Thứ Hai, 4 tháng 10, 2021

Malaysia triệu đại sứ Trung Quốc phản đối tàu cá hoạt động bất hợp pháp

 

Malaysia triệu đại sứ Trung Quốc phản đối tàu cá hoạt động bất hợp pháp

Lần thứ hai trong năm nay, Malaysia đã triệu đại sứ Trung Quốc tại nước này để phản đối các hoạt động của tàu cá của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Trong tuyên bố đưa ra vào cuối ngày 4/10, Bộ Ngoại giao Malaysia cho biết Đại sứ Trung Quốc Ouyang Yujing đã được triệu tập “để truyền đạt quan điểm của Malaysia và phản đối sự hiện diện, hoạt động của các tàu Trung Quốc, có cả tàu khảo sát, trong khu vực đặc quyền kinh tế của Malaysia ở khu vực ngoài khơi cách bờ biển Sabah và Sarawak”.

“Sự hiện diện và hoạt động của các tàu này không phù hợp với Đạo luật về Vùng đặc quyền Kinh tế năm 1984 của Malaysia, cũng như Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS)”, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Malaysia cho biết.

 “Lập trường và hành động nhất quán của Malaysia dựa trên luật pháp quốc tế, để bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền trong vùng biển của chúng tôi. Malaysia cũng đã phản đối việc các tàu nước ngoài khác xâm phạm vùng biển của chúng tôi trước đây”, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Malaysia cho biết thêm.

Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Malaysia hôm 4/10 cũng nhấn mạnh: “Malaysia cho rằng, tất cả các vấn đề liên quan đến Biển Đông phải được giải quyết một cách hòa bình và xây dựng, phù hợp với các nguyên tắc được công nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, bao gồm cả Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS)”.

Động thái này diễn ra một ngày sau khi Thủ tướng Malaysia Ismail Sabri Yaakob  - người nhậm chức vào tháng 8, cho biết trong một cuộc phỏng vấn rằng chính phủ sẽ không "thỏa hiệp về chủ quyền" liên quan đến tranh chấp biển.

Các quan chức Malaysia từ lâu đã phàn nàn về việc các tàu tuần duyên Trung Quốc xuất hiện quanh Bãi cạn Luconia phía Nam ngoài khơi Sarawak.

Đây là lần thứ hai Malaysia triệu đại sứ Trung Quốc để phản đối trong năm nay. Hồi tháng 6, nước này đã triệu đại sứ Ouyang Yujing sau khi 16 máy bay vận tải của Trung Quốc bay gần không phận Malaysia mà không thông báo trước.

 

Quyền con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, là bản chất của chế độ XHCN

 


Các quan điểm tư sản đều cho rằng, quyền con người là giá trị lớn nhất, bao trùm nhất mà nhân loại phát hiện được; thậm trí còn nhấn mạnh đó là mục tiêu duy nhất, cuối cùng của con người.

Từ hoạt động lý luận và thực tiễn đấu tranh cách mạng gian khổ, Đảng ta đã đi đến kết luận: Đối với chúng ta, vấn đề quyền con người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu của CNXH, từ bản chất của chế độ ta”; “giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội. Chỉ dưới tiền đề độc lập dân tộc và cNXH thì quyền con người mới được bảo đảm rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất”

Lịch sử đã chứng minh, quyền con người là nội dung cơ bản của mọi xã hội, mọi thời đại. Ngày nay, quyền con người được xác định là mục tiêu hướng tới của mọi nhà nước. Nhà nước dù được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, hay tập quyền, nhà nước đơn nhất hay liên bang, nhà nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa cũng đều long trọng ghi nhận, bảo vệ quyền con người thông qua hiến pháp, pháp luật và trong thực tế cuộc sống. Thực tiễn đã chứng minh, khi quyền con người được tôn trọng và bảo vệ sẽ kích thích sự sáng tạo của mỗi cá nhân, tạo xung lực cho ổn định và sự phát triển toàn diện các nhân, cộng đồng cũng như của cả xã hội.

Lịch sử cũng cho thấy, quyền con người là giá trị lớn của nhân loại, nhưng đó chỉ là một trong những giá trị mà nhân loại đã giành được từ cuộc đấu tranh chống lại mọi áp bức dân tộc, giai cấp. Mặc dù quyền con người đã tạo ra bước tiến lớn lao và đó là động lực thúc đẩy mọi quá trình phát triển, nhưng quyền con người mới tạo lập được sự bình đẳng về mặt xã hội- tức giúp tất cả mọi người được bình đẳng vè mặt sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và phân phối của cải xã hội. Chế độ XHCN mà nhiều quốc gia đang hướng tới là xã hội luôn ý thức rõ việc nhận diện đầy đủ những biểu hiện và nguồn gốc của bất công và tìm phương thức, biện pháp xóa bỏ những bất công ấy. Đó là một trong những cách thức để tạo ra môi trường, điều kiện cho việc hiện thực hóa đầy đủ các quyền con người.

Cuộc đấu tranh giành độc lập của các quốc gia – dân tộc đã khẳng định rõ, không giành được quyền tự quyết dân tộc, không thể có quyền con người. Thực tiễn ở nhiều quốc gia cũng chứng minh, độc lập dân tộc cần gắn liền với việc lựa chọn con đường XHCN. Chỉ trong chế độ XHCN- một xã hội chủ trương xóa bỏ trên thực tế mọi mất bình đẳng về lợi ích – thì quyền con người mới có điều kiện thực hiện đầy đủ, trọn vẹn.

Kiên trì trong nhận thức và nhất quán trong hành động Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục đã được nhấn mạnh nguyên tắc trong Hiến pháp năm 2023, rằng:”..” trên ý nghĩa đó quyền con người thể hiện rõ bản chất của chế độ xã hội, của Nhà nước pháp quyenfXHCN, đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển theo dòng chảy chung của nhân loại là hướng tới tự do, bình đẳng, hạnh phúc và thịnh vượng cho tất cả mọi người.

Quan điểm này cũng nhằm khẳng định lại mục tiêu mà những người cộng sản theo đuổi là xóa bỏ nguồn gốc sâu xa nhất của mọi vi phạm quyền con người- đó là ách áp bức dân tộc, áp bức giai cấp được sinh ra bởi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Đồng thời xác định rõ, việc bảo đảm tối đa quyền con người thuộc về bản chất của chế độ XHCN, là mục tiêu hướng tới của các nhà nước do những người cộng sản lãnh đạo.

Quyền con người gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia

 


Đảng ta cho rằng: “Quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế văn hóa của đất nước. Do vậy không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác”

Các nước Phương Tây luôn nhấn mạnh tính phổ quát của quyenf con người, một mặt nhằm áp đặt chuẩn mực chung cho mọi quốc gia, bất chấp trình độ phát trieẻn kinh tế như thế nào; mặt khác tự cho phép bảo vệ quyền con người ở mọi nơi theo ý đồ của họ, bất chấp chủ quyền của quốc gia khác.

