Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

“Phủ bụi” vào lịch sử là mắc trọng tội với thế hệ cha ông

Khi nói về lịch sử, đại văn hào người Pháp Victor Hugo từng khẳng định: Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là ánh phản chiếu của tương lai trên quá khứ. . 11 giờ 30 ngày 30-4-1975, xe tăng quân giải phóng đã tiến qua cổng sắt đánh chiếm Dinh Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của địch. Ảnh tư liệu. Để tiếng vọng đó có ý nghĩa, giá trị với hiện tại và tương lai, đòi hòi thế hệ đi sau không chỉ có thái độ chuẩn mực, phương pháp khoa học khi nhận định, đánh giá về các sự kiện, vấn đề của lịch sử, mà cần có ý thức thận trọng khi phát ngôn, diễn giải về lịch sử. Lịch sử là những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng nó luôn có quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai. Do vậy, khi nhìn nhận về các sự kiện, vấn đề lịch sử trước hết cần phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử. Điều hiển nhiên này tưởng như ai cũng biết, nhưng thực tế không phải ai cũng quan niệm, ứng xử một cách chừng mực, đúng đắn. Có người do thiếu kiến thức lịch sử, chưa nghiên cứu thấu đáo những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ nên khi xem xét về lịch sử còn hời hợt, phiến diện. Nhưng cũng có người do thiếu nhãn quan chính trị chuẩn mực nên có những phát ngôn chưa đúng về lịch sử, thậm chí nhìn nhận lịch sử bằng con mắt hẹp hòi, đánh giá lịch sử bằng thái độ bôi nhọ, xuyên tạc. Đây là một trong những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về chính trị tư tưởng mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra. Thời gian qua, không khó để nhận diện những thái độ hạ thấp, “phủ bụi” vào lịch sử. Ví như có người ngộ nhận khi cho rằng, “Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam chỉ cần “trung với nước, hiếu với dân” là đủ, là đúng với tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra"(!). Vì khi đưa ra lý do này, họ viện cớ rằng, 6 chữ “trung với nước, hiếu với dân” thêu trên lá cờ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng cán bộ, giáo viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) trong ngày khai giảng khóa I (26-5-1946) cũng là lời Bác nhắc nhở quân đội nói chung”. Nhưng có một sự thật lịch sử cần phải nhắc lại, đó là trong dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam 22-12-1964, Bác Hồ đã khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Vì vậy, trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân không chỉ thể hiện, phản ánh bản chất sự thật lịch sử ra đời, trưởng thành, phát triển của QĐND Việt Nam, mà còn là một trong những cội nguồn và động lực lịch sử làm nên những chiến công hiển hách của Quân đội ta, một quân đội cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện. Cách đây chưa lâu, dư luận từng xôn xao trước việc một số nhà nghiên cứu từng đề xuất bỏ cách gọi “ngụy quân”, “ngụy quyền” của chế độ Việt Nam cộng hòa. Nhân cơ hội đó, một số người a dua cho rằng, “việc công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng nhằm hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh”(!). Nhìn nhận như vậy là chưa khách quan, chưa đúng với sự thật lịch sử. Vì thực tế, “ngụy quân”, “ngụy quyền” tuy vẫn mang dòng máu đỏ da vàng của người Việt, song lực lượng và chế độ này ra đời không đại diện cho tinh thần dân tộc chân chính, đi ngược lại lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam và đó chỉ là lực lượng tay sai, chế độ bù nhìn cho các thế lực ngoại bang xâm lược, giày xéo giang sơn bờ cõi Việt. Do không mang tính chính danh nên họ không đủ tư cách để đứng ngang hàng với QĐND Việt Nam và chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-một quân đội cách mạng và một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đó là một sự thật lịch sử không thể xuyên tạc. Chiến tranh là nỗi ám ảnh ghê ghớm nhất của con người. Dân tộc Việt Nam luôn mang khát vọng “đời ta thích hoa hồng”, nhưng “kẻ thù buộc ta ôm cây súng”. Lấy chiến tranh chính nghĩa để kiên quyết chống lại chiến tranh phi nghĩa là đòi hỏi tất yếu của lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ 20. Tuy vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, Đảng, Nhà nước ta chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tích cực thu hẹp bất đồng, tăng cường đối thoại và mở rộng vòng tay chào đón những người từng ở “phía bên kia chiến tuyến” hướng về Tổ quốc, qua đó nhằm củng cố, phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã lùi xa hơn 42 năm. Chúng ta không bao giờ có ý khoét sâu vào nỗi đau của các thân nhân có con em hy sinh, tử nạn trong cuộc chiến tranh này, nhưng nói thế không đồng nghĩa với việc xóa nhòa sự thật lịch sử của cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Vì từng có ý kiến cho rằng, “chiến tranh đã thuộc về quá khứ thì cho nó nằm yên một chỗ, không nên khơi gợi lại làm gì vì làm như vậy dễ tổn thương đến những người tham gia cuộc chiến, gây bất lợi cho vấn đề hòa giải dân tộc trong tình hình hiện nay”(!). Ý kiến này mới thoạt nghe tưởng như không có gì đáng nói, nhưng thực chất đây là sự xuyên tạc bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; đánh đồng đối tượng tham gia cuộc chiến. Bởi sự thật lịch sử đã chứng minh rằng, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đại diện cho lực lượng yêu nước tiến bộ, yêu hòa bình của dân tộc Việt Nam nên đã chiến đấu anh dũng, quật cường để mang lại thống nhất, độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân; còn Quân lực Việt Nam cộng hòa chỉ là lực lượng tay sai, là “lính đánh thuê” cho một thể chế chính trị không có chính danh, không được đông đảo nhân dân đồng tình, ủng hộ. Vì vậy, sự thất bại, sụp đổ của lực lượng, chế độ mang bản chất “ngụy” ấy là tất yếu khách quan và là sự thật lịch sử không thể chối cãi. Khi muốn xem xét, đánh giá những sự kiện, vấn đề diễn ra trong quá khứ, nhất là những sự kiện, vấn đề ấy liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc, liên quan đến lịch sử chiến đấu đau thương mà hào hùng của cả một quân đội cách mạng và một cộng đồng dân tộc vì phẩm giá, lương tâm của thời đại thì không được phép hời hợt, phiến diện, lại càng không được phép đánh tráo khái niệm theo kiểu “mập mờ đánh lận con đen”. Những trang sử vẻ vang về QĐND Việt Nam, về dân tộc Việt Nam anh hùng trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc sẽ mãi đồng hành, trường tồn cùng lịch sử nước ta. Bởi đó là những trang sử được viết nên bởi những tấm lòng trung kiên, cao thượng của cả một thế hệ cha ông đã tự nguyện cống hiến, xả thân hết mình vì hòa bình, độc lập, tự do cho Tổ quốc. Nên nhớ rằng, để non sông nước Việt nối liền một dải như hôm nay, để hơn 93 triệu người dân Việt đang hưởng cuộc sống bình yên như hôm nay, đã có gần 1,2 triệu người con ưu tú của Tổ quốc mãi mãi không trở về, gần 825.000 người đã để lại một phần máu thịt của mình trên chiến trường. Đó là chưa kể hơn 312.000 bộ đội, người tham gia kháng chiến bị phơi nhiễm chất độc hóa học mà đến nay không chỉ bản thân họ, mà nhiều con cháu họ vẫn còn chịu đựng bao nỗi đau dai dẳng từ cuộc chiến tranh phi nghĩa do đế quốc Mỹ và ngụy quân, ngụy quyền gây ra. Đó cũng là một sự thật lịch sử không được phép lãng quên. Trong đạo lý truyền thống người Việt, bất hiếu với cha mẹ là tội lỗi nặng nhất; vong ân bội nghĩa với thế hệ tiền nhân đã vun đắp, tạo dựng cho cuộc sống hiện tại của mình là “cạn tàu ráo máng”; vô ơn với tổ tiên, cội nguồn là kẻ chẳng ra gì, nếu không muốn nói là hèn mạt, đê tiện. Thế nên, với ai đó còn có biểu hiện quay lưng lại quá khứ, phủ nhận lịch sử, xuyên tạc thành quả cách mạng giải phóng dân tộc đã phải đổi bằng xương máu của hàng triệu con người, không chỉ đi ngược lại với số đông, làm tổn thương đến chiều hướng phát triển chân chính của lịch sử; mà còn làm vẩn đục những giá trị cao đẹp của lịch sử Việt Nam. Như một nhà sử học đã ví von hình ảnh mà rất chí lý rằng: Khi ai đó cố tình lãng quên quá khứ, “phủ bụi” vào lịch sử, tự họ đang bôi nhọ vào chính gương mặt người đã sinh ra mình.

