Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2021

Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa để phụng sự nhân dân tốt hơn

 

Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa để phụng sự nhân dân tốt hơn

Chiều 3-7, Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” đã họp Phiên thứ nhất tại Hà Nội, dưới sự chủ trì của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng ban Chỉ đạo. 

Cùng dự, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo: Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương Phan Đình Trạc, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo. Các Ủy viên Bộ Chính trị, thành viên Ban Chỉ đạo: Nguyễn Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Công an; Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, cùng đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương, thành viên Ban Chỉ đạo, tổ biên tập xây dựng Đề án. 

Phát biểu ý kiến khai mạc phiên họp, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án nhắc lại tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền và tinh thần bảo vệ quyền con người trong Hiến pháp 1946. Vấn đề này cũng đã được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011). Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 và các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội một lần nữa khẳng định vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa(XHCN) ở nước ta. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Trong đó có các yêu cầu: Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước; xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp theo các cơ sở nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực Nhà nước; xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định với quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người dân và doanh nghiệp làm trọng tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Bộ Chính trị đã thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”, gồm 21 thành viên, bao gồm tám đồng chí là Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc làm Trưởng ban Chỉ đạo.

Do Đề án có phạm vi nghiên cứu rộng, dự kiến trình Trung ương vào tháng 10 năm 2022, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đề nghị các đại biểu cho ý kiến vào các nội dung như: thời gian xây dựng Đề án; xác định mốc thời gian tổng kết việc xây dựng bộ máy Nhà nước và các giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045, kế hoạch phân công công việc của các thành viên Ban Chỉ đạo để bảo đảm có kết quả tốt nhất.

Chủ tịch nước cũng đề nghị các đại biểu góp ý vào dự thảo Đề cương ban đầu của Đề án; cho ý kiến về số lượng các chuyên đề thành phần và phạm vi nghiên cứu của các chuyên đề, kế hoạch phân công các cơ quan, tổ chức xây dựng Đề án và hoàn thiện Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo. 

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh tinh thần cần xây dựng một Đề án có tính chiến lược, thiết thực đối với người dân và cơ quan nhà nước, thật sự là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Thống nhất những quan điểm cơ bản, đột phá cần thiết để xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam tầm nhìn 2045 bảo đảm thành công. Đặc biệt cần bám sát nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.  

Tại phiên họp, các thành viên Ban Chỉ đạo đề xuất nhiều phương án xác định mốc thời gian nghiên cứu của Đề án, trên cơ sở đúc rút thành tựu 35 năm đổi mới của đất nước; tán thành với nội dung của 12 chuyên đề thành phần, đồng thời đề xuất nghiên cứu mở rộng thêm một số vấn đề như: vị trí vai trò các cơ quan Nhà nước đặt trong các mối quan hệ lớn; nghiên cứu sâu thêm về cải cách tư pháp trong khuôn khổ Đề án; nghiên cứu việc sửa đổi hệ thống pháp luật trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. 

Một số ý kiến cũng đề nghị, cần đặt vấn đề nghiên cứu Nhà nước pháp quyền trong mối quan hệ với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… Trong tiến trình nghiên cứu, mỗi chuyên đề cần chỉ rõ những điểm mới, điểm đột phá để thảo luận, thống nhất ý kiến hoàn thiện Đề án. Đồng thời đề nghị cần tập trung nghiên cứu, tổng kết đánh giá thực trạng, kết quả của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay; coi đây là thực tiễn quan trọng để xây dựng các giải pháp hoàn thiện mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong tương lai. 

Phát biểu ý kiến kết luận phiên họp, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, đây là đề án lớn, có tính chiến lược, nhằm phục vụ nhân dân, tạo điều kiện cho đất nước phát triển bền vững, theo tinh thần dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đánh giá cao các ý kiến của các thành viên Ban Chỉ đạo thể hiện trách nhiệm, trí tuệ và kinh nghiệm công tác, Chủ tịch nước khẳng định tầm quan trọng của Đề án thực hiện theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII nhằm phụng sự nhân dân tốt hơn, đóng góp nhiều hơn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Vì vậy, việc xây dựng Đề án cần có phương pháp tiếp cận khoa học, có tầm nhìn dài hạn đến 2045, phù hợp xu hướng phát triển và đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Chủ tịch nước mong muốn các thành viên Ban Chỉ đạo góp ý trực tiếp vào các vấn đề được đưa ra; đánh giá đúng mức, khách quan tình hình thực tiễn; giao Thường trực Ban Chỉ đạo tập hợp đầy đủ các ý kiến góp ý tại phiên họp. 

Về kế hoạch xây dựng Đề án, Chủ tịch nước ghi nhận các ý kiến đề nghị bổ sung một số nội dung nghiên cứu nhưng cần có nhiều đổi mới và đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Chủ tịch nước nêu rõ quan điểm xây dựng Đề án, phát huy chủ trương của Đảng, xây dựng chính sách, pháp luật có tính khả thi cao trong thực tế; lưu ý các cơ quan liên quan mời các nhà nghiên cứu, nhà khoa học tham gia trong quá trình xây dựng Đề án để Đề án có chất lượng tốt nhất. 

Qua các ý kiến phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch nước cho rằng, lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 1991 đến nay là phù hợp, tuy nhiên trong từng chuyên đề thành phần có thể lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu linh hoạt, hợp lý. Các chuyên đề cần có tính hệ thống, có yếu tố đổi mới, đột phá; khắc phục tư duy cục bộ, tư duy ngành trong quá trình nghiên cứu. 

Nhấn mạnh tiến độ xây dựng Đề án báo cáo Trung ương vào tháng 10-2022, Chủ tịch nước yêu cầu các chuyên đề phải bảo đảm tiến độ, chất lượng và cơ sở lý luận cao. Chủ tịch nước mong muốn các thành viên Ban Chỉ đạo, tổ biên tập và các cơ quan được phân công bố trí thời gian nghiên cứu, tổng hợp đúng thời hạn Ban Chấp hành Trung ương đã giao.

Trước đó, ngày 1-7, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã làm việc với các chuyên gia, nhà khoa học pháp lý có uy tín của đất nước để lắng nghe những ý kiến góp ý vào việc xây dựng đề án quan trọng nêu trên.

 

Báo Nhân dân diện tử - “Tự hào vì tôi là quân nhân”

 

Báo Nhân dân diện tử - “Tự hào vì tôi là quân nhân”

Tình nguyện nhập ngũ, cố gắng rèn luyện trong môi trường kỷ luật đầy khắc nghiệt và giây phút thiêng liêng đứng trước quân kỳ đọc lời thề danh dự, những thanh niên vừa xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ đã nỗ lực để hiện thực hoá ước mơ trở thành anh Bộ đội Cụ Hồ. Để rồi sau này khi rời quân ngũ, họ sẽ luôn tự hào vì những năm tháng được rèn luyện trong môi trường quân đội,  trưởng thành hơn, tự tin hơn, sống có trách nhiệm vì xã hội và đất nước.

Chạm tới ước mơ

Chúng tôi có mặt tại Đại đội Trinh sát, Phòng Tham mưu (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh) vào một buổi chiều mùa hè nắng chói chang, nhiệt độ ngoài trời lên tới chừng gần 40 độ C. Giữa cái nóng “như thiêu như đốt”, dưới tán cây, 16 chiến sĩ mới đang được huấn luyện thể lực. Trên những khuôn mặt còn rất trẻ nhưng bắt đầu sạm nắng, những cánh tay đen giòn, từng giọt mồ hôi chảy liên tục, ướt sũng chiếc áo bộ đội.

Ở hàng cuối, chàng trai có thân hình cao lớn, khuôn mặt lanh lợi, đầy tự tin thu hút ánh nhìn của chúng tôi. Thiếu tá Lê Duy Thái, Chính trị viên Đại đội Trinh sát nhanh chóng giới thiệu: “Đây chính là công dân đầu tiên và duy nhất của đảo Trần tình nguyện viết đơn xin nhập ngũ”.

Chàng thanh niên ấy tên là Hoàng Trung Phong (SN 2002), là con của anh Hoàng Văn Hiển và chị Nguyễn Thị Cảnh, Trưởng thôn Đảo Trần (gia đình chị Cảnh là hộ dân đầu tiên sinh sống trên đảo Trần). Không sinh ra trên đảo nhưng gắn bó với đảo Trần từ những ngày còn nhỏ, học hết tiểu học, Phong vào huyện Hải Hà học Trung học. Sau khi tốt nghiệp THPT, không thi đại học, Phong lặng lẽ viết đơn tình nguyện nhập ngũ.

“Những ngày em còn nhỏ sinh sống trên đảo, không có bạn bè, chỉ có các chú bộ đội, vừa là chú, là anh, là bạn. Các chú giúp bố mẹ em làm nhà, thường xuyên qua trò chuyện, động viên gia đình em, chỉ bảo cho em nhiều điều, đặc biệt là kể cho em nghe những câu chuyện trong quân ngũ. Đối với em, những chú bộ đội ngày đó chính là thần tượng. Thế rồi, suốt những năm tháng tuổi thơ, em cứ ước sau này mình cũng sẽ được làm chú Bộ đội Cụ Hồ”-  Phong chia sẻ.

Ước mơ ấy chính là động lực thôi thúc Phong để em phấn đấu, rèn luyện và tình nguyện viết đơn lên đường nhập ngũ. Phong cho biết, được rèn luyện trong môi trường quân đội tuy vất vả nhưng được trải nghiệm cuộc sống rất mới, rất kỷ luật, em thấy mình trưởng thành hơn từ khi được phân về Trung đoàn 244. Bây giờ, em đã chính thức trở thành quân nhân và chuyển về Đại đội trinh sát. 

Cũng giống như Phong, hai anh em sinh đôi Bùi Mạnh Hùng và Bùi Mạnh Dũng ở phường Cẩm Sơn, TP Cẩm Phả đã cùng nhau tình nguyện nhập ngũ khiến nhiều người trân trọng. Bởi theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự, trong gia đình có hai anh em trai, chỉ cần một người nhập ngũ, thế nhưng Hùng và Dũng vẫn quyết tâm cùng nhau vào quân đội. 

Hai anh em bộc bạch: “Từ khi còn rất nhỏ, hình ảnh những chú bộ đội với bộ quân phục xanh đã luôn mê hoặc cả hai. Thế nên, đến đợt tuyển quân năm nay, cả hai đã quyết định đăng ký ngay. Ở nhà, trước đây ngoài việc học chúng em còn giúp bố công việc ở xưởng nội thất. Bây giờ hai anh em đi rồi, một mình bố chắc sẽ vất vả nhiều hơn. Tuy nhiên, được trở thành anh Bộ đội Cụ Hồ là ước mơ cháy bỏng của chúng em từ nhỏ; lại được rèn luyện tính kỷ luật, tác phong chững chạc, trưởng thành hơn nên bố, mẹ và những người thân trong gia đình không phản đối mà còn động viên chúng em nỗ lực rèn luyện, học tập, xứng đáng với niềm tin của mọi người”.

Trải qua ba tháng nỗ lực rèn luyện, làm quen và chấp hành tốt kỷ luật quân đội, được trang bị những kiến thức cơ bản và thành thạo kỹ năng chiến đấu, những chiến sĩ mới đã được tuyên thệ trước quân kỳ, được trao vũ khí trong ngày 11/6/2021.

Chiến sĩ Bùi Mạnh Dũng chia sẻ đầy tự hào: “Trong khoảnh khắc thiêng liêng nâng trên tay quân kỳ, em thực sự vô cùng xúc động, bởi từ giây phút đó chúng em đã trở thành quân nhân, hứa trung thành, hy sinh tất cả vì Tổ quốc với 10 lời thề danh dự. Em vẫn không quên ngày chúng em nhập ngũ, bố quay đi lau nước mắt, khiến hai anh em cũng không kìm lòng được mà khóc theo. Nhưng giờ, chắc chắn bố em sẽ rất hạnh phúc và tự hào khi thấy chúng em đã trưởng thành hơn”.

Khổ luyện để trưởng thành

Mười sáu chàng trai tuổi mười tám, đôi mươi tề tựu về đây chung một đơn vị, buồn vui, sướng khổ có nhau. Sau ba tháng tân binh, họ giống nhau từ nước da đến mái tóc. Không còn nữa những cậu trai nước da trắng trẻo, khuôn mặt “búng ra sữa”, không còn mái tóc bồng bềnh tạo kiểu ngày nào, thay vào đó là nước da bánh mật, mái đầu 3 phân.

Vốn là chàng trai có nước da trắng, dáng vẻ thư sinh, binh nhì Nguyễn Quang Trường ở phường Đông Triều, thị xã Đông Triều giờ đây đã mang nét rắn rỏi, bản lĩnh của một quân nhân. Trường chia sẻ: “Trước kia, ở nhà em được bố mẹ chiều, chỉ phải phụ giúp chút việc nhà hoặc một vài việc không quá mất sức. Ba tháng đầu tân binh, em đã rèn được rất nhiều, không còn ngủ nướng nữa. Mặc dù vậy, những ngày đầu chưa quen với việc luyện tập thường xuyên, cũng có lúc em cảm thấy chán nản, nhớ nhà, muốn bỏ cuộc, nhưng được sự động viên của chỉ huy, em lại lấy lại tinh thần, tiếp tục rèn luyện”.

Những chàng lính binh nhì vừa về đơn vị mới được một tuần sau lễ tuyên thệ, giờ đây đã không còn những bỡ ngỡ ngày đầu. Họ đã trải qua ba tháng làm quen với môi trường quân ngũ. Thế nhưng, đầu quân cho Đại đội Trinh sát, là những trinh sát tương lai, họ phải luyện tập với cường độ và môi trường khắc nghiệt hơn rất nhiều.

Đại úy Vi Văn Nguyên, Phó Đại đội trưởng Đại đội Trinh sát, cho biết: “Khối lượng, thể lực của bộ đội phải bỏ ra trong quá trình huấn luyện rất nhiều, nên trong những tuần đầu, chúng tôi chú trọng huấn luyện thể lực, sau đó mới huấn luyện các nội dung chuyên ngành tiếp theo phù hợp với từng giai đoạn”.

Binh nhì Bùi Mạnh Hùng chia sẻ: “Trước kia, ở Trung đoàn 244, chúng em chủ yếu được huấn luyện điều lệnh, nội vụ, làm quen và thực hành “3 tiếng nổ”. Thế nhưng về Đại đội trinh sát, chúng em phải tham gia khóa huấn luyện với đòi hỏi cao hơn về thể lực, kỹ thuật, dần dần luyện những kỹ chiến thuật chuyên ngành, ngày càng khó. Thời gian đầu giãn cơ, lắm lúc đau đến phát khóc. Thế nhưng, vì mình là trinh sát viên tương lai, mọi người lại động viên nhau, lại được chỉ huy cũng rất quan tâm, chia sẻ, nên chúng em cũng nhanh chóng vượt qua”.

Đại đội Trinh sát là đại đội tinh nhuệ, chủ lực, cơ động, sẵn sàng chiến đấu kể cả trong những tình huống khó khăn nhất. Các cán bộ, chiến sĩ được lựa chọn về đây cũng phải trải qua sự chọn lọc kỹ lưỡng cả về thể lực, tư chất và nhận thức chính trị, đặc biệt ưu tiên những chiến sĩ có tố chất võ thuật. Nhiệm vụ huấn luyện được coi là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, xuyên suốt với yêu cầu sát với thực tế chiến đấu. Chính vì thế, các cán bộ, chiến sĩ đều phải trải qua những kỳ huấn luyện khắc nghiệt, gian khổ. Những môn thể lực được duy trì luyện tập hằng ngày như: xà đơn, xà kép, cử tạ, chạy vũ trang, hành quân xa mang vác nặng… giúp các chiến sĩ thích ứng với cường độ huấn luyện cao.

Những ngày hè, nhiệt độ ngoài trời tăng cao, nắng nóng kéo dài, để vượt qua quá trình rèn luyện thể chất, càng cần sự cố gắng hơn nữa của mỗi chiến sĩ. Để tạo điều kiện rèn luyện và động viên chiến sĩ, Thiếu tá Lê Duy Thái cho biết, ngay khi các chiến sĩ chuyển về, đơn vị đã ổn định tổ chức biên chế bằng cách phân về các phân đội. Ngoài chế độ huấn luyện, đơn vị duy trì nghiêm nền nếp sinh hoạt trong ngày, trong tuần. Các buổi chiều sau giờ huấn luyện, đơn vị đều tổ chức thể thao, tăng gia. Buổi tối thì tổ chức sinh hoạt, quán triệt tinh thần, lòng quyết tâm của bộ đội. Đặc biệt trong những ngày này, chỉ huy đơn vị cũng lựa chọn thao trường, nội dung, thời gian huấn luyện cho phù hợp với thời tiết như tập muộn hơn, nghỉ muộn hơn để bảo đảm sức khỏe cho bộ đội.

Vào những ngày nghỉ, những chiến sĩ trẻ mới về đơn vị cũng được tổ chức vui chơi thể thao, gọi điện về cho gia đình và người thân.X a nhà, vào quân đội, họ lại trân trọng hơn những giờ phút được trò chuyện với gia đình, người thân để vơi bớt nỗi nhớ nhà, để lại thêm quyết tâm khổ luyện.

Hoàng Trung Phong tâm sự, từ khi nhập ngũ một tuần chỉ được gọi điện về nhà một lần. Nhớ nhà nhiều nên Phong có thêm thói quen mới là viết thư về cho bố mẹ…

Thiếu tá Phạm Văn Dĩnh, Đại đội trưởng Đại đội Trinh sát, cho biết: “Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị, các chiến sĩ phải huấn luyện liên tục, có khi đến 7 ngày/tuần. Sau ba tháng, về đây, cơ bản các chiến sĩ đã chững chạc hơn, quen với môi trường và kỷ luật quân đội hơn, nhưng vẫn phải còn cần cố gắng rất nhiều. Do đó, cán bộ của đơn vị phải hướng dẫn tận tình hơn như những người thầy, nhưng cũng đồng thời là những người anh đi trước để nắm tình hình tư tưởng, động viên chiến sĩ vượt qua những lúc khó khăn, nản lòng. Mong muốn của chúng tôi vẫn là mỗi chiến sĩ sẽ trưởng thành hơn, có gian khổ mới trưởng thành, có rèn luyện khắc nghiệt mới có thể tôi luyện bản thân cứng rắn hơn, tự tin hơn”.

Chiều xuống, khi cái nóng đã bớt “nung chảy” mặt đất, nhưng các chiến sĩ lại tham gia công việc tưới cây, chăm sóc vườn rau tăng gia của đơn vị sau một ngày rèn luyện.

Được rèn luyện, học tập trong môi trường quân dội, các thanh niên sẽ trưởng thành hơn, bản lĩnh vững vàng hơn khi rời quân ngũ, chắc chắn trải qua những rèn luyện gian khổ, họ sẽ luôn tự hào rằng: Quân đội chính là một “trường học lớn” để tuổi trẻ rèn luyện, phấn đấu và trưởng thành. Được là quân nhân, được cống hiến sức trẻ cho xã hội, cho đất nước sẽ luôn là niềm vinh dự, tự hào của thế hệ trẻ.

 

Tổng Thư ký Hội hữu nghị Pháp - Việt Jean-Pierre Archambault khẳng định Việt Nam lựa chọn đúng đắn con đường phát triển

 

Tổng Thư ký Hội hữu nghị Pháp - Việt Jean-Pierre Archambault khẳng định Việt Nam lựa chọn đúng đắn con đường phát triển

Tổng Thư ký Hội hữu nghị Pháp - Việt Jean-Pierre Archambault chia sẻ, trong bài viết của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", ông tâm đắc với ba nội dung mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu ra cho con đường phát triển của Việt Nam là "độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội", "không lựa chọn chủ nghĩa tư bản" và "phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".

Theo ông, đó là những lựa chọn đúng đắn, được quyết định từ rất sớm và được duy trì liên tục trong suốt thế kỷ 20 cho đến nay.

Trả lời phỏng vấn của TTXVN, ông Jean-Pierre Archambault cho rằng, sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã có một nền kinh tế ổn định, thể hiện qua các số liệu thống kê: mức tăng trưởng luôn đạt 6% đến 7%/năm trong 10 năm qua; lạm phát ở mức thấp, tỷ lệ nghèo đói giảm đáng kể từ 58% năm 1993 xuống còn dưới 5%; thu nhập bình quân đầu người tăng hằng năm. Năm 2010, Việt Nam đã ra khỏi nhóm những nước kém phát triển nhất để gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình (2.100 USD/người/năm)…

Theo ông Jean-Pierre Archambault, đây là những kết quả vô cùng ấn tượng, nhất là trong bối cảnh những hậu quả của quá khứ vẫn còn đè nặng đối với một đất nước từng trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, công cuộc tái thiết đất nước đã diễn ra trong bối cảnh khắc nghiệt do lệnh bao vây cấm vận kinh tế của Mỹ và các nước phương Tây. Cho đến nay, sau gần 50 năm kể từ khi chiến tranh kết thúc, chất độc da cam/dioxin vẫn tiếp tục ảnh hưởng tới người dân Việt Nam, với hơn bốn triệu người phải gánh chịu hậu quả. Cuộc đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân khác của chất độc da cam/dioxin vẫn đang tiếp diễn.

Tổng Thư ký Hội hữu nghị Pháp - Việt cũng cho rằng, dù đạt được những tiến bộ vượt bậc trong những điều kiện khó khăn, song Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức như nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp; giải quyết tình trạng phát triển không đồng đều giữa thành thị và nông thôn; giữ vững lập trường, quan điểm về phát triển bền vững; xóa bỏ tệ nạn tham nhũng, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo và giảm đến mức thấp nhất những tác động của biến đổi khí hậu. Thời gian tới, theo ông, Việt Nam cần chú trọng phát triển đào tạo nghề, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phát huy thế mạnh về y tế.

Về hội nhập khu vực và quốc tế, ông Jean-Pierre Archambault nhấn mạnh Việt Nam đã rất thành công nhờ quyết tâm chính trị mạnh mẽ của đội ngũ lãnh đạo cấp cao. Việt Nam được đánh giá là một trong những nền kinh tế năng động nhất trong khu vực, góp phần tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế thế giới.

Với tư cách là Tổng Thư ký Hội hữu nghị Pháp - Việt, ông Jean-Pierre Archambault khẳng định tuy quan hệ hai nước có những vấn đề trong lịch sử, nhưng tình đoàn kết, sự ủng hộ lẫn nhau cũng như tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước luôn được duy trì. Hiện tại, phong trào Pháp ngữ ở Việt Nam đang được khôi phục. Ông bày tỏ tin tưởng rằng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước sẽ đạt được những kết quả tốt hơn nữa trong thời gian tới, nhất là trong lĩnh vực kinh tế.

 

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH, GIỮ VỮNG NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 

Trong những năm qua, các thế lực phản động đã tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, “phi chính trị hóa” quân đội thì âm mưu cơ bản, lâu dài của chúng là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xóa bỏ Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp dẫn đến thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên cơ sở đó đưa cách mạng Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa Tư bản.Để thực hiện âm mưu trên, chúng đã tiến hành tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận; coi đó là “mũi đột phá” hòng làm tan rã niềm tin, gây rối loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những “khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhằm chuyển hóa, xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Do đó, nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận trở thành mặt trận nóng bỏng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng, sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước, sự mất còn của chế độ xãhội chủ nghĩa, đến vận mệnh của dân tộc ta. Trong điều kiện bình thường, nếu chúng ta chủ quan, lơ là, không thường xuyên quan tâm đầy đủ, thấu đáo đến công tác tư tưởng, thì khi xuất hiện những tình huống bất thường, những biến động về kinh tế-xã hội... sẽ rất dễ dẫn đến sự phân tâm, hoang mang, dao động, thậm chí mất phương hướng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn... Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”.Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tốt vai trò của mình trong việc nâng cao tính chiến đấu và sức thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Cần nhận rõ công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng hàng đầu trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho Đảng có nền tảng tư tưởng vững chắc. Bên cạnh đó, cần xây đắp nền tảng chính trị-tinh thần của chế độ và sự đồng thuận xã hội, định hướng và quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Mặt khác, lãnh đạo chỉ huy các cấp cần nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng ta trong đấu tranh trên mặt trận chính trị tư tưởng. Việc làm này cần tiến hành thường xuyên, kiên quyết và triệt để, tránh tình trạng qua loa đại khái. Bởi vì, chỉ cần sự thiếu tập trung, dứt khoát sẽ dẫn đến sự dao động về tư tưởng của quần chúng nhân dân. Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà khoa học công nghệ phát triển, việc tung tin sai lệch rất dễ thực hiện. Một điểm quan trọng cần phải thực hiện trong quá trình đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng hiện nay là xây dựng lực lượng nòng cốt và cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin cho nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận. Trong đó, cần tập trung nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy khoa học xã hội và nhân văn, các phóng viên, biên tập viên của các cơ quan báo chí... Cần nghiên cứu tăng cường lực lượng thường trực tham gia đấu tranh trên internet, các trang mạng xã hội. Lực lượng này phải có đầy đủ phẩm chất và năng lực. Trong đó cần được tổ chức có hệ thống, trang bị đầy đủ phương tiện và có kỹ thuật tác nghiệp cao.

Có thể khẳng định, thực hiện được những biện pháp cơ bản nêu trên là cơ sở vững chắc để đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Đó cũng là cơ sở để xây dựng niềm tin của quần chúng nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc./.

SAU 40 NĂM TÌM THẤY XÁC MÁY BAY MIG - 17 VÀ HÀI CỐT PHI CÔNG VÙI TRONG LÒNG ĐẤT

 

Ngày 30 tháng 10 năm 2006, các công nhân làm đường giao thông tại khu vực thôn Cộng Hoà, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn (Hà Nội) trong quá trình san ủi đã phát hiện mảnh xác máy bay và hài cốt ở độ sâu cách mặt đất gần 4 mét. Sự việc được báo lên Phòng Tài nguyên môi trường Huyện.

Từ đó, chúng ta đã tìm lại hồ sơ một trận đánh và sự hi sinh của phi công Lê Văn Phong cách đây 40 năm.

 Sau 40 năm, hiện vật vẫn còn nguyên vẹn

Sự việc được báo về Đoàn Không quân Thăng Long (thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân) đóng quân cách đó 4 km. Đoàn Không quân Thăng Long đã nhanh chóng cử tổ công tác do Thượng tá Nguyễn Văn Mậu – Phó chủ nhiệm chính trị dẫn đầu có mặt tại địa phương xác minh.

Ngay sau đó đơn vị đã phối hợp với Huyện đội Sóc Sơn và Ban lãnh đạo xã Phù Linh tiến hành bảo vệ hiện trường, thu thập thông tin và báo cáo lên trên. Một số mảnh xác máy bay đã bị một số người dân mang về nhà cũng được khẩn trương thu hồi lại.

Hiện vật thu được tại hiện trường bước đầu gồm có một khẩu pháo 37 ly và một đoạn nòng pháo; một phần động cơ và phía đầu máy bay; một khẩu súng ngắn K59 cùng 6 viên đạn; một số mảnh máy bay Mig- 17. Tại đây cũng đã tìm thấy một số mảnh hài cốt dự đoán là của phi công lái máy bay. 

Đoàn Không quân Thăng Long đã cử cán bộ tổ chức tra cứu các tài liệu lịch sử, gặp gỡ các cựu chiến binh và nhân dân địa phương để xác minh, đồng thời báo cáo lên Cục Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân đề nghị giúp đỡ và có sự chỉ đạo.

Theo tài liệu lưu trữ, trong chiến tranh chống Mỹ, tại xã Phù Linh có hai máy bay chiến đấu Mig – 17 của Trung đoàn 923 (trước đây thuộc Đoàn Không quân Thăng Long, nay đã chuyển vào Thanh Hoá) rơi vào các ngày 20 và 23 tháng 8 năm 1967 cùng với hai phi công hi sinh.

Trận đánh ngày 20 tháng 8 năm 1967 máy bay bị rơi là do Trung uý phi công Hà Đình Bôn lái. Trung uý Hà Đình Bôn thuộc Đại đội 1 – Trung đoàn 923. Chiếc MiG -17 này đã bị tên lửa ta bắn nhầm, máy bay rơi xuống địa phận thôn Đồng Trâm – xã Phù Linh.

Trận đánh thứ hai có một máy bay bị rơi cũng là một chiếc MiG – 17 do Thiếu uý phi công Lê Văn Phong thuộc Đại đội 2 – Trung đoàn 923 điều khiển. Sau khi bắn rơi một máy bay Mĩ trên vùng trời Vĩnh Phú, máy bay của anh đã bị trúng tên lửa của địch và rơi xuống thôn Cộng Hoà, xã Phù Linh.

Cả hai trận đánh đều là máy bay MiG – 17 và cả hai phi công đều hi sinh. Máy bay lại cùng rơi trên địa bàn một xã, địa danh sau 40 năm đã có nhiều đổi thay nên việc xác định chính xác là rất khó.

Một số người dân cao tuổi tại xã Phù Linh đã chứng kiến sự việc máy bay rơi 40 năm trước nay vẫn còn sống. Qua tiếp xúc, tìm hiểu tổ công tác cũng đã thu được một số thông tin. Theo trí nhớ của một nhân chứng thì chiếc rơi tại thôn Cộng Hoà là chiếc rơi sau chiếc rơi tại thôn Đồng Trâm, như vậy rất có thể đây là máy bay mà phi công Lê Văn Phong lái.

Qua tiếp xúc với một số nhân chứng như ông Nguyễn Xuân Tý – nguyên chính trị viên xã đội; ông Trần Văn Chuyên – nguyên phụ trách công tác tuyên huấn xã; ông Nguyễn Đình Lạc – 79 tuổi - nguyên Bí thư xã Phù Linh, được biết, sau khi sự việc xảy ra, một số mảnh máy bay và rất ít mảnh thi thể phi công đã được tìm thấy và được nhân dân địa phương an táng lập mộ tượng trưng, nhưng tất cả các nhân chứng này đều không nhớ tên phi công. Bà Hoàng Thị Viễn – 80 tuổi nguyên là cán bộ phụ nữ xã là người đã trực tiếp thu nhặt mảnh thi thể phi công cũng không nhớ gì vì thời gian đã quá lâu.

Cả hai phi công đều được nhân dân an táng, lập phần mộ tại nghĩa trang thôn Phù Mã. Có người lại bảo nghe nói đó là phi công Hà Bôn?!

Một chi tiết nữa là ông Lạc và ông Chuyên cho biết ngày ấy, sau khi mai táng phi công được khoảng 3 tuần thì có một anh bộ đội và một người phụ nữ nói là người nhà liệt sĩ từ Hải Phòng lên xin đưa thi hài về quê. Địa phương đã giải thích là mộ chỉ là tượng trưng nên họ lại thôi. Năm 1973 phần mộ của liệt sĩ Lê Văn Phong được chuyển về nghĩa trang liệt sĩ xã Tiên Dược – Sóc Sơn (HN) và ở đó cho đến nay. Còn mộ liệt sĩ Hà Đình Bôn đã được chuyển đi nơi khác.

Một tổ công tác khác đã đi gặp gỡ các cựu chiến binh không quân để xác minh thêm nhưng cũng chưa tìm được những người biết tường tận sự việc. Ông Bùi Đăng Sưu, hiện đang sinh sống tại Hà Nội, nguyên là biên đội trưởng trận đánh ngày 20 tháng 8 năm 1967 cũng chỉ nhớ được diễn biến trận đánh: “Chúng tôi đang bay ở độ cao 4000 mét thì thấy có ánh chớp . Theo kinh nghiệm chiến đấu tôi xác định đó là tên lửa đất đối không bắn liền hô biên đội cơ động. Sau khi tản ra quan sát thấy máy bay của đồng chí Bôn đang cháy. Khi đồng chí Bôn hi sinh tôi không được đến vị trí máy bay rơi nên không thể biết chi tiết gì hơn”.

Mọi sự đang rối rắm thì trong quá trình tìm kiếm, ngày 2 tháng 11, tại hiện trường, tổ công tác Sư đoàn 371 đã thu được một quyển lý lịch dù và một ví da trong đó có một số vật dụng cá nhân. Lý lịch dù ghi rõ ngày kiểm tra cuối cùng là ngày 3 tháng 7 với một số nhận xét kỹ thuật và tên người. Một điều kỳ lạ là các hiện vật này sau 40 năm chôn vùi trong lòng đất nhưng vẫn còn khá nguyên vẹn.

Chiếc ví bọc nhựa bóng kính trong suốt có in hình ảnh và chữ Trung Quốc. Trong ví có 8 chiếc tem, hai loại khác nhau dùng cho binh sĩ thời ấy, 3 chiếc dao cạo râu, 2 biên lai gửi tiền của Tổng cục Bưu điện và truyền thanh đóng dấu Bưu cục Hải Phòng ngày 14 tháng 9 năm 1965 và một băng vải đen rộng khoảng 3 cm, dài khoảng 8 cm giống như băng tang.

Đặc biệt, trên một hoá đơn chuyển tiền về Phú Thọ, phần người gửi có ghi tên Phong, nét chữ mờ nhưng vẫn đọc được. Lấy kính lúp soi thì phần người nhận là ốc hay Kết gì đó không rõ. Số tiền gửi là 70 đồng. Căn cứ vào những tài liệu thu được, gần như có thể khẳng định phần hài cốt trên là của phi công Lê Văn Phong trong trận đánh ngày 23 tháng 8 năm 1967. Chiếc băng đen được cho rằng đó là băng để tang người đồng đội Hà Đình Bôn hi sinh trước đó 3 ngày. Do rơi từ trên cao với tốc độ lớn nên phần đầu chiếc MiG- 17 đã cắm sâu trong lòng đất, sau 40 năm mới được tình cờ phát hiện.

- Liệt sĩ Lê Văn Phong và trận không chiến ngày 23 tháng 8 năm 1967

Chúng tôi đã được tiếp xúc với hồ sơ tác chiến lưu trữ tại Quân chủng Phòng không – Không quân do Thiếu tướng Phạm Phú Thái – Phó Tư lệnh thứ nhất Quân chủng cung cấp. Báo cáo về trận đánh ngày 23 tháng 8 rất chi tiết, có tóm tắt cả tình hình trên không trước trận đánh.

Buổi sáng ngày diễn ra trận đánh, không quân địch đã đánh phá khu vực Bắc Giang, Nông trường đá gần Quán Toan – Hải Phòng; lực lượng không quân của Hải quân địch đánh phá khu vực Văn Điển và nội ngoại thành Hà Nội với mỗi đợt vài chục chiếc F105 và F4. 12 giờ 18 phút 24 chiếc tiếp tục đánh khu vực Hoà Lạc. Căn cứ vào tin tình báo chiến lược, Bộ tư lệnh thông báo không quân địch sẽ đánh vào Hà Nội.

14 giờ 15 phút ra đa dẫn đường phát hiện địch gây nhiễu nặng ở phương vị 240, sau đó di chuyển đến phương vị 290 - 300. 14 giờ 48 phút, phát hiện địch xuất hiện ở phía tây Yên Bái và kéo ồ ạt vào Tuyên Quang, Tam Đảo, Đại Từ, Đa Phúc, Cầu Đuống... 14 giờ 55 phút, biên đội trực chiến của Lê Văn Phong được lệnh vào cấp I.

14 giờ 58 phút biên đội được lệnh cất cánh theo hướng 90, độ cao 3.000 m. Biên đội gồm có các phi công Cao Thanh Tịnh – số 1 – Biên đội trưởng; Lê Văn Phong – số 2; Lê Văn Thọ – số 3; Lê Hồng Điệp – số 4. Trong đó có Lê Văn Phong và Lê Hồng Điệp là hai phi công mới. Lê Văn Phong bay chiếc MiG -17 số hiệu 49.

15 giờ 08 phút, biên đội phát hiện địch ở Tam Đảo. Số 1 Cao Thanh Tịnh quay lại hướng phát hiện ra địch. Số 3 Lê Văn Thọ tiếp tục phát hiện 4 chiếc F105 bay ngay trên đầu. Biên đội trưởng Cao Thanh Tịnh ra lệnh cho số 3 Lê Văn Thọ vào công kích, số 2 Lê Văn Phong yểm hộ. 15 giờ 12 phút, số 3 phát hiện địch lần thứ 2 ngay trên khu vực chiến đấu.

Đội hình địch gồm có 16 chiếc F105 chia làm hai tốp đi theo đội hình bàn tay xoè, hàng dọc kéo dài với vận tốc 900km/h; 12 chiếc F4 yểm hộ cho F105 vào đánh mục tiêu. Thủ đoạn của địch là kéo dài đội hình, tốp cách tốp 8 đến 12 km, bay cao, với độ cao 2500 đến 5000m, dùng F4 để đối phó với tiêm kích của ta.

Vì vậy, lúc ta vào công kích F105, địch rất bất ngờ, có chiếc tăng lực tháo chạy, có chiếc quấn vòng tròn câu giờ để gọi F4 đến cứu. Khi Biên đội trưởng Cao Thanh Tịnh vào công kích thì Lê Văn Phong phát hiện thấy F4 bay lại phía đội hình của ta, anh liền bám và bắn 1 chiếc F4 bốc cháy. Đồng thời máy bay của Lê Văn Phong cũng bị trúng đạn pháo 20 ly của địch bắn trong khi đang cơ động.

Lúc đó số 3 và số 4 được sở chỉ huy lệnh về hạ cánh, cùng lúc thấy số 1 từ trên cao lao xuống nhập vào đội hình thành biên đội 3 chiếc và về hạ cánh tại sân bay Kép (Bắc Giang). Toàn bộ trận đánh diễn ra trong vòng 3 phút. Máy bay của phi công Lê Văn Phong cháy và bị rơi xuống xã Phù Linh. Sự việc sau đó như những gì đã diễn ra ở trên.

Sau khi trận đánh diễn ra một tuần, ngày 30 tháng 8 năm 1967, Trung đoàn 923 đã có báo cáo về trận đánh ngày 23 tháng 8 do Trung tá Nguyễn Phúc Trạch, chỉ huy đơn vị ký. Trong báo cáo nêu rõ “trận không chiến ngày 23 tháng 8 là trận đánh thắng địch với quyết tâm rất lớn”.

Về phi công Lê Văn Phong, báo cáo nhận xét: “số 2 yểm trợ tích cực cho số 1, khi thấy F4 lao vào biên đội đã quả đoán xông tới bắn cháy 1 chiếc sau đó trúng đạn hi sinh là một hành động dũng cảm...”.

Ngày hôm đó, lực lượng không quân đã xuất kích chiến đấu trên cả 3 sân bay miền Bắc là Nội Bài, Kép, Gia Lâm. Biên đội MiG-21 của phi công Nguyễn Nhật Chiêu, Nguyễn Văn Cốc xuất kích từ Nội Bài và chiến đấu trên vùng trời Tây Bắc và bắn cháy 3 máy bay Mĩ. 

Phi công Nguyễn Nhật Chiêu nhớ lại: “Chúng tôi chiến đấu trở về đến vùng trời Tam Đảo, F4 và F105 của địch và MiG-21 của ta bay gần nhau nhìn rõ cả số hiệu trên thân máy bay mà không bên nào làm gì được bên nào. Phía chúng tôi thì đạn đã hết, dầu đã cạn. Phi đội chúng tôi về đến Nội Bài ngay trên đỉnh sân bay dầy đặc máy bay ta và máy bay địch; hoả lực phòng không bắn đỏ trời...”. Ngày 23 tháng 8 năm 1967, quân và dân ta đã đánh thắng lớn không quân địch. Riêng lực lượng không quân đã bắn hạ 6 máy bay, quân và dân ta đã bắt sống 5 giặc lái.

Theo tài liệu lưu trữ, phi công Lê Văn Phong sinh ngày 4 tháng 11 năm 1941 tại Phú Thọ, nhập ngũ vào Binh chủng Không quân tháng 8 năm 1959. Tháng 8 năm 1962 anh được cử đi học lái máy bay tại Liên Xô cũ. Sau đó đi học tiếp lái máy bay MiG-17 tại Trung Quốc. Năm 1966, sau khi tốt nghiệp về nước anh được điều về nhận nhiệm vụ tại trung đoàn 923- Đoàn B71- Binh chủng Không quân.

Khi hi sinh anh mang quân hàm thiếu uý thuộc đại đội 2, trung đoàn 923. Năm 1967, Báo Tiền phong đã có bài viết về trường hợp hi sinh của phi công Lê Văn Phong. Anh đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhì và một huân chương chiến sĩ vẻ vang.

Chúng tôi đã tìm về quê liệt sĩ Lê Văn Phong tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Hiện nay bố mẹ anh đã mất, ở quê chỉ còn gia đình một người anh trai và một người chị gái của liệt sĩ sinh sống. Biên lai gửi tiền phần người nhận là anh gửi về cho bố, “ốc” tên bố anh. Gia đình anh có 5 anh chị em, Lê Văn Phong là con út.

Ngày 9 tháng 11, Đoàn Không quân Thăng Long (Quân chủng Phòng không – Không quân) đã làm lễ an táng thi hài phi công Lê Văn Phong và đưa về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ xã Tiên Dược – Sóc Sơn – Hà Nội, là nơi có phần mộ tượng trưng của anh, theo nguyện vọng của gia đình. Tại lễ an táng, đã có đông đủ thân nhân gia đình liệt sĩ, thủ trưởng Quân chủng, chính quyền và nhân dân địa phương nơi quê hương liệt sĩ và nơi liệt sĩ an nghỉ.

Ông Lê Văn Lộc nguyên là Đại tá Quân đội đã nghỉ hưu là anh trai cả của liệt sĩ Lê Văn Phong nay sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh chính là người đã đến xã Phù Linh khi em trai mới hi sinh. Ông đã bay từ Thành phố Hồ Chí Minh ra dự lễ và đã rất xúc động khi gần 40 năm đã trôi qua, nay thi hài liệt sĩ đã được quy tụ và an táng.

Những chiếc tem được tìm thấy vẫn thơm mùi dầu máy bay và đọc được những dòng chữ  in rõ “Có giặc là đánh - Đánh là thắng” và “Vừa sản xuất vừa chiến đấu” thực sự là những bằng chứng sống động cho một thời chiến đấu oanh liệt của các thế hệ đi trước. Họ đã chiến đấu hết mình, góp phần giành lại độc lập thống nhất cho đất nước, cho dân tộc, nhận về mình sự mất mát hi sinh.

Vũ khí đáng sợ nhất của Đức đối với binh lính Liên Xô trong thế chiến thứ hai



“Viên đạn là kẻ ngốc, lưỡi lê mới là khôn ngoan”, đây là câu nói nổi tiếng được trích từ cuốn sách “Khoa học chiến thắng” của Đại nguyên soái Nga Aleksandr Suvorov. Câu nói này đã phản ánh thực tế trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của Liên Xô.

Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021

Lời Bác dạy năm xưa

 

“Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp cực kỳ vẻ vang, nhưng phải lâu dài và gian khổ. Nhân dân ta cần phải có tinh thần phấn đấu bền bỉ, quyết tâm vượt mọi khó khăn, để giành lấy những thắng lợi mới rực rỡ hơn nữa”.

- Câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong: “Lời phát biểu tại lễ bế mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khóa III”, ngày 03 tháng 7 năm 1964, đăng trên Báo Nhân dân, số 3748, ngày 04 tháng 7 năm 1964.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhận rõ việc xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp cực kỳ vẻ vang nhưng cũng nhiều khó khăn, gian khổ và lâu dài. Do đó, cần sự đồng thuận, phấn đấu kiên trì, bền bỉ với một quyết tâm cao độ mới có thể đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng thời, phải kiên quyết khắc phục tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý trí.

Thấu triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tính chất của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, là cơ sở lý luận khoa học, cách mạng để Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước; bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, trước tình hình diễn biến phức tạp, khó lường, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích của quốc gia dân tộc, thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI – KHÁT VỌNG CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

 


Gần đây, trên Bloger của hoianhemdanchu có bài viết: “Chủ nghĩa Xã hội đối lập với độc tài Cộng sản Việt Nam”, cho rằng: chế độ độc tài cộng sản Việt Nam và chủ nghĩa xã hội là mâu thuẫn, đối lập với nhau. Đây là mâu thuẫn có tính chất triệt tiêu lẫn nhau. Những giá trị cốt lõi và tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội chưa bao giờ xuất hiện ở Việt Nam mà đang hiện diện trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội hàng ngày ở các nước Tư bản Dân chủ. Do vậy, sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội mà Đảng cộng sản Việt Nam đang áp dụng ở Việt Nam là tất yếu, khách quan và không thể đảo ngược. Thực tế chứng minh rằng, đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử nhân loại.

Thứ nhất, trải qua 91 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo con đường xã hội chủ nghĩa. Có thể khẳng định, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Thứ hai, sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử, thay đổi đời sống mọi mặt của người dân: kinh tế tăng trưởng ở mức tương đối cao, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, tình hình chính trị và xã hội ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, đó chính là cơ sở kinh tế – xã hội, tiền đề, nền tảng cho chủ nghĩa xã hội hiện thực. Cụ thể là: kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm; các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016-2019 đạt mức bình quân 6,8%. Mặc dù năm 2020 kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh COVID-19 nhưng tốc độ tăng GDP của Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới đạt 2.91%. Việc tăng trưởng kinh tế đã cơ bản gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa, xây dựng con người, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Công tác giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 22% năm 2005; 9,45% năm 2010, 7% năm 2015 và còn dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều). Nhiều chỉ số về Giáo dục phổ thông của Việt Nam được đánh giá cao trong khu vực, như: tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99% (đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN, sau Singapore); tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08%, đứng ở tốp đầu của khối ASEAN. Vị thế các trường đại học của Việt Nam đã được nâng lên trong bảng xếp hạng châu Á và thế giới, năm 2019 xếp thứ 68/196 quốc gia trên thế giới, tăng 12 bậc so với năm 2018. Lần đầu tiên, Việt Nam có 4 cơ sở giáo dục đại học được vào top 1.000 trường đại học tốt nhất thế giới. Việt Nam là một trong số ít quốc gia có hệ thống y tế hoàn chỉnh, tổ chức rộng khắp tới tận thôn, bản; làm chủ được nhiều kỹ thuật công nghệ cao mang tầm thế giới như: ghép chi, tim, gan, thận…; kiểm soát được nhiều dịch bệnh nguy hiểm, trong đó có COVID-19. Về quan hệ đối ngoại, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước (ba nước là đối tác chiến lược toàn diện) và 14 nước đối tác chiến lược; có quan hệ đối tác toàn diện với 13 nước.

Những thành tựu của công cuộc đổi mới kể trên là kết quả của quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đây chính là tiền đề quan trọng, tạo ra tiềm lực, sức mạnh, niềm tin vào con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tương lai của chúng ta./.

Giữ nghiêm kỷ luật để nâng cao sức mạnh Quân đội



 “Kỷ luật của quân đội là kỷ luật thép”, “Kỷ luật là sức mạnh của quân đội”... Đó vừa là khẩu hiệu, vừa là yêu cầu và cũng là một trong những mục tiêu phấn đấu của Quân đội ta, bảo đảm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội và pháp luật của Nhà nước, làm cơ sở thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ.

THỦ ĐOẠN ‘VẤY MỰC’ HÌNH ẢNH NGƯỜI CHIẾN SỸ GIÚP DÂN TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19

 Những ngày qua, làn sóng thứ 4 của dịch COVID – 19 đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống vật chất, tinh thần của người dân Việt Nam. Từ tháng 4/2021 đến nay, đại dịch COVID – 19 đã xuất hiện ở nhiều địa phương trên cả nước như Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương…

Trong tình hình dịch bệnh, điều khó khăn hơn cả là trong số những người cách ly tập trung và cách ly tại nhà lại là những lao động chính trong gia đình, họ là những người trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất tại các xí nghiệp hoặc ở ruộng đồng. Rõ ràng, nếu như khi đến mùa vụ thu hoạch lúa, vải thiều, dưa hấu… mà không kịp thu hoạch, chỉ chậm ít ngày thì tất cả các sản phẩm đó có thể hư hỏng, dẫn đến thiệt hại lớn đến nguồn thu của bà con.

Trong khi lực lượng Quân đội đang nỗ lực chống dịch, hỗ trợ cho người dân hạn chế những thiệt hại kinh tế do dịch bệnh gây ra bằng những hành động thiết thực như vậy thì có không ít đối tượng phản động, chống đối đã đăng tải các bài viết, đưa ra các bình luận tiêu cực về công tác phòng, chống dịch. Họ đưa ra các bài viết, bình luận bôi nhọ hình ảnh người chiến sỹ, cho rằng các bộ đội đang “diễn kịch gặt lúa”, “diễn kịch hái vải thiều”…

Không chỉ riêng những blogger mà nhiều trang mạng phản động cũng vào hùa để ăn theo những hình ảnh mang tính vu cáo cán bộ, chiến sĩ. Nhiều tài khoản mạng xã hội vào a dua, ăn theo nói leo, đưa ra những bình luận khiếm nhã, thiếu tôn trọng lực lượng đang ngày đêm làm công tác phòng, chống dịch.Việc sử dụng các hình ảnh rồi bôi nhọ Quân đội không phải là một chiêu trò mới lạ của thế lực chống đối, thù địch. Tuy nhiên, với phương châm “bình mới, rượu cũ”, các thế lực thù địch, phản động vẫn gây ra sự hoang mang, dao động đối với một bộ phận người xem thiếu hiểu biết, gây nên các tâm lý hoài nghi, không tôn trọng sự thật khách quan. Nhiều đối tượng còn sử dụng video, hình ảnh được cắt ghép, sai sự thật nhưng quảng bá là ảnh thật, người thật nhằm đánh lừa người xem. Mục đích của những chiêu trò này là từng bước tác động nhằm thay đổi nhận thức tư tưởng của người dân tham gia mạng xã hội, là những bước cơ bản để tiến hành chia rẽ lực lượng vũ trang với nhân dân.

Với những luận điệu trên, lật ngược lại vấn đề, thử hỏi những người đang xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ, họ đã làm được gì để hỗ trợ cho nhân dân vùng dịch, cho đất nước khống chế dịch bệnh hay chưa? Với mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội, hãy là người dùng mạng tỉnh táo, không tiếp nhận, lan truyền thông tin xấu độc trong tình hình diễn biến dịch COVID – 19 hết sức phức tạp như hiện nay. Đặc biệt là không tin, nghe và không chia sẻ, bình luận, lan truyền những luận xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ hình ảnh lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.