tính chất cơ bản của Đảng, nhưng Hồ Chí Minh dựa vào thực tiễn Việt Nam, Người cho rằng Đảng là của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
Hay như vấn đề giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc, chủ nghĩa Mác-Lênin bao giờ cũng xác định giải phóng giai cấp là trước hết, nhưng ở Việt Nam theo Hồ Chí Minh muốn giải phóng giai cấp thì trước tiên phải giải phóng dân tộc đã; độc lập dân tộc chỉ có ý nghĩa khi mang lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân... Rõ ràng đây là vấn đề về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Hồ Chí Minh cho rằng, lý luận và thực tiễn phải gắn liền với nhau để lý luận không phải là lý luận suông, còn thực tiễn không phải là thực tiễn mù quáng. Từ lý luận Mác-Lênin được vận dụng vào thực tiễn Việt Nam và từ thực tiễn sinh động bổ sung cho lý luận, làm phong phú thêm cho lý luận. Nhờ vậy mới có đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với cách mạng Việt Nam để đánh thắng được thực dân, đế quốc, giành độc lập, thống nhất Tổ quốc và thực hiện công cuộc đổi mới.
Như vậy, đến với V.I.Lênin, theo Hồ Chí Minh là nắm vững những luận điểm cơ bản, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của học thuyết Lênin để phục vụ cho mục tiêu cách mạng của nước ta. Vấn đề là phương pháp tiếp cận phải được tiến hành với tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo. Chính V.I.Lênin nhờ sự sáng tạo và tự chủ khi vận dụng chủ nghĩa Mác vào nước Nga mà Cách mạng Tháng Mười Nga mới thành công. Cũng nhờ vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở một nước thuộc địa chưa hề có tiền lệ, mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Cũng chính chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đang được Đảng ta vận dụng sáng tạo từ thực tiễn phong phú của thời đại và của đất nước để đưa sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu to lớn như ngày nay.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác đối ngoại hiện nay

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một hệ thống các quan điểm toàn diện, “bao hàm nội dung rất rộng, liên quan đến toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta”. Trong đó, tư tưởng đối ngoại là một bộ phận quan trọng về chiến lược, sách lược cách mạng trong các vấn đề quốc tế, không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa thời đại to lớn.

Trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong công tác đối ngoại của Đảng càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Trong đó, chú trọng những nội dung chủ yếu sau:

Một là, giữ vững các quyền dân tộc cơ bản gắn với độc lập tự chủ, tự lực, tự cường. Ngay trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam theo tinh thần "tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Việc bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản phải gắn với độc lập tự chủ, tự lực, tự cường thì mới bền vững. Bác đã dặn: "Muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã"; "Muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm"; "Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dẫu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy". Người cũng đã đúc kết thành chân lý: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Và chân lý ấy, đến ngày nay vẫn là một yêu cầu thiết yếu trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. 

Hai là, tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Trong đó, tư tưởng chủ đạo là độc lập tự chủ, tự lực, tự cường gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, "cái gốc, cái điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh". Người nhấn mạnh: "Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn". Bác Hồ cũng đã chú trọng xây dựng và phát huy sức mạnh của công tác đối ngoại nhân dân, nhờ đó đã vận động được nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Người đã nêu rõ: "Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới...".

Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục tăng cường thế và lực, phát huy sức mạnh của dân tộc theo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, bao gồm cả sức mạnh vật chất và tinh thần; cả vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực và các giá trị lịch sử, truyền thống, văn hóa, lòng yêu nước, tinh thần cần cù lao động và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam... Đồng thời, Đảng ta chủ trương kết hợp sức mạnh đó với sức mạnh thời đại là các trào lưu tiến bộ chính trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng... Sau đại dịch Covid - 19, Đảng và Chính phủ đang tận dụng tối đa khả năng các nước và tập đoàn kinh tế lớn chuyển hướng tới thị trường Việt Nam; đồng thời, tiếp tục thu hút nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự phát triển đất nước. 

Ba là, tư tưởng yêu chuộng hoà bình, chống chiến tranh xâm lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định thực hiện mục tiêu cao cả nhất của cách mạng là hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, chống chiến tranh xâm lược với tinh thần: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Trong khi kiên quyết giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự xâm lược, đô hộ của ngoại bang, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì đường lối hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước, trước hết là các nước lớn và các nước láng giềng, qua đó đã thu hút được sự đoàn kết và ủng hộ của đông đảo nhân dân trên thế giới, ngay cả nhân dân của các nước xâm lược từ bản xứ.

Trong bối cảnh hiện nay, xu hướng chung của thế giới và khu vực vẫn là hòa bình, ổn định, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển. Tuy nhiên, tình hình thế giới có những thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường với những bất ổn như xung đột ở Trung Đông, châu Phi, chủ nghĩa khủng bố, cạnh tranh chiến lược giữa các nước, chủ nghĩa đơn phương, chính trị cường quyền, thiếu tôn trọng luật pháp quốc tế, khiến thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống, đòi hỏi Đảng và Chính phủ ta phải vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các đối sách ngoại giao và hợp tác quốc tế.

Bốn là, tư tưởng hòa hiếu, thêm bạn bớt thù. Từ hoàn cảnh cách mạng, có lúc phải đối phó với nhiều đối thủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật phương châm"... làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết". Bác Hồ và Đảng ta phân biệt rõ bạn, thù, bạn gần, bạn xa, bạn lâu dài, bạn nhất thời, tìm cách giảm bớt kẻ thù, để tập trung đấu tranh với kẻ thù chính. Ngay khi còn trong nhà tù ở Trung Quốc (1942-1943), Bác Hồ đã bày tỏ đoàn kết với phong trào chống thực dân của Ấn Độ. Năm 1944, Người đích thân đưa Trung úy phi công W. Shaw đi Côn Minh trao trả cho Mỹ, qua đó để Mỹ hiểu cuộc chiến đấu của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh. Người cũng giáo dục nhân dân ta phân biệt rõ bạn, thù, phân biệt thực dân Pháp và đế quốc Mỹ với nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ để tranh thủ sự đoàn kết và ủng hộ của họ, cô lập và chĩa mũi nhọn đấu tranh vào thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương tiếp tục kiên trì nguyên tắc giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, đồng thời nêu cao tinh thần hòa hiếu với tất cả các nước, đặc biệt các nước lớn và láng giềng; vận dụng phương châm mà Bác Hồ đã chỉ đạo là "biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự", cố gắng không để bùng phát những vấn đề gây cấn, bất lợi trong quan hệ, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển của ta. 

Do quan hệ quốc tế phức tạp, đa chiều, lợi ích các quốc gia, dân tộc nhiều khi đan xen hoặc đối lập, Đảng ta đã có cách nhìn nhận biện chứng với phương châm "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai"; xác định đồng minh, đối thủ là bộ phận quan trọng trong sách lược cách mạng, giúp xử lý hiệu quả các mâu thuẫn, thu hút sự ủng hộ của bạn bè và cô lập kẻ thù. Tính biện chứng còn được thể hiện ở chỗ xác định rõ các khái niệm "đối tác", "đối tượng" nhằm phân biệt rõ "đối tác" cần hợp tác và "đối tượng" cần đấu tranh trong từng trường hợp cụ thể. Đảng và Nhà nước ta cũng đã thực hiện tốt các chủ trương từ "thêm bạn, bớt thù" trước đây đến "Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển". Tư tưởng đó đã phát huy hiệu quả, đưa vai trò và vị thế quốc tế của Việt Nam lên một tầm cao mới.

Năm là, tư tưởng mở cửa và hợp tác quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấu hiểu tầm quan trọng của việc mở cửa và hợp tác quốc tế, ngay đầu tháng 12-1946, trong Lời kêu gọi gửi Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đối với các nước dân chủ, Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực"; đón nhận đầu tư của các nhà tư bản và công nghệ nước ngoài; mở rộng các hải cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc...

Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta đã đề ra và kiên trì thực hiện chủ trương mở cửa và hợp tác quốc tế. Nghị quyết số 22- NQ/TW (10-4-2013) của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, "Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" và Nghị quyết số 06-NQ/TW (5-11-2016) của Ban Chấp hành TƯ khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng, tham gia hàng chục hiệp định kinh tế và FTA thế hệ mới cả song phương, khu vực và đa phương thể hiện rõ chủ trương lớn của Đảng về công tác đối ngoại.

Quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh cả về tư duy và thực tiễn, đã chuyển mạnh từ phạm vi "hội nhập kinh tế" sang "hội nhập toàn diện" với các nội dung chủ yếu là: hội nhập về kinh tế, chính trị, quốc phòng-an ninh, văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác như lao động, y tế, thể thao... Trong hợp tác chính trị và quốc phòng - an ninh, Việt Nam đã tích cực tham gia các cơ chế như Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN (APSC), Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN (TAC, 1976), Hiệp ước Khu vực phi vũ khí hạt nhân Đông Nam Á (SEANWFZ, 1995) cũng như các cơ chế Đối thoại về an ninh như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS).

Sáu là, tư tưởng "Ngoại giao là một mặt trận". Lịch sử đấu tranh của dân tộc ta chống các kẻ thù xâm lược mạnh hơn gấp nhiều lần đã hình thành nên nghệ thuật kết hợp giữa ba hình thức đấu tranh: chính trị, quân sự và ngoại giao. Trong đó, ngoại giao là một mặt trận, là một trong những nội dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh", và cũng theo quan điểm của Người: "Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập". Trên thực tế, đấu tranh ngoại giao khôn khéo có thể tránh được xung đột hay chiến tranh hoặc có thể "lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh "ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng" và "có thể thắng trước kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần".  

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, nước ta đã duy trì được hòa bình, ổn định, nguy cơ chiến tranh bị đẩy lùi nhưng công tác đối ngoại vẫn có vai trò to lớn trong xử lý các vấn đề quốc tế. Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đề cao tầm quan trọng của mặt trận đối ngoại, kết hợp chặt với mặt trận chính trị và bảo vệ quốc phòng - an ninh, tạo sức mạnh tổng hợp, giữ gìn hòa bình, ổn định và thúc đẩy hợp tác phát triển. Mặt trận đối ngoại luôn được triển khai chủ động, tích cực và toàn diện gồm ngoại giao chính trị, ngoại giao quốc phòng - an ninh, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa. Trong đó, ngoại giao cùng với quốc phòng, an ninh "tạo thành thế chân kiềng vững chắc, tiếp tục đóng góp chủ động, tích cực vào việc bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước còn chưa nguy, phục vụ thiết thực các lợi ích an ninh, phát triển, nâng cao vị thế đất nước".