Quyền con người được kết tinh từ những thành tựu, kinh nghiệm đặc sắc trong lịch sử, truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia. Chính nét đặc sắc trong việc bảo đảm quyền con người của mỗi quốc gia lại làm phong phú thêm giá trị chung của quyền con người. Tính phụ thuộc của quyền con người còn bắt nguồn từ sự phát triển “không đều” veè mọi mặt của thế giới, nên quyền con người cũng không thể được đáp ứng như nhau giữa các quốc gia, mà luôn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi nước. Đặc điểm này được thể hiện rõ trong hệ thống luật về quyền con người; chẳng hạn việc cho phép một quốc gia bảo lưu những điều khoản cụ thể khi tham gia một công ước nào đó, thể hiện việc thừa nhận sự “chưa ngang bằng” giữa các quốc gia. Chính cộng đồng quốc tế cùng thừa nhận thực tế này trong tuyên bố Viên và chương trình hành động: “Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, có nghĩa vụ đề cao và bảo vệ tất cả các quyền con người và các tự do cơ bản”

Quyền con người là giá trị phổ biến nhưng đối với các nước đang phát triển, thực hiện đầy đủ các chuẩn mực quyền con người là quá trình lâu dài. Mỗi quốc gia có quyền lựa chọn các giải pháp tối ưu trong việc cân bằng giữa ổn định xã hội với đảm bảo đầy đủ quyền con người, có quyền xay dựng lộ trình trong việc thực hiện cam kết đối với các điều ước quốc tế về quyền con người, Đương nhiên không được tuyệt đói hóa tính đặc thù, vin vào những khó khăn nhất thời để trì hoãn việc thực hiện các cam kết, mà cần phải hướng tới sự phát triển tiến bộ, văn minh và tôn trọng nhân phảm cho tất cả mọi người.

Việc khẳng định tính phụ thuộc của quyền con người tạo cơ sở lý luận bác bỏ mọi sự sao chép, áp đặt các mô hình dân chủ, quyền con người; đồng thời đòi hỏi phải chủ động, sáng tạo trong việc bảo đảm các quyền con người phù hợp với thực tiễn mỗi quốc gia.

Quyền con người gắn với độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia

 


Đảng ta cho rằng “Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia”. Thực tiễn lịch sử Việt Nam và nhiều nước từng trải qua quá trình đấu tranh giành độc lập đã cho thấy, đát nước bị nô lệ thì người dân không thể có tự do, các quyền con người sẽ bị chà đạp nghiêm trọng. Vì vậy các dân tộc bị áp bức sẵn sang chấp nhận mọi hy sinh để giành và giữ nền độc lập. Quyền dân tộc tự quyết dã trở thành một bộ phận không thể thiếu của quyền con người, được ghi nhận ở điều đầu tiên của hai công ước cơ bản về quyền con người năm 1966. Có thể nói, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là điều kiện tiên quyết để đảm bảo quyền con người; không có độc lập dan tộc, chủ quyền quốc gia, không thể nói đến các quyền con người.

Bảo đảm quyền con người trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia. Trách nhiệm pháp lý này đã được Liên hợp quốc quy định trong các văn kiện quyền con người quốc tế. Mặt khác, chính hiến chương Liên hợp quốc cũng nhấn mạnh” “Không quốc gia nào, kẻ cả Liên hợp quốc, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia”

Ngày nay quyền con người đã được quốc tế hóa về nhiều mặt, nhưng việc bảo đảm quyền con người chủ yếu vẫn thuộc thẩm quyền của các quốc gia. Sự hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quyền con người là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm nguồn lực và kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, các cơ chế quyền con người quốc tế chỉ nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế đang vận hành tại các quốc gia. Đối với việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, trách nhiệm của quốc gia càng rõ – không có bất cứ một quốc gia hay tổ chức quốc tế nào có thể đảm đương được việc bảo đảm các quyền này thay cho mỗi nhà nước. Đây là những nguyên tắc cần được nhạn thức rõ rang, đầy đủ. Độc lập dan tộc, chủ quyền quốc gia là đòi hỏi hàng đầu trong việc bảo đảm và thực thi quyền con người, nhưng điều có ý nghĩa cực kỳ quan trọng là nhà nước phải sử dụng các điều kiện này để đem lại cuộc sống hạnh phúc cho mọi thành viên của quốc gia. Điều này thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa quyền dân tộc tự quyết với quyền con người và trở thành định hướng chính trị quan trọng trong mọi hoạt động bảo vệ quyền con người của Nhà nước Việt Nam.

Nhận thức đầy đủ quan điểm này giúp khắc phục được nhũng nhận thức cực đoan, khước từ việc tiếp nhận, chia sẻ những kinh nghiệm tốt trong việc bảo đảm quyền con người.

Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc

 


Từ thực tiễn Việt nam và thé giới, Chỉ thị Số 12-CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta chỉ rõ: “Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc”

Quyền con người xét về bản chất là đặc quyền vốn có của con người. Đó là quyền tự nhiên, gắn với con người và chỉ có con người. Nói cách khác, đay là dấu hiệu đặc trưng phân biệt con người với các loài vật khác. Các quyền này biểu hiện dưới dạng những nhu cầu, do chính phẩm giá con người quy định. Nhưng để trở thành quyền, những nhu cầu ấy cần phải được pháp luật ghi nhạn và bảo vệ.

Pháp luật luôn bị chi phối bởi các chế độ chính trị cụ thể. Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, quyền lợi các giai cấp luôn xung đột nhau. Vì thế chính sách pháp luật trước hết nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Khi pháp luật thừa nhận quyền của giai cấp thống trị đồng thời hnj chế quyền của giai cấp bị trị, không thể có quyền ngang nhau cho mọi giai cấp.

Trong phạm vi quốc gia, quan điểm giai cấp thể hiện ở các chính sách bảo vệ hệ thống chính trị, chế độ xã hội hiện hữu, bảo vệ lợi ích của giai cấp càm quyền, của các giai cấp, tầng lớp xã hội đã từng đáu tranh bảo vệ xã hội đó. Mặt khác để duy trì sự thống trị, bất cư nhà nước nào cũng buộc phải thừa nhận một số quyền cơ bản của gia cấp đối kháng. Nhờ đó quyền con người vẫn có bước phát triển nhát định trong xã hội có đối kháng giai cấp sau sắc.