“Phủ bụi” vào lịch sử là mắc trọng tội với thế hệ cha ông

Khi nói về lịch sử, đại văn hào người Pháp Victor Hugo từng khẳng định: Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là ánh phản chiếu của tương lai trên quá khứ. . 11 giờ 30 ngày 30-4-1975, xe tăng quân giải phóng đã tiến qua cổng sắt đánh chiếm Dinh Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của địch. Ảnh tư liệu. Để tiếng vọng đó có ý nghĩa, giá trị với hiện tại và tương lai, đòi hòi thế hệ đi sau không chỉ có thái độ chuẩn mực, phương pháp khoa học khi nhận định, đánh giá về các sự kiện, vấn đề của lịch sử, mà cần có ý thức thận trọng khi phát ngôn, diễn giải về lịch sử. Lịch sử là những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng nó luôn có quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai. Do vậy, khi nhìn nhận về các sự kiện, vấn đề lịch sử trước hết cần phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử. Điều hiển nhiên này tưởng như ai cũng biết, nhưng thực tế không phải ai cũng quan niệm, ứng xử một cách chừng mực, đúng đắn. Có người do thiếu kiến thức lịch sử, chưa nghiên cứu thấu đáo những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ nên khi xem xét về lịch sử còn hời hợt, phiến diện. Nhưng cũng có người do thiếu nhãn quan chính trị chuẩn mực nên có những phát ngôn chưa đúng về lịch sử, thậm chí nhìn nhận lịch sử bằng con mắt hẹp hòi, đánh giá lịch sử bằng thái độ bôi nhọ, xuyên tạc. Đây là một trong những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về chính trị tư tưởng mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra. Thời gian qua, không khó để nhận diện những thái độ hạ thấp, “phủ bụi” vào lịch sử. Ví như có người ngộ nhận khi cho rằng, “Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam chỉ cần “trung với nước, hiếu với dân” là đủ, là đúng với tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra"(!). Vì khi đưa ra lý do này, họ viện cớ rằng, 6 chữ “trung với nước, hiếu với dân” thêu trên lá cờ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng cán bộ, giáo viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) trong ngày khai giảng khóa I (26-5-1946) cũng là lời Bác nhắc nhở quân đội nói chung”. Nhưng có một sự thật lịch sử cần phải nhắc lại, đó là trong dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam 22-12-1964, Bác Hồ đã khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Vì vậy, trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân không chỉ thể hiện, phản ánh bản chất sự thật lịch sử ra đời, trưởng thành, phát triển của QĐND Việt Nam, mà còn là một trong những cội nguồn và động lực lịch sử làm nên những chiến công hiển hách của Quân đội ta, một quân đội cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện. Cách đây chưa lâu, dư luận từng xôn xao trước việc một số nhà nghiên cứu từng đề xuất bỏ cách gọi “ngụy quân”, “ngụy quyền” của chế độ Việt Nam cộng hòa. Nhân cơ hội đó, một số người a dua cho rằng, “việc công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng nhằm hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh”(!). Nhìn nhận như vậy là chưa khách quan, chưa đúng với sự thật lịch sử. Vì thực tế, “ngụy quân”, “ngụy quyền” tuy vẫn mang dòng máu đỏ da vàng của người Việt, song lực lượng và chế độ này ra đời không đại diện cho tinh thần dân tộc chân chính, đi ngược lại lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam và đó chỉ là lực lượng tay sai, chế độ bù nhìn cho các thế lực ngoại bang xâm lược, giày xéo giang sơn bờ cõi Việt. Do không mang tính chính danh nên họ không đủ tư cách để đứng ngang hàng với QĐND Việt Nam và chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-một quân đội cách mạng và một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đó là một sự thật lịch sử không thể xuyên tạc. Chiến tranh là nỗi ám ảnh ghê ghớm nhất của con người. Dân tộc Việt Nam luôn mang khát vọng “đời ta thích hoa hồng”, nhưng “kẻ thù buộc ta ôm cây súng”. Lấy chiến tranh chính nghĩa để kiên quyết chống lại chiến tranh phi nghĩa là đòi hỏi tất yếu của lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ 20. Tuy vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, Đảng, Nhà nước ta chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tích cực thu hẹp bất đồng, tăng cường đối thoại và mở rộng vòng tay chào đón những người từng ở “phía bên kia chiến tuyến” hướng về Tổ quốc, qua đó nhằm củng cố, phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã lùi xa hơn 42 năm. Chúng ta không bao giờ có ý khoét sâu vào nỗi đau của các thân nhân có con em hy sinh, tử nạn trong cuộc chiến tranh này, nhưng nói thế không đồng nghĩa với việc xóa nhòa sự thật lịch sử của cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Vì từng có ý kiến cho rằng, “chiến tranh đã thuộc về quá khứ thì cho nó nằm yên một chỗ, không nên khơi gợi lại làm gì vì làm như vậy dễ tổn thương đến những người tham gia cuộc chiến, gây bất lợi cho vấn đề hòa giải dân tộc trong tình hình hiện nay”(!). Ý kiến này mới thoạt nghe tưởng như không có gì đáng nói, nhưng thực chất đây là sự xuyên tạc bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; đánh đồng đối tượng tham gia cuộc chiến. Bởi sự thật lịch sử đã chứng minh rằng, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đại diện cho lực lượng yêu nước tiến bộ, yêu hòa bình của dân tộc Việt Nam nên đã chiến đấu anh dũng, quật cường để mang lại thống nhất, độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân; còn Quân lực Việt Nam cộng hòa chỉ là lực lượng tay sai, là “lính đánh thuê” cho một thể chế chính trị không có chính danh, không được đông đảo nhân dân đồng tình, ủng hộ. Vì vậy, sự thất bại, sụp đổ của lực lượng, chế độ mang bản chất “ngụy” ấy là tất yếu khách quan và là sự thật lịch sử không thể chối cãi. Khi muốn xem xét, đánh giá những sự kiện, vấn đề diễn ra trong quá khứ, nhất là những sự kiện, vấn đề ấy liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc, liên quan đến lịch sử chiến đấu đau thương mà hào hùng của cả một quân đội cách mạng và một cộng đồng dân tộc vì phẩm giá, lương tâm của thời đại thì không được phép hời hợt, phiến diện, lại càng không được phép đánh tráo khái niệm theo kiểu “mập mờ đánh lận con đen”. Những trang sử vẻ vang về QĐND Việt Nam, về dân tộc Việt Nam anh hùng trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc sẽ mãi đồng hành, trường tồn cùng lịch sử nước ta. Bởi đó là những trang sử được viết nên bởi những tấm lòng trung kiên, cao thượng của cả một thế hệ cha ông đã tự nguyện cống hiến, xả thân hết mình vì hòa bình, độc lập, tự do cho Tổ quốc. Nên nhớ rằng, để non sông nước Việt nối liền một dải như hôm nay, để hơn 93 triệu người dân Việt đang hưởng cuộc sống bình yên như hôm nay, đã có gần 1,2 triệu người con ưu tú của Tổ quốc mãi mãi không trở về, gần 825.000 người đã để lại một phần máu thịt của mình trên chiến trường. Đó là chưa kể hơn 312.000 bộ đội, người tham gia kháng chiến bị phơi nhiễm chất độc hóa học mà đến nay không chỉ bản thân họ, mà nhiều con cháu họ vẫn còn chịu đựng bao nỗi đau dai dẳng từ cuộc chiến tranh phi nghĩa do đế quốc Mỹ và ngụy quân, ngụy quyền gây ra. Đó cũng là một sự thật lịch sử không được phép lãng quên. Trong đạo lý truyền thống người Việt, bất hiếu với cha mẹ là tội lỗi nặng nhất; vong ân bội nghĩa với thế hệ tiền nhân đã vun đắp, tạo dựng cho cuộc sống hiện tại của mình là “cạn tàu ráo máng”; vô ơn với tổ tiên, cội nguồn là kẻ chẳng ra gì, nếu không muốn nói là hèn mạt, đê tiện. Thế nên, với ai đó còn có biểu hiện quay lưng lại quá khứ, phủ nhận lịch sử, xuyên tạc thành quả cách mạng giải phóng dân tộc đã phải đổi bằng xương máu của hàng triệu con người, không chỉ đi ngược lại với số đông, làm tổn thương đến chiều hướng phát triển chân chính của lịch sử; mà còn làm vẩn đục những giá trị cao đẹp của lịch sử Việt Nam. Như một nhà sử học đã ví von hình ảnh mà rất chí lý rằng: Khi ai đó cố tình lãng quên quá khứ, “phủ bụi” vào lịch sử, tự họ đang bôi nhọ vào chính gương mặt người đã sinh ra mình.