Bảy là, tư tưởng "dĩ bất biến ứng vạn biến" như một phương pháp, phong cách và nghệ thuật đối ngoại của Hồ Chí Minh. Truyền thống đấu tranh ngoại giao của cha ông ta đã hình thành một phương cách ứng xử kiên trì về nguyên tắc nhưng linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo về sách lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: "Mục đích bất di bất dịch của chúng ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt". Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì giữ vững mục tiêu cách mạng, đồng thời ứng phó linh hoạt, phù hợp với mọi sự biến chuyển nhanh chóng và khó lường của tình hình, tương quan và tập hợp lực lượng, ý đồ của các nước lớn… 

Trong bối cảnh mới, việc vận dụng tư tưởng "dĩ bất biến ứng vạn biến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là một yêu cầu quan trọng. Cái "bất biến" vẫn là lợi ích quốc gia, dân tộc, mà cốt lõi là độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và biển đảo của Tổ quốc, chế độ XHCN, vai trò và quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cái "vạn biến" là sự biến chuyển nhanh chóng, khó lường của tình hình, sự điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước, của tương quan và tập hợp lực lượng, sự chuyển hóa của "đối tác", "đối tượng"… Đảng và Nhà nước ta đã và đang kiên trì nguyên tắc bất biến là "thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển", đồng thời tiếp tục thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, xác định đúng đắn một cách biện chứng về "đối tác" và "đối tượng" trong từng vấn đề thuộc lợi ích quốc gia, dân tộc để kịp thời đề ra những chính sách, biện pháp hợp tác và đấu tranh phù hợp và hiệu quả.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đạt được những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, giải phóng và thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu vĩ đại của dân tộc có phần đóng góp hết sức quan trọng của công tác ngoại giao. Ngoại giao Việt Nam đã luôn đồng hành cùng dân tộc trong mọi giai đoạn cách mạng. Ngày nay, trong bối cảnh tình hình mới, ngoại giao Việt Nam tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, đi tiên phong kiến tạo môi trường hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác và kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại nhằm phục vụ hiệu quả nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam./.

 

 

 PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC TRUNG THÀNH CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN TRONG DI SẢN LÝ LUẬN CỦA V.I. LÊNIN VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG

Phẩm chất trung thành của những người đảng viên cộng sản, theo V. I. Lênin được thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, đó là lòng trung thành tuyệt đối với Đảng. Trong “Thư gửi P. A. Dalutxơki, A. A. Xôntxơ và tất cả các ủy viên Bộ Chính trị về vấn đề thanh đảng và những điều kiện kết nạp đảng” và “Những nhận xét về Dự thảo Nghị quyết của Hội nghị XI Đảng Cộng sản Nga về việc thanh đảng”, khi kết luận về vấn đề thời gian dự bị đối với đảng viên mới, V. I. Lênin cho rằng: “Trong những trường hợp đặc biệt, thời gian dự bị này có thể giảm xuống một nửa, khi mà lòng trung thành với đảng và tinh thần kiên cường cộng sản đã được chứng minh đầy đủ…”.
Thứ 2, đó là lòng trung thành với cách mạng. Lòng trung thành của người cộng sản với sự nghiệp cách mạng của Đảng là một trong những điều kiện cơ bản để thực hành và giữ vững “kỷ luật sắt” của Đảng. Khi lý giải “cái gì làm cho kỷ luật của đảng cách mạng của giai cấp vô sản được vững chắc?” V. I. Lênin nhấn mạnh: “…đó là sự giác ngộ của đội tiên phong của giai cấp vô sản và lòng trung thành của nó đối với cách mạng,…”.
Thứ ba, đó là trung thành với sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động. Đây là một trong những điều kiện bắt buộc kết nạp Đảng. Trong Diễn văn Bế mạc Đại hội IX Đảng Cộng sản Nga, V. I. Lênin yêu cầu: “Chỉ có những người thực sự trung thành với sự nghiệp giải phóng của nhân dân lao động, mới có thể gia nhập đảng được”.
Trân trọng và tự hào!

Đừng làm tiêu tan nhuệ khí, tinh thần xã hội bằng con mắt hẹp hòi

Văn nghệ sĩ xưa nay vẫn được người đời trân trọng, tôn vinh bởi tài năng, trí tuệ của họ thường đầy đặn, sung mãn hơn công chúng. Những giá trị văn hóa, nghệ thuật, tinh thần… mà đội ngũ văn nghệ sĩ mang lại cho đất nước, cho nhân dân luôn được đón nhận nhiệt thành và là một trong những đòn bẩy, động lực thúc đẩy xã hội phát triển tiến bộ, văn minh. Tuy nhiên, cũng có một số ít văn nghệ sĩ hoặc là đang tự ảo tưởng về “tài năng xuất chúng” của mình, hoặc muốn “nổi đình nổi đám” trong thiên hạ bằng những tác phẩm, lời nói, diễn ngôn đi ngược lại sự nghiệp chung và không phù hợp với các giá trị chân-thiện-mỹ. Trước bao biến đổi thăng trầm của thời cuộc, phần đông văn nghệ sĩ nước nhà vẫn nặng lòng với quê hương, Tổ quốc, thủy chung với cuộc sống cần lao của quần chúng lao động, tìm mọi cách để sáng tạo, cống hiến, quảng bá các tác phẩm của mình để phục vụ đông đảo công chúng và góp phần kiến tạo đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú trong xã hội. Một bộ phận văn nghệ sĩ trẻ dù sinh ra sau chiến tranh, ít trải nghiệm với những ngày tháng gian khổ của đất nước, nhưng với tinh thần trân trọng lịch sử, nặng tình ân nghĩa với thế hệ cha anh, họ đã nỗ lực tìm tòi sáng tạo để cho ra đời những tác phẩm mới với giá trị nội dung tư tưởng, nghệ thuật sâu sắc về đề tài chiến tranh cách mạng. Vượt qua cái tôi của cá nhân đơn lẻ, nhiều văn nghệ sĩ đã tự nguyện hòa vào cộng đồng, chung sức đồng lòng với cả dân tộc trong công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một số văn nghệ sĩ đang tự đánh mất những phẩm giá thiên lương của kẻ sĩ chân chính và tự bào mòn những sứ mệnh cao cả của văn học nghệ thuật thông qua những tác phẩm nghèo nàn về cảm xúc và giá trị nội dung, nhưng lại ẩn chứa những thông điệp bất lợi cho sự nghiệp củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Tận dụng internet và mạng xã hội, có văn nghệ sĩ mải mê chạy theo những biểu hiện a dua không đúng lúc, đúng chỗ, cổ súy cho một số quan niệm, suy nghĩ cực đoan không mang lại lợi ích gì cho công cuộc bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc và xây dựng nước nhà. Cùng với việc một số kẻ sĩ cố tình “đánh bóng” tên tuổi của mình bằng những phát ngôn “sốc”, thiếu chuẩn mực làm ồn ào dư luận, thì cũng xuất hiện một vài trang blog của văn nghệ sĩ có những trang viết thể hiện một cái nhìn phiến diện về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước. Những bài viết này có mô típ chung, đó là từ một vài vụ việc tiêu cực lẻ tẻ xảy ra trong xã hội, họ “mổ xẻ, khoét sâu” theo thiên kiến chủ quan khiến vấn đề trở nên phức tạp, trầm trọng hơn. Thậm chí, có người cố tình bóc tách vấn đề theo kiểu “bới bèo ra bọ”, “chẻ sợi tóc làm tư”, mà thực chất là có ít suýt ra nhiều, bé xé ra to. Những bài viết như thế, dù với bất cứ động cơ, lý do gì đều không mang lại hiệu ứng tích cực cho công chúng, mà ngược lại, càng gây thêm rối rắm thông tin, nhiễu nhương dư luận xã hội. Đáng nói hơn, đã xuất hiện những bài viết, công trình, tác phẩm của một số ít văn nghệ sĩ có nội dung phủ nhận thành tựu cách mạng vĩ đại của dân tộc đã phải đổi bằng bao nước mắt, xương máu của các thế hệ cha anh. Cá biệt, có người đã “giải thiêng” lịch sử bằng cách hạ bệ thần tượng, xúc phạm danh nhân, báng bổ cả những giá trị tâm linh thiêng liêng của cộng đồng. Tiếc thay, trong số chủ nhân của những trang viết đó, có người từng một thời nổi danh trên văn đàn và được công chúng ghi nhận. Thế nên, những bài viết của họ xuất hiện thường dễ lôi kéo độc giả, nhất là những người trẻ vốn ưa khám phá, thừa tính tò mò, hiếu kỳ, nhưng lại thiếu nhãn quan chính trị đúng đắn. Trong tinh thần đổi mới của toàn xã hội hơn 30 năm qua, các văn nghệ sĩ cũng được “tắm mình” trong bầu không khí sáng tạo mà Đảng, Nhà nước đã kiến tạo và khuyến khích những người cầm bút không ngừng nỗ lực tìm tòi, cống hiến cho nhân dân và đất nước bằng những tác phẩm tô đẹp thêm cuộc sống và góp phần làm giàu giá trị văn hóa cho con người. Nhưng mọi sự sáng tạo (trong viết văn, diễn ngôn hay phát ngôn) của văn nghệ sĩ cũng rất cần được thể hiện từ lương tâm, trách nhiệm, bổn phận của người công dân. Vì văn nghệ sĩ trước hết cũng là một công dân, nên phải ứng xử với tư cách, trách nhiệm công dân đối với xã hội và Nhà nước. Cố tình không hiểu hay xa rời điều đó, văn nghệ sĩ rất dễ tự tách mình ra khỏi số đông cộng đồng và đôi khi trở nên lạc lõng, thậm chí đối lập với đồng loại. Trong quá trình xã hội phát triển, những mặt đối lập nhau như tốt-xấu, thiện-ác, văn minh-lạc hậu, cao thượng-đê hèn… luôn tồn tại song hành với nhau, nhưng xu hướng mặt tích cực bao giờ cũng chi phối, lấn át mặt tiêu cực. Là những người nhạy cảm, dễ nắm bắt các vấn đề của xã hội, điều quan trọng là các văn nghệ sĩ khi “vạch mặt, chỉ tên” cái xấu, cái ác trong tác phẩm của mình cần phải được thể hiện bằng một tấm lòng trong sáng, cái nhìn nghĩa hiệp, nhân văn, thì không chỉ làm cho “đứa con tinh thần” của mình lành lặn, mà còn góp phần bồi bổ những giá trị tốt đẹp cho công chúng và làm giàu thêm đời sống văn hóa xã hội. Ngược lại, khi văn nghệ sĩ lợi dụng văn chương, nghệ thuật để “cài cắm” vào đó những cái nhìn thiên kiến, suy nghĩ lệch lạc, tâm trạng u ám thì không những làm chùng bầu không khí xã hội, dễ làm lòng dân ly tán, mà khiến cái xấu, cái ác có cơ hội nhởn nhơ, lộng hành! Là một trong những bộ phận tinh hoa của xã hội, văn nghệ sĩ xứng đáng được gọi là “người của công chúng”. Đặc biệt, đối với những văn nghệ sĩ đã nổi tiếng, phàm một câu văn, diễn ngôn, lời nói họ phát ra đều có thể trở thành tâm điểm chú ý của công chúng và thu hút sự bàn tán của dư luận xã hội. Thế nhưng, những người am tường chữ nghĩa, văn chương đừng quên rằng, khi nói đúng lúc, đúng chỗ, đúng tầm thì đó là “Lời nói gói vàng”. Còn khi gặp đâu nói đấy, nói cho sướng mồm, nói cho bõ tức, hả giận mà cái tức, cái giận đó không có cơ sở thì có thể kéo theo biết bao hệ lụy khôn lường. Dân gian có câu: “Trăm năm bia đá thì mòn/Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” với hàm ý khẳng định sức sống trường tồn, vượt thời gian của lời nói, nhưng cũng là lời khuyên răn, cảnh báo về tác hại lâu dài của những “lời nói, đọi máu” đối với cuộc sống, con người và xã hội. Thế nên, trước khi đặt bút viết hay phát ngôn về bất cứ điều gì, nhất là những vấn đề thuộc về lịch sử, chính trị, xã hội liên quan đến số phận của cả cộng đồng, dân tộc, mỗi văn nghệ sĩ rất cần bình tĩnh, công tâm, tỉnh táo phân biệt đúng-sai, phải-trái, thật-giả, hiện tượng-bản chất để không xuyên tạc, xét lại lịch sử, nhạo báng tiền nhân, cũng như không bôi đen hình ảnh, diện mạo quê hương xứ sở-cái nôi đã sinh ra, đùm bọc, nuôi dưỡng và tạo dựng sự nghiệp, tên tuổi cho mình. Lịch sử minh chứng rằng, chỉ có những văn nghệ sĩ biết kết hợp, gắn bó hài hoà giữa tài năng và đức độ, giữa bản lĩnh và phong cách, giữa ý chí và niềm tin, giữa tình cảm, trách nhiệm cá nhân và bổn phận, nghĩa vụ công dân trong cuộc sống và lao động sáng tạo, mới có chỗ đứng vững trong lòng công chúng. Hàng nghìn năm qua, dân tộc ta đã sản sinh ra bao văn nghệ sĩ có tâm, tầm, tài và đã gắn bó, trăn trở, đau đáu với số phận dân tộc; sáng tạo ra những công trình, tác phẩm văn chương, nghệ thuật có giá trị và có những câu lập ngôn làm lay động lòng người bao thế hệ nên họ sống bất tử cùng thời gian. Và theo dòng chảy tiến bộ của xã hội, lịch sử cũng sẽ nghiêm khắc đào thải những ai đó dù có ít nhiều tài năng văn chương, nghệ thuật, nhưng lòng không thành, tâm không sáng, vô thủy vô chung và đi ngược lại lợi ích của dân tộc và đồng bào mình.