Trên phạm vi quốc teestinhs giai cấp của khía niệm quyền con người được thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng tiến bộ vơi các lực lượng phản động, phản tiến bộ, từ việc xây dựng các văn kiện quyền con người đén việc thực thi quyền con người. Trong thế kỷ XX, tính giai cấp của khái niệm quyền con người được biểu hiện bằng cuộc đấu tranh về ý thức hệ giữa hệ thống tư bản chủ nghĩa với hệ thống XHCN. Ngày nay cuộc đấu tranh này biểu hiện dưới hình thức thúc đẩy chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ thông qua các cuộc “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu”… của các thế lực phản động với cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, chống bạo loạn lật đổ của các nước đi theo con đường XHCN và độc lập dân tộc.

Như vậy cũng như pháp luạt, các quy định về quyền con người gắn liền với mỗi nhà nước cụ thể, thuộc thượng tầng kiến trúc và luôn bị quyết định bởi cơ sở kinh tế, xã hội. Quyền con người về bản chất không có tính gia cấp, nhưng trong xã hội có gia cấp đối kháng, khái niệm quyền con người được hiểu theo góc nhìn hay “lăng kính” hệ tư tưởng của mỗi giai cấp cụ thể. Chỉ thị số 41/CT-ttg ngày 2/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ về”tăng cường công tác bảo vệ, đấu tranh về nhân quyền trong tình hình mới” đã chỉ rõ “Các thế lực phản động thù nghịch thực chất không quan tâm tới quyền dân chủ của nhân dân ta mà chỉ lợi dụng vấn đề dan chủ, nhân quyền để can thiệp công việc nội bộ chống phá đất nước ta, do đó cuộc đấu tranh trên vấn đề nhân quyền là cuộc đấu tranh mang tính giai cấp sâu sắc sẽ diễn ra liên tục lâu dài và quyết liệt”

Tuy nhiên trong khi nhận rõ tính chat giai cấp của khái niệm quyền con người, cũng cần tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vấn đề giai cấp trong giải quyết các vấn đề cụ thể về quyền con người. Vì điều này dễ dãn tới cực đoan, làm cản trở sự hợp tác, tăng đối đầu trên lĩnh vực quyền con người.

Trong xã hội Việt Nam, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động gắn lienf với quyền lợi của đất nước, dân tộc; tính giai cấp của khía niệm quyền con người thống nhất với tính nhân loại, tính phổ biến của quyền con người. Nói một cách cụ thể, trong xã hội Việt Nam. Quyền con người của tất cả mọi người đều được tôn trọng và bảo đảm, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo.

Quyền con người là giá trị chung của nhân loại

 


Quyền con người bắt nguồn từ phẩm giá con người. Nhưng quyền con người có nội hàm phong phú như ngày nay là thành quả chung của cả nhân loại trong việc trinh phục tự nhiên và giải phóng con người khỏi mọi sự tha hóa, khôi phục bản thể vốn có của con người. Thuật ngữ “quyền con người” ra đời khá muộn, gắn liền với các cuộc cách mạng tư sản, nhưng tư tưởng và nội hàm về quyền con người đã xuất hiện sớm và tồn tại trong mọi nền văn hóa.

Lịch sử dã chứng minh, những tư tưởng vè quyền con người cũng nhu những quy định trong pháp luật và két quả đạt dược về quyền con ngươi la thành quả dấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức, qua mọi thời kỳ phát triển của lịch sử. Mõi bước tiến của lịch sử nhan loại đều dánh dấu nác thang mới trong nhận thức và việc hiện thực hóa các quyền con người. Quyền con người vừa là sản phẩm cuarvawn minh nhân loại, vừa là sản phẩm của cuộc đấu tranh lâu dài của con người chóng lại áp bức, bất công, làm chủ thiên nhiên và tự hoàn thiện chính mình…

Thực tiễn nói trên là cơ sở dể Đảng khẳng dịnh: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua cá thời đai của nhân dân lao dộng và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó quyền con người trở thành giá trị chug của nhân loại”

Quá trình toàn cầu hóa đang tác động mạnh dên lĩnh vực quyền con người và đang có xu hướng “toàn cầu hóa’ về quyền con người. Ngày nay những nguyên tắc và quyy định của Luật quốc tế về quyền con người được coi là mục tiêu phấn đáu củ nhiều quốc gia. Ơ hầu hết các nước, nội dung các công ước quyền con người đã được luật hóa và từng bước tổ chức thực hiện trên thực tế. Là giá trị chung nên tất cả các quốc gia, dân tộc – không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa – đều có quyền thu hưởng và có nghĩa vụ bảo vệ, pht triên giá trị xã hội cao quý này.

Quan diểm “quyền con người là giá trị chung của nhân loại” có ý nghĩa quan trọng, chỉ rõ nguồn gốc của quyền con người, giúp chúng ta có cơ sở bác bỏ các quan điểm sai trái, coi quyền con người là phát kiến, là giá trj riêng của phương Tây. Quan diểm này còn góp phần khắc phục các biểu hiện phiến diện, cực đoan: Quoay lung, khước từ những giá trị tiến bộ, văn minh hoặc chấp nhận sự áp đặt mo hình của nước này cho nước khác.

Từ quan điểm này Đảng ta chủ chương: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt dẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người (…). Chóng tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tôc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên CNXH “chú trọng nghiên cứu những vấn dề về thời dại, về chủ nghĩa tư bản hiện dại, về nhữn biến dỏi trog ác quan hệ quốc tế, về trật tự thế giới mới, dự báo xu hướng phát triển của thế giới và của khu vực trong những thập kỷ tới”

Những năm qua, Nhà nươc Việt Nam dã chủ động tham gia vào các diễn đàn và hoạt động quyền con ngườ khu vực cũng như toàn cầu. Đảng luôn khẳng dịnh, việc bảo đảm quyền con người là một mục tiêu, đọng lực của ach mạng, là trách nhiệm lớn của Dảng và Nhà nước.

Ngày 4/10: Có 5.383 ca mắc mới COVID-19, riêng TP HCM là 2.490 ca

 Bản tin dịch COVID-19 ngày 4/10 của Bộ Y tế cho biết có 5.383 ca mắc mới COVID-19 tại 37 tỉnh, thành phố, riêng TP HCM vẫn nhiều nhất với 2.490 ca; Trong ngày có 27.683 bệnh nhân khỏi.

Tránh nhẹ dạ, vô tình bị lợi dụng

 

Chuyện chẳng phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải rời khỏi tổ chức... có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Công tác kỷ luật của Đảng là thường xuyên, nghiêm minh

Trước sự công khai, minh bạch của Đảng về tình hình kỷ luật cán bộ trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch được đà lớn tiếng đặt điều, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang bị biến chất trầm trọng. Cùng với đó, chúng chủ ý bám víu vào các sự vụ, sự việc kỷ luật một số cán bộ, sĩ quan quân đội để lật lọng, quy chụp rằng “thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, Nhà nước đã không còn “sắc bén”; từ đó chúng độc địa bôi nhọ, hạ bệ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

TOÀN VĂN PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 4 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Ngày 4/10, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị.

