Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2021

 ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐI ĐẾN MÙA XUÂN TOÀN THẮNG

Cách đây 46 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sự lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là Đại thắng mùa xuân 1975 là tiếp nối sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, sáng suốt và mưu lược của Đảng ta, bắt nguồn từ sự lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Sau khi Hiệp định Geneva về lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, trước ý đồ thay thế Pháp, xâm lược miền Nam nước ta của đế quốc Mỹ, tháng 7-1954, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6, Đảng ta đã sớm xác định: Kẻ thù chính của nhân dân thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương là đế quốc Mỹ. Tiếp theo đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (tháng 12-1957), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Trong đó, nhiệm vụ củng cố miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) có tính chất quyết định thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn mới; lực lượng cách mạng miền Nam cần tiếp tục duy trì và phát triển. Đảng ta coi đó là nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Chủ trương kịp thời và hoàn toàn đúng đắn của Đảng ta lúc đó là: Ra sức ổn định tình hình, củng cố miền Bắc thật vững chắc; bảo vệ và xây dựng lực lượng, căn cứ địa cách mạng, tìm con đường, biện pháp thích hợp để cách mạng Việt Nam tiến lên. Nhờ đó, nhân dân miền Bắc đã giành thắng lợi to lớn về cải tạo và xây dựng CNXH, làm cho miền Bắc từng bước trở thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước. Ở miền Nam, từng bước, Đảng ta đã tìm ra phương pháp và hình thức đấu tranh thích hợp nên đã đối phó có hiệu quả với địch, đưa cách mạng tiếp tục phát triển. Bước chuyển biến mới, rõ rệt nhất của cách mạng ở miền Nam là sau khi có nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng (tháng 1-1959), lực lượng ba thứ quân và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp từng bước hình thành. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Các căn cứ địa cách mạng tại chỗ được khôi phục và mở rộng; đường bộ 559, đường biển 759 được hình thành và phát huy tác dụng… Sự hỗ trợ kịp thời, hiệu quả của miền Bắc đã thúc đẩy cách mạng miền Nam phát triển; đã vượt qua thử thách nghiêm trọng nhất, từ thoái trào và giữ gìn lực lượng đã chuyển sang thế tiến công. Đến đầu năm 1960, miền Nam trên thực tế đã ở trong quá trình khởi nghĩa từng phần.
Tiếp theo đó, nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9-1960) đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam; thể hiện rõ tư duy lý luận chiến lược về lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng ta. Những điểm nổi bật là: Đảng đã sớm xác định và chỉ rõ kẻ thù mới của dân tộc ta là đế quốc Mỹ và tay sai, sớm vạch ra một cách đúng đắn hai chiến lược cách mạng; khẩn trương ổn định tình hình, củng cố miền Bắc làm hậu phương vững chắc, là trung tâm lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng cả nước; vạch ra đường lối, phương pháp đấu tranh cách mạng đúng đắn, có lợi nhất, đưa đến cuộc đồng khởi vĩ đại, đánh thắng chiến lược đầu tiên của đế quốc Mỹ; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giải phóng miền Nam và xây dựng CNXH ở miền Bắc, giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng quốc tế.
Để đối phó với cách mạng miền Nam, sau cuộc Đồng khởi của ta, từ cuối năm 1960, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và nhiều kế hoạch, chiến dịch bình định miền Nam, dồn dân vào các ấp chiến lược. Trước âm mưu, thủ đoạn mới của địch, Đảng ta đã kịp thời chuyển cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng; kết hợp nhuần nhuyễn giữa khởi nghĩa vũ trang với chiến tranh cách mạng; đưa cuộc chiến tranh của nhân dân ở miền Nam phát triển phù hợp với tình hình mới; đánh địch bằng cả quân sự và chính trị, bằng cả ba mũi giáp công; trên cả ba vùng chiến lược. Kịp thời nâng vị trí đấu tranh vũ trang lên theo yêu cầu của chiến tranh, hướng mũi nhọn vào đấu tranh phá “ấp chiến lược”, làm thất bại các cuộc càn quét của quân chủ lực ngụy, từng bước làm phá sản mục tiêu chủ yếu của địch. Qua thực tế lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, tư duy lý luận và mưu lược chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta từng bước phát triển, có nhiều thành công: Đảng ta đã dự kiến đúng diễn biến tình hình, tư duy sắc bén, linh hoạt, chuẩn bị tốt, chuyển hướng nhanh, kịp thời, chủ động và sáng tạo. Nhờ đó đã kìm chế và làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ-ngụy, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đưa quân Mỹ và chư hầu trực tiếp xâm lược, tham chiến ở miền Nam, đồng thời dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc hòng ngăn cản sự chi viện từ Bắc vào Nam.
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích toàn diện, sâu sắc tình hình và chiến lược mới của Mỹ, dự kiến sớm và đúng xu thế diễn biến của chiến tranh nên đã đề ra các chủ trương đối phó đúng đắn, chủ động và sáng tạo. Khi chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đi đến thất bại, Đảng ta đã dự kiến địch có thể leo thang lên nấc cao hơn và có thể đánh ra miền Bắc. Lúc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, Đảng ta đã đánh giá đúng so sánh lực lượng địch-ta; kiên định quyết tâm đánh Mỹ; đã chủ động kết hợp tốt phản công với tấn công. Tại các hội nghị của Bộ Chính trị, của Trung ương Đảng năm 1967, đầu năm 1968, Đảng ta vạch rõ: Cần phải tạo ra một chuyển biến lớn về tình hình có lợi cho ta giữa lúc Mỹ đang ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ đang hoang mang, dao động, phải tạo được một bước ngoặt lớn của chiến tranh, dùng cách đánh mới, hiểm, giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ. Đảng ta đã lựa chọn hướng tiến công không phải là rừng núi và nông thôn mà là đô thị, trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, nơi địch đang sơ hở… Đồng thời dự kiến các khả năng và quyết định Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Điều này thể hiện rõ tư duy quyết đoán, sáng tạo và cách đánh mới rất bất ngờ, đầy hiệu lực của Đảng ta. Nhờ đó đã buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngày 1-11-1968, đế quốc Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và đánh phá (lần thứ nhất) trên toàn bộ miền Bắc, đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chiến lược “chiến tranh cục bộ”.
Trước thất bại nặng nề của Mỹ, Nixon sau khi lên cầm quyền đã thay đổi chiến lược chiến tranh. Một mặt thi hành chiến lược mới-“Việt Nam hóa chiến tranh”; mặt khác xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước nhưng kéo dài và mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào; ráo riết thực hiện “học thuyết Nixon”: Dùng người Việt đánh người Việt, dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương bằng tiền của và vũ khí của Mỹ. Trước tình hình đó, Đảng ta đã dự kiến trước khả năng Mỹ có thể đánh bom, bắn phá trở lại miền Bắc, mở rộng chiến tranh sang Lào, Campuchia để gây sức ép với ta. Đồng thời thấy rõ những điểm yếu của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Đảng ta đã tìm ra phương hướng chiến lược "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Với những phán đoán đúng và dự kiến sớm, ta đã chuẩn bị tốt và đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai trên miền Bắc, nổi bật là đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 của Mỹ trên bầu trời Thủ đô Hà Nội (tháng 12-1972), buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Nhưng với bản chất hiếu chiến, Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ra sức phá hoại Hiệp định Paris, đẩy mạnh các cuộc hành quân càn quét, mở các chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm vùng giải phóng của cách mạng miền Nam. Hỗ trợ cho chính quyền và quân đội Sài Gòn, Mỹ ồ ạt viện trợ một khối lượng lớn vật chất, trang bị kỹ thuật nhằm tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của địch, Đảng ta đã lãnh đạo quân và dân miền Bắc khôi phục, phát triển kinh tế, tiếp tục chi viện sức người, sức của cho miền Nam; đồng thời dự kiến tình hình có thể diễn ra theo hai khả năng: Hoặc hòa bình được duy trì, hoặc chiến tranh sẽ tiếp tục; ta cần tranh thủ khả năng thứ nhất nhưng cũng phải vừa chuẩn bị sẵn sàng đối phó với khả năng thứ hai.
Tháng 5-1973 và sau đó, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (họp đợt 1 từ ngày 19-6 đến 6-7; đợt hai từ ngày 1-10 đến 4-10-1973) đã phân tích sâu sắc diễn biến tình hình trên chiến trường, trong nước, trong khu vực và trên thế giới có liên quan đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam; chỉ rõ âm mưu, hành động chống phá Hiệp định Paris ngày càng trắng trợn của Mỹ-ngụy. Từ đó, Đảng ta khẳng định dứt khoát con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng, bất kỳ trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công, chỉ đạo linh hoạt, mềm dẻo để đưa cách mạng miền Nam tiến lên.
Từ giữa năm 1974, nguồn viện trợ kinh tế, quân sự từ Mỹ ngày càng bị cắt giảm, làm cho chính quyền và quân đội ngụy Sài Gòn lâm vào cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Nắm bắt thời cơ, Đảng ta đã chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng lực lượng, chuẩn bị chiến trường. Các binh đoàn chiến lược được thành lập, hệ thống đường ống dẫn dầu được mở rộng; một khối lượng lớn vật chất, phương tiện chiến tranh được chuyển nhanh ra tiền tuyến. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tháng 7-1974, Bộ Tổng Tham mưu khởi thảo kế hoạch giải phóng miền Nam. Tháng 10 và tháng 12-1974, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cùng Bộ tư lệnh miền Nam họp bàn về quyết tâm và kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976 và dự kiến: Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định chọn Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu trong năm 1975. Sau khi Đảng ta quyết định thành lập 3 quân đoàn: 1, 2, 4; toàn Đảng, toàn dân và toàn quân khẩn trương chuẩn bị, cả về thế và lực, tinh thần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ngày càng dâng cao.
Trước tình thế cách mạng và thời cơ đã đến, Đảng ta quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên với trận đột phá chiến lược Buôn Ma Thuột (10-3-1975). Với chiến thắng này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương kịp thời bổ sung quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975. Sau khi Huế được giải phóng (26-3) và Đà Nẵng được giải phóng (29-3), đến ngày 3-4, ta giải phóng hoàn toàn các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh từ ngày 26-4 và đến 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn bị bắt, phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Sau ngày đó, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và các hải đảo còn lại như: Thổ Chu, Côn Đảo, Phú Quốc đã được giải phóng.
Đại thắng mùa xuân 1975 là thiên anh hùng ca vĩ đại nhất trong lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh để dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam ta, đánh dấu bước ngoặt quyết định trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước ta bước hẳn vào kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH.
Nhân tố quyết định làm nên Đại thắng mùa xuân 1975 là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình với mưu lược và tư duy chính trị, quân sự độc đáo, sắc sảo của Đảng ta. Đảng đã biết khơi dậy và khai thác tối ưu mọi tiềm năng thế mạnh của nhân tố con người, kết hợp chặt chẽ các nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa với nhau, tạo thành một tổng hợp lực nhằm cùng một hướng để tăng sức mạnh của quân và dân ta lên gấp bội. Đó là sức mạnh của bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, sức mạnh của đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo, sức mạnh của độc lập dân tộc và CNXH, của việc kết hợp chặt chẽ lợi ích cơ bản của nhân dân ta với những mục tiêu của thời đại. Đó là sự kết hợp cả đường lối cách mạng và phương pháp cách mạng: Sử dụng bạo lực cách mạng tổng hợp, kể cả lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; tiến hành khởi nghĩa từng phần từ nông thôn đến thành thị và từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao. Đó là kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn, đồng bằng thành thị; đánh địch bằng ba mũi giáp công: Quân sự, chính trị, binh vận; kết hợp ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Đồng thời biết tạo thời cơ và triệt để lợi dụng thời cơ, đã mở những cuộc tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, kết thúc trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta sau 21 năm, thực hiện thống nhất Tổ quốc, Nam-Bắc sum họp một nhà, cả nước đi lên CNXH./.

1
Thích
Bình luận
Chia sẻ

0 bình luận

Giá trị cốt lõi trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Thứ nhất, Di chúc là tâm nguyện, tình cảm, ý chí, niềm tin, trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp cách mạng

 Di chúc là Tâm nguyện của Người: “Suốt đời tôi hết lòng phụng vụ Tổ quốc, phụng vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phụng vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Ý chí, niềm tin, tinh thần lạc quan cách mạng, trách nhiệm với nhân dân của Người thể hiện sâu sắc ở dự báo về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và ngày thống nhất đất nước, ở những chỉ dẫn về công việc của sự nghiệp cách mạng còn dang dở. Di chúc là tâm sự của một người đã suốt đời hy sinh hạnh phúc riêng tư, hiến dâng trọn cuộc đời cho Tổ quốc và nhân dân; là tấm lòng chung thuỷ với “các nước anh em” và “bầu bạn khắp năm châu”.

 Thứ hai, Di chúc là công trình lý luận về xây dựng và củng cố Đảng cầm quyền

 - Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng ta là Đảng cầm quyền”. Để đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo xã hội, Đảng phải luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và gắn bó máu thịt với nhân dân, không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình. Di chúc nêu những vấn đề cốt yếu của công tác xây dựng Đảng, đó là: Giữ gìn mối đoàn kết trong Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng phục vụ nhân dân của mỗi cán bộ, đảng viên. Công tác chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ chiến lược, là công việc thường xuyên để giữ vững vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng.

 - Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp bền bỉ, dài lâu, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đảng cầm quyền phải chăm lo phát triển lực lượng cho hiện tại và chuẩn bị cho tương lai một thế hệ trẻ vừa “hồng” vừa “chuyên”, có như vậy mới thực hiện thành công lý tưởng xây dựng một xã hội mới, tiến bộ, văn minh. Bác dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”, đó là công việc bồi dưỡng lý tưởng cộng sản, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng, đào tạo nguồn nhân lực kế tục sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa.

 - Cách mạng Việt Nam không thể tách rời cách mạng thế giới. Sự vững mạnh của Đảng còn được khẳng định trong mối quan hệ đoàn kết chặt chẽ với các đảng cộng sản và bè bạn quốc tế. Điều Bác dặn trong Di chúc “về phong trào cộng sản thế giới” chỉ dẫn định hướng quan trọng cho quan hệ đối ngoại của Đảng, đó là nguyên tắc đoàn kết quốc tế dựa trên “nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình”.

Thứ ba, Di chúc là tác phẩm bàn về xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam, là phác thảo lý luận sự nghiệp đổi mới ở nước ta

 - Di chúc là điểm kết tinh tư tưởng của Bác về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, mối quan hệ giữa công bằng và tiến bộ xã hội, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá trong xây dựng xã hội mới, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh thời đại, động lực lợi ích và chăm lo chu đáo tới cuộc sống con người, tư tưởng trọng dân, coi dân là gốc, là chủ thể của sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước.

- Di chúc như một kế hoạch, một chương trình hành động của toàn Đảng, toàn dân về sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh với những chỉ dẫn về quản lý xã hội như: đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; sửa đổi chế độ giáo dục cho phù hợp hoàn cảnh mới; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; phát triển công tác vệ sinh, y tế; chính sách miễn thuế nông nghiệp cho nông dân; chính sách xã hội, công bằng xã hội...

- Giá trị văn hoá của Di chúc chỉ dẫn con đường, mục tiêu phát triển của nền văn hoá Việt Nam; trù tính, dự liệu về những cuộc vận động lớn giáo dục văn hoá trong toàn dân, toàn xã hội, lấy văn hoá chính trị của Đảng Cộng sản cầm quyền và văn hoá trong thể chế nhà nước - một nhà nước dân chủ pháp quyền của dân, do dân, vì dân làm sức mạnh tiêu biểu nêu gương thuyết phục nhân dân. Qua lời dặn dò về việc riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến việc xây dựng một đời sống văn hoá mới; một lối sống tiết kiệm, không lãng phí; mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, môi trường sinh thái.

 - Di chúc phác thảo những vấn đề quan trọng của sự nghiệp đổi mới đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đổi mới là một tất yếu để phát triển; đổi mới là một cuộc đấu tranh bền bỉ, một quá trình xây dựng gian khổ, “là một công việc cực kỳ to lớn, nặng nề và phức tạp”, là “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Người yêu cầu, Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

 - Theo Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh, điều kiện nước ta phải đặc biệt chú trọng phát huy khả năng sáng tạo của dân, “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”./. 

MAI NĂM MỚI (ST)

Phong Cách Hồ Chí Minh trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

 

Hồ Chí Minh suốt đời kiên tâm thực hiện đại đoàn kết. Bản thân Người cũng chính là hình ảnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo Bác, để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, thì toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên cần có phong cách lãnh đạo: “Kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân”. Họ phải là: “Những người mà:

- Giàu sang không thể quyến rũ,

- Nghèo khó không thể chuyển lay,

- Uy lực không thể khuất phục”.

Người khẳng định, Đảng ta với phong cách vì dân, vì nước nên: “không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề, nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân” để đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Bằng cách nào để toàn Đảng đoàn kết, nhất trí? Hồ Chí Minh chỉ ra biện pháp cơ bản là: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Đối với cán bộ lãnh đạo, đảng viên, cần học và làm theo phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tập hợp, đoàn kết toàn dân. Chú ý tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của quần chúng, chăm lo đời sống của nhân dân. Tin vào dân, tôn trọng dân, chú ý lắng nghe và giải quyết những kiến nghị chính đáng của nhân dân, sẵn sàng tiếp thu ý kiến dân phê bình và kịp thời sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót. Giáo dục, lãnh đạo nhân dân, đồng thời không ngừng học hỏi kinh nghiệm của nhân dân. Biết biến quyết tâm của Đảng, Nhà nước thành quyết tâm của nhân dân. “Phải làm đúng những điều đó mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ”.

Đối với toàn thể nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta ai cũng cần có phong cách thân ái, khoan hồng độ lượng, thương yêu lẫn nhau, mới đoàn kết được toàn dân tộc. “Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay”. Tinh thần yêu nước, đoàn kết của các tầng lớp nhân dân cần được thể hiện trong các phong trào thi đua ái quốc. Mỗi giới lại cần có phong cách làm việc thiết thực của chính mình:

“Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc,

Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn,

Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp,

Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh,

Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự nhân dân,

Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng”. Như vậy thì kháng chiến, kiến quốc nhất định thành công.

Với đồng bào các tôn giáo, phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta không phân biệt lương, giáo, hãy làm theo gương của các bậc sáng lập Đạo mà đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng là để giữ gìn quyền tôn giáo tự do. Bác cũng khẳng định đạo đức tôn giáo có giá trị nhân văn, phù hợp với đạo đức của xã hội.

 “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái.

 Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi

 Khổng Tử dạy: đạo đức là nhân nghĩa”.

Theo Người: “Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ”.

Đối với đồng bào các dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các dân tộc đều bình đẳng và phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em”. Ngày nay, chế độ ta là chế độ dân chủ. Đồng bào tất cả các dân tộc đều cần có phong cách làm việc của người chủ nước nhà.

MAI NĂM MỚI (ST)

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

CHIÊU TRÒ XÚI GIỤC PHÁ HOẠI

 

Chuẩn bị đến bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, các thế lực thù địch nước ngoài và cơ hội chính trị trong nước thời gian gần đây có diễn biến mới, trắng trợn, thâm độc và lan rộng trên mạng xã hội.

Một trong những nội dung mà các đối tượng hướng tới là phát động phong trào “không biết không bầu”. Đây là chiêu thức cũ, vẫn lấy cảm hứng từ những câu chuyện "dân chủ phương tây", mà chính những xã hội đó đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề, hố sâu ngăn cách các bộ phận nhân dân như những vết thương không cầm máu.

Như chúng ta đã biết, bầu cử là một biểu hiện tính dân chủ, tiến bộ của nhà nước pháp quyền so với các chế độ chính trị đã có trong lịch sử như phong kiến hoặc chiếm hữu nô lệ. Ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND là một hình thức thể hiện quyền làm chủ của công dân cao nhất, để cử tri bầu ra những vị đại diện cho lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị kiên định, đủ phẩm chất, uy tín, năng lực và trình độ, có khả năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri để lập pháp, giám sát sự lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Chính phủ. Thế nên, ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND được xem trọng và được ví như ngày hội thực sự. Quyền và nghĩa vụ bầu cử của công dân Việt Nam chỉ có được sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do. 

Bất chấp ý nghĩa tốt đẹp về bầu cử đã được hiến định, quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, thời gian qua, trên mạng xã hội, một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước đã phát động phong trào “không biết không bầu”. Như ngày 25-2, trên Facebook xuất hiện một thông tin có nội dung dưới dạng tờ rơi hỏi và trả lời được chia sẻ với tốc độ cao. Tại đây, đối tượng đưa ra các câu hỏi như: Đã từng thấy người nào diễn thuyết, kêu gọi bỏ phiếu cho họ chưa? ai là người đại diện cho quyền, lợi ích của bạn? đã có đại biểu Quốc hội nào đứng ra bảo vệ quyền lợi cho bạn chưa...? Trả lời cho các câu hỏi trên là những từ "chưa từng thấy", "chưa có" và đặc biệt là đi đến khẳng định nếu ứng cử viên bầu đại biểu Quốc hội có đề án nhưng không diễn thuyết thì không thể đại diện cho cử tri và thống nhất là không bầu. Cũng cuối tháng 2 vừa qua, NĐC, một nhân vật “trở cờ” ở Hà Nội đã viết trên Facebook cá nhân về cái gọi là “không biết không bầu”. Ông ta khẳng định, việc các cơ quan Trung ương giới thiệu nhân sự bầu đại biểu Quốc hội về các địa phương để ứng cử là một biểu hiện của “Đảng cử, dân bầu”. Những đại biểu ứng cử có chương trình nhưng không thuyết trình và tổ chức vận động tranh cử để nhân dân địa phương biết thì sẽ không bầu. Việc cử tri bầu những người này chỉ là hình thức. Họ không đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cử tri mà chỉ bảo vệ lợi ích cho Đảng, nhằm đàn áp, thống trị nhân dân... Qua những lời ngụy biện ở trên, nhân vật này đã lợi dụng tính lan tỏa của mạng xã hội, kêu gọi cử tri thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu”.

Phong trào kêu gọi “không biết không bầu” là rất thâm hiểm. Nó không chỉ cổ vũ cho chủ nghĩa tự do tùy tiện và chủ nghĩa dân túy vốn đang là ác mộng của nhiều nước trên thế giới mà nó còn liên quan đến lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền với những ưu việt đã được khẳng định. 

Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn xây dựng đất nước, trong các văn kiện của Đảng ta lâu nay đều khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhà nước tôn trọng và thực hiện bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người; đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Tất cả những mục tiêu này được hiện hữu thông qua việc xây dựng bộ máy lãnh đạo, lập pháp, hành pháp và tư pháp đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành mà bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND là một biểu hiện cao nhất.

Thực tiễn cho thấy, thứ nhất, việc đưa ra và tuyên truyền, cổ xúy cho phong trào tự phát “không biết không bầu” là đi ngược lại với quy định của Hiến pháp và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND. Điều 2 của luật này quy định tuổi bầu cử và tuổi ứng cử như sau: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp”. Thế nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì tự mình đã đánh mất quyền công dân, quyền cử tri mà pháp luật đã quy định. Xin nói thêm là, từ năm 1946 trở về trước, dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, công dân Việt Nam chưa khi nào được hưởng không khí tự do, dân chủ đúng nghĩa; chưa ai được cầm trong tay phiếu bầu để bầu ra người đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của mình. Có thể nói, cùng với việc khai sinh, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945) thì cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa I) diễn ra tại các tỉnh, thành phố trong cả nước vào ngày 6-1-1946, theo lối phổ thông đầu phiếu và lựa chọn ra 333 đại biểu cho Quốc hội là một bước tiến và dấu ấn lịch sử, thể hiện ý chí khát vọng độc lập, tự do và quyền làm chủ của toàn dân tộc. Từ đó đến nay, việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là ngày hội chính trị của nhân dân. Các quy định trong bầu cử cũng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, được luật hóa để sao cho phát huy quyền làm chủ của công dân, cử tri được cao nhất; bảo đảm bầu cử an toàn, thống nhất và hiệu quả. Vậy nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì khác nào “lấy đá ghè chân mình”, tự tước đi quyền, lợi ích của chính công dân và của chính cử tri. 

Thứ hai, việc tán phát thông tin trái luật đã khiến cho nhiều người lầm tưởng và hiểu sai lệch chế độ chính trị ở Việt Nam, cổ vũ cho tư tưởng dân chủ cực đoan, vô lối, chủ nghĩa dân túy. Thực tế, ở các nước phương Tây, việc bầu nghị viện và bầu ra nhà lãnh đạo đất nước được tiến hành khá cởi mở. Các ứng cử viên tự do xây dựng đề án, tổ chức các chiến dịch truyền thông, vận động tranh cử để cử tri lựa chọn. Tuy nhiên, hiện nay việc này đã xuất hiện những “gót chân Asin” mang biểu hiện lợi ích cục bộ, thao túng chính trị, tranh giành cử tri bằng mọi giá, triệt hạ đối thủ bằng mọi cách, gây bất bình giữa các tầng lớp trong xã hội. Những bất ổn, náo loạn, đổ máu... xung quanh bầu cử lãnh đạo cấp cao của một số quốc gia ngày càng cho thấy những bất đồng, phân biệt về quyền làm chủ của công dân giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội là rất khó có thể điều hòa. Những người cổ vũ tự do tuyệt đối, tự do vô chính phủ trong lúc này chẳng những thiếu hiểu biết, mà còn rắp tâm phá hoại đất nước. 

Thứ ba, phong trào tự phát “không biết không bầu” là một cái cớ để các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến có dịp phản bác lại sự ổn định chính trị, ổn định xã hội ở Việt Nam. Chúng mong muốn hạ thấp vai trò, uy tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế và đối tác, ngăn các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những căn nguyên có thể cướp đi việc làm, thu nhập của người lao động trong xã hội và đặc biệt làm giảm động lực tinh thần hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam hùng cường... 

Nêu cao cảnh giác trước những chiêu bài phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là yêu cầu cấp bách với nhân dân nói chung và mỗi cử tri nói riêng. Vì vậy, mỗi cử tri cần cẩn trọng khi tiếp xúc với mạng xã hội, không chia sẻ, bình luận những thông tin từ những tài khoản chứa đựng những nội dung có dụng ý xấu. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những kẻ cơ hội, vạch rõ âm mưu xấu bẩn của chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên cũng đồng thời là một chiến sĩ dân vận, trước tiên vận động người thân trong gia đình và những người xung quanh làm tròn trách nhiệm công dân, trách nhiệm cử tri trong ngày hội lớn của đất nước.

NGHIÊM TRỊ CÁC ĐỐI TƯỢNG XÚC PHẠM TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Ngày 15-4, Tòa án nhân dân quận Tân Phú (TP Hồ Chí Minh) đã tuyên phạt bị cáo Quách Duy (nguyên công chức Văn phòng UBND TP Hồ Chí Minh) 4 năm 6 tháng tù về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Theo cáo trạng, năm 2019, Sở Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh phát hiện trên Facebook Quách Duy đăng tải một số bài viết có nội dung xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của một số đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng và nhà nước, TP Hồ Chí Minh.  

Cũng theo cáo trạng, khi khám xét, cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú thu giữ và chuyển Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra theo thẩm quyền nhiều tài liệu thể hiện nội dung tin nhắn giữa tài khoản Facebook Quách Duy với một số tài khoản facebook khác. Tại tòa, bị cáo Quách Duy khai nhận các hành vi như cáo trạng đã nêu.

Ngày 13-4, Công an tỉnh Bắc Giang đã ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 7,5 triệu đồng đối với Nguyễn Quang M (SN 1993, trú tại thôn Hùng Lãm 2, xã Hồng Thái, Việt Yên, Bắc Giang), có tài khoản Facebook “N Q M”, vì hành vi cung cấp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức. 

Trước đó, vào hồi 19 giờ 4 phút ngày 6-4, Nguyễn Quang M. đăng tải nội dung liên quan đến sự việc người dân ném chất bẩn diễn ra ở Khu đô thị Đình Trám - Sen Hồ (địa phận xã Hồng Thái) trên Facebook cá nhân với lời lẽ bình luận, thông tin sai sự thật, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức. Tại cơ quan công an, Nguyễn Quang M đã thừa nhận hành vi sai trái của mình và tự gỡ các bài viết không đúng sự thật nêu trên.

Công an huyện Anh Sơn (Nghệ An) đang hoàn thiện hồ sơ, xử lý theo quy định đối với Nguyễn Văn Thái (31 tuổi, trú tại xã Long Sơn, huyện Anh Sơn) vì đã có hành vi bình luận trên mạng xã hội với nội dung xúc phạm nghiêm trọng đến lực lượng công an.

Theo đó, vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 5-4, đối tượng này đã sử dụng tài khoản facebook “Nguyen Thai” để đăng bình luận dưới bài viết trên nhóm “Anh Sơn Online” với những lời lẽ xúc phạm nghiêm trọng đến lực lượng Công an huyện Anh Sơn. Tại cơ quan công an, Thái thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật, chủ động xoá bình luận và đăng bài công khai xin lỗi Công an huyện Anh Sơn.

MỘT LỐI SUY DIỄN QUY CHỤP, VÔ LƯƠNG TÂM

 

Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc và Đảng ta. Mục tiêu ấy không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng thời đại. Nhưng các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại xuyên tạc việc Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra tầm nhìn, khát vọng phát triển đất nước như vậy là viễn cảnh hão huyền, viển vông.

Chúng tìm đủ chiêu trò để bôi nhọ, xuyên tạc nhằm chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là âm mưu, thủ đoạn không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị. Việc Đảng ta tổ chức Đại hội XIII thành công rất tốt đẹp trên mọi phương diện, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, khiến những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị càng thêm cay cú. Họ không chỉ phủ nhận nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối chính trị của Đảng mà còn cố tình đánh lạc hướng dư luận bằng những cái nhìn thiển cận, hẹp hòi và suy diễn ác ý về những điểm mới được xác định trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Họ cho rằng, các quan điểm và giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đưa ra trùng lắp, chống chéo, cái nọ cản trở cái kia nên khó có thể thực hiện được. Họ rêu rao việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu “Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” chỉ là những chiếc bánh vẽ ghi trong văn kiện Đảng”; còn việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là mục tiêu tuyên truyền “vẽ voi trên giấy” của tuyên giáo Cộng sản Việt Nam sau Đại hội XIII”, là thái độ mị dân của những người cộng sản “chỉ nói hay mà không làm”... 

Từ cái nhìn sặc mùi phản động đó, họ đã bộc lộ rõ tim đen của những kẻ chống phá quyết liệt đối với Đảng và chế độ ta: “Còn chuyên chế cộng sản lãnh đạo thì người Việt Nam không có quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc và cũng không có khát vọng phát triển thịnh vượng, hùng cường”!

ÂM MƯU LẬP QUỸ ĐỂ HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC

 

Chúng ta còn nhớ năm 2016, Nguyễn Thúy Hạnh đã tự ứng cử vào đại biểu Quốc hội khóa XIV với tuyên bố cương lĩnh tranh cử để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hay quyền giới phụ nữ, người yếu thế. Nhưng kỳ thực trên facebook cá nhân Hạnh thổ lộ với cộng đồng là lợi dụng việc này để “đòi quyền tự do đã mất”, chống lại thể chế chính trị “độc tài”, đấu tranh đòi đa nguyên đa đảng để “Đảng Cộng sản Việt Nam phải trả lại quyền lực cho dân tộc”.

Thế nên, ngay từ quá trình làm hồ sơ ứng cử Hạnh đã tích cực cập nhật tình hình lên facebook cá nhân với nội dung tố cáo chính quyền gây khó dễ cho những người tự ứng cử thông qua việc không làm theo yêu cầu của hồ sơ. Khi cơ quan chức năng hướng dẫn bổ sung hồ sơ thì Hạnh lại xuyên tạc thành gây khó dễ cho người tự ứng cử. Ảo tưởng nữa là, Hạnh tự tổ chức “hội nghị cử tri” ở công ty nước ngoài do Hạnh làm đại diện miền Bắc và thu được 100% ủng hộ của cử tri là nhân viên công ty bằng biểu quyết giơ tay mà không có sự chứng kiến từ Hội đồng bầu cử nơi nộp hồ sơ ứng cử ở Hà Nội. 

Tiếp đó, Nguyễn Thúy Hạnh lập ra quỹ “tù nhân lương tâm” có tên gọi “50K” không đúng quy định của pháp luật hiện hành và duy trì hoạt động nhằm tài trợ, cổ vũ những kẻ bất đồng chính kiến, chống đối Đảng, Nhà nước và nhân dân. Điều đáng lưu ý là Hạnh đã sử dụng tiền để mua các tài liệu, cuốn sách xuất bản chui ở nước ngoài do Phạm Đoan Trang viết rồi tặng cho các con nhang đệ tử của phong trào dân chủ ở trong nước. Nhiều người nghi ngờ và đặt câu hỏi, có dấu hiệu các tổ chức khủng bố ở nước ngoài như Việt Tân lợi dụng, để gửi tiền tài trợ vào quỹ “50K” một cách tinh vi, tài trợ, thúc đẩy các đối tượng chuyên hoạt động dân chủ bất hợp pháp ở trong nước quấy phá. 

Báo Nhân Dân từng có bài vạch trần chân tướng các quỹ nhân danh “dân chủ” trong đó có quỹ của Nguyễn Thúy Hạnh. Hàng loạt thứ quỹ với những cái tên mỹ miều như “bầu bí tương thân”, “lương tâm”, “hiệp hội thiện nguyện vì dân”, “50k”... và Hạnh đã lợi dụng để quyên tiền. Hạnh còn vẽ ra nhiều thứ quỹ khác như: “Quỹ quà tết”, “quỹ sách giáo khoa”, quỹ cho “Lê Anh Hùng”, “Phan Rí”... Chỉ trong tháng 9 và tháng 10-2020, quỹ này đã huy động được số tiền lên đến hàng trăm triệu đồng. 528 triệu đồng là số tiền mà Nguyễn Thúy Hạnh đã kêu gọi được sau 3 ngày phát động từ các cá nhân trong và ngoài nước nhân lợi dụng sự việc Đồng Tâm. Ngoài một số tài khoản ghi nội dung phúng điếu, có nhiều tài khoản có lời lẽ kích động, ca ngợi số chống đối tại Đồng Tâm...Dư luận cũng đặt câu hỏi có hay không sự liên quan giữa các quỹ này và việc nhiều năm nay, vợ chồng Hạnh không hề có công ăn việc làm cụ thể, nhưng vẫn khoe trên mạng xã hội là đang sở hữu nhiều căn hộ cao cấp cùng tài sản giá trị khác. Hạnh cũng từng bị các đối tượng khác kiện vì thiếu minh bạch trong sử dụng những nguồn quỹ.

Việc tự lập quỹ “50K” của Nguyễn Thúy Hạnh đã vi phạm các quy định của pháp luật, trong đó có Nghị định số 93/2019/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện có nêu rõ người lập quỹ phải có hồ sơ với chương trình cụ thể về việc lập quỹ, huy động nguồn quỹ và sử dụng quỹ rồi trình cơ quan chức năng xem xét, cấp phép. Đặc biệt, tại Điều 9, Nghị định 93 đã đưa ra 6 nội dung các hành vi bị nghiêm cấm trong lập quỹ như: Làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng; gây phương hại đến lợi ích quốc gia, an ninh, quốc phòng, khối đại đoàn kết dân tộc; rửa tiền, tài trợ khủng bố và các hoạt động trái pháp luật… Như vậy, việc lập quỹ của Nguyễn Thúy Hạnh cần phải được nghiêm trị./.

NHẬN DIỆN KẺ “HÀNH NGHỀ” DÂN CHỦ

 

Theo thông tin từ cơ quan An ninh điều tra-Công an TP Hà Nội, Nguyễn Thúy Hạnh sinh năm 1963 và có hộ khẩu thường trú tại phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.

Trên facebook cá nhân, Nguyễn Thúy Hạnh đưa rất nhiều thông tin hoạt động “từ thiện” dành tặng cho “tù nhân lương tâm” và người thân trong gia đình những kẻ bị bắt về tội danh tuyên truyền chống nhà nước đã bị tòa án các cấp xử phạt và đang thụ án.

Từ năm 2011, Hạnh đã tham gia tích cực vào nhiều hoạt động tụ tập đông người trái phép, những cuộc biểu tình dưới danh nghĩa “yêu nước”, “chống Trung Quốc”. Sau vài lần bị xử lý hành chính, Nguyễn Thúy Hạnh nhanh chóng trở thành một biểu tình viên tích cực và “chuyên nghiệp” của cái gọi là “làng” dân chủ ở Việt Nam. Hạnh tham gia vào nhiều hoạt động như cafe nhân quyền, biểu tình đòi thả tự do cho những đối tượng vi phạm pháp luật, gây rối trật tự công cộng trước cổng các cơ quan nhà nước, biểu tình phản đối chặt cây xanh...

Hạnh còn viết bài trên facebook về các sự việc tiêu cực để quy chụp, vu khống, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các địa phương; viết bài biện hộ cho Việt Tân. Đã nhiều lần Hạnh bị cơ quan công an mời lên làm việc, nhiều lần bị xử phạt hành chính.

Hạnh cũng tham gia vào rất nhiều những hội nhóm mang danh xã hội dân sự để hoạt động chống phá như Hội dân oan, mạng lưới blogger Việt Nam, hội phụ nữ nhân quyền, Hội nhà báo độc lập... Ngoài ra, Hạnh còn tích cực trả lời phỏng vấn các đài báo phản động ở hải ngoại với nhiều nội dung xuyên tạc.Tháng 12-2019, Nguyễn Thúy Hạnh được tổ chức Việt Tân trao giải thưởng Lê Đình Lượng. Hạnh đã 3 lần bị lực lượng chức năng của Việt Nam xử phạt hành chính về hành vi tụ tập trái phép và biểu tình trái phép./.

Nhận diện, đấu tranh với thông tin xấu độc trên không gian mạng



Theo nhận định của cơ quan an ninh, hoạt động của các hội, nhóm trái phép liên quan đến an ninh quốc gia tiếp tục có những diễn biến phức tạp, manh động và cực đoan. Phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khai thác tối đa sự lan truyền nhanh, rộng trên không gian mạng để lôi kéo đối tượng là người đi khiếu kiện, tội phạm nhằm phục vụ các hoạt động biểu tình, phá hoại, bạo loạn, tiến tới thực hiện “Cuộc cách mạng màu” lật đổ chế độ ta…

NHỮNG KẺ XÉT LẠI LỊCH SỬ LỐ BỊCH

 

Hiện nay, mạng xã hội, nhất là facebook, Youtube đang được các đối tượng triệt để sử dụng làm nơi đăng tải, chia sẻ, tuyên truyền những luận điệu, quan điểm, thông tin sai trái. Điển hình là một số trang mạng do các thế lực thù địch và các cá nhân, tổ chức phản động điều hành, như: Việt Tân, Chân trời mới media, Bình luận về Đảng cộng sản, Hội anh em dân chủ... Trong suốt quá trình diễn ra Đại hội XIII và cả sau khi đại hội thành công, cả nước ra sức đưa nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống thì tại các trang mạng nêu trên, việc tuyên truyền các thông tin, luận điệu xuyên tạc vẫn diễn ra một cách quyết liệt và trắng trợn. Không chỉ dừng lại ở việc xây dựng các bài viết có nội dung tiêu cực, phản động, các thế lực thù địch, chống đối còn tận dụng triệt để truyền thông đa phương tiện, tiến hành dàn dựng các video clip với các dữ liệu, hình ảnh sai trái, mang tính cắt ghép nhằm bôi nhọ, công kích, đả phá vai trò lãnh đạo của Đảng và một số đồng chí được Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII giới thiệu bầu vào các chức danh chủ chốt trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Nội dung được các đối tượng tập trung là xuyên tạc bản chất của chế độ cộng sản với những luận điệu, quan điểm hết sức trắng trợn, thô bỉ, sai sự thật, như: "Đảng cộng sản dựa vào bạo lực để duy trì chính quyền", "chế độ một đảng lãnh đạo là độc tài, không thể có dân chủ"... Đồng thời, các đối tượng cũng đẩy mạnh hoạt động công kích, chống phá Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Từ đó, chúng cổ xúy quan điểm đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi hỏi Đảng cộng sản phải "tự tách đôi chính mình", đòi bầu cử theo kiểu phương Tây (tự do ứng cử, không cần hiệp thương), hòng khởi đầu cho xã hội đa đảng, thậm chí là đòi Đảng phải "tự rút lui", "trả lại quyền lực" cho một lực lượng khác lên nắm quyền. Những luận điệu xuyên tạc trên thật là lố bịch./.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC SAI SỰ THẬT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM

 

Đại hội XIII của Đảng đã diễn ra và thành công rất tốt đẹp chính là dịp để chúng ta tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020, 35 năm thực hiện đường lối đổi mới. Đồng thời xây dựng, định hướng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại cho giai đoạn tiếp theo. Với mục đích phủ nhận sạch trơn vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, những luận điệu công kích, xuyên tạc liên tục được các thế lực thù địch, phản động, chống đối tung ra. Trọng tâm và xuyên suốt nhất là việc đả kích, xuyên tạc bản chất của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Ngay trong những ngày diễn ra đại hội, các đối tượng chống phá vẫn không ngừng đưa ra luận điệu cho rằng, kinh tế thị trường là sản phẩm của riêng chế độ tư sản; việc gắn yếu tố định hướng XHCN vào nền kinh tế thị trường tạo ra một sản phẩm "đầu Ngô, mình Sở".

Bất chấp khó khăn chung của toàn cầu, nền kinh tế của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn duy trì tăng trưởng ở mức độ khá cao, giai đoạn 2011-2015 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 5,9%/năm, giai đoạn 2016-2019 tăng trưởng đạt 6,8%/năm, bình quân giai đoạn 2011-2020 ước đạt tăng trưởng 5,9%/năm. Riêng trong năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch Covid-19 nhưng nền kinh tế của Việt Nam vẫn tăng trưởng 2,91%, trở thành một trong số ít nền kinh tế có tăng trưởng dương trên thế giới. Thế nhưng, các thế lực chống phá vẫn xuyên tạc, cho rằng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản "không thể tạo ra sự phát triển kinh tế thực chất", họ vu khống cho rằng "nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc, phát triển chỉ nhờ đóng góp của tư bản nước ngoài".

Họ cũng lợi dụng tình trạng một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động chưa hiệu quả, gây thất thoát và những điểm còn hạn chế trong việc cổ phần hóa tại một số doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn vừa qua để làm cái cớ xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ phát triển nền kinh tế của Việt Nam. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách nhằm vu khống bản chất chế độ XHCN, họ luôn cho rằng: Các nước đi theo con đường XHCN đồng nghĩa với đói nghèo. Họ ca ngợi sự giàu có của các nước tư sản, hòng tạo ra sự lầm tưởng trong nhận thức của một bộ phận người dân, từ đó hình thành các lực lượng đối lập ngay trong lòng đất nước chúng ta./.

Những việc làm cần thiết để giữ gìn kỷ cương phép nước

Những ngày vừa qua, việc hàng loạt cán bộ bị khởi tố, bắt giam (trong đó có cả cán bộ cấp cao) được dư luận hết sức quan tâm. Đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cho rằng đó là những việc làm cần thiết để giữ gìn kỷ cương, phép nước, tiếp tục chỉnh đốn, làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước, cho dù, như nhiều cán bộ lão thành phát biểu, đây cũng là nỗi đau xót trong Đảng, không ai có thể vui mừng khi thấy đồng chí của mình bị xử lý như vậy. . Trong khi đó, nhân những sự việc này, nhiều đối tượng cơ hội chính trị, phản động lại “chọc gậy bánh xe”, “đục nước béo cò”, đưa ra những quan điểm lệch lạc... “Chọc gậy bánh xe”, tạo dựng mâu thuẫn Ngay sau khi báo chí, truyền thông trong nước đưa tin về việc khởi tố, bắt tạm giam các ông: Đinh La Thăng, Nguyễn Quốc Khánh, Đinh Mạnh Thắng... hàng loạt tờ báo và trang mạng nước ngoài đã có thêm những bài viết với một số lập luận hết sức cực đoan, theo kiểu “chọc gậy bánh xe”. Đài Á châu Tự do, như thường lệ lại tiếp tục tung ra luận điệu, sự việc “chưa phải hồi kết”. Họ cho rằng không có chống tham nhũng thực sự mà đây chỉ là cuộc đấu đá nội bộ rồi từ đó đồn đoán sẽ có những nhân vật nào tiếp tục bị bắt. Thậm chí, lợi dụng sự việc này, họ dựng lên cái gọi là “cuộc chiến sinh tử” của cá nhân lãnh đạo Đảng, Nhà nước để “giữ thể diện” mà thôi. Trong nước, có người sau thời gian dài không bàn luận gì nay lại “chém gió” là “không hề ngạc nhiên” vì bản chất là “cuộc đấu đá phe phái”. Từ đó kêu gọi phải "tam quyền phân lập", "xã hội dân sự". Từ câu chuyện chống tham nhũng, họ lái vấn đề sang chuyện thay đổi chế độ. Họ đồn đoán đây là cuộc chiến không khoan nhượng nhưng không phải là cuộc chiến chống tham nhũng vì gốc rễ của tham nhũng là “thể chế”. Khi thể chế chưa thay đổi thì đánh tham nhũng chỉ là “tranh giành phe phái”. Họ còn đơm đặt rằng, công luận cũng sẽ chỉ một hướng tấn công những người vi phạm pháp luật bị bắt; còn Đảng không có tính nhân văn, sẽ tìm mọi cách quy kết thật nhanh. Từ đó, họ cố tình xuyên tạc cho rằng Việt Nam không có tự do ngôn luận, rằng có một “bi kịch” tiềm ẩn rủi ro chung cho tất cả mọi người là “đều có thể là nạn nhân của một nền pháp quyền què quặt”... Họ kêu gọi mọi người hãy sớm đến với dân chủ nhân quyền, đừng “đợi tới lúc trở thành nạn nhân mới bắt đầu nghĩ tới quyền của mình”. Đau xót nhưng phải làm nghiêm minh Trên thực tế, trước các sự việc trên, nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân rất quan tâm nhưng cũng coi đó là những bài học đau xót. PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng nêu quan điểm: “Chúng ta cần nhìn nhận việc kỷ luật những cán bộ cấp cao vi phạm pháp luật là điều không lấy gì làm vui vẻ mà quan trọng hơn cần những thiết chế để cán bộ không dám và không thể vi phạm kỷ luật hay tham nhũng, tiêu cực”. Ông Lù Văn Que, Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc và Miền núi cho biết: “Không ai có thể vui được khi đồng chí của mình, đặc biệt lại là một cán bộ cao cấp vi phạm đến mức phải kỷ luật, bị khởi tố và bắt tạm giam. Một cán bộ đã trải qua nhiều vị trí công tác, được tôi luyện, thử thách qua nhiều lĩnh vực quan trọng sao lại mắc phải sai phạm nghiêm trọng đến như vậy? Qua đây cũng rút ra bài học sâu sắc cho nhiều cán bộ, đảng viên... Nếu chúng ta cứ bao che, cứ làm nhẹ tội lỗi của cán bộ, đảng viên vi phạm, thì dân nhìn vào còn biết tin ai. Mất lòng tin của dân là mất tất cả. Làm nghiêm không phải là không đau xót trước sai phạm của đồng chí mình. Đây là bài học cảnh tỉnh tất cả cán bộ, đảng viên để tự răn mình, tự biết dừng lại trước mỗi việc làm sai trái”. Một cựu lãnh đạo của một tờ báo trong bài viết dài đã nêu quan điểm: Chúng ta cũng sẽ có cái nhìn tích cực trước việc Đảng ta rất mạnh mẽ trong xử lý những sai phạm gần đây. Nó sẽ là một điểm son trong mắt mỗi đảng viên chân chính cũng như người dân yêu nước, yêu chế độ. Chính những điều này đã giúp mọi người hồi phục lòng tin với Đảng hơn lúc nào hết. Từ lời dạy của Bác Hồ: Chặt cành để cứu cây Những việc làm trên là cần thiết để giữ nghiêm kỷ cương phép nước, để không ngừng làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước ta. Điều đó là nhất quán trong quan điểm của Đảng cũng như theo tư tưởng Hồ Chí Minh, hoàn toàn không có chuyện thanh trừng, đấu đá nội bộ. Ngay từ những ngày đầu kháng chiến còn đầy gian khổ, thù trong giặc ngoài, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết chống tham ô, tiêu cực với tinh thần, dù đau đớn nhưng vẫn phải chặt cành để cứu cây. Năm 1950, vụ án Trần Dụ Châu được phát hiện từ bức thư của nhà thơ Đoàn Phú Tứ, đại biểu Quốc hội khóa I gửi lên Bác Hồ. Người đã giao bức thư cho Thiếu tướng Trần Tử Bình, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Tổng Thanh tra Quân đội yêu cầu điều tra làm rõ và nói: “Bác đã đọc kỹ lá thư và rất đau lòng”. Ít lâu sau, nhận báo cáo điều tra cụ thể, Bác Hồ dứt khoát nói: “Một cái ung nhọt, dẫu có đau cũng phải cắt bỏ, không để nó lây lan, nguy hiểm”. Năm 1964, Bác Hồ tiếp tục nhận được ý kiến xin giảm tội cho một cán bộ tha hoá, biến chất là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Trương Việt Hùng. Sau khi xem xét, cân nhắc, Người quyết định: "Thà chặt một cành sâu để cho cây xanh tốt". Thái độ của một Đảng “mạnh dạn, tiến bộ, chân chính” Phải xem xét, xử lý kỷ luật và truy tố trước pháp luật bất kỳ cán bộ, đảng viên nào là điều không ai mong muốn. Càng đau xót và đáng tiếc hơn khi đó là những đồng chí cán bộ cấp cao, từng kinh qua rèn luyện, trưởng thành và có đóng góp nhất định với đất nước. Nhưng Đảng ta là đảng cầm quyền, ngoài phấn đấu, làm việc vì lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Và để xứng đáng với sứ mệnh lịch sử của mình, Đảng phải không ngừng tự chỉnh đốn. Chúng ta cần ghi nhớ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng: “... Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chân chính”. Đảng ta luôn khẳng định, mọi cán bộ, đảng viên đều bình đẳng trước pháp luật. Hơn thế, đảng viên vi phạm ngoài bị xử lý theo đúng pháp luật còn phải bị xử lý theo đúng kỷ luật Đảng một cách tự giác, nghiêm minh. Thậm chí, ở một khía cạnh nào đó phải được xử lý nghiêm minh hơn, có như vậy, mới xây dựng được xã hội pháp quyền, thượng tôn pháp luật, mới tạo được sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và niềm tin trong nhân dân về một Đảng “mạnh dạn, tiến bộ, chân chính”. Nguyên tắc xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm được ghi rõ trong Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị mới ban hành gần đây đã nêu rõ: “Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời”. Để có triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu lên quan điểm nhân văn nhưng cũng rất kiên quyết, thể hiện rõ ý chí của Đảng, Nhà nước ta trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực: “Chúng ta rất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, nhân tình; không thích thú gì khi phải kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình; trái lại, rất khổ tâm, đau xót. Nhưng vì sự tiến bộ chung, vì để mong nhiều người không mắc sai phạm, chúng ta phải kỷ luật; kỷ luật một vài người để cứu muôn người!”. Rồi đây, sự việc những cán bộ vi phạm sẽ tiếp tục được điều tra, làm rõ, xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật. Qua mỗi sự việc được làm sáng tỏ, sẽ rõ hơn trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức và cũng là dịp để chúng ta “tự soi, tự sửa”, là dịp để củng cố, không để còn những lỗ hổng pháp lý, lỗ hổng trách nhiệm và cả “lỗ hổng lương tâm”, giúp bộ máy Nhà nước của chúng ta ngày càng hoàn thiện hơn. Và như vậy, cuộc chiến chống tham nhũng đã và đang đạt được lợi ích kép, vừa tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vừa giáo dục, rèn luyện đảng viên tốt hơn, vừa hoàn thiện hệ thống pháp luật và bộ máy chứ đâu phải “chỉ có thay đổi thể chế mới chống được tham nhũng” như những luận điệu cực đoan đang rêu rao. Chúng ta càng không thể mơ hồ, ảo tưởng vào những luận điệu mị dân như phải tiếp cận dân chủ, nhân quyền phương Tây, “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, thay đổi thể chế mới đẩy lùi được tham nhũng. Trên thực tế, chẳng phải thay đổi thể chế thì chống tham nhũng tốt hơn mà điều quan trọng nhất chính là giáo dục, răn đe, tạo ra sự chuyển biến trong toàn Đảng, toàn dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu quan điểm: “Trong phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu, giáo dục là chính, trừng phạt là phụ”; để từ đó “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng trăm, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”. Chỉ có bằng việc không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính trị, giúp bộ máy Nhà nước hoạt động hiệu quả hơn để dân thêm giàu, nước thêm mạnh mới là con đường tốt nhất.