Dễ đánh mất mình từ “cái tôi” nhỏ nhoi, thiên kiến

Trước bao biến đổi thăng trầm của thời cuộc, phần đông văn nghệ sĩ nước nhà vẫn nặng lòng với quê hương, Tổ quốc, thủy chung với cuộc sống cần lao của quần chúng lao động, tìm mọi cách để sáng tạo, cống hiến, quảng bá các tác phẩm của mình để phục vụ đông đảo công chúng và góp phần kiến tạo đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú trong xã hội. Một bộ phận văn nghệ sĩ trẻ dù sinh ra sau chiến tranh, ít trải nghiệm với những ngày tháng gian khổ của đất nước, nhưng với tinh thần trân trọng lịch sử, nặng tình ân nghĩa với thế hệ cha anh, họ đã nỗ lực tìm tòi sáng tạo để cho ra đời những tác phẩm mới với giá trị nội dung tư tưởng, nghệ thuật sâu sắc về đề tài chiến tranh cách mạng. Vượt qua cái tôi của cá nhân đơn lẻ, nhiều văn nghệ sĩ đã tự nguyện hòa vào cộng đồng, chung sức đồng lòng với cả dân tộc trong công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một số văn nghệ sĩ đang tự đánh mất những phẩm giá thiên lương của kẻ sĩ chân chính và tự bào mòn những sứ mệnh cao cả của văn học nghệ thuật thông qua những tác phẩm nghèo nàn về cảm xúc và giá trị nội dung, nhưng lại ẩn chứa những thông điệp bất lợi cho sự nghiệp củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Tận dụng internet và mạng xã hội, có văn nghệ sĩ mải mê chạy theo những biểu hiện a dua không đúng lúc, đúng chỗ, cổ súy cho một số quan niệm, suy nghĩ cực đoan không mang lại lợi ích gì cho công cuộc bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc và xây dựng nước nhà. Cùng với việc một số kẻ sĩ cố tình “đánh bóng” tên tuổi của mình bằng những phát ngôn “sốc”, thiếu chuẩn mực làm ồn ào dư luận, thì cũng xuất hiện một vài trang blog của văn nghệ sĩ có những trang viết thể hiện một cái nhìn phiến diện về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước. Những bài viết này có mô típ chung, đó là từ một vài vụ việc tiêu cực lẻ tẻ xảy ra trong xã hội, họ “mổ xẻ, khoét sâu” theo thiên kiến chủ quan khiến vấn đề trở nên phức tạp, trầm trọng hơn. Thậm chí, có người cố tình bóc tách vấn đề theo kiểu “bới bèo ra bọ”, “chẻ sợi tóc làm tư”, mà thực chất là có ít suýt ra nhiều, bé xé ra to. Những bài viết như thế, dù với bất cứ động cơ, lý do gì đều không mang lại hiệu ứng tích cực cho công chúng, mà ngược lại, càng gây thêm rối rắm thông tin, nhiễu nhương dư luận xã hội. Đáng nói hơn, đã xuất hiện những bài viết, công trình, tác phẩm của một số ít văn nghệ sĩ có nội dung phủ nhận thành tựu cách mạng vĩ đại của dân tộc đã phải đổi bằng bao nước mắt, xương máu của các thế hệ cha anh. Cá biệt, có người đã “giải thiêng” lịch sử bằng cách hạ bệ thần tượng, xúc phạm danh nhân, báng bổ cả những giá trị tâm linh thiêng liêng của cộng đồng. Tiếc thay, trong số chủ nhân của những trang viết đó, có người từng một thời nổi danh trên văn đàn và được công chúng ghi nhận. Thế nên, những bài viết của họ xuất hiện thường dễ lôi kéo độc giả, nhất là những người trẻ vốn ưa khám phá, thừa tính tò mò, hiếu kỳ, nhưng lại thiếu nhãn quan chính trị đúng đắn.

Hãy “vạch mặt, chỉ tên” cái xấu, cái ác bằng cái nhìn trong sáng, nghĩa hiệp

Trong tinh thần đổi mới của toàn xã hội hơn 30 năm qua, các văn nghệ sĩ cũng được “tắm mình” trong bầu không khí sáng tạo mà Đảng, Nhà nước đã kiến tạo và khuyến khích những người cầm bút không ngừng nỗ lực tìm tòi, cống hiến cho nhân dân và đất nước bằng những tác phẩm tô đẹp thêm cuộc sống và góp phần làm giàu giá trị văn hóa cho con người. Nhưng mọi sự sáng tạo (trong viết văn, diễn ngôn hay phát ngôn) của văn nghệ sĩ cũng rất cần được thể hiện từ lương tâm, trách nhiệm, bổn phận của người công dân. Vì văn nghệ sĩ trước hết cũng là một công dân, nên phải ứng xử với tư cách, trách nhiệm công dân đối với xã hội và Nhà nước. Cố tình không hiểu hay xa rời điều đó, văn nghệ sĩ rất dễ tự tách mình ra khỏi số đông cộng đồng và đôi khi trở nên lạc lõng, thậm chí đối lập với đồng loại. Trong quá trình xã hội phát triển, những mặt đối lập nhau như tốt-xấu, thiện-ác, văn minh-lạc hậu, cao thượng-đê hèn… luôn tồn tại song hành với nhau, nhưng xu hướng mặt tích cực bao giờ cũng chi phối, lấn át mặt tiêu cực. Là những người nhạy cảm, dễ nắm bắt các vấn đề của xã hội, điều quan trọng là các văn nghệ sĩ khi “vạch mặt, chỉ tên” cái xấu, cái ác trong tác phẩm của mình cần phải được thể hiện bằng một tấm lòng trong sáng, cái nhìn nghĩa hiệp, nhân văn, thì không chỉ làm cho “đứa con tinh thần” của mình lành lặn, mà còn góp phần bồi bổ những giá trị tốt đẹp cho công chúng và làm giàu thêm đời sống văn hóa xã hội. Ngược lại, khi văn nghệ sĩ lợi dụng văn chương, nghệ thuật để “cài cắm” vào đó những cái nhìn thiên kiến, suy nghĩ lệch lạc, tâm trạng u ám thì không những làm chùng bầu không khí xã hội, dễ làm lòng dân ly tán, mà khiến cái xấu, cái ác có cơ hội nhởn nhơ, lộng hành! Là một trong những bộ phận tinh hoa của xã hội, văn nghệ sĩ xứng đáng được gọi là “người của công chúng”. Đặc biệt, đối với những văn nghệ sĩ đã nổi tiếng, phàm một câu văn, diễn ngôn, lời nói họ phát ra đều có thể trở thành tâm điểm chú ý của công chúng và thu hút sự bàn tán của dư luận xã hội. Thế nhưng, những người am tường chữ nghĩa, văn chương đừng quên rằng, khi nói đúng lúc, đúng chỗ, đúng tầm thì đó là “Lời nói gói vàng”. Còn khi gặp đâu nói đấy, nói cho sướng mồm, nói cho bõ tức, hả giận mà cái tức, cái giận đó không có cơ sở thì có thể kéo theo biết bao hệ lụy khôn lường. Dân gian có câu: “Trăm năm bia đá thì mòn/Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” với hàm ý khẳng định sức sống trường tồn, vượt thời gian của lời nói, nhưng cũng là lời khuyên răn, cảnh báo về tác hại lâu dài của những “lời nói, đọi máu” đối với cuộc sống, con người và xã hội. Thế nên, trước khi đặt bút viết hay phát ngôn về bất cứ điều gì, nhất là những vấn đề thuộc về lịch sử, chính trị, xã hội liên quan đến số phận của cả cộng đồng, dân tộc, mỗi văn nghệ sĩ rất cần bình tĩnh, công tâm, tỉnh táo phân biệt đúng-sai, phải-trái, thật-giả, hiện tượng-bản chất để không xuyên tạc, xét lại lịch sử, nhạo báng tiền nhân, cũng như không bôi đen hình ảnh, diện mạo quê hương xứ sở-cái nôi đã sinh ra, đùm bọc, nuôi dưỡng và tạo dựng sự nghiệp, tên tuổi cho mình. Lịch sử minh chứng rằng, chỉ có những văn nghệ sĩ biết kết hợp, gắn bó hài hoà giữa tài năng và đức độ, giữa bản lĩnh và phong cách, giữa ý chí và niềm tin, giữa tình cảm, trách nhiệm cá nhân và bổn phận, nghĩa vụ công dân trong cuộc sống và lao động sáng tạo, mới có chỗ đứng vững trong lòng công chúng. Hàng nghìn năm qua, dân tộc ta đã sản sinh ra bao văn nghệ sĩ có tâm, tầm, tài và đã gắn bó, trăn trở, đau đáu với số phận dân tộc; sáng tạo ra những công trình, tác phẩm văn chương, nghệ thuật có giá trị và có những câu lập ngôn làm lay động lòng người bao thế hệ nên họ sống bất tử cùng thời gian. Và theo dòng chảy tiến bộ của xã hội, lịch sử cũng sẽ nghiêm khắc đào thải những ai đó dù có ít nhiều tài năng văn chương, nghệ thuật, nhưng lòng không thành, tâm không sáng, vô thủy vô chung và đi ngược lại lợi ích của dân tộc và đồng bào mình.