Thông tấn xã Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Kính thưa Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa của Trung ương, hôm nay, Ban Chấp hành Trung ương bắt đầu họp Hội nghị lần thứ tư khóa XIII để thảo luận, cho ý kiến về các vấn đề sau: Tình hình phòng, chống đại dịch Covid-19 và quan điểm, chủ trương về phòng, chống dịch trong tình hình mới; Tình hình kinh tế - xã hội năm 2021 và dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; Tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 và Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022 - 2024; Chủ trương lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII; Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; Sửa đổi, bổ sung Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 1/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; và một số vấn đề quan trọng khác.

Trước hết, tôi xin được thay mặt Bộ Chính trị và Ban Bí thư, nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, các đại biểu khách mời đã về dự Hội nghị; xin gửi tới các đồng chí lời thăm hỏi chân tình và lời chúc tốt đẹp nhất.

Thưa các đồng chí,

Để chuẩn bị cho Hội nghị, thời gian qua, Bộ Chính trị đã chỉ đạo Ban cán sự đảng Chính phủ, các Ban Đảng và các cơ quan hữu quan tích cực chuẩn bị các Báo cáo, các Đề án và các Tờ trình. Theo Quy chế làm việc, Văn phòng Trung ương Đảng đã gửi tài liệu để các đồng chí nghiên cứu trước. Để tiết kiệm thời gian và phù hợp với tình hình dịch bệnh đang diễn biến hết sức phức tạp hiện nay, xin phép Hội nghị của chúng ta sẽ không nghe đọc lại các Tờ trình tại Hội trường để dành nhiều thời gian cho việc thảo luận. Sau đây, tôi xin phát biểu, lưu ý thêm một số vấn đề liên quan đến các nội dung và nhiệm vụ của Hội nghị, có tính chất gợi mở, nêu vấn đề, mong được các đồng chí quan tâm trong quá trình nghiên cứu, thảo luận, xem xét và quyết định. Tựu trung có hai Nhóm vấn đề lớn:

1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2021 - 2022

Việc Ban Chấp hành Trung ương xem xét, cho ý kiến chỉ đạo, hoàn thiện các nội dung liên quan đến quan điểm, chủ trương phòng, chống dịch bệnh Covid-19, phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước, thời điểm thực hiện chính sách cải cách tiền lương năm nay có ý nghĩa quan trọng đặc biệt do bối cảnh, tình hình diễn biến phức tạp, biến động bất thường; bên cạnh thời cơ, thuận lợi, cũng đã xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức mới, gay gắt và nặng nề hơn so với dự báo. Năm 2021 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo ra xung lực mới và khí thế mới cho việc thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030; và tầm nhìn đến năm 2045. Tuy nhiên, từ đầu năm 2021 đến nay, đại dịch Covid-19 với những biến chủng mới, lây lan nhanh hơn và nguy hiểm hơn, tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, tác động tiêu cực, kéo dài đến kinh tế thế giới, trong đó có khu vực Đông Nam Á và nước ta; làm thay đổi sâu sắc trật tự, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị, tổ chức hoạt động kinh tế và đời sống xã hội toàn cầu, buộc nhiều nước phải điều chỉnh định hướng, chiến lược phòng, chống dịch bệnh gắn với phát triển kinh tế - xã hội theo hướng: Nâng cao nội lực, chú trọng phát triển thị trường trong nước, phát triển kinh tế số, xã hội số, thương mại điện tử... Kinh tế thế giới phục hồi, tăng trưởng trở lại nhưng còn chậm, không đồng đều, chưa thật sự vững chắc, còn tùy thuộc vào diễn biến của dịch bệnh và khả năng phòng, chống, thích ứng an toàn với dịch Covid-19; nợ công toàn cầu tăng mạnh, thị trường tài chính - tiền tệ thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Sau thành công rất tốt đẹp của Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo tiến hành rất thành công Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; sớm kiện toàn các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; khẩn trương xây dựng các Chương trình và Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII và tích cực tổ chức một số Hội nghị toàn quốc để triển khai thực hiện, trong đó có Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước, đầu tư công năm 2021 và 5 năm 2021 - 2025. Toàn hệ thống chính trị đã chủ động, tích cực vào cuộc; kế thừa, phát huy những thành tựu, kết quả đã đạt được; khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại; và bình tĩnh, tỉnh táo đề ra nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để xử lý kịp thời, đúng đắn những vấn đề mới phát sinh do tác động bất lợi của đại dịch Covid-19 gây ra. Tuy nhiên, đợt bùng phát dịch lần thứ tư từ cuối tháng tư đến nay, với biến chủng mới - Delta, lây lan rất nhanh, hết sức nguy hiểm, khó kiểm soát đã ảnh hưởng lớn, hết sức tiêu cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội nước ta; đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân ta và tâm lý, tâm trạng xã hội; đặc biệt là đã cướp đi sinh mạng của hàng nghìn đồng bào ta, trong đó có cả cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, các y, bác sĩ, nhân viên y tế và cán bộ cơ sở nơi tuyến đầu chống dịch.

Vì vậy, cùng với Tờ trình tổng hợp chung, Ban cán sự đảng Chính phủ đã nghiên cứu, xây dựng các báo cáo về tình hình phòng, chống đại dịch Covid-19; quan điểm, chủ trương và giải pháp về phòng, chống dịch trong tình hình mới; tình hình kinh tế - xã hội năm 2021, dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 và Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022 - 2024; cũng như việc lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 07-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII. Các báo cáo này có quan hệ hữu cơ, mật thiết với nhau; đề nghị các đồng chí dành thời gian nghiên cứu thật kỹ các tài liệu đã gửi và căn cứ vào thực tế tình hình ở các ngành, lĩnh vực, địa phương mình để thảo luận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình phòng, chống dịch bệnh, phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm, dự báo đến hết năm 2021, nhất là dự báo về tình hình đại dịch Covid-19 trên thế giới và ở nước ta trong thời gian tới. Chú ý tổng kết, đánh giá sự cần thiết, đúng đắn, hiệu lực, hiệu quả, cũng như những hạn chế, bất cập trong việc ban hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, biện pháp mới để xử lý các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình vừa phòng, chống dịch bệnh, khắc phục những hậu quả do dịch bệnh gây ra, vừa duy trì, phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua. Chỉ rõ những kết quả, thành tích đã đạt được, những khó khăn, thách thức mới đang đặt ra, những hạn chế, yếu kém cần khắc phục; phân tích làm rõ các nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan. Đối chiếu, phân tích khả năng hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ đã dự kiến cho năm 2021, nhất là mục tiêu, nhiệm vụ sớm kiểm soát được dịch bệnh, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp duy trì, phục hồi, phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh, chăm lo đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình và ổn định để phát triển đất nước trong tình hình mới.