Đảng viên không thể tiên phong, gương mẫu nếu suy thoái

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đến nay, nhân dân đã được chứng kiến nhiều cán bộ, đảng viên diện Trung ương quản lý bị thi hành kỷ luật, thậm chí bị xử lý trước pháp luật. . Thực tế ấy một mặt cho thấy quyết tâm làm trong sạch bộ máy lãnh đạo, chính quyền các cấp từ Trung ương tới địa phương của Đảng ta. Mặt khác, nó cũng cho thấy vai trò tiên phong, gương mẫu của một bộ phận đảng viên, nhất là đảng viên chủ trì các cơ quan, đơn vị, địa phương đang bị suy giảm. Dù đã được bàn đi bàn lại nhiều nhưng việc phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên vẫn luôn là chủ đề nóng hổi tính thời sự và trở nên cấp bách hiện nay. Một tổ chức, một tập thể muốn mạnh thì các thành viên trong tổ chức ấy phải tốt. Đảng ta cũng vậy, để đủ sức lãnh đạo đất nước vượt qua thác ghềnh, tiến tới vinh quang thì Đảng phải thường xuyên được xây dựng trong sạch, vững mạnh. Sức mạnh của đảng là do các đảng viên - những tế bào của Đảng tạo nên. Muốn Đảng mạnh thì đội ngũ đảng viên phải tốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do đảng viên đều tốt"(1). Phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên có vị trí, vai trò rất quan trọng trong công tác xây dựng và nâng cao sức chiến đấu của Đảng. Đề cập đến vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(2). Trong suốt 87 năm gánh vác sứ mệnh lịch sử lớn lao mà giai cấp và dân tộc giao phó, đội ngũ đảng viên của Đảng luôn giữ vững và phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu. Thực tế chứng minh càng trong gian khó, hiểm nguy, vai trò của người đảng viên càng được khẳng định. Đặc biệt trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, hàng vạn đảng viên đã xả thân hy sinh, chiến đấu kiên cường, dũng cảm để giành lại và giữ gìn nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong thời kỳ đổi mới, đội ngũ đảng viên của Đảng luôn đi đầu tranh thủ thời cơ, vượt lên thách thức, tích cực, năng động, nhạy bén tiếp thu cái mới; sáng tạo trong lao động sản xuất, học tập và công tác. Hầu hết đảng viên luôn đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Bước vào thời kỳ hội nhập, đội ngũ đảng viên của Đảng thực sự đi tiên phong, gương mẫu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu của đất nước; chịu khó học tập, tiếp thu khoa học công nghệ, nâng cao trình độ chuyên môn. Rất nhiều đảng viên có tư duy sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và đã tạo ra được những giá trị mới, thành tựu mới; từ đó dẫn dắt phong trào, củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và chế độ XHCN... Hình ảnh những đảng viên tiên phong, gương mẫu đã ăn sâu, bám rễ và còn mãi trong lòng nhân dân. Nhưng thật tiếc, thời gian qua, một bộ phận không nhỏ đảng viên đã không giữ vững, phát huy được tính tiên phong, gương mẫu do suy thoái về tư tưởng, biến chất về đạo đức, lối sống. Đúng như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chỉ rõ: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở... Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa " chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ” (3). Một số trường hợp điển hình phải kể đến là: Ông Trịnh Xuân Thanh, Tỉnh ủy viên, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang (nhiệm kỳ 2011-2016) có nhiều sai phạm nghiêm trọng trong quá trình công tác, đặc biệt là những sai phạm nghiêm trọng khi giữ cương vị Phó bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc rồi Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam; ông Vũ Huy Hoàng, nguyên Bí thư Ban Cán sự đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương đã bị cách chức Bí thư Ban Cán sự đảng Bộ Công Thương giai đoạn 2011-2016, xóa tư cách nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương; ông Nguyễn Minh Quang, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (nhiệm kỳ 2011-2016) bị xử lý kỷ luật cảnh cáo do có những vi phạm liên quan đến vụ Công ty TNHH Formosa Hà Tĩnh xả thải gây ô nhiễm môi trường biển tại một số tỉnh miền Trung; bà Hồ Thị Kim Thoa, Thứ trưởng Bộ Công Thương đã bị kỷ luật cảnh cáo và miễn nhiệm chức vụ Thứ trưởng do có nhiều vi phạm, khuyết điểm trong việc cổ phần hóa doanh nghiệp; kê khai tài sản, thu nhập thiếu trung thực...; ông Nguyễn Xuân Anh, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ...; ông Nguyễn Phong Quang, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ (giai đoạn 2011-2016) do vi phạm nguyên tắc lãnh đạo đã bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng... Không chỉ vậy ở nhiều bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị số đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý cũng lên tới hàng trăm. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế, khuyết điểm làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng được Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII chỉ ra là “một số cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tiên phong, gương mẫu”. Không chỉ Đảng ta mà quần chúng nhân dân cũng cảm thấy rất đau, rất buồn khi có những đảng viên, nhất là những đảng viên giữ vị trí, trọng trách lớn bị xử lý kỷ luật. Nhưng vì sự trong sạch của Đảng, vì sự phát triển của đất nước, vì sự bền vững của chế độ thì không thể buông lỏng kỷ luật, kỷ cương. Có công thì thưởng, có tội thì phạt, Đảng và nhân dân ta rất công tâm. Đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý là lẽ đương nhiên, nhưng vấn đề chính không phải là xử lý bằng hình thức nào mà quan trọng là phải tìm cho được những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng đảng viên thiếu tiên phong, gương mẫu. Nhiệm vụ của cách mạng ở từng giai đoạn có khác nhau và thực tiễn đòi hỏi vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng ngày một cao hơn, cho nên tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên cũng có những nội dung, yêu cầu mới. Cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" thành công hay không phụ thuộc rất lớn vào vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu. Đảng viên không thể phát huy tính tiên phong, gương mẫu nếu suy thoái. Bởi lẽ quần chúng nhân dân rất tinh tường, họ chỉ tin tưởng, yêu mến, nghe và làm theo những cán bộ, đảng viên lời nói đi đôi với việc làm, có trình độ, năng lực; có phương pháp, tác phong công tác khoa học; có phẩm chất, đạo đức trong sáng, lối sống trong sạch, lành mạnh v.v.. Để vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên không bị mai một, có nhiều việc cần làm, nhưng quan trọng nhất là phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên. Để làm được điều đó có một việc hết sức quan trọng mà chúng ta đã nói rất nhiều nhưng kết quả chưa được bao nhiêu, đó là: Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Những đảng viên vi phạm kỷ luật, pháp luật không phải là bột phát trong chốc lát, trong một việc mà đều có quá trình và có sự móc xích, liên quan đến nhiều người trong bộ máy. Những nguy cơ sai lầm, những dấu hiệu vi phạm tinh vi đến mấy cũng bộc lộ, không chỉ một người thấy mà nhiều người trong tập thể biết. Vậy mà tại sao các vụ việc vi phạm nghiêm trọng vẫn cứ xảy ra? Rõ ràng ở những tổ chức có đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, tính đấu tranh tự phê bình và phê bình là chưa cao, nếu không muốn nói là bị buông lỏng. Thử hỏi nếu thấy đồng chí mình có dấu hiệu vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật mà tập thể cấp ủy, tổ chức đảng và các đảng viên trong tập thể chân tình góp ý, thẳng thắn đấu tranh, có biện pháp ngăn chặn từ sớm thì sự việc có đi quá xa, quá nghiêm trọng đến mức phải xử lý kỷ luật? Rõ ràng để tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên không bị giảm sút, vai trò quản lý, giáo dục của tổ chức đảng là hết sức quan trọng. Nhưng quyết định vẫn là vai trò chủ quan của mỗi đảng viên. Để giữ vững và phát huy tính tiên phong, gương mẫu, từng đảng viên phải tự giác học tập và rèn luyện, nghiêm túc trong tự phê bình và phê bình. Người đảng viên thực sự tiên phong, gương mẫu bao giờ cũng lấy tiêu chuẩn đảng viên làm định hướng phấn đấu, là chuẩn mực để đối chiếu kiểm tra tư tưởng và hành động, từ đó thường xuyên "tự chỉnh đốn”, chứ không phải chờ đợi tổ chức đảng đề ra cuộc vận động, hay áp dụng biện pháp này, biện pháp kia thì mới tự phê bình. Tự phê bình và phê bình nghiêm túc là "chìa khóa vàng" để từng đảng viên giữ vững, phát huy tính tiên phong, gương mẫu, từng tổ chức đảng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ./.

Ngăn chặn việc lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” để phát tán tài liệu vu cáo, vu khống Việt Nam

Thực tế cho thấy, để xuyên tạc, vu cáo, chống phá chế độ,... các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí đã thực hiện nhiều thủ đoạn tác động tới nhận thức của một bộ phận xã hội, trong đó có thủ đoạn phát tán tài liệu dưới nhiều hình thức khác nhau, từ rải tờ rơi ở chỗ đông người đến rao bán như hàng hóa trên in-tơ-nét... . Vào thời kỳ trước khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu sụp đổ, một trong các thủ đoạn mà thế lực thù địch, thiếu thiện chí với chính quyền ở các quốc gia này đã tiến hành là tìm mọi cách phát tán trong xã hội các tài liệu xuyên tạc, chống đối. Thủ đoạn đó được gọi là “samizdat” và ở thời kỳ đầu, vì chủ yếu liên quan tác phẩm văn học mà “hầu hết bị cấm hoặc có nội dung không phù hợp với các tiêu chí chính trị, xã hội và cả thẩm mỹ mà các cơ quan hữu trách đã đặt ra” cho nên trong tiếng Anh, “samizdat” có nghĩa là “xuất bản lậu những sách bị cấm”. Với Việt Nam, ngay từ đầu, các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí đã sử dụng samizdat như một công cụ xâm nhập, tiến công, lung lạc đời sống tinh thần xã hội. Dần dà họ mở rộng phạm vi, không chỉ phát tán một số tác phẩm nghệ thuật có nội dung như Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII chỉ rõ là “Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Ðảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Ðảng” mà còn phát tán tài liệu có tính phản tuyên truyền như: “Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai… Hạ thấp, phủ nhận các thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Ðảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Ðảng, Nhà nước”. Và khi sự phát triển của in-tơ-nét đã cung cấp một phương tiện truyền bá mới thì các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí cũng rất nhanh chóng tận dụng để phát tán tài liệu loại này qua một số trang mạng, blog, facebook... Mục đích của họ là khuếch tán tài liệu phản tuyên truyền, từ đó len lỏi, thấm dần vào suy nghĩ, nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân. Tuy nhiên, vì không phải người nào cũng có thể đọc tài liệu phát tán qua in-tơ-nét, cho nên các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí vẫn tiếp tục sử dụng samizdat với hình thức nguyên thủy là in ấn tài liệu để phát tán. Khi ở Việt Nam máy in, máy phô-tô-cóp-py được mua bán rộng rãi, thì việc in ấn như vậy khá dễ dàng, kẻ xấu có thể tổ chức in ấn ngay tại nhà. Và việc phát tán cũng đã được thực hiện với nhiều cách thức khác nhau, như: gửi qua đường bưu điện, rải tờ rơi tại một vài địa điểm công cộng, dán lên tường, lên gốc cây nơi có nhiều người qua lại, ngang nhiên tụ tập ở nơi đông người để phân phát... Thậm chí gần đây, có người còn “xuất bản” một cuốn sách được ví như “nồi lẩu thập cẩm” về chính trị vì khai thác, nhặt nhạnh từ một số sách vở, địa chỉ trên in-tơ-nét rồi rao bán trên Amazon, và lập tức một số kẻ đã xúm vào ca ngợi, quảng bá! Có thể nhận diện thủ đoạn truyền bá quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam qua việc họ cắt xén, xuyên tạc Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (Hiến pháp), Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (Tuyên ngôn), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Công ước)... Thí dụ, biện hộ cho hành vi vi phạm pháp luật, họ cho rằng theo Hiến pháp thì “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”. Thực chất, đó là sự cắt xén nguyên bản, bởi Ðiều 25, Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”, tức là Hiến pháp quy định các quyền đó phải thực hiện trên cơ sở pháp luật. Với Tuyên ngôn và Công ước cũng vậy, họ phát tán các tài liệu này để vu khống Việt Nam “vi phạm nhân quyền” nhưng chỉ nhấn mạnh nội dung phù hợp với họ, còn bỏ qua nội dung không phù hợp. Như họ tảng lờ khoản 2, Ðiều 29, Tuyên ngôn xác định: “Trong khi thực hiện các quyền và quyền tự do cho cá nhân mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng đối với các quyền và quyền tự do của những người khác, đáp ứng được những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”; khoản 3, Ðiều 18, Công ước xác định: “Quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn theo luật, vì nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý hay những quyền tự do căn bản của người khác”; hoặc khoản 3, Ðiều 19, Công ước xác định: “Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm (…) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu: a. Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác; b. Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý”. Như vậy, các văn bản kể trên của Liên hợp quốc luôn tôn trọng luật pháp của các quốc gia, coi việc thực thi quyền con người phải đặt trong tương quan với an ninh quốc gia, trật tự công cộng, với trách nhiệm, bổn phận, đạo đức, với quyền của người khác... Trong bối cảnh các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí đang bày ra nhiều âm mưu, tận dụng mọi hình thức chống phá nhằm gia tăng sự tác động của luận điệu xuyên tạc, vu khống, bịa đặt, cổ vũ hành vi chống phá chế độ,... vào đời sống xã hội, chúng ta cần thực hiện tốt quan điểm được Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII xác định: Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách; và để “chống” có hiệu quả, Nghị quyết chỉ rõ phải: “Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị”. Với hiện tượng lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” để phát tán tài liệu vu cáo, vu khống Ðảng và Nhà nước Việt Nam, cần phải chủ động tuyên truyền rộng rãi, dễ hiểu, dễ nắm được bản chất vấn đề để toàn xã hội thống nhất về mục tiêu, định hướng, bước đi,... phát triển đất nước; kiên quyết xử lý các cán bộ, đảng viên có hành vi làm tổn hại lợi ích của xã hội, lợi ích của nhân dân; khách quan và minh bạch trong hoạt động của chính quyền các cấp để củng cố niềm tin của xã hội; xây dựng sách lược thống nhất, phối hợp chặt chẽ, có khả năng dự báo và lường trước mọi luận điệu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí, để vừa làm chủ trận địa truyền thông vừa có đối sách thích hợp, nhanh chóng vạch trần và chứng minh, bác bỏ...; cơ quan chức năng cần chủ động nắm bắt diễn biến tình hình, nghiêm khắc xử lý mọi hành vi lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” để phát tán tài liệu vu cáo, vu khống Ðảng và Nhà nước. Quan trọng hơn, khi chúng ta thực hiện tốt quan điểm “Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Ðảng; đề cao pháp luật của Nhà nước” như Nghị quyết T.Ư 4 đã khẳng định thì không thế lực thù địch, thiếu thiện chí nào có thể cản trở sự nghiệp phát triển đất nước trên con đường đã được Ðảng, Bác Hồ và nhân dân ta lựa chọn.

Bình đẳng giữa các dân tộc - Biểu hiện cụ thể của quyền con người ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia thống nhất với 54 dân tộc cùng chung sống. Với tỷ lệ dân số không đồng đều (trong tổng số hơn 90 triệu dân Việt Nam, đồng bào các dân tộc thiểu số chỉ chiếm 14.3% với hơn 12.3 triệu người, thuộc 53 dân tộc); cư trú phân tán và xen kẽ nhau… cộng đồng các dân tộc Việt Nam có nhiều đặc điểm riêng so với các dân tộc khác trên thế giới. . Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam rất coi trọng chính sách dân tộc, đặc biệt là bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc; quan tâm chăm lo, tạo điều kiện tốt nhất để đồng bào các dân tộc thiểu số gìn giữ bản sắc văn hóa, phát triển về mọi mặt và thụ hưởng các quyền lợi khác đã được pháp luật ghi nhận. Coi trọng bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc Trong các bản hiến pháp của Việt Nam qua các thời kỳ đều ghi nhận và khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc. Hiến pháp năm 2013, bản hiến pháp đã nâng tầm chế định về quyền con người, quyền công dân, khi đề cập đến quyền bình đẳng giữa các dân tộc, đã khẳng định: “Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5). “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” (Điều 16). Nguyên tắc trên của Hiến pháp đã được thể hiện xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam, được thể chế và cụ thể hóa trong các văn bản luật: Luật Bầu cử Quốc hội, Luật Quốc tịch, Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng Hình sự; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật Lao động; Luật Giáo dục; Luật Bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác. Bên cạnh đó, các quy định về quyền bình đẳng giữa các dân tộc còn được thể chế hóa bằng chế định về Hội đồng Dân tộc, với nhiệm vụ nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số. Trong Chính phủ có một cơ quan cấp bộ là Uỷ ban Dân tộc, chuyên trách công tác dân tộc. Với quan điểm mọi công dân đều được bảo đảm quyền tham gia hệ thống chính trị, tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, những năm gần đây tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia vào bộ máy chính trị ngày càng tăng. Số lượng đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số luôn chiếm tỷ lệ cao so với tỷ lệ dân số. Trong 4 nhiệm kỳ Quốc hội liên tiếp, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số chiếm từ 15,6% đến 17,27%, cao hơn tỷ lệ người dân tộc thiểu số trên tổng số dân là 14,35%. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 là 18%, cấp huyện là 20%, cấp xã là 22,5%. Dành nhiều ưu tiên hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội Với đặc điểm cư trú phân tán, xen kẽ, tập trung chủ yếu ở các vùng núi, đặc biệt là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, trình độ phát triển còn thấp so với mặt bằng chung cả nước. Để hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện quyền bình đẳng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, những năm qua, Nhà nước đã dành nhiều ưu tiên trong triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều chương trình đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực như: Chương trình hành động 122 của Chính phủ về Công tác Dân tộc; Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Giảm nghèo bền vững; Chương trình 135 (giai đoạn 2) về Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa; các chính sách và chương trình ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, giải quyết đất sản xuất và đất ở (Quyết định 132); hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở và các nhu cầu thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống cho đồng bào nghèo thuộc dân tộc thiểu số (Quyết định 134); ưu đãi thuế nông nghiệp và thuế lưu thông hàng hoá, hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp, trợ giá các mặt hàng thiết yếu cho đồng bào dân tộc như muối ăn, thuốc chữa bệnh, phân bón, giấy viết, chính sách phát triển rừng, bảo vệ môi trường sống miền núi (Chương trình 327); chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo; chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số… Nhờ những chính sách và chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, tình hình kinh tế, xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được cải thiện rõ rệt. Từ năm 2007 đến nay đã có 118.530 hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn được vay vốn, 33.969 hộ được hỗ trợ phát triển sản xuất, 80.218 hộ được hỗ trợ mở rộng quy mô chăn nuôi, 4.343 hộ được hỗ trợ mở rộng sang ngành nghề dịch vụ. Tổng số hộ nghèo người dân tộc thiểu số là 1.422.261 hộ, chiếm 5,97% tổng số hộ người dân tộc thiểu số trong cả nước. Chất lượng cuộc sống của người dân tộc thiểu số cũng từng bước được cải thiện. Cơ sở hạn tầng đảm bảo cho việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của đồng bào được đầu tư xây dựng. Đến nay, 100% xã có trạm y tế và cán bộ y tế, 100% số huyện có trung tâm y tế và bác sỹ; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 25%. Một số dịch bệnh trước đây phổ biến ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi như sốt rét, bướu cổ, phong, lao được ngăn chặn và đẩy lùi. Bảo đảm quyền và hỗ trợ đồng bào thiểu số gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển, văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số luôn là một bộ phận cấu thành quan trọng, thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc là chủ trương nhất quán của Nhà nước Việt Nam, coi đó là cội nguồn sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và phát triển bền vững đất nước. Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) ghi rõ: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Trên thực tế, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc trong những năm qua được cải thiện rõ rệt, mức thụ hưởng văn hóa được nâng cao. Nhiều nét văn hóa các dân tộc thiểu số được bảo tồn, phát triển, được công nhận là di sản văn hóa thế giới như: “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”, “Thánh địa Mỹ Sơn”, “Cao nguyên đá Đồng Văn”. Đến nay, hơn 90% hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và trên 80% số hộ được xem truyền hình. Các chương trình phát thanh, truyền hình bằng cả tiếng Việt và 26 thứ tiếng Dân tộc được phát sóng mở rộng tới các bản làng xa xôi. Bên cạnh đó, công tác giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí ở vùng có đông người dân tộc thiểu số sinh sống cũng được quan tâm đẩy mạnh và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hệ thống các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, trường dạy nghề; các loại hình trường nội trú, bán trú, dự bị đại học dân tộc tại vùng có đông dân tộc thiểu số đều đều được đầu tư xây dựng. Từ năm 2012, 100% xã đã đạt chuẩn phổ cập tiểu học, nhiều nơi đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở, 95% trẻ em dân tộc thiểu số được đến trường. Bên cạnh việc gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống, hệ thống tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số cũng là vấn đề được ưu tiên trong chính sách giáo dục của Nhà nước Việt Nam. Từ năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hợp tác với UNICEF thí điểm thực hiện giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ tại 3 tỉnh Lào Cai, Trà Vinh, Gia Lai, góp phần quan trọng giảm tỷ lệ học sinh bỏ học tại những địa phương này. Quyền của dân tộc thiểu số là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị đã được luật pháp quốc tế công nhận. Tại Việt Nam, đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi để vươn lên phát triển về mọi mặt, đóng góp nhiều hơn vào sự nghiệp chung của đất nước. Những thành tựu đó là những minh chứng cụ thể trong bảo đảm và thúc đẩy quyền của dân tộc thiểu số nói riêng và quyền con người nói chung tại Việt Nam.

Khả năng "tự bảo vệ" - vấn đề hết sức quan trọng

Thực tiễn sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trong những năm 80 của thế kỷ 20 cho thấy, “diễn biến hòa bình” và quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong có quan hệ chặt chẽ với nhau. . “Diễn biến hòa bình” từ bên ngoài sẽ thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Tuy nhiên, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong có cả nguyên nhân bên ngoài: Từ sự tác động của “diễn biến hòa bình” và có cả nguyên nhân bên trong: Do không thường xuyên tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên nên không có khả năng "tự bảo vệ". “Tự diễn biến” xét từ góc độ là sự suy giảm, suy thoái về mặt chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống dẫn đến “tự chuyển hóa” là quá trình diễn ra từ bên trong mỗi tổ chức, mỗi con người. Nếu quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lại diễn ra từ bên trong tổ chức đảng, tổ chức bộ máy nhà nước, từ bên trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên giữ vai trò chủ chốt của Đảng và Nhà nước thì tính chất lại càng cực kỳ nguy hiểm và sẽ gây nên hậu quả khôn lường đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đe dọa đến sự tồn vong của chế độ XHCN. Để góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” và đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở nước ta hiện nay, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp cả bên trong và bên ngoài, trong đó vấn đề nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi tổ chức, mỗi con người là một trong những giải pháp hết sức quan trọng. Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nhấn mạnh: “Nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị”. Quan điểm về nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị… của Đảng ta, không chỉ hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về “một cuộc cách mạng chỉ thực sự có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”, mà còn rất phù hợp với thực tiễn của cuộc cách mạng ở nước ta hiện nay, nhất là trong điều kiện nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đang phải hằng ngày, hằng giờ đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” và quá trình “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa” từ bên trong do tác động của “diễn biến hòa bình”, do sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, cộng với những tiêu cực nảy sinh trong quá trình xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị…, tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế mới hy vọng đem lại cho chúng ta một sức mạnh mới trong công cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay. Thực tiễn những năm vừa qua, những sự việc cụ thể diễn ra cho chúng ta thấy rõ một thực tế là, trong điều kiện các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, thì phương thức bảo vệ có hiệu quả nhất lại chính là “tự bảo vệ”. Ở đâu và lúc nào, tổ chức nào, con người nào biết thường xuyên, tích cực, chủ động, biết “tự bảo vệ” tổ chức mình, con người mình trước sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, thì ở đó, lúc đó, tổ chức, con người đó đủ sức vượt qua mọi thử thách, đứng vững và phát triển. Ngược lại, ở đâu, lúc nào, tổ chức, con người nào xem nhẹ, sao nhãng việc chăm lo đến vấn đề “tự bảo vệ” trước sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế thì ở đó, lúc đó, tổ chức, con người đó bị sa ngã. Không ít người, thậm chí cả cán bộ cao cấp, đã không bị gục ngã trong chiến tranh vũ trang ác liệt trước đây, mà lại bị gục ngã bởi những “viên đạn bọc đường” trong điều kiện hòa bình, dưới sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, sự cám dỗ của danh vị, tiền tài… Thực tế vừa qua một số tổ chức, cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ cao cấp bị thi hành kỷ luật là bằng chứng cho thấy sự suy giảm khả năng “tự bảo vệ” của tổ chức đó, con người đó trong công cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay. Để nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị trước sự tác động của “diễn biến hòa bình”, sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế; góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay, cần phải thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chủ yếu sau đây: Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện của tổ chức với tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của mỗi người để nâng cao khả năng “tự bảo vệ”. Nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi con người, mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị bao gồm nhiều nội dung, trong đó việc nâng cao phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, đoàn kết, kỷ luật…; nâng cao năng lực toàn diện; nâng cao phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên chỉ có thể đem lại chất lượng, hiệu quả khi chúng ta biết kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện của tổ chức với tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của mỗi con người cán bộ, đảng viên. Trong đó, vấn đề tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của mỗi con người cán bộ, đảng viên có vai trò cực kỳ quan trọng. Mỗi con người cán bộ, đảng viên chỉ có thể có khả năng “tự bảo vệ” trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay khi con người cán bộ, đảng viên đó dù hoạt động trên bất cứ lĩnh vực nào của đời sống xã hội đều phải vừa “hồng”, vừa “chuyên” trên lĩnh vực mà mình đang hoạt động. Xét ở góc độ “tự bảo vệ” trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay thì chưa bao giờ mối quan hệ giữa đức và tài, giữa “hồng” và “chuyên”, giữa phẩm chất và năng lực trong mỗi con người cán bộ, đảng viên lại gắn bó chặt chẽ, khăng khít như hiện nay. Có thực sự coi trọng kết hợp giữa giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện với tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện; có thực sự quan tâm đầy đủ đến cả hai mặt cơ bản: Đức và tài, “hồng" và “chuyên”, phẩm chất và năng lực mới đem lại khả năng “tự bảo vệ” cao nhất trong trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay. Mỗi tổ chức, mỗi con người phải kết hợp trau dồi, rèn luyện cả phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác. Để nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay, thì vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất chính là khả năng “tự đề kháng”, “tự miễn dịch” của mỗi tổ chức, mỗi con người trước sự tác động của “diễn biến hòa bình”, sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế. Để có được khả năng “tự đề kháng”, “tự miễn dịch” trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay, thì mỗi tổ chức, mỗi con người phải thường xuyên tích cực học tập, nâng cao nhận thức về đặc điểm tình hình, về yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, phải thường xuyên theo dõi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, tăng cường cảnh giác, không bị động, bất ngờ. Phải đặc biệt chăm lo bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đặc biệt là vấn đề nâng cao bản lĩnh chính trị, chăm lo rèn luyện đạo đức, lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Trong một thế giới đầy biến động, phức tạp, trong điều kiện thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa, hội nhập quốc tế như hiện nay thì vấn đề bồi dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, đoàn kết, kỷ luật là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với mỗi tổ chức, mỗi con người để nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay. Mặt khác, chỉ có phẩm chất và năng lực thôi thì vẫn chưa đủ, mà một vấn đề không kém phần quan trọng để nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trong nội bộ hiện nay chính là phương pháp, tác phong công tác. Theo đó, kết hợp giữa tu dưỡng, rèn luyện cả phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác là biện pháp hữu hiệu để tăng cường “sức đề kháng”, tăng cường khả năng “miễn dịch” trước sự tác động của “diễn biến hòa bình”, nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở nước ta hiện nay.

Việt Nam bảo đảm đầy đủ các quyền con người

Năm 2005, Bộ Ngoại giao đã công bố cuốn sách "Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam", trong đó cung cấp một bức tranh toàn diện và có hệ thống về luật pháp, thể chế, chính sách, nỗ lực và thành tựu của Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người. Cuốn sách “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam” được công bố lần này gồm 4 chương, trong đó chương I nêu rõ quan điểm, chính sách và luật pháp của Nhà nước Việt Nam về quyền con người; chương II ghi nhận những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người; chương III nêu rõ sự hợp tác quốc tế của Việt Nam trên lĩnh vực bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người; chương IV đề cập tới thách thức và ưu tiên của Việt Nam trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người. Theo Sách Trắng, thời gian qua, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật và bảo đảm thực thi pháp luật về quyền con người trên mọi khía cạnh, trong đó có: Quyền bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử; Quyền sống, quyền được tôn trọng về nhân phẩm và bất khả xâm phạm về thân thể; Quyền được bảo vệ bí mật riêng tư; Quyền tự do đi lại, cư trú; Quyền tự do hội họp, lập hội; Quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý Nhà nước và xã hội… “Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”, Sách Trắng nhấn mạnh. Sách Trắng đặc biệt nhấn mạnh tới thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân Việt Nam. Theo ước tính, có khoảng 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó có hơn 24 triệu tín đồ của các tôn giáo khác nhau (chiếm khoảng 27% dân số), thuộc 38 tổ chức tôn giáo, tăng gần 7 triệu tín đồ so với năm 2003. Bên cạnh đó, hoạt động quốc tế của các tôn giáo tại Việt Nam ngày càng được mở rộng. Nhà nước còn tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tôn giáo Việt Nam tăng cường giao lưu, kết nối với quốc tế. Theo Sách Trắng, “sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian qua là minh chứng sinh động về tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam". “Tính đến 31-12-2014, Việt Nam có 838 cơ quan báo chí (trong đó có 199 cơ quan báo in) với 1.111 ấn phẩm; gần 18.000 nhà báo được cấp thẻ và khoảng 5.000 người hoạt động báo chí nhưng chưa đủ điều kiện được cấp thẻ nhà báo; một hãng thông tấn quốc gia; 67 đài phát thanh, truyền hình với 179 kênh truyền hình và 78 kênh phát thanh; 92 báo và tạp chí điện tử, 1.607 trang thông tin điện tử, 420 mạng xã hội đã đăng ký hoạt động”, số liệu trích từ Sách Trắng cho hay. Bên cạnh đó, Việt Nam duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định, không ngừng cải thiện mức sống của người dân, giảm mạnh tỷ lệ nghèo, thúc đẩy bình đẳng xã hội, góp phần bảo đảm quyền thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội cũng như việc thực hiện quyền con người trong nhiều lĩnh vực khác. Sách Trắng nêu rõ, với việc trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, tham gia tích cực và thực chất vào các diễn đàn quốc tế về quyền còn người..., Việt Nam không những bảo đảm các quyền và tự do của người dân theo đúng các chuẩn mực quốc tế, mà còn đóng góp thiết thực vào sự nghiệp chung là thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người trên tất cả các cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế.

HRW trong “dòng lạc điệu”

Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã triển khai các biện pháp đồng bộ, ưu tiên dành nguồn lực để đầu tư cho con người và đạt nhiều thành tựu quan trọng, thực chất trên lĩnh vực bảo đảm quyền con người. Thế nhưng, bất chấp những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người, một số tổ chức, cá nhân vốn có thái độ thù địch, thiếu thiện chí vẫn đưa ra những thông tin sai lệch, thậm chí xuyên tạc tình hình thực hiện quyền con người tại Việt Nam, nhằm làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Chính điều này gián tiếp gây khó khăn cho Việt Nam trong việc bảo đảm các quyền con người. 1. Nằm trong dòng “lạc điệu” đó phải kể đến tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) có trụ sở tại Hoa Kỳ. Trong bản “Phúc trình toàn cầu 2018”, HRW dựng lên chuyện Việt Nam gia tăng đàn áp nhân quyền năm 2017. Cứ theo cáo buộc của HRW thì hiện có 119 “nhà hoạt động nhân quyền và tự do tôn giáo” nằm trong các nhà giam. Chưa hết, bản phúc trình còn đưa ra dẫn chứng, trong năm 2017, ít nhất 24 blogger bị kết án vì các bài viết vận động cho dân chủ, như: “Mẹ Nấm” Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, Phan Kim Khánh, Nguyễn Văn Hóa... Cũng vẫn giọng điệu trên, HRW cho rằng, trong 14 tháng qua, công an Việt Nam đã bắt ít nhất 28 người với tội danh “vi phạm an ninh quốc gia”, “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam”, “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, trong đó có nhiều cựu “tù nhân lương tâm” và “tù nhân nhân quyền”. HRW cho rằng, những nhân vật ấy chỉ “bày tỏ chính kiến ôn hòa” chứ không phạm pháp và đòi Việt Nam phải trả tự do cho họ. Ai cũng biết rõ rằng, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là người đã sử dụng trang facebook “Mẹ Nấm” để đăng tải nhiều bài viết, trong đó có nội dung sai sự thật, đả kích, nói xấu Đảng và Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, qua đó tác động, làm ảnh hưởng tới lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, gây bức xúc trong dư luận. Trần Thị Nga, Phan Kim Khánh, Nguyễn Văn Hóa... cũng có những hành vi tương tự. Điều 16, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Hiến pháp cũng có những quy định về tố tụng công bằng... Bên cạnh đó, trong xây dựng hệ thống pháp luật, Việt Nam luôn coi trọng việc nội luật hóa những quy định của các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Luôn tôn trọng, bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân nhưng Việt Nam không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào được lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để có những hành vi vi phạm pháp luật. Bản thân các đối tượng: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, Phan Kim Khánh, Nguyễn Văn Hóa... đều là công dân Việt Nam. Hành vi đội lốt “dân chủ”, “nhân quyền” để vi phạm an ninh quốc gia, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam... của các công dân này là rõ ràng. Việc các cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam khởi tố, điều tra, truy tố và xử tù họ là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với các công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam tham gia. Đây là việc làm bình thường không chỉ ở Việt Nam mà ở mọi quốc gia trên thế giới. Chính vì thế, cái gọi là báo cáo “tình trạng nhân quyền Việt Nam” của HRW vừa lỗi thời, vừa chứa đựng những toan tính thù địch đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Sự “quan ngại” của HRW chỉ che đậy cho dã tâm xen vào công việc nội bộ của Việt Nam, cố tình đánh tráo khái niệm và tạo dựng mầm mống cho bất ổn tại Việt Nam. 2. HRW cho rằng, những người đang bị Việt Nam xử tù về tội “vi phạm an ninh quốc gia” chỉ là “bày tỏ chính kiến ôn hòa” chứ không vi phạm pháp luật và đòi phải trả tự do cho những “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho nhân quyền” mà Việt Nam đang giam giữ. Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định: Ở Việt Nam không ai bị bắt vì lý do “bất đồng chính kiến”, “bày tỏ chính kiến ôn hòa”... Chỉ có những người vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam mà thôi. Ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là “đàn áp những người bất đồng chính kiến” như cách mà HRW cố tình suy diễn. Thực tế trong những năm qua, Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Điều này đã được Liên hợp quốc và nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Những thành tựu đó xuất phát trước hết từ truyền thống nhân đạo, tinh thần yêu hòa bình của dân tộc Việt Nam; từ ý chí, nguyện vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam và sự nỗ lực, cố gắng trong thực hiện chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam, hướng tới một xã hội luôn đặt con người ở trung tâm của sự phát triển với một Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tôn trọng và bảo đảm quyền con người là quan điểm, đường lối, chính sách nhất quán của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Điều này được thể hiện rất rõ qua những thành quả lớn lao, nhất là trong công cuộc Đổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, đó là sự hoàn thiện hệ thống pháp luật đến bảo đảm thực tế các quyền từ dân sự, chính trị đến kinh tế, xã hội và văn hóa của nhân dân. Đặc biệt, những tiến bộ về nhân quyền là nhân tố có tính quyết định để năm 2013 với 184 phiếu thuận trên tổng số 192 phiếu, Việt Nam trúng cử với số phiếu cao nhất trong số 14 nước thành viên mới và lần đầu tiên trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Thực tế rất rõ ràng, vậy mà HRW vẫn bám giữ quan điểm cổ hủ kỳ thị với chế độ XHCN, với Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Mang danh tổ chức “quan sát”, “bảo vệ” nhân quyền nhưng đây không phải là lần đầu tiên với mục đích xấu và cái nhìn thiếu thiện chí, HRW tìm mọi cách bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu nhân quyền của Việt Nam; đưa ra những thông tin sai lệch để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, từ đó nêu ra những đòi hỏi, khuyến nghị đòi Việt Nam thực hiện. Những giọng điệu và đòi hỏi vô lý ấy của HRW thực chất là hành động hậu thuẫn, dung túng cho những đối tượng cực đoan gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam. Mặt khác, với hành động đó, HRW đã trắng trợn áp đặt và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam kiên quyết lên án, phản đối những việc làm sai trái, thiếu thiện chí ấy của HRW.

Phê bình thành khẩn, tự giác nhận khuyết điểm

Có thể nói, biểu hiện không thành khẩn nhận khuyết điểm và không tự giác nhận kỷ luật đã tồn tại từ lâu trong quá trình xây dựng, phát triển và lãnh đạo của Đảng ta. Tuy nhiên, những năm gần đây biểu hiện này ngày càng rõ nét và hậu quả mà nó gây ra không chỉ với mỗi cá nhân mà còn ảnh hưởng đến sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. . Thiếu thành khẩn nhận khuyết điểm, không tự giác nhận kỷ luật, thực chất là sự yếu kém trong tự phê bình. Tự phê bình có thể hiểu khái quát là bản thân mỗi người, mỗi tổ chức đảng tự nhìn lại quá trình học tập, công tác, sinh hoạt của mình xem cái gì mạnh-cái gì yếu, cái gì đúng-cái gì sai, cái gì làm được và cái gì chưa làm được; cái gì là tích cực-cái gì là tiêu cực, mức độ đúng-sai, tốt-xấu cụ thể đến đâu, để từ đó tìm ra biện pháp phát huy những ưu điểm, khắc phục những tồn tại, khuyết điểm. Như vậy có thể thấy đích đến của tự phê bình rất nhân văn, nhưng nếu mỗi người, mỗi tổ chức thiếu thành khẩn, không tự giác thì công việc này sẽ trở thành hình thức. Để tự phê bình được tốt thì trước tiên các tổ chức đảng và từng đảng viên phải thành khẩn nhận khuyết điểm, tự giác và dũng cảm nhận kỷ luật. Thế nhưng trên thực tế thời gian qua bên cạnh những mặt làm được, việc tự phê bình trong Đảng còn nhiều điều đáng bàn. Đề cập đến vấn đề này, Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIIvề tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, đã kiểm điểm và chỉ rõ: Sau nhiều năm thực hiện các nghị quyết về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, bên cạnh những kết quả đạt được, tình trạng suy thoái trong Đảng chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, thậm chí có dấu hiệu cho thấy còn phức tạp hơn. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó được Đảng ta nhấn mạnh là thực hiện không nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình ở nhiều tổ chức, cá nhân, đặc biệt là tình trạng “có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật...”. Đảng ta coi đây là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Trong cuộc sống chúng ta thường nói với nhau “nhân vô thập toàn”, “ngọc còn có vết”. Điều này cũng có nghĩa con người ta không ai là hoàn hảo 100%. Trong mỗi người luôn tồn tại những mặt đối lập. Người tốt không phải hoàn toàn không có những mặt xấu, mặt hạn chế và ngược lại người xấu cũng không phải hoàn toàn xấu, không phải không có điểm gì tốt. Người tốt đừng bao giờ chủ quan tự cho mình là hoàn hảo, là tốt đẹp mà không phấn đấu. Chủ quan, thỏa mãn, không rèn luyện thường xuyên là cơ hội để những cái xấu vốn có trong mỗi con người trỗi dậy, khiến ta sa ngã, vi phạm kỷ luật, thậm chí rơi vào tội lỗi. Như vậy vấn đề là ở chỗ mỗi người chúng ta phải luôn biết chế ngự các mặt xấu, mặt tiêu cực và phát huy những mặt tốt, mặt tích cực để trở thành những người có ích cho tập thể, cho xã hội. Tự kiểm điểm, tự phê bình một cách thành khẩn, nghiêm túc là việc làm rất cần thiết, rất quan trọng để thực hiện điều đó. Nói là vậy nhưng việc thực hiện công việc này không hề đơn giản. Biết là cần thiết, là quan trọng nhưng không phải ai cũng muốn làm và làm cho đến nơi đến chốn. Tâm lý của không ít người hiện nay là "đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại", không "vạch áo cho người xem lưng"... Khi tự kiểm điểm, tự phê bình, cán bộ, đảng viên ta chủ yếu nói về kết quả, thành tích, phần khuyết điểm chỉ là thứ yếu, chung chung với một điệp khúc đã trở thành quen như: "Tính tình đôi khi còn nóng nảy", "tác phong làm việc đôi khi chưa khoa học", "đấu tranh tự phê bình và phê bình còn hạn chế", "chưa chủ động trong công việc"... Và trên thực tế chưa ai thành khẩn, tự giác, dũng cảm kiểm điểm trước tập thể rằng "tôi đã tham nhũng", "tôi đã vi phạm nguyên tắc", "tôi làm trái quy định của Nhà nước"... Chỉ đến khi tổ chức kiểm tra, thanh tra, cơ quan bảo vệ pháp luật vào cuộc, mọi chuyện vỡ lở thì lúc ấy sự việc đã đi quá xa và trở thành chuyện đã rồi. Không ít người mặc dù lỗi lầm đã được chỉ ra nhưng vẫn không trung thực, không thành khẩn báo cáo trước tập thể, mà cố tình ngụy biện che đậy, lấp liếm, khi tổ chức phải áp dụng hình thức xử lý thì không dũng cảm nhận kỷ luật. Thậm chí có người khi ra hầu tòa, mặc dù sai phạm đã rõ ràng, với đầy đủ chứng cớ nhưng vẫn còn quanh co đổi lỗi cho người khác, cho tập thể. Dũng cảm nhận lỗi, nhận kỷ luật là hành động thể hiện sự chịu trách nhiệm về những việc mà mình đã làm. Khi trung thực nhận lỗi, dũng cảm nhận kỷ luật chúng ta sẽ thấy lòng mình nhẹ nhàng, thanh thản hơn bởi mọi chuyện đã rõ ràng, sáng tỏ. Những người thành khẩn nhận lỗi, dũng cảm nhận kỷ luật chắc chắn sẽ rút ra được bài học cho mình để sửa chữa tiến bộ, để không tái phạm những lỗi lầm đã mắc phải. Ngược lại, những người có khuyết điểm mà thiếu thành khẩn, không dũng cảm nhận kỷ luật thì thật khó rút ra bài học để sửa chữa và sớm muộn sẽ tái phạm. Thường xuyên tự phê bình và phê bình nghiêm khắc là biện pháp hữu hiệu để mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao khả năng “tự đề kháng”, phòng chống những biểu hiện thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả. Để làm tốt công việc này, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, người đứng đầu cần nhận thức rõ ràng về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa, tác dụng và sự cần thiết của việc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng. Chỉ có trên cơ sở thống nhất về nhận thức chúng ta mới có sự đồng thuận và quyết tâm trong tổ chức thực hiện, duy trì chế độ tự phê bình và phê bình thường xuyên, nghiêm túc. Môi trường sống, môi trường làm việc cũng là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc tự phê bình và phê bình, cụ thể hơn là ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển cái tốt, cái xấu trong mỗi con người. Vì thế nếu không có một môi trường dân chủ, mọi người chân thành, thẳng thắn thì thật khó để mỗi cán bộ, đảng viên thành khẩn tự phê bình, tự giác nhận kỷ luật. Do đó cần phải tạo ra một môi trường thuận lợi, động viên, khích lệ cán bộ, đảng viên nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng. Một trong những yêu cầu mà Ban Chấp hành Trung ương đặt ra trong thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW là các cấp uỷ đảng, cán bộ chủ chốt, nhất là cấp Trung ương, người đứng đầu làm trước và phải thực sự gương mẫu để cho các cấp học tập, noi theo. Đây vừa là lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, vừa là kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng. Các đảng viên và cán bộ cấp dưới sẽ không tự giác, không thành khẩn nếu cấp ủy, nhất là bí thư, ban thường vụ không gương mẫu đi đầu, tự phê bình một cách hình thức qua loa, chiếu lệ. Tự phê bình, tự kiểm điểm một cách thành khẩn, dũng cảm trước tập thể là việc không thể thiếu trong nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Dẫu biết là khó khăn, đau đớn, nhưng nếu từng người không thành khẩn, không tự giác nhận rõ, nói ra những lỗi lầm, khuyết điểm của mình và tiếp thu góp ý của người khác một cách cầu thị mà cố tình lấp liếm, bao biện thì chắc chắn không thể sửa chữa tiến bộ được. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ví việc thiếu thành khẩn nhận khuyết điểm, thiếu tự giác nhận kỷ luật như "giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mạng"(1). Và, theo Người, thang thuốc hiệu nghiệm nhất để chữa trị căn bệnh ấy chính là tự phê bình và phê bình. Nhưng muốn phê bình người khác thì trước hết mỗi đảng viên phải phê bình nghiêm túc mình trước đã. Tự phê bình thành khẩn, tự giác nhận khuyết điểm là cơ sở để các đảng viên thẳng thắn, chân tình phê bình chỉ rõ cho nhau những điểm mạnh, điểm yếu để từ đó có biện pháp phát huy những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu, phấn đấu chuyển biến tiến bộ. Tự phê bình và phê bình sẽ mất đi ý nghĩa và mục đích đầy tính nhân văn của nó nếu để xảy ra tình trạng làm qua loa đại khái, thiếu thành khẩn, thiếu tự giác, lợi dụng tự phê bình và phê bình để “bới lông tìm vết”, tranh công đổ lỗi, dùng những lời lẽ thiếu văn hóa để khích bác, miệt thị, nói xấu lẫn nhau, dẫn đến nội bộ mất đoàn kết. Mục đích cao nhất của tự phê bình và phê bình không gì khác đó là vì sự tiến bộ của mỗi cá nhân và sự vững mạnh của tập thể. Chỉ có thành khẩn nhận khuyết điểm, tự giác nhận kỷ luật mới giúp từng đảng viên và toàn Đảng ta nâng cao được vai trò lãnh đạo, củng cố niềm tin trong nhân dân.

Một sự thật không thể chối cãi

Ngày nay, “gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai” đang là phương châm có tính chỉ đạo để Việt Nam và Mỹ xây dựng quan hệ đối tác toàn diện phát triển sâu rộng, hiệu quả. Đáng tiếc là trong bối cảnh đó, vẫn có người “khơi lại quá khứ” để biện hộ cho thất bại, hạ thấp sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam. . Năm 1985, trong cuốn Giải phẫu một chiến tranh: Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử hiện đại (Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience, xuất bản tại Mỹ; bản tiếng Việt nhan đề Giải phẫu một cuộc chiến tranh do NXB Quân đội nhân dân phát hành năm 1991), đề cập Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân dân Việt Nam, nhà sử học người Mỹ là G.Kolko (G. Côn-cô) viết: "Cuộc tiến công Tết 1968 là sự kiện quan trọng nhất và phức tạp nhất của chiến tranh Việt Nam… Những chiều cạnh chính trị, quân sự và tâm lý của nó rất to lớn và rộng rãi cho nên bất kỳ giải thích đơn giản nào sẽ không nói lên được tính chất thật sự quan trọng hơn nhiều của tình trạng chiến tranh giữa chủ nghĩa đế quốc và các phong trào cách mạng trong lịch sử hiện đại…". Kết luận của G.Kolko ra đời từ việc ông xem xét Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 không đơn thuần là một trận đánh, mà xem xét với tính cách một sự kiện có vai trò quyết định, từ đó phân tích ý nghĩa nhiều mặt của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vì đã tạo ra bước ngoặt của chiến tranh. Ðó cũng là điều gần đây, các tác giả bộ phim Chiến tranh Việt Nam (Vietnammese War, gồm 10 tập, ra mắt ngày 17-9-2017) đã dành tập 6 có tên là Tan rã (Things Fall Apart) đề cập tới vai trò và ý nghĩa của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; và dù còn có những nhìn nhận khác biệt, các tác giả làm phim vẫn phải thừa nhận: Năm 1968 trở thành năm bước ngoặt trong lịch sử cuộc chiến Việt Nam và lịch sử nước Mỹ. Vào đầu năm 1968, 485 nghìn lính Mỹ đóng ở Việt Nam và lãnh đạo Mỹ hứa hẹn về triển vọng chiến thắng rằng thật sự đã thấy "ánh sáng cuối đường hầm". Nhưng rồi Bắc Việt Nam đã phát động tiến công tổng lực, họ chịu thất bại, nhưng về lâu dài hóa ra lại là một thắng lợi còn lớn hơn. Không có ý nghĩa nào khác, sự ra đời của phim Vietnammese War là nối dài "hội chứng Việt Nam" - khái niệm do Tổng thống Mỹ R. Reagan (R. Ri-gân) đưa ra lần đầu vào ngày 18-8-1980. Nói cách khác thì sau hơn 40 năm "hội chứng Việt Nam" vẫn đeo bám suy nghĩ của một số người ở Mỹ, họ cố gắng lý giải để rút ra bài học. Ðiều này là bình thường nếu trong các ý kiến đó không nổi lên vài kết luận bất thường, thí dụ: "Mỹ không hề thua một trận chiến nào trước quân Bắc Việt, nhưng thua cả cuộc chiến", "thắng một trận đánh nhưng lại thua một cuộc chiến tranh"! Bất thường hơn, có người lại cổ vũ cho các kết luận này, từ đó cho rằng "Việt Nam hy sinh quá nhiều để giành độc lập"! Từ tâm thế của kẻ mạnh, những người kết luận như vậy đã không thể tin một trận đánh mà Mỹ và đồng minh có ưu thế vượt trội lại có thể thua. Như theo Hồ sơ 16.105 Tình hình quân sự năm 1967 của "phủ thủ tướng Việt Nam Cộng hòa" đến cuối năm 1967, quân số của Mỹ và đồng minh ở miền nam Việt Nam gồm 1.333.546 người, hơn 2.000 máy bay, 3.300 trực thăng các loại, 267 tàu chiến cỡ lớn, hơn 1.500 tàu xuồng tuần tra cỡ nhỏ. Trong khi đó, theo Tài liệu số 790 của Trung tâm lưu trữ - Bộ Quốc phòng Việt Nam, thì đầu năm 1968 ở miền nam, lực lượng quân sự của cách mạng tổng cộng 277.000 người, và hoàn toàn không có không quân, hải quân. Các con số cho thấy khi Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nổ ra, Mỹ và đồng minh áp đảo về quân số, vũ khí, phương tiện quân sự. Vì thế, người coi chiến trường là nơi quyết định một cuộc chiến tranh và lại không quan tâm vấn đề có tính nguyên tắc xuyên suốt trong chiến lược của cách mạng Việt Nam là luôn kết hợp hữu cơ, linh hoạt giữa chính trị, quân sự, ngoại giao,… sẽ không thể hiểu tại sao lại thất bại. Về vấn đề này, nhà sử học G. Kolko nhận thức khá rõ. Ông lý giải khi đề cập khái niệm "tổng công kích, tổng khởi nghĩa" và coi đó là sáng tạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam: "Tổng công kích và tổng khởi nghĩa có thể đồng thời hoặc nối tiếp nhau. Không nhất thiết phải đưa lại thắng lợi cuối cùng nhưng ít nhất sẽ đánh vào "ý chí" của Mỹ, làm tổn hại nghiêm trọng quân đội Việt Nam cộng hòa, chuẩn bị điều kiện cho sự sụp đổ hoàn toàn của quân đội đó. Ðảng Cộng sản Việt Nam xem khái niệm này là một công thức linh động, được áp dụng một cách sáng tạo tùy theo các hoàn cảnh, mở ra khả năng có thể thúc đẩy những sự kiện tự phát". G. Kolko viết tiếp: "Cách mạng luôn hiểu rõ rằng hoạt động quân sự luôn phụ thuộc vào đấu tranh chính trị, cách mạng luôn đánh giá toàn bộ các vấn đề mà mình phải đương đầu. Với cách như vậy, cách mạng đã đủ khả năng bù lại cho việc còn thua kém về vật chất của mình bằng việc phát huy cao độ các khả năng của con người… Người ta nói rằng Việt cộng sẽ không thể giữ các thành phố, và đó có lẽ là đúng. Nhưng họ đã chứng minh rằng mặc dù tất cả các báo cáo về tiến độ, về sức mạnh của chính phủ, sự yếu kém của kẻ thù, rằng nửa triệu lính Mỹ, với 700.000 đồng minh của Việt Nam, với không quân, hải quân, được hỗ trợ bởi nguồn lực khổng lồ và vũ khí hiện đại nhất mà chúng ta không thể bảo vệ được ngay cả một thành phố duy nhất trước các cuộc tiến công của kẻ thù với sức mạnh của khoảng 250.000 người". Về ý nghĩa của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, G. Kolko cho rằng: "Vào năm 1968, chiến tranh Việt Nam đã trở nên khó phân tích hơn rất nhiều, bởi quá trình diễn biến của cuộc xung đột kéo dài đã làm cho nó không chỉ là một cuộc đấu tranh quân sự mà còn là cuộc đấu tranh trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, hệ tư tưởng và con người trở thành ngày càng trọng yếu. Trong tất cả những nhân tố đó, không nhân tố riêng rẽ nào có tính chất quyết định nhưng tác động qua lại giữa chúng với nhau sẽ hình thành kết quả cuối cùng của chiến tranh. Ðối với Mỹ, Tết là sự đối đầu với thực tế, đã bị trì hoãn quá lâu; trước đó Mỹ bị mê hoặc bởi chính các ảo tưởng, các tham vọng và các nhu cầu của chính mình… Cuộc tiến công càng làm cho tình hình nghiêm trọng thêm và nhìn từ mặt này thì cách mạng Việt Nam đã đạt được lợi thế quyết định trong toàn bộ cuộc đấu tranh của mình… Cách mạng Việt Nam đã đạt các mục tiêu chiến lược chính của cuộc tiến công Tết, buộc Mỹ phải rời bỏ lĩnh vực của sự ao ước để đương đầu với lĩnh vực của sự cần thiết… Tết là ngưỡng cửa trong sự phát triển của chiến tranh, là một điểm ngoặt rất lớn bảo đảm rằng cách mạng không thể bị đánh bại. Tất cả những chiều cạnh tổ chức xã hội, kinh tế và con người diễn biến rất nhanh chóng, ngày càng có ý nghĩa cho kết quả cuối cùng của chiến tranh, và dù ngay lúc đó chúng có vẻ mập mờ và u ám như thế nào, thì rõ ràng cuối năm 1968, chúng đã tỏ ra quyết định". Về điều này, các tác giả của cuốn sách The Lessons of Vietnam War (Những bài học của chiến tranh Việt Nam - xuất bản tại Mỹ năm 1988) cũng viết: "nhiều nhà quan sát xem cuộc tiến công Tết như là một chiến thắng tâm lý xuất sắc với đối phương, một thắng lợi chính trị vẻ vang đối với họ tại nước Mỹ". Ngày 18-11-2017 mới đây, trong bài nhan đề Thiên tài chiến lược của Bắc Việt (The Genius of North Vietnam’s War Strategy, đăng tại thedailybeast.com) đề cập Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tác giả J. Warren (J. Goa-ren) đã viết: "mục tiêu quan trọng của cuộc tiến công Tết không phải để chiếm giữ đất đai. Thay cho điều đó, nó đã giáng một đòn tâm lý nghiêm trọng vào chính phủ và công chúng Mỹ, bằng sự phơi bày sự phá sản chiến lược của Mỹ một cách rất bi đát… Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã buộc Washington phải nghiên cứu lại chính sách, chiến lược của Mỹ". Ý nghĩa, vai trò quyết định của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là không thể phủ nhận, hay nói như G. Kolko, đó là "một điểm ngoặt rất lớn bảo đảm rằng cách mạng không thể bị đánh bại". Nên không phải ngẫu nhiên ngay tháng 3-1968, nghĩa là chưa đầy hai tháng sau khi Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nổ ra, L. Johnson (L. Giôn-sơn) - Tổng thống Mỹ khi đó, đã có một số quyết định quan trọng như: đồng ý để R. McNamara (R. Mắc-na-ma-ra) thôi giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng; cách chức chỉ huy quân đội Mỹ ở miền nam Việt Nam của W. Westmoreland (W. Oét-mô-len); tuyên bố ngừng mọi hoạt động không quân và hải quân chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ vĩ tuyến 20 trở ra; đồng ý đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Vì thế xét đến cùng, các kết luận hạ thấp ý nghĩa Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 chỉ nhằm biện hộ cho thất bại và làm lạc hướng dư luận. Về bản chất, đó chỉ là ý kiến chủ quan của một số người tôn thờ vũ khí luận, lấy đếm xác người trên chiến trường để đánh giá thắng - thua kết hợp với phép thắng lợi tinh thần để tự tưởng tượng, tự an ủi về những trận đánh mà họ tự coi là… "đã thắng"! Để đi tới thắng lợi cuối cùng vào ngày 30-4-1975, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống và chúng ta không bao giờ quên công ơn những người đã hy sinh vì đất nước. Hy sinh đó chỉ trở nên "khó hiểu" với những ai không dám nhìn thẳng vào sự thật, cố tình không chấp nhận sự thật là sức mạnh quân sự không thể khuất phục ý chí một dân tộc đoàn kết, quyết tâm, kiên trì đấu tranh vì độc lập, vì danh dự dân tộc; càng "khó hiểu" hơn với người không đủ khách quan để thừa nhận vai trò lãnh đạo sáng suốt, tài tình và sáng tạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo nhân dân Việt Nam chiến đấu giành lại Tổ quốc. Hy sinh, mất mát của cha anh trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và trong quá trình cách mạng là có thật. Những hy sinh mất mát đó đã đem lại kết quả vĩ đại là đất nước độc lập, hòa bình, thống nhất. Vì thế, trước khi muốn nhắc đến hy sinh của nhân dân Việt Nam trong chiến tranh, ai đó hãy nghĩ tới những gì mà hy sinh đó đem lại; và cũng nên nhớ trong 30 năm chiến tranh, người ta đã trút xuống đất nước này 15,35 triệu tấn bom đạn, 80 triệu lít chất độc hóa học (trong đó có 61% là chất độc da cam).

Phạt tù đối tượng Lê Thị Bình do sử dụng tài khoản Facebook cá nhân để phát trực tiếp, đăng bài và chia sẻ chống phá Đảng, Nhà nước

 

Phạt tù đối tượng Lê Thị Bình do sử dụng tài khoản Facebook cá nhân để phát trực tiếp, đăng bài và chia sẻ chống phá Đảng, Nhà nước

Lê Thị Bình ở Cần Thơ bị toà án phạt tù vì sử dụng Facebook chống phá Đảng, Nhà nước. Ngày 22/4, TAND quận Bình Thủy (TP Cần Thơ) mở phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo Lê Thị Bình (45 tuổi, ngụ đường Trần Quang Diệu, quận Bình Thuỷ) về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Theo cáo trạng, từ tháng 10/2019 đến tháng 11/2020, đối tượng Lê Thị Bình sử dụng tài khoản Facebook cá nhân để phát trực tiếp, đăng bài và chia sẻ 24 bài có nội dung tuyên truyền tư tưởng, quan điểm xấu, phản động nhằm chống đối, chống phá, nói xấu, xúc phạm, xuyên tạc, phỉ báng đối với tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và cán bộ lãnh đạo Đảng nhà nước.

Đặc biệt là xúc phạm nghiêm trọng đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh, thực hiện kêu gọi đòi đa nguyên đa đảng, xóa bỏ chế độ chính trị…

Theo kết luận, hành vi của đối tượng Bình là vi phạm pháp luật; xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

HĐXX đã tuyên phạt bị cáo Lê Thị Bình 2 năm tù về tội danh nói trên.

Lê Thị Bình là em ruột của đối tượng Lê Minh Thể - bị toà tuyên án 2 năm tù giam về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Đây là bài học răn đe cho những kẻ cố tình vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam, cố tình đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc, của Nhân dân Việt Nam. 

 

 NGUỒN GỐC LÁ CỜ CHIẾN THẮNG TRÊN DINH ĐỘC LẬP NGÀY 30/4/1975

Vào ngày 15/9/1973 Chủ tịch Cuba, Fidel Castro, người bạn lớn của nhân dân Việt Nam, có chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam giữa khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang bước vào giai đoạn quyết liệt nhất. Trong chuyến đi này, chủ tịch Fidel Castro đã tới thăm Quảng Trị, lúc này hiệp định Paris vừa được ký kết. Tại đây ông đã phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và hô vang như một lời nhắn đến các chiến sỹ của Sư Đoàn 304: "Các đồng chí hãy mang lá cờ Bách Chiến Bách Thắng này cắm tại Sài Gòn!", "Hẹn gặp lại tại Sài Gòn sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng!". Và như một sự tình cờ cũng như định mệnh của lịch sử, chưa đầy 2 năm sau đó lá cờ Bách Chiến Bách Thắng này đã theo chân những người lính của Sư Đoàn 304 có mặt tại Sài Gòn vào ngày 30/4/1975
Cảm Ơn Fidel, cảm ơn những người anh em CuBa đã giúp đỡ rất nhiều trong cuộc kháng chiến dành độc lập của dân tộc Việt Nam!
Lê Đức