Những bài học lịch sử

Những kỷ niệm sâu sắc, hào hùng trong giai đoạn lịch sử trọng đại của dân tộc được cán bộ, nhân viên ngoại giao từng tham gia phục vụ Hội nghị Paris, tham gia đoàn đàm phán Hiệp định Paris chia sẻ trong buổi gặp mặt ngày 25-1 vừa qua tại Hà Nội đều chỉ rõ, kinh nghiệm quý báu là phải đánh giá được sức mạnh, tương quan lực lượng trên chiến trường và tình hình quốc tế; tận dụng thời cơ và có sách lược khôn khéo để tối đa hóa lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ trong ngoại giao… . Tại buổi gặp mặt, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình; nguyên Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm; ông Nguyễn Khắc Huỳnh và ông Phạm Ngạc đã nhấn mạnh 4 bài học lớn trong quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris. Đó là: Đánh giá được sức mạnh, tương quan lực lượng trên chiến trường và tình hình quốc tế; tận dụng thời cơ và có sách lược khôn ngoan để tối đa hóa lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ trong ngoại giao; cán bộ các ngành, đặc biệt là ngành ngoại giao cần giữ vững truyền thống đoàn kết, phẩm chất tốt đẹp của ngành và học tập không ngừng. “Cuộc đấu tranh ở Hội nghị đàm phán Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã để lại rất nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, có giá trị với công tác ngoại giao nước nhà ngày nay và mai sau. Đó là phải có sách lược khôn ngoan, xác định rõ cái gì là chính yếu; phải có chủ trương, chiến lược ngoại giao đúng đắn; đặc biệt đánh giá chính xác sức mạnh, tương quan lực lượng trên chiến trường, tình hình thế giới; biết đánh giá và kết hợp giữa sức mạnh nội lực và tận dụng cơ hội tình hình quốc tế”, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình nhận định. Nguyên Phó chủ tịch nước cũng cho rằng, đàm phán ngoại giao muốn thắng lợi phải xuất phát từ nội lực của đất nước. Trước đây là sức mạnh về quân sự, nhưng giờ đây phải bao gồm cả sức mạnh kinh tế, đồng thời nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của ngoại giao. “Đặc điểm ngành ngoại giao của chúng ta có ba mảng: Ngoại giao Nhà nước, ngoại giao Đảng và ngoại giao nhân dân. Ngoại giao nhân dân rất linh hoạt và rộng lớn. Trong tình hình mới hết sức phức tạp, phong trào hòa bình thế giới hiện nay non yếu đi, thậm chí mâu thuẫn nhau, do đó, ngoại giao nhân dân càng cần được quan tâm, nghiên cứu kỹ hơn để áp dụng hiệu quả, góp phần phát huy vai trò kết hợp chặt chẽ, giúp đỡ các mặt trận ngoại giao khác”, bà Nguyễn Thị Bình nêu rõ. Nguyên Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm khẳng định, cuộc đàm phán Hiệp định Paris là thành công lớn về nhiều mặt, không chỉ đối với Việt Nam mà với toàn thế giới, nhờ vào sự chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên Phó thủ tướng chỉ rõ những lợi điểm mang lại từ việc thường xuyên nghiên cứu, thảo luận tình hình, trên cơ sở đó đề ra chiến lược, chính sách quân sự, ngoại giao phù hợp. Bên cạnh đó, cuộc chiến đấu phải tranh thủ sự ủng hộ của thế giới, trong đó có dư luận của chính nước đối thủ. "Kinh nghiệm là muốn đánh địch trên bàn đàm phán phải hiểu địch, cần phải biết lúc nào mình có thể đánh, lúc nào có thể nhượng bộ...", nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm nói. Các nhà ngoại giao lão thành chụp ảnh lưu niệm cùng với thế hệ trẻ của Bộ Ngoại giao, nhân dịp kỷ niệm 45 năm Ngày ký Hiệp định Paris. Nhấn mạnh nguyên tắc độc lập, tự chủ trong quá trình đàm phán, ông Nguyễn Khắc Huỳnh cho rằng: “Hiệp định Geneve là nơi các nước lớn ngồi với nhau, Việt Nam không có được độc lập, tự chủ là bao nhiêu. Nhưng tới Hiệp định Paris, ta rất độc lập, tự chủ, từ chủ trương đến biện pháp, từ nội dung đến từng câu chữ trong hiệp định. Chỉ đạo của Bộ Chính trị về Hiệp định Paris cực kỳ chặt chẽ, đến từng câu, từng chữ. Có những câu chữ chúng tôi phải xin ý kiến từ Hà Nội, rồi mới được đưa vào trong hiệp định. Sau 45 năm, đọc lại văn bản hiệp định, chúng tôi cũng không thể sửa được một câu từ nào vì nó quá chặt chẽ”. Cũng theo nhà ngoại giao lão thành này, dù Hà Nội cách Paris hàng nghìn cây số, nhưng việc trao đổi thông tin giữa Hà Nội và đoàn đàm phán luôn được duy trì hằng ngày. “Cứ từ sáng đến chiều có thông tin, từ chiều đến sáng hôm sau lại có thông tin. Có 4 loại thông tin mà chúng tôi được nhận hằng ngày. Đó là thông tin tình hình đất nước, thông tin tình hình quốc tế liên quan đến quá trình đàm phán, dư luận quốc tế về cuộc đàm phán, những điều đoàn cần chú ý trong dư luận Mỹ và quốc tế. Những thông tin từ trong nước gửi cho đoàn rất kỹ. Chúng tôi ngồi đọc thông tin mà cứ như mình đang ở nhà do thông tin cung cấp rất đầy đủ, dù thời kỳ đó cực kỳ khó khăn”, ông Huỳnh chia sẻ. Như vậy, sau gần 5 năm, cuộc đàm phán Paris đã kết thúc bằng việc ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27-1-1973. “Khi chúng ta đi, chúng ta không có nhiều kinh nghiệm trong đàm phán đa phương, nhưng chúng ta đã vượt qua và giành được kỳ tích”, nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm khẳng định.