Trên cơ sở phân tích, dự báo các khả năng có thể xảy ra, nhất là tình hình dịch bệnh trên thế giới và ở nước ta trong thời gian tới; nắm bắt thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức, xác định rõ quan điểm, chủ trương về phòng, chống dịch và phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới; mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng nhất; các định hướng, chủ trương, chính sách, nhiệm vụ, giải pháp và kế hoạch, lộ trình triển khai thực hiện cụ thể cho năm 2022, bảo đảm sát với thực tiễn, có tính khả thi cao, đáp ứng được yêu cầu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước hằng năm, gắn với việc phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh và thực hiện lộ trình cải cách chính sách tiền lương theo tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, thực sự khách quan, công tâm, không né tránh, không bi quan nhưng cũng không tô hồng để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện từ nay đến cuối năm 2021 và trong cả năm 2022.

2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

Như chúng ta đều đã biết, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn luôn là nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta. Không phải ngẫu nhiên mà Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này. Chỉ tính riêng 10 năm gần đây, Trung ương đã bàn và ban hành nhiều nghị quyết, quyết định quan trọng và tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện một cách ráo riết, quyết liệt, có hiệu quả: Ngày 31/12/2011, Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đã ban hành Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" (gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng). Sau đó, ngày 27/2/2012, Bộ Chính trị đã tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết (họp 2 ngày rưỡi). Ngày 13/8/2012, họp Hội nghị toàn quốc để hướng dẫn việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4. Thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/3/2012 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XI, tháng 2/2013, Bộ Chính trị quyết định thành lập "Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng" trực thuộc Bộ Chính trị, do Tổng Bí thư làm Trưởng ban; đồng thời lập lại Ban Nội chính Trung ương, làm cơ quan thường trực; và mới đây, ngày 16/9/2021, Bộ Chính trị quyết định bổ sung chức năng, nhiệm vụ phòng, chống tiêu cực cho Ban Chỉ đạo. Ngày 30/10/2016, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII tiếp tục ra Nghị quyết Trung ương 4 "Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ". Ngày 9/12/2016, Bộ Chính trị đã tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc (trực tuyến) để triển khai thực hiện Nghị quyết này với sự tham dự của tất cả các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của các ban, bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương và các tỉnh, thành phố trong cả nước, thể hiện tinh thần nghiêm túc và quyết tâm rất cao của toàn Đảng ta trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Ngày 1/11/2011, Hội nghị Trung ương 3 khóa XI đã ban hành Quy định số 47 về 19 điều đảng viên không được làm. Ngày 15/5/2016, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Chỉ thị số 05 "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Sau 5 năm thực hiện, mới đây, ngày 18/5/2021, Bộ Chính trị khóa XIII này đã chỉ đạo sơ kết việc thực hiện Chỉ thị số 05 và tổ chức Hội nghị toàn quốc để phổ biến kết quả, và quyết định ban hành Kết luận số 01 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05.

Thực hiện các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII và các quyết định, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong thời gian qua, chúng ta đã đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, được toàn Đảng, toàn dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Tuy nhiên, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những nhiệm vụ cơ bản để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện; trong đó khẳng định tiếp tục kiên trì, kiên quyết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, Hội nghị Trung ương 4 lần này sẽ tiếp tục thảo luận, tạo sự thống nhất cao về các chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ".

Tờ trình của Bộ Chính trị và các tài liệu liên quan gửi Trung ương đã nêu khá đầy đủ các nội dung của Đề án. Đề nghị các đồng chí cho ý kiến về sự cần thiết, đúng đắn của việc ban hành Kết luận của Hội nghị Trung ương lần này về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII với tên gọi, chủ đề và phạm vi mới của dự thảo Kết luận. Chỉ rõ có gì cần bổ sung, điều chỉnh; nên chăng phải gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị theo đúng tinh thần Đại hội XIII của Đảng; cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải tích cực phòng ngừa và chủ động, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực... Từ đó, đánh giá đúng tình hình và nguyên nhân; xác định rõ mục tiêu, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và những chủ trương, biện pháp phù hợp đối với từng nội dung, vấn đề, nhất là những giải pháp có tính đột phá trong nhiệm kỳ này. Trên cơ sở kế thừa các nghị quyết của Trung ương trước đây, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và XII, đề nghị các đồng chí nghiên cứu, bổ sung, làm rõ hơn nữa yêu cầu phòng, chống không chỉ tham nhũng mà còn cả đối với tiêu cực; nhưng biểu hiện tiêu cực là thế nào? Mức độ đến đâu? Nguyên nhân là gì? Tác hại ra sao?

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, đề nghị các đồng chí đi sâu phân tích, mổ xẻ, làm rõ, chỉ ra đúng căn nguyên, đề ra các biện pháp chữa trị hữu hiệu. Cho ý kiến cụ thể đối với việc Đề án kiến nghị: Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cao nhất Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; đồng thời tập trung ưu tiên thực hiện các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng chính trị, tự phê bình và phê bình; về tập trung hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách; về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; về phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Những nhóm giải pháp nêu trên đã chính xác, đủ mạnh và khả thi để làm chuyển biến tình hình chưa? Cần bổ sung thêm giải pháp nào, nội dung từng nhóm giải pháp cần lưu ý thêm vấn đề gì? Những giải pháp nào chúng ta có thể tổ chức thực hiện ngay; những giải pháp nào cần có thêm quy định, hướng dẫn; và cách thức tổ chức thực hiện thế nào?...

Về việc sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm: Để góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần trên đây, từ thực tiễn 4 năm thực hiện Quy định số 115, ngày 7/12/2007 của Bộ Chính trị khóa X, Hội nghị Trung ương 3 khóa XI đã ban hành Quy định số 47, ngày 1/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về những điều đảng viên không được làm (như trên đã nói). Thực tế gần 10 năm triển khai thực hiện vừa qua cho thấy, các quy định này là rất cần thiết; những nội dung của Quy định đến nay cơ bản vẫn còn phù hợp và đáp ứng được yêu cầu quản lý, giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thêm một số nội dung quan trọng về rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, góp phần ngăn ngừa và khắc phục một cách mạnh mẽ hơn và quyết liệt hơn những biểu hiện suy thoái, tiêu cực; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Ngoài ra, có một số điều qua thực tiễn thấy chưa đủ rõ, có nội dung khó áp dụng, gây khó khăn khi phải xem xét vi phạm của đảng viên; hoặc có nội dung đến nay quy định của Đảng và Nhà nước đã thay đổi thì cũng cần phải được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới.