Sự dối trá và lừa bịp

Rất nhiều bài báo, công trình nghiên cứu và cả những người trong cuộc đã chứng minh, khẳng định sự việc “thảm sát ở Huế năm 1968” là sản phẩm của sự dối trá, bịp bợm. Đáng chú ý, trong cuốn Kinh tế chính trị về nhân quyền Tập I, hai Giáo sư A.N Chomski (A.N Chôm-sky) và E.Herman (E.Héc-man) đã dành phần Thảm sát tại Huế năm 1968 để phân tích, chỉ rõ sự thật về sự kiện ngụy tạo nêu trên đã được cố tình dựng lên như thế nào. Báo Nhân Dân xin trích đăng nội dung này. “Điều cơ bản liên quan chuyện hoang đường về cuộc thảm sát ở Huế là việc cho rằng, sau khi chiếm đóng thành phố trong cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 1968, theo kế hoạch được xác định trước và từ “sổ đen” ghi tên người làm việc cho chính phủ hoặc coi là “kẻ thù giai cấp”, Việt cộng đã bắt giữ và giết hại hàng nghìn người dân. Những tài liệu chủ yếu đẩy tới câu chuyện này gồm một bản báo cáo do chính quyền Sài Gòn đưa ra tháng 4-1968, một tài liệu được phái đoàn Mỹ phổ biến tháng 11-1969, một bản phân tích của D.Pike (D.Pi-cơ - sĩ quan tâm lý chiến làm việc tại Phòng Thông tin Mỹ - USIS) ra đời năm 1970. Hai báo cáo của chính quyền Sài Gòn và D.Pike gây ra nghi ngờ vì dựa trên nguồn tin, vai trò của chiến dịch tuyên truyền rộng rãi nhằm giảm đến mức thấp nhất ảnh hưởng của vụ thảm sát ở Mỹ Lai. Nhưng quan trọng hơn cả là các tài liệu này đã không được điều tra kỹ lưỡng. ... Ngay sau Tết Mậu Thân, Trưởng ty cảnh sát Huế là Đoàn Công Lập ước tính số nạn nhân bị thảm sát do Việt cộng gây ra là khoảng 200 người, các mồ chôn tập thể của thường dân và quan chức địa phương khoảng 300 người. Cuối tháng 4-1968, một báo cáo do cơ quan tuyên truyền của Sài Gòn đưa ra khẳng định khoảng 1.000 người đã bị Việt cộng giết tại Huế, trong đó có gần một nửa bị chôn sống. Do thông tin không được chú ý, cho nên vài tuần sau đó, Đại sứ quán Mỹ tiếp tục đưa ra một báo cáo tương tự và thông tin từ báo cáo này trở thành tin tức hàng đầu trên nhiều tờ báo ở Mỹ. Tuy nhiên, dù không nhà báo phương Tây nào được đưa tới nơi khai quật các mồ chôn tập thể, thông tin đó vẫn không bị chất vấn. Và ngược lại, nhiếp ảnh gia người Pháp M.Riboud (M.Ri-bu) nhiều lần bị từ chối khi muốn đến xem xét một trong số địa điểm mà đại diện chính quyền Huế nói có 300 quan chức chính phủ đã bị Việt cộng giết và chôn. Cuối cùng M.Riboud cũng được máy bay đưa tới địa điểm đó, song viên phi công lại từ chối hạ cánh vì lý do không an toàn. Đại diện của AFSC (Ủy ban phục vụ của những người bạn Mỹ - Tổ chức Quaker) tại Huế cũng không thể khẳng định về các hố chôn tập thể, mặc dù họ báo cáo là có nhiều thường dân đã bị bắn, bị giết suốt cuộc tái chiếm thành phố. ... Mùa thu năm 1969, xuất hiện một “tài liệu lấy được” và đáng chú ý đây là tài liệu vốn đã có trong hồ sơ 19 tháng nhưng không được chú ý; tài liệu cho biết kẻ địch “tự nhận” trong chiến dịch ở Huế họ đã giết 2.748 người. Rồi tài liệu này trở thành nguồn thông tin chủ yếu để dựa vào đó, câu chuyện về thảm sát ở Huế được dựng lên. Nên nói thêm là vào lúc tài liệu được tiết lộ cho báo chí, tháng 11-1969, D.Pike đang có mặt ở Sài Gòn với nhiệm vụ tạo ra vụ thảm sát theo yêu cầu của Đại sứ E.Bunker (E.Băng-cơ). D.Pike nhận ra rằng, các phóng viên Mỹ rất thích tài liệu này cho nên ông đã cung cấp cho họ. Ông cũng biết không có phóng viên nào hiểu được tiếng Việt, vì thế các tài liệu được dịch, xây dựng lại sao cho phù hợp với yêu cầu về một vụ thảm sát. Ngoài ra dù nhiều tài liệu về Việt Nam từng bị cố tình làm sai lạc song không có phóng viên nào thắc mắc về tính xác thực của các tài liệu ông đưa ra, hoặc tìm bằng chứng để đưa ra đánh giá độc lập. D.Pike đã đúng về điều này, khi vụ Mỹ Lai bị phát giác và các hoạt động vì hòa bình một cách có tổ chức gia tăng vào mùa thu năm 1969. Ở đây chỉ cần một vài dấu hiệu nghi ngờ của phóng viên nước ngoài là không được can thiệp vào việc hợp thức hóa thành văn bản chính thức. Ngoài “tài liệu lấy được”, vấn đề có tính thuyết phục về cuộc thảm sát là việc tìm ra những hố chôn tập thể. Tuy nhiên, các bằng chứng này lại không đủ thuyết phục như những tài liệu được sắp xếp nêu trên. Một điều rất hệ trọng nữa là vấn đề số đông thường dân đã bị giết chết bởi các trận pháo kích bừa bãi của quân đội Mỹ và Nam Việt Nam trong khi họ tiến công chiếm lại Huế. Như nhà nhiếp ảnh chiến trường D.D Duncan (D.D Đun-can) đã mô tả thì cuộc tái chiếm này là “nỗ lực dốc hết sức để loại bỏ bất cứ một kẻ địch nào. Tâm trí tôi bấn loạn trước cuộc tàn sát”. Nhà nhiếp ảnh P.J Griffiths (P.J Gơ-ri-phít) thì cho biết, hầu hết nạn nhân “đã bị giết bởi bom đạn được bắn một cách kinh hoàng chưa từng thấy của Mỹ” nhưng về sau lại được coi là “nạn nhân từ vụ thảm sát của Việt cộng”. Phóng viên R.Shaplen (R.Sap-len) cũng viết về lúc đó: “Không có gì mô tả về sự tàn phá trong chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam lại có thể làm tôi kinh hoàng bằng những gì tôi đã thấy ở Huế”. Trong số 17.134 ngôi nhà thì đã có 9.776 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn, 3.169 ngôi nhà bị thiệt hại trầm trọng… Đáng lưu ý là các phóng viên độc lập không được phép có mặt ở hiện trường và họ rất khó xác định chỗ chính xác nơi có các hố chôn, dù đã nhiều lần yêu cầu được đến xem. Một phóng viên nói chuyện với một lính thủy quân lục chiến từng có mặt tại buổi khai quật công khai đầu tiên kể rằng, phóng viên được đến đó là người đáng tin cậy, được lựa chọn cẩn thận, các thi thể không được kiểm tra. Ông còn nhận xét dấu vết tại hiện trường chứng tỏ việc chôn lấp có sử dụng xe ủi đất (phương tiện mà phía Việt cộng không có). Có lẽ chỉ các bác sĩ phương Tây được xem xét các mồ chôn. Bác sĩ người Ca-na-đa, A.Vennema (A.Ven-ne-ma) cho biết, số nạn nhân trong hố chôn tập thể mà ông xem xét là 68 người, hầu hết đã bị thương và mặc quân phục, nhưng được báo cáo lên tới 477 người, tức là đã bị Mỹ và chính quyền Sài Gòn thổi phồng lên gấp bảy lần. Rất ít người chú ý các nạn nhân ở Huế không phải do Việt cộng hay bom đạn Mỹ mà do quân đội Sài Gòn giết hại khi họ tái chiếm thành phố. Nhiều người thân cộng ở Huế đã lộ diện trong cuộc tổng tiến công khi bày tỏ sự ủng hộ với Việt cộng, hoặc hợp tác với chính quyền lâm thời địa phương do Việt cộng thiết lập. Khi Việt cộng rút đi, nhiều cán bộ và người ủng hộ họ đã không thoát được, phải ở lại trong tình thế rất nguy hiểm, trở thành đối tượng trả thù của chính quyền Sài Gòn. Bằng chứng được đưa ra ánh sáng là sau khi tái chiếm Huế, chính quyền Sài Gòn đã tiến hành giết hại để trả thù trên quy mô lớn. Trong một bài báo mô tả rất sinh động, nhà báo người I-ta-li-a là O.Fallaci (O.Phan-la-xi) dẫn lời một linh mục Pháp ở Huế kết luận sau ngày quân đội Sài Gòn vào thành phố: “Tất cả có khoảng 1.100 người bị giết”. Họ hầu hết là sinh viên, giáo viên đại học, tu sĩ, trí thức, tín đồ ở Huế đã công khai bày tỏ cảm tình của họ đối với Việt cộng. Trong mọi trường hợp, tình trạng lộn xộn về các sự kiện và bằng chứng cùng các chứng cứ không thể tin được của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, chí ít cũng cho thấy “cuộc tắm máu” do Việt cộng gây ra tại Huế được xây dựng trên những bằng chứng hời hợt... Ở trên, chúng tôi đã đề cập một số việc làm trắng trợn do cơ quan tuyên truyền của Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiến hành. Cần nhấn mạnh rằng, lẽ ra phải xem xét với nhiều hoài nghi hơn đối với các báo cáo hằng ngày vẫn đề cập tin tức về những vấn đề ở Đông Dương. Bởi trong một số trường hợp, khi tiến hành điều tra nghiêm túc thì thông tin do Mỹ và chính quyền Sài Gòn cung cấp lại không có giá trị. Thí dụ, nhà báo Nhật Bản K.Honda (K.Hon-đa) điều tra một báo cáo hằng tuần có nhan đề Những hoạt động khủng bố của Việt cộng do cơ quan thông tin của quân đội Mỹ tại Sài Gòn cung cấp. Nghiên cứu một vụ quan tâm nhất, ông đã phát hiện khủng bố không chỉ kinh hoàng, xảy ra thường xuyên, mà còn bị che đậy bởi hành động kiểm soát tin tức rất chặt chẽ của chính quyền Sài Gòn... Dường như vô số “sự việc kinh hoàng” đã được che đậy một cách bí mật khi cuộc chiến Việt Nam ngày càng gia tăng. Ông khám phá vụ ám sát năm sinh viên Phật tử trước đó đã được chính thức công bố là nạn nhân của Việt cộng, song rõ ràng lại do quân đội Sài Gòn gây ra. Cùng với đó là việc binh lính Sài Gòn say rượu cãi lộn rồi ném lựu đạn vào thường dân qua đường, làm họ bị chết, cũng được gán cho Việt cộng. Trong nhiều vụ việc khác, sự thật đã bị phơi bày một cách tình cờ. Thí dụ đặc biệt phi lý, khó có thể chấp nhận là việc không quân Việt Nam cộng hòa đã không kích phá hủy nơi hài cốt của nạn nhân vụ Mỹ Lai được chuyển tới. Và như thường lệ, vụ việc cũng được gán cho Việt cộng. Tuy nhiên, những người theo đạo Quaker (Quây-cơ) trong vùng đã phanh phui sự thật này. Các thí dụ nêu trên gợi lên một điều rằng các báo cáo chính thức là sự dối trá và lừa bịp, một vài trường hợp được thay đổi biến thành chuyện chính thức song hoang đường. Một kết luận quan trọng nữa là nguồn tin chính thức nói chung đã hạn chế độ tin cậy một cách tối đa. Chúng đưa ra các câu hỏi, nhưng không đưa ra được câu trả lời đáng tin cậy”. (*) Đầu đề là của Báo Nhân Dân - Lược dịch và trích đăng từ: A.N Chomsky và E.S Herman, The political economy of human rights, Volume I, Black Rose Book, Montréal 1979 - 5.2.3 The Hue Massacre of 1968 (Excerpts) - (A.N Chomsky và E.S Herman, Kinh tế chính trị về nhân quyền Tập I, NXB Black Rose, Montréal 1979, phần 5.2.3 - Thảm sát Huế năm 1968). Giáo sư A.N Chomsky (1928) là nhà triết học, ngôn ngữ học, nhà hoạt động chính trị nổi tiếng tại Mỹ, người “thường được xem là một trong những nhà trí thức quan trọng nhất trong nền chính trị cánh tả tại Mỹ”; Giáo sư E.S Herman (1925 - 2017) là nhà kinh tế học, nhà phân tích truyền thông nổi tiếng ở Mỹ.

Sâu sát cơ sở, nắm chắc tình hình, giải quyết kịp thời những bức xúc trong nhân dân

Sâu sát cơ sở, tích cực kiểm tra, đôn đốc, nắm chắc tình hình để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời những nảy sinh trong nhân dân, đó là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng ta; là phương pháp, tác phong công tác không thể thiếu của cán bộ, đảng viên. Biết là vậy nhưng không phải tổ chức đảng nào, cán bộ, đảng viên nào cũng ý thức rõ và thực hiện tốt công việc ý nghĩa này. . Một thực tế trong những năm gần đây là tình hình khiếu nại, tố cáo diễn biến phức tạp, đơn thư vượt cấp gia tăng cả về số vụ và tính chất, mức độ. Nhiều vụ khiếu kiện đông người, kéo dài, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự cũng như sự phát triển kinh tế-xã hội tại nhiều địa phương. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là một bộ phận cán bộ, đảng viên xa dân, thiếu sâu sát, nắm không chắc tình hình cơ sở, nhiều vấn đề bức xúc của nhân dân chưa được giải quyết kịp thời, thỏa đáng. Khi kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII cũng đã chỉ rõ những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, xa rời quần chúng, chưa sâu sát thực tế, thiếu kiểm tra, đôn đốc, nắm không chắc tình hình nên bị động trong việc xử lý các vấn đề nảy sinh ở cơ sở. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ rõ tình trạng: “Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân” và coi đó là một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Nhân dân hoan nghênh, ủng hộ tinh thần, thái độ thẳng thắn và kỳ vọng vào sự nghiêm túc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nhưng nhân dân sẽ thất vọng và giảm sút lòng tin nếu tinh thần, thái độ ấy không chuyển thành hành động cụ thể. Để xứng đáng với sự trông đợi và kỳ vọng của nhân dân, nhiều tổ chức Đảng, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương đã căn cứ vào những biểu hiện mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ ra tự soi chiếu lại mình để rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu góp phần từng bước khắc phục tình trạng trên. Nhân dân cả nước sẽ ghi nhớ mãi những hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cùng lãnh đạo các bộ, ngành không quản gian khó, hiểm nguy lặn lội đến với đồng bào nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn; bơi thuyền, sắn quần lội nước đến những vùng bị thiệt hại do thiên tai kiểm tra từng bữa ăn, giấc ngủ, chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả; thăm hỏi, tặng quà, động viên các gia đình đoàn kết vượt qua khó khăn, mất mát, ổn định cuộc sống. Đặc biệt cuối năm 2017 vừa qua, mặc dù rất bận rộn với hàng loạt sự kiện, công việc liên quan đến Tuần lễ Cấp cao APEC 2017, nhưng Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ vẫn dành thời gian về xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng và TP Hội An, tỉnh Quảng Nam để thị sát tình hình và thăm hỏi, động viên người dân vùng lũ. Từ những điều mắt thấy, tai nghe, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo chính quyền các địa phương phải nhanh chóng triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả lũ lụt, ổn định đời sống người dân, kiên quyết không để người dân bị đói, bị rét... Những việc làm ấy đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp, sâu đậm trong lòng nhân dân, đặc biệt là về tinh thần trách nhiệm, tác phong gần dân, sâu sát cơ sở, kịp thời nắm bắt tình hình, đôn đốc, chỉ đạo giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh. Từ sự nêu gương của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương cũng đã có những chuyển động rõ rệt. Điển hình là Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Ở Hà Nội, mặc dù bận rất nhiều công việc nhưng đồng chí Bí thư Thành ủy và đồng chí Chủ tịch UBND thành phố vẫn duy trì nền nếp chế độ đi cơ sở, tiếp công dân, trực tiếp nghe người dân trình bày tâm tư, nguyện vọng và kiến nghị của mình; nghe lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan đến các nội dung khiếu nại, tố cáo của công dân báo cáo tình hình giải quyết từng vụ việc. Tương tự tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, Thành ủy, UBND Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ các sở, ngành phải tăng cường bám nắm cơ sở, làm tốt công tác tiếp công dân, chủ động đối thoại với dân, kịp thời nắm bắt, giải quyết thấu lý đạt tình những tâm tư, nguyện vọng của người dân. Đảng bộ TP Hồ Chí Minh xác định: Lấy sự chuyển động của cơ sở trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giải quyết bức xúc của người dân… là thước đo năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, của cá nhân các đồng chí cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu. Chính những chuyển động trong phong cách lãnh đạo, gần dân, sát dân, nắm chắc tình hình cơ sở đã giúp lãnh đạo thành phố phát hiện và xử lý nhiều vụ việc, vấn đề bức xúc tồn tại từ nhiều năm. Tuy nhiên, đúng như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ ra: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở...”. Trên thực tế không khó để nhận thấy một số tổ chức Đảng và một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý đứng đầu cơ quan, đơn vị, kể cả một số cán bộ cao cấp, mắc bệnh "quan liêu", “xa dân”, thiếu sâu sát cơ sở, đánh giá không đúng tình hình nên hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo không kịp thời, kém hiệu quả. Có những cơ quan công quyền, cơ quan hành chính nhà nước, nơi tác phong cửa quyền, quan liêu, xa dân... không còn ở một người mà đã lan ra trở thành "căn bệnh" của cả tập thể. Đến những nơi này liên hệ làm việc, người dân rơi vào tình cảnh "ba không": Không người hướng dẫn; không chỗ ngồi; không nước uống. Cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của nhân dân, thế nhưng một số cán bộ có chức, có quyền lại coi mình là “quan cách mạng” thiếu tôn trọng quần chúng, cho mình là người “bề trên”, quần chúng nhân dân muốn được “ban ơn” thì phải phiền lụy. Tại Hội nghị tổng kết công tác dân vận năm 2017 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2018, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cũng chỉ rõ về tình trạng: “Không ít cán bộ không sát dân, xa dân, nhũng nhiễu, tiêu cực, mất uy tín với nhân dân”... Dự Hội nghị sơ kết công tác bảo đảm TTATGT tổ chức vào tháng 9-2017, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình cũng thẳng thắn phê bình cấp ủy, chính quyền 15 địa phương có số người chết vì tai nạn giao thông tăng so với cùng kỳ năm trước. Một trong những nguyên nhân được Phó thủ tướng chỉ rõ là tình trạng cấp ủy, người đứng đầu chính quyền địa phương, đơn vị chức năng chưa sâu sát, thiếu kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở; những vấn đề nảy sinh từ cơ sở chưa được phát hiện kịp thời, khi phát hiện ra thì lại thiếu biện pháp chỉ đạo quyết liệt để xử lý... Cũng do nắm không chắc tình hình nên ở nhiều nơi những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân không được xem xét giải quyết thỏa đáng dẫn đến đơn thư khiếu nại kéo dài, gây ra những bức xúc trong nhân dân... Thực tế đó ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng, Nhà nước, làm giảm sút lòng tin trong nhân dân. Đặc biệt trong điều kiện công nghệ thông tin ngày càng phát triển, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng những ưu thế của internet để tuyên truyền kích động hòng chia rẽ Đảng với nhân dân thì tình hình trên càng trở nên nguy hiểm. Để khắc phục cho được bệnh quan liêu, xa dân, nhũng nhiễu dân, không sâu sát cơ sở, nắm không chắc tình hình cơ sở, Đảng ta xác định, năm 2018 là “Năm dân vận chính quyền”. Đây cũng là biện pháp nhằm đấu tranh, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ ra. Có nhiều việc phải làm quyết liệt và đồng bộ để biến quyết tâm chính trị của Đảng thành hiện thực. Nhưng mấu chốt của vấn đề là sửa đổi lề lối, tác phong làm việc của cán bộ, đảng viên. Đúng như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh tại hội nghị công tác dân vận vừa qua: “Trong giai đoạn hiện nay, nếu không chăm lo một cách cụ thể, chu đáo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thì dù có nói bao nhiêu về công tác dân vận, công tác quần chúng và quyền làm chủ của nhân dân cũng không có sức thuyết phục”. Chúng ta có thể ra rất nhiều nghị quyết, ban hành rất nhiều chỉ thị và nói rất hay về việc chống quan liêu, chống căn bệnh “xa dân”, thiếu sâu sát cơ sở... nhưng kết quả sẽ chẳng đi tới đâu nếu không có sự chuyển biến bằng hành động và việc làm cụ thể của từng tổ chức Đảng, từng cán bộ, đảng viên. Điều người dân mong mỏi nhất ở các cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là phải đổi mới phong cách, nêu cao tinh thần và thái độ phục vụ nhân dân. Cần phải lấy kết quả phục vụ, sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo tinh thần trách nhiệm với dân, trình độ năng lực của cán bộ, đảng viên, công chức. Đến với dân những lúc buồn vui, khó khăn, hoạn nạn là cần thiết nhưng quan trọng là cán bộ, đảng viên đừng bao giờ vô cảm trước nhân dân, phải biết vui niềm vui của dân, biết đau nỗi đau của dân và biết lo nỗi lo của dân. Gần dân nhưng phải hiểu dân, kịp thời nắm bắt và giải quyết thấu lý, đạt tình những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân và những bức xúc nảy sinh từ cơ sở. Cùng với đó là mở rộng dân chủ, phát huy tai mắt của nhân dân nhằm kịp thời phát hiện những biểu hiện quan liêu, xa dân... để có biện pháp đấu tranh ngăn chặn. Gần gũi nhân dân, sâu sát nhân dân mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là “nói ít làm nhiều” để tạo sự tin tưởng cho nhân dân. Khi mà dân tin Đảng, Đảng tin dân thì sự nghiệp cách mạng ắt thành công. . Sâu sát cơ sở, tích cực kiểm tra, đôn đốc, nắm chắc tình hình để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời những nảy sinh trong nhân dân, đó là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng ta; là phương pháp, tác phong công tác không thể thiếu của cán bộ, đảng viên. Biết là vậy nhưng không phải tổ chức đảng nào, cán bộ, đảng viên nào cũng ý thức rõ và thực hiện tốt công việc ý nghĩa này. . Một thực tế trong những năm gần đây là tình hình khiếu nại, tố cáo diễn biến phức tạp, đơn thư vượt cấp gia tăng cả về số vụ và tính chất, mức độ. Nhiều vụ khiếu kiện đông người, kéo dài, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự cũng như sự phát triển kinh tế-xã hội tại nhiều địa phương. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là một bộ phận cán bộ, đảng viên xa dân, thiếu sâu sát, nắm không chắc tình hình cơ sở, nhiều vấn đề bức xúc của nhân dân chưa được giải quyết kịp thời, thỏa đáng. Khi kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII cũng đã chỉ rõ những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, xa rời quần chúng, chưa sâu sát thực tế, thiếu kiểm tra, đôn đốc, nắm không chắc tình hình nên bị động trong việc xử lý các vấn đề nảy sinh ở cơ sở. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ rõ tình trạng: “Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân” và coi đó là một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Nhân dân hoan nghênh, ủng hộ tinh thần, thái độ thẳng thắn và kỳ vọng vào sự nghiêm túc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nhưng nhân dân sẽ thất vọng và giảm sút lòng tin nếu tinh thần, thái độ ấy không chuyển thành hành động cụ thể. Để xứng đáng với sự trông đợi và kỳ vọng của nhân dân, nhiều tổ chức Đảng, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương đã căn cứ vào những biểu hiện mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ ra tự soi chiếu lại mình để rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu góp phần từng bước khắc phục tình trạng trên. Nhân dân cả nước sẽ ghi nhớ mãi những hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cùng lãnh đạo các bộ, ngành không quản gian khó, hiểm nguy lặn lội đến với đồng bào nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn; bơi thuyền, sắn quần lội nước đến những vùng bị thiệt hại do thiên tai kiểm tra từng bữa ăn, giấc ngủ, chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả; thăm hỏi, tặng quà, động viên các gia đình đoàn kết vượt qua khó khăn, mất mát, ổn định cuộc sống. Đặc biệt cuối năm 2017 vừa qua, mặc dù rất bận rộn với hàng loạt sự kiện, công việc liên quan đến Tuần lễ Cấp cao APEC 2017, nhưng Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ vẫn dành thời gian về xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng và TP Hội An, tỉnh Quảng Nam để thị sát tình hình và thăm hỏi, động viên người dân vùng lũ. Từ những điều mắt thấy, tai nghe, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo chính quyền các địa phương phải nhanh chóng triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả lũ lụt, ổn định đời sống người dân, kiên quyết không để người dân bị đói, bị rét... Những việc làm ấy đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp, sâu đậm trong lòng nhân dân, đặc biệt là về tinh thần trách nhiệm, tác phong gần dân, sâu sát cơ sở, kịp thời nắm bắt tình hình, đôn đốc, chỉ đạo giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh. Từ sự nêu gương của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương cũng đã có những chuyển động rõ rệt. Điển hình là Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Ở Hà Nội, mặc dù bận rất nhiều công việc nhưng đồng chí Bí thư Thành ủy và đồng chí Chủ tịch UBND thành phố vẫn duy trì nền nếp chế độ đi cơ sở, tiếp công dân, trực tiếp nghe người dân trình bày tâm tư, nguyện vọng và kiến nghị của mình; nghe lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan đến các nội dung khiếu nại, tố cáo của công dân báo cáo tình hình giải quyết từng vụ việc. Tương tự tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, Thành ủy, UBND Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ các sở, ngành phải tăng cường bám nắm cơ sở, làm tốt công tác tiếp công dân, chủ động đối thoại với dân, kịp thời nắm bắt, giải quyết thấu lý đạt tình những tâm tư, nguyện vọng của người dân. Đảng bộ TP Hồ Chí Minh xác định: Lấy sự chuyển động của cơ sở trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giải quyết bức xúc của người dân… là thước đo năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, của cá nhân các đồng chí cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu. Chính những chuyển động trong phong cách lãnh đạo, gần dân, sát dân, nắm chắc tình hình cơ sở đã giúp lãnh đạo thành phố phát hiện và xử lý nhiều vụ việc, vấn đề bức xúc tồn tại từ nhiều năm. Tuy nhiên, đúng như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ ra: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở...”. Trên thực tế không khó để nhận thấy một số tổ chức Đảng và một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý đứng đầu cơ quan, đơn vị, kể cả một số cán bộ cao cấp, mắc bệnh "quan liêu", “xa dân”, thiếu sâu sát cơ sở, đánh giá không đúng tình hình nên hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo không kịp thời, kém hiệu quả. Có những cơ quan công quyền, cơ quan hành chính nhà nước, nơi tác phong cửa quyền, quan liêu, xa dân... không còn ở một người mà đã lan ra trở thành "căn bệnh" của cả tập thể. Đến những nơi này liên hệ làm việc, người dân rơi vào tình cảnh "ba không": Không người hướng dẫn; không chỗ ngồi; không nước uống. Cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của nhân dân, thế nhưng một số cán bộ có chức, có quyền lại coi mình là “quan cách mạng” thiếu tôn trọng quần chúng, cho mình là người “bề trên”, quần chúng nhân dân muốn được “ban ơn” thì phải phiền lụy. Tại Hội nghị tổng kết công tác dân vận năm 2017 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2018, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cũng chỉ rõ về tình trạng: “Không ít cán bộ không sát dân, xa dân, nhũng nhiễu, tiêu cực, mất uy tín với nhân dân”... Dự Hội nghị sơ kết công tác bảo đảm TTATGT tổ chức vào tháng 9-2017, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình cũng thẳng thắn phê bình cấp ủy, chính quyền 15 địa phương có số người chết vì tai nạn giao thông tăng so với cùng kỳ năm trước. Một trong những nguyên nhân được Phó thủ tướng chỉ rõ là tình trạng cấp ủy, người đứng đầu chính quyền địa phương, đơn vị chức năng chưa sâu sát, thiếu kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở; những vấn đề nảy sinh từ cơ sở chưa được phát hiện kịp thời, khi phát hiện ra thì lại thiếu biện pháp chỉ đạo quyết liệt để xử lý... Cũng do nắm không chắc tình hình nên ở nhiều nơi những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân không được xem xét giải quyết thỏa đáng dẫn đến đơn thư khiếu nại kéo dài, gây ra những bức xúc trong nhân dân... Thực tế đó ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng, Nhà nước, làm giảm sút lòng tin trong nhân dân. Đặc biệt trong điều kiện công nghệ thông tin ngày càng phát triển, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng những ưu thế của internet để tuyên truyền kích động hòng chia rẽ Đảng với nhân dân thì tình hình trên càng trở nên nguy hiểm. Để khắc phục cho được bệnh quan liêu, xa dân, nhũng nhiễu dân, không sâu sát cơ sở, nắm không chắc tình hình cơ sở, Đảng ta xác định, năm 2018 là “Năm dân vận chính quyền”. Đây cũng là biện pháp nhằm đấu tranh, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ ra. Có nhiều việc phải làm quyết liệt và đồng bộ để biến quyết tâm chính trị của Đảng thành hiện thực. Nhưng mấu chốt của vấn đề là sửa đổi lề lối, tác phong làm việc của cán bộ, đảng viên. Đúng như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh tại hội nghị công tác dân vận vừa qua: “Trong giai đoạn hiện nay, nếu không chăm lo một cách cụ thể, chu đáo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thì dù có nói bao nhiêu về công tác dân vận, công tác quần chúng và quyền làm chủ của nhân dân cũng không có sức thuyết phục”. Chúng ta có thể ra rất nhiều nghị quyết, ban hành rất nhiều chỉ thị và nói rất hay về việc chống quan liêu, chống căn bệnh “xa dân”, thiếu sâu sát cơ sở... nhưng kết quả sẽ chẳng đi tới đâu nếu không có sự chuyển biến bằng hành động và việc làm cụ thể của từng tổ chức Đảng, từng cán bộ, đảng viên. Điều người dân mong mỏi nhất ở các cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là phải đổi mới phong cách, nêu cao tinh thần và thái độ phục vụ nhân dân. Cần phải lấy kết quả phục vụ, sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo tinh thần trách nhiệm với dân, trình độ năng lực của cán bộ, đảng viên, công chức. Đến với dân những lúc buồn vui, khó khăn, hoạn nạn là cần thiết nhưng quan trọng là cán bộ, đảng viên đừng bao giờ vô cảm trước nhân dân, phải biết vui niềm vui của dân, biết đau nỗi đau của dân và biết lo nỗi lo của dân. Gần dân nhưng phải hiểu dân, kịp thời nắm bắt và giải quyết thấu lý, đạt tình những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân và những bức xúc nảy sinh từ cơ sở. Cùng với đó là mở rộng dân chủ, phát huy tai mắt của nhân dân nhằm kịp thời phát hiện những biểu hiện quan liêu, xa dân... để có biện pháp đấu tranh ngăn chặn. Gần gũi nhân dân, sâu sát nhân dân mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là “nói ít làm nhiều” để tạo sự tin tưởng cho nhân dân. Khi mà dân tin Đảng, Đảng tin dân thì sự nghiệp cách mạng ắt thành công.

Giữ vững niềm tin vào kỷ luật công minh của Đảng

Trong đó, vụ việc thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận là ông Đinh La Thăng bị đình chỉ sinh hoạt Đảng, cho thôi chức đại biểu Quốc hội và bị đề nghị truy tố, bắt tạm giam. Dư luận quan tâm bởi lẽ, đây là lần đầu tiên, một cá nhân từng giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị - một vị trí lãnh đạo cấp cao của Đảng, đã sa vào vòng lao lý. Việc ông Thăng bị tạm giam không chỉ là hệ quả tất yếu của hàng loạt sai phạm trong quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng trong thời gian ông này giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), mà còn là minh chứng khẳng định ý chí, quyết tâm và nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và người đứng đầu Đảng ta trong việc ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, góp phần làm trong sạch bộ máy Đảng, Nhà nước. Trong khi đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đã bày tỏ sự đồng tình và ủng hộ quyết định công minh của Đảng và Nhà nước ta; đồng thời, khẳng định niềm tin vào công lý của chế độ ta, thì các thế lực thù địch, phản động và thành phần bất mãn, cơ hội chính trị lại tung tin hoài nghi, phủ nhận công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước. Họ rêu rao rằng, sự “bắt bớ này là cuộc thanh trừng nội bộ”, là “đấu đá giữa các phe nhóm lợi ích trong Đảng Cộng sản”, là “sự triệt hạ các đối thủ chính trị trước thềm Đại hội Đảng sắp tới”, thậm chí có kẻ còn xuyên tạc, bịa đặt: “Có người chống tham nhũng dù bản thân họ không dính vào tham nhũng kinh tế, nhưng lại sa vào tham nhũng quyền lực chính trị”. Thô thiển hơn, có kẻ suy luận là cuộc chiến chống tham nhũng gần đây của Việt Nam cũng chẳng qua chỉ là “học mót” chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” từ một nước láng giềng(!)… Từ những ý kiến, bình luận ác ý đó, họ lái sang ý đồ chính trị thông qua những lập luận “sặc mùi” chống phá, kiểu như: “Muốn xóa bỏ tận gốc căn nguyên của tham nhũng ở Việt Nam, phải thay đổi thể chế chính trị bằng cách xây dựng một chế độ đa đảng, xã hội dân sự, vì còn chế độ “độc đảng” là còn nguồn cơn xảy ra những đại án tham nhũng, quyền lợi chỉ thuộc về một bộ phận tinh hoa, còn đại bộ phận người dân vẫn đói nghèo, xã hội không thể phát triển được”(!). Không phải bây giờ, mà trước bất cứ sự kiện, vấn đề lớn nào diễn ra trong nước, thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, một số cơ quan truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện chí với Việt Nam cũng đều a dua, hùa theo những kẻ tự xưng là “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà đấu tranh dân chủ”, “nhà báo tự do” ở trong nước. Sau khi “nghe hơi nồi chõ” thông tin, họ đồng loạt “kẻ tung người hứng”, “mượn gió bẻ măng”, “đục nước béo cò” để cùng chĩa “mũi dùi” vào Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Chiêu trò này tuy không có gì mới, nhưng nó được lặp đi lặp lại càng chứng tỏ họ đã “vạch áo cho người xem lưng”, tự bộc lộ rõ động cơ, mưu đồ chính trị nham hiểm. Vì vậy, bên cạnh việc đặt niềm tin vào kỷ luật công minh của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác phòng ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lợi dụng công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta để tung ra những ý kiến bình luận sai trái, lệch lạc, cố tình bôi nhọ, bóp méo sự thật, lái dư luận vào những ý đồ đen tối. Đã từ lâu, Đảng ta xác định công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhưng cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách. Cách đây 11 năm, ngày 21-8-2006, Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Quốc hội cũng đã thông qua Luật phòng, chống tham nhũng từ năm 2005. Việc Đảng ta tái lập Ban Nội chính Trung ương, thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng cũng không ngoài mục đích nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, không để cho “quốc nạn” này cản trở công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Không có “vùng cấm”, “vùng nể”, “vùng né”; không có trường hợp ngoại lệ; không bị bất cứ sức ép và sự can thiệp nào là những dấu ấn nổi bật trong cuộc chiến phòng, chống tham nhũng những năm gần đây. Điều đó được thể hiện rõ nét, nhất là từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng XII (1-2016) đến nay, Đảng ta đã kỷ luật hơn 20 cán bộ cao cấp từ mức khiển trách trở lên. Đó là những cán bộ lãnh đạo đương chức ở các địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Đồng Nai, Hậu Giang và cán bộ lãnh đạo các bộ: Công Thương, Nội vụ; lãnh đạo Liên minh hợp tác xã Việt Nam và lãnh đạo Quân khu 1. Không những vậy, một số cán bộ cấp cao nghỉ hưu cũng bị xử lý kỷ luật do những sai phạm trong thời gian đương chức như nguyên lãnh đạo các tỉnh, thành phố: Hậu Giang, Bình Định, Gia Lai, Vĩnh Phúc, Đắc Nông, Hải Phòng và nguyên lãnh đạo: Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ. Ngoài ra, hàng loạt cán bộ đương chức hay từng giữ chức vụ chủ tịch hội đồng thành viên, tổng giám đốc của nhiều tập đoàn kinh tế lớn cũng bị xử lý kỷ luật; có người đã bị khởi tố hình sự, bắt tạm giam. Đấy là chưa kể trong năm 2016, cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã xử lý kỷ luật hơn 18.800 đảng viên, trong đó có gần 1.700 đảng viên bị khai trừ ra khỏi Đảng. Nguyên nhân chủ yếu của những đảng viên bị loại khỏi đội ngũ là do tham nhũng hoặc suy thoái nghiêm trọng về tư cách đảng viên. Năm 2017 cũng là năm có nhiều tổ chức đảng bị xử lý kỷ luật; trong đó, có hai tập thể ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh bị Trung ương thi hành bằng hình thức cảnh cáo, đó là Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020 và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2010-2015. Cách đây 23 năm, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), Đảng ta đã nhận định, tham nhũng là một trong bốn nguy cơ liên quan đến sự tồn vong của Đảng và chế độ. Với quyết tâm làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin trong nhân dân, ngoài ban hành Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 về “Những điều đảng viên không được làm”, trong hai nhiệm kỳ liên tiếp, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” (năm 2011) và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (năm 2016). Trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, lần đầu tiên Đảng ta đã nêu ra 27 biểu hiện suy thoái cụ thể về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc nhận diện, tìm ra nguyên nhân cũng như đề xuất các giải pháp nhằm đấu tranh ngăn chặn, loại bỏ 27 biểu hiện suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là góp phần cắt bỏ những “ung nhọt” trong bộ máy Đảng, Nhà nước, từ đó làm cho “cơ thể” của Đảng, Nhà nước trở nên khỏe khoắn, lành mạnh hơn. Với mục đích củng cố, tăng cường sức mạnh nội lực của Đảng, mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 102-QĐ/TW về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Khoản đầu tiên của Điều 2 về nguyên tắc xử lý kỷ luật nêu rõ: “Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời”. Nguyên tắc xử lý kỷ luật này không chỉ là lời cảnh tỉnh, cảnh báo đối với những đảng viên có biểu hiện “nhúng chàm” phải sớm tự giác gột rửa, “cải tà quy chính” để tránh rơi vào vòng lao lý; mà còn khẳng định Đảng ta tiếp tục đề cao kỷ luật, siết chặt đội ngũ và sẽ không dung tha cho bất cứ cán bộ, đảng viên nào cố tình sai phạm, nhất là sa ngã vào con đường thoái hóa, biến chất, tham nhũng, lãng phí, gây tác động tiêu cực đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Pháp luật bất vị thân. Bằng việc kiên quyết “nói không” với tham nhũng; xử lý kịp thời, thích đáng đối với tất cả các trường hợp cán bộ các cấp sai phạm, Đảng ta đã và đang thể hiện tinh thần của “một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” như Bác Hồ mong muốn. Điều có ý nghĩa hơn là, mỗi bước chuyển biến trong phòng, chống “quốc nạn” tham nhũng là một lần nhân lên niềm tin trong nhân dân đối với Đảng ta và chế độ ta. Đó là cơ sở để chúng ta tin vào sức mạnh kỷ luật của Đảng. Bởi vì, với tư cách là đại biểu cho lợi ích trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, trong lịch sử gần 90 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, mỗi quyết định sáng suốt, kịp thời của Đảng đều có tác động tích cực đến niềm tin của nhân dân. Từ niềm tin đó, sức mạnh của nhân dân được nhân lên, sẽ đủ sức “dời non lấp biển”, sát cánh, đồng lòng với Đảng trên con đường hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tin tưởng vào Đảng là niềm tin chính nghĩa, là tin vào những giá trị cao đẹp mà Đảng đã và đang mang lại cho toàn dân ta. Cũng cần nhắc lại rằng, tuy công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước đã đi đúng hướng và đang có những chuyển biến rất quan trọng; nhưng chúng ta cũng không được phép chủ quan, sớm thỏa mãn, hài lòng với những kết quả đã đạt được. Vì cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng liên quan đến con người, tổ chức bộ máy, nhất là đụng chạm đến những cán bộ có chức, có quyền, do đó, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp đồng bộ cả về giáo dục, chính trị, hành chính, kinh tế, cơ chế, chính sách, pháp luật… Mọi biểu hiện nóng vội, muốn đốt cháy giai đoạn, cũng như thái độ cầm chừng, chậm trễ, lơ là trong “cuộc chiến” đầy cam go, phức tạp, nhạy cảm này đều không đúng với tinh thần, phương châm phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta. Điều quan trọng nhất lúc này đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngoài việc chung tay, góp sức với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân kiên quyết đẩy lùi “quốc nạn” tham nhũng, thì bản thân mỗi người phải thường xuyên tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, gương mẫu thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Bởi rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến Đảng, sẽ có hại đến nhân dân”.

NHỮNG TIẾNG NÓI LẠC LÕNG CẦN PHẢI PHÊ PHÁN, BÁC BỎ

Trong khi đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đã bày tỏ sự đồng tình và ủng hộ quyết định công minh của Đảng và Nhà nước ta; đồng thời, khẳng định niềm tin vào công lý của chế độ ta, thì các thế lực thù địch, phản động và thành phần bất mãn, cơ hội chính trị lại tung tin hoài nghi, phủ nhận công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước. Họ rêu rao rằng, sự “bắt bớ này là cuộc thanh trừng nội bộ”, là “đấu đá giữa các phe nhóm lợi ích trong Đảng Cộng sản”, là “sự triệt hạ các đối thủ chính trị trước thềm Đại hội Đảng sắp tới”, thậm chí có kẻ còn xuyên tạc, bịa đặt: “Có người chống tham nhũng dù bản thân họ không dính vào tham nhũng kinh tế, nhưng lại sa vào tham nhũng quyền lực chính trị”. Thô thiển hơn, có kẻ suy luận là cuộc chiến chống tham nhũng gần đây của Việt Nam cũng chẳng qua chỉ là “học mót” chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” từ một nước láng giềng(!)… Từ những ý kiến, bình luận ác ý đó, họ lái sang ý đồ chính trị thông qua những lập luận “sặc mùi” chống phá, kiểu như: “Muốn xóa bỏ tận gốc căn nguyên của tham nhũng ở Việt Nam, phải thay đổi thể chế chính trị bằng cách xây dựng một chế độ đa đảng, xã hội dân sự, vì còn chế độ “độc đảng” là còn nguồn cơn xảy ra những đại án tham nhũng, quyền lợi chỉ thuộc về một bộ phận tinh hoa, còn đại bộ phận người dân vẫn đói nghèo, xã hội không thể phát triển được”(!). Không phải bây giờ, mà trước bất cứ sự kiện, vấn đề lớn nào diễn ra trong nước, thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, một số cơ quan truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện chí với Việt Nam cũng đều a dua, hùa theo những kẻ tự xưng là “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà đấu tranh dân chủ”, “nhà báo tự do” ở trong nước. Sau khi “nghe hơi nồi chõ” thông tin, họ đồng loạt “kẻ tung người hứng”, “mượn gió bẻ măng”, “đục nước béo cò” để cùng chĩa “mũi dùi” vào Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Chiêu trò này tuy không có gì mới, nhưng nó được lặp đi lặp lại càng chứng tỏ họ đã “vạch áo cho người xem lưng”, tự bộc lộ rõ động cơ, mưu đồ chính trị nham hiểm. Vì vậy, bên cạnh việc đặt niềm tin vào kỷ luật công minh của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác phòng ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lợi dụng công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta để tung ra những ý kiến bình luận sai trái, lệch lạc, cố tình bôi nhọ, bóp méo sự thật, lái dư luận vào những ý đồ đen tối.