Đề nghị các đồng chí Ủy viên Trung ương và các đại biểu tham dự Hội nghị với kinh nghiệm và thực tiễn phong phú ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình đang công tác, đóng góp ý kiến cụ thể, thiết thực, có tính khả thi, sửa trực tiếp vào dự thảo Quy định, tạo sự thống nhất cao trong Trung ương để ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, đáp ứng yêu cầu chính xác, đầy đủ, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ kiểm tra, giám sát, góp phần điều chỉnh nhận thức và hành vi của cán bộ, đảng viên theo hướng tích cực, đúng đắn, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt hơn nữa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian tới (Như vậy là 3 khóa liên tục Đại hội XI, XII, XIII đều chọn Hội nghị Trung ương 4 là Hội nghị đầu mỗi khóa để bàn về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị - điều đó hoàn toàn không phải ngẫu nhiên. Mỗi Hội nghị đều có sự kế thừa và phát triển mới).

Thưa các đồng chí,

Những nội dung trình Hội nghị Trung ương lần này là những vấn đề rất quan trọng đối với việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, bao gồm cả việc thực hiện nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế - xã hội và việc thực hiện nhiệm vụ then chốt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đề nghị các đồng chí phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, nghiên cứu, thảo luận sôi nổi, đóng góp ý kiến để hoàn thiện các báo cáo, đề án, dự thảo các nghị quyết, kết luận của Trung ương và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp, và nhất định phải thành công tốt đẹp, để lại một dấu ấn mới trên con đường phát triển và trưởng thành của Đảng ta, của Đất nước ta, Dân tộc ta.

Xin trân trọng cảm ơn.


“TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG MỚI” VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA


          Từ đầu năm 2020, đại dịch COVID-19 xảy ra trên toàn cầu, tạo nên cuộc khủng hoảng đa chiều, tác động đến nhiều ngành nghề khác nhau, cuộc sống vật chất lẫn tinh thần của con người. “Trạng thái bình thường mới” được dùng để đề cập tới sự thay đổi về các hoạt động, quan hệ xã hội và hành vi con người sau đại dịch COVID-19. Dịch COVID-19 đã và đang làm thay đổi toàn diện cấu trúc xã hội mang tính lâu dài. “Trạng thái bình thường mới” hiểu đơn giản là những điều khác với những cái cũ. Có thể là những điểm mà trước đây được cho là bất bình thường thì sẽ trở nên bình thường. Hoặc cũng có thể là những điều mà trước đây chúng ta đang phấn đấu để thực hiện thì nay, trong điều kiện mới bắt buộc chúng ta phải thực hiện nó nhanh hơn, nhằm thích ứng với tình hình mới.

          “Trạng thái bình thường mới” COVID-19 là trạng thái mà tại đó đất nước vừa tập trung chống dịch, vừa khôi phục và phát triển lại nền kinh tế như lúc ban đầu. Có 4 điểm đặc trưng để nhận diện “trạng thái bình thường mới”, đó là: 1) Khi làm bất kỳ việc gì, phải vừa đảm bảo tính hiệu quả vừa đảm bảo mục tiêu; 2) Dịch bệnh là vấn đề diễn ra trên quy mô toàn cầu, tình huống bất thường không ai đoán trước được, tác động đến mọi giai tầng xã hội, không phụ thuộc vào trình độ phát triển hay thể chế chính trị; 3) Tác động của dịch bệnh đòi hỏi mỗi con người, tổ chức và toàn bộ hệ thống xã hội phải năng động và có khả năng chống chịu và thích ứng với bối cảnh mới; 4) Đặt ra nhiều vấn đề phải định hình lại, phải đối mặt với nhiều rủi ro xã hội: dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu...

          Đại dịch COVID-19 đã và đang thay đổi cách sống, làm việc và kết nối của con người trong xã hội. “Trạng thái bình thường mới” do đại dịch COVID-19 đặt ra những vấn đề mới cho quản lý trên bình diện quốc gia và toàn cầu, đòi hỏi phải có những điều chỉnh chính sách thích hợp và khôn khéo. Chính sách ứng phó trong “trạng thái bình thường mới” do dịch COVID-19, lấy phục hồi và phát triển kinh tế là trung tâm nhưng để phát triển bền vững thì con người và môi trường mới là cái đích và nền tảng mà Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần khẳng định.

          Trong gần 2 năm qua, Việt Nam phòng, chống đại dịch COVID-19 trong điều kiện bị động; hầu như toàn bộ trang thiết bị, máy móc, sinh phẩm, vaccine và thuốc chữa bệnh đều phải nhập khẩu; nền kinh tế còn khó khăn; các biện pháp công nghệ cũng chưa bảo đảm; việc phân cấp, phân quyền còn không ít bất cập. Tuy nhiên, Việt Nam đang xây dựng hướng dẫn thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch bệnh COVID-19. Với việc Chính phủ đề ra 6 nguyên tắc phải quán triệt sâu rộng trong toàn bộ hệ thống xã hội: Y tế là trụ cột, là trung tâm; kinh tế là cơ sở, là nền tảng; dữ liệu khoa học, công nghệ là then chốt; ổn định chính trị-xã hội là trọng yếu và thường xuyên; vaccine, thuốc chữa bệnh và ý thức người dân là điều kiện tiên quyết; an toàn để sản xuất, sản xuất phải an toàn. Phải kết hợp hài hòa giữa tổng thể và cụ thể, giữa phổ biến và đặc thù, chính sách chung nhưng tổ chức thực hiện phải linh hoạt, phù hợp đặc thù từng nơi, từng thời điểm.

          Chính phủ đang khẩn trương xây dựng hướng dẫn tạm thời để thực hiện chủ trương chuyển trạng thái từ “không COVID” sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch COVID-19”. Tuy nhiên, do chính sách có phạm vi rộng lớn, song lại khoanh hẹp đến tận phường, xã, thị trấn, đến tổ dân phố, ấp, bản, thôn và tác động tới toàn bộ các đối tượng là nhân dân, doanh nghiệp… nên phải có bước đi thận trọng, chắc chắn, rõ đến đâu làm đến đó, vừa làm vừa bổ sung, sơ kết, đúc rút kinh nghiệm rồi hoàn thiện dần. Để chiến thắng đại dịch COVID chúng ta cần phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, vừa điều chỉnh cho kịp thời, phù hợp. Để làm được điều này, cần phải tổ chức thu thập dữ liệu cho đầy đủ, khách quan. Đồng thời, cần tiếp cận nhanh chóng thông tin, dữ liệu và tri thức của thế giới trong phòng, chống dịch COVID-19.

          Các giải pháp trong phòng, chống đại dịch COVID-19 trong “trạng thái bình thường mới” cần được xây dựng và thực hiện một cách tổng thể, đồng bộ từ chính hệ thống các thiết chế xã hội có liên quan, đó là: thiết chế y tế, thiết chế pháp luật, thiết chế chính trị, thiết chế kinh tế, thiết chế gia đình, thiết chế giáo dục, thiết chế đạo đức, thiết chế văn hóa, thiết chế khoa học-công nghệ, thiết chế truyền thông, thiết chế dư luận xã hội…

         

         

 

LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


          Tư tưởng chính trị bàn ở đây là tư tưởng về vấn đề chính trị mà Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, xây dựng xã hội của dân, do dân và vì dân. Lập trường này được C.Mác cùng F.Ăngghen xây dựng trên cơ sở sự vận hành và phát triển của các hình thái kinh tế xã hội trong hiện thực lịch sử nhân loại. Đó là học thuyết vĩ đại của xã hội loài người-học thuyết khoa học về chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đó cũng chính là tư tưởng chính trị then chốt; là yếu tố quan trọng hàng đầu cần được xác lập một cách vững vàng trong mỗi chủ thể của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

          Tư tưởng chính trị là nhân tố hàng đầu tạo niềm tin, sự đồng thuận xã hội. Vì thế, các thế lực chống phá, thù địch luôn xác định đây là mắt xích, mũi đột phá quan trọng cần tập trung tấn công. Trong cuốn sách Chiến thắng không cần chiến tranh (1999), Níchxơn đã viết: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”, “vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”.

          Theo đó, những chiêu bài về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hay “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”… mà các thế lực thù địch vẫn không ngừng “lớn tiếng” lâu nay cũng chỉ nhằm hướng tới một mục tiêu: phủ nhận những vấn đề căn cốt - nền tảng tư tưởng chính trị của chúng ta.

          Một là, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

          Các thế lực thù địch, phản động, chống phá vẫn luôn tự cho họ “cái quyền” đòi Đảng ta, nhân dân ta từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn với “lỹ lẽ” rằng đó là “con đường sai lầm, dẫn dân tộc đến đường cùng, ngõ cụt”. Họ ra sức lợi dụng sự kiện CNXH theo mô hình Xô viết ở Liên xô và các nước Đông Âu trước đây sụp đổ để “kết luận” rằng CNXH đã cáo chung, Đảng Cộng sản đã hết vai trò lịch sử; rằng Việt Nam kiên định đi lên CNXH là sai lầm, là đi vào “vết xe đổ” Liên Xô và Đông Âu. Họ cố tình xuyên tạc: “Chủ nghĩa xã hội mà C.Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”; không bao giờ thực hiện được”. Hơn thế, họ “dạy” Đảng ta cần phải đi theo con đường - mô hình “xã hội dân chủ”, “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”... Đồng thời không ngừng rêu rao, kích động, bôi đen chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, cho rằng, kinh tế thị trường với CNXH như lửa với nước, không thể đồng hành, từ đó phủ nhận vai trò kinh tế nhà nước, đòi tư nhân hóa đất đai…

          Những luận điệu nêu trên vẫn thường được “nhai đi nhai lại” khi trắng trợn, lúc tinh vi; lúc thì “mượn mồm” của một số người biến chất, bất mãn, khi thì thô lỗ nhân danh, khoác áo “những nhà chính trị”, “tổ chức nọ”, “hội kia”. Tuy giọng điệu, cung bậc khác nhau, song đều chung một kiểu “mưa dầm thấm lâu”, nhằm làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin chính trị.

          Để tạo sức “đề kháng” trước những “cơn gió độc”, bên cạnh không ngừng củng cố bản lĩnh và sự kiên định của mỗi công dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên vào mục tiêu, con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, chúng ta cần tiếp tục thấu triệt: 1) Sự thay thế của hình thái kinh tế XHCN vào hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa là sự tiếp nối tất yếu trong dòng chảy phát triển. Vấn đề này đã được khẳng định bằng chính quá trình phát triển của lịch sử nhân loại; 2) Thực tiễn tiến trình cách mạng Việt Nam dưới ngọn cờ của Đảng đã và đang minh chứng “con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”. “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”( là sự kiên định khoa học, khách quan, đúng đắn, phù hợp, đang từng bước thỏa mãn khát vọng chính đáng của nhân dân: độc lập, hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc; 3) Những nhà tài phiệt của chủ nghĩa tư bản luôn muốn duy trì sự bất bình đẳng của xã hội để thâu tóm lợi ích. Vì thế, bình đẳng, tự do, ấm no, hạnh phúc của quần chúng nhân dân lao động không phải là mục tiêu mà họ hướng tới, không phải là bản chất chế độ mà họ muốn duy trì.

          Hai là, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

          Vẫn “quanh đi quẩn lại” với những “diễn giải” như, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ phù hợp với trình độ, lực lượng sản xuất phương Tây thế kỷ XIX; ở thế kỷ XXI, chủ nghĩa này đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua... từ đó, những thế lực chống phá, phản động luôn “to mồm” rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp với Việt Nam; việc du nhập chủ nghĩa này vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa vì đây là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc... Cùng với đó, họ không ngừng xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như cuộc đời và sự nghiệp của Người; bóp méo sự thật công cuộc đổi mới ở Việt Nam... Những “giọng điệu” đó đều không nằm ngoài mục đích: phủ định sự vận dụng sáng tạo tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam; phủ nhận nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng và nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng xã hội của dân, do dân và vì dân.

Để phản bác lại những “lập luận” nêu trên, chúng ta cần không ngừng nắm rõ, hiểu sâu, củng cố lại nhận thức:

          1) Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống các quan điểm và học thuyết khoa học do C.Mác và Ph.Ăng-ghen xây dựng, V.I.Lênin bảo vệ và phát triển, Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo, bổ sung trong điều kiện cụ thể một nước thuộc địa, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu; được hình thành và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn và kế thừa những giá trị tư tưởng của nhân loại; là thế giới quan phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người;

          2) Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra những quy luật kinh tế của xã hội, đặc biệt là những quy luật của quá trình ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất mới - phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa;

           3) Xây dựng CNXH ở Việt Nam là kết quả tất nhiên của sự vận dụng thế giới quan, phương pháp luận triết học, kinh tế chính trị Mác - Lênin, CNXH khoa học vào điều kiện cụ thể của Việt Nam;

          4) Trên cơ sở quan điểm “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin”, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng trong quá trình trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, cùng toàn dân xây dựng một xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

          Ba là, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Hết năm này qua năm khác, các phần tử, tổ chức phản động, thù địch vẫn không ngừng ra rả những luận điệu “rườm tai” như “Đảng Cộng sản chưa bao giờ chứng tỏ có khả năng quản trị đất nước”; “chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền, khiến xã hội không có tự do, dân chủ”; “từ bỏ độc quyền lãnh đạo là then chốt của chế độ dân chủ”... Đồng thời, họ dẫn những quan điểm “dân chủ”, “nhân quyền” tư sản để đồng nhất dân chủ với đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; đồng nhất nhân quyền với tuyệt đối hóa quyền của cá nhân...

          Một số phần tử bất mãn, cơ hội chính trị ở trong nước cũng thường “vào hùa” “ăn theo”, khi thì nhân danh “quyền công dân”, khi thì gắn mác “tâm nguyện vì nước vì dân” để đưa ra những “yêu sách” kiểu như: Đảng phải “thay đổi Cương lĩnh xây dựng đất nước”, phải “chuyển đổi thể chế chính trị”...

          Tất cả những “kiểu cách” nêu trên, dù được ngụy trang bằng những mỹ từ nào đi nữa, thì bản chất và mục đích vẫn là nhằm làm phân tâm, tạo hoài nghi trong xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong cán bộ đảng viên, để từ đó phủ nhận nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng, làm “nhiễu loạn” mọi hệ giá trị, tiến tới phủ nhận chế độ, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng.

          Do đó, việc nắm chắc những nội dung căn cốt về tư tưởng chính trị là “vũ khí” quan trọng nhất để mỗi chúng ta chiến thắng chính mình - vượt qua những mơ hồ, hoài nghi, dao động; đồng thời đấu tranh phản bác có hiệu quả với những giọng điệu “ngụy dân chủ”, “ngụy lý luận”.

          Về phương diện lý luận, vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền trong thời ký quá độ đi lên CNXH là một trong những nội dung quan trọng của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Nghiên cứu lịch sử đương đại, Mác và Ăng-ghen chỉ ra rằng, trong các xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, giai cấp nào giành được quyền lực nhà nước sẽ trở thành giai cấp thống trị và thực hiện vai trò lãnh đạo đối với xã hội. Kế thừa những di sản tư tưởng chính trị cơ bản đó, V.I.Lênin đã phát triển và có những luận điểm sâu sắc, trong đó khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho công cuộc xây dựng CNXH thành công. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong quá trình đi tìm “lời giải cho bài toán” cách mạng Việt Nam đã nhận thấy: cách mệnh trước hết phải có đảng cách mệnh...

          Về phương diện thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức và hoạt động chặt chẽ theo tư tưởng, nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Những kết quả đạt được trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hơn 35 năm qua là câu trả lời chính xác, khoa học nhất về vai trò lãnh của Đảng trên cơ sở kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin. Buông lỏng hoặc hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng là phạm sai lầm từ nguyên tắc, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, nguy cơ của mọi nguy cơ dẫn đến thủ tiêu sức mạnh của nhà nước và hệ thống chính trị, tạo điều kiện cho chủ nghĩa cơ hội trỗi dậy.

 

Tàu không số - những câu chuyện huyền thoại



Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày chiếc “Tàu Không số” đầu tiên rời bến, vận chuyển hàng hóa, vũ khí cho chiến trường miền Nam, nhưng những câu chuyện huyền thoại về lòng dũng cảm, mưu trí, về ý chí cách mạng của những người lính hải quân trên con đường Hồ Chí Minh trên biển vẫn có sức thu hút mãnh liệt.

NÚP BÓNG "TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN NGƯỜI LAO ĐỘNG" ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

     Lợi dụng quy định của pháp luật cho phép thành lập “tổ chức đại diện người lao động” tại doanh nghiệp không thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (TLĐLĐVN), thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu ráo riết tuyên truyền, lôi kéo công nhân, người lao động nhằm tập hợp, hình thành lực lượng chính trị đối lập dưới vỏ bọc các tổ chức “công đoàn độc lập” ở Việt Nam.

    Ngày 20/11/2019, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi), có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021, trong đó quy định cho phép thành lập “tổ chức đại diện người lao động” tại doanh nghiệp ngoài công đoàn, trên cơ sở phù hợp với các quy định quốc tế về lao động và tuân thủ các hiệp định thương mại tự do mới mà Việt Nam đã tham gia. Khoản 2, Điều 170 Bộ luật Lao động năm 2019 (sửa đổi) quy định: “Người lao động trong doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật”. Đây là một vấn đề mới, chưa từng có tiền lệ trong pháp luật lao động Việt Nam.
    Lợi dụng quy định này, các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu đang ra sức tuyên truyền, lôi kéo, kích động công nhân, người lao động trong các doanh nghiệp thành lập “tổ chức đại diện người lao động” nhằm biến tướng thành các tổ chức “công đoàn độc lập” tại Việt Nam; từng bước tập hợp lực lượng, xây dựng ngọn cờ, kích động biểu tình, đình công, đòi tự do, dân chủ… Âm mưu của chúng là nhằm hình thành lực lượng chính trị đối lập trong nội địa, tiến tới thực hiện “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” lật đổ Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ chính trị tại Việt Nam.
    Để thực hiện âm mưu trên, nhiều cá nhân, tổ chức nước ngoài đang tìm cách tác động, can thiệp, gây sức ép với Việt Nam trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động, nhất là Nghị định quy định về quy trình, thủ tục thành lập các tổ chức đại diện người lao động, hòng tạo tiền đề cho việc hình thành những đảng phái chính trị đối lập trong nước. Chúng công khai lộ trình gồm 4 giai đoạn: (1) Yêu cầu Việt Nam sớm ban hành Nghị định quy định về tổ chức đại diện người lao động; (2) từng bước tác động để người lao động thay đổi nhận thức và đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình thông qua tổ chức đại diện người lao động; (3) hình thành tổ chức “Công đoàn độc lập” để tạo ra sự cạnh tranh với Công đoàn Việt Nam; (4) khi đa nguyên công đoàn thì Việt Nam sẽ đa nguyên về chính trị. Mục tiêu trước mắt được chúng đặt ra là đến năm 2025 sẽ xuất hiện mô hình “Liên hiệp các tổ chức người lao động” tại Việt Nam để cạnh tranh trực tiếp với TLĐLĐVN, xóa bỏ vai trò “độc tôn” của TLĐLĐVN.
    Một số tổ chức “xã hội dân sự” nước ngoài đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền thành lập tổ chức độc lập với TLĐLĐVN tại các doanh nghiệp. Họ tìm cách gây sức ép, buộc các doanh nghiệp phải thực hiện một số chế độ, chính sách, quyền lợi ngoài quy định của doanh nghiệp và Bộ luật Lao động; yêu cầu cung cấp thông tin về người lao động, bảng lương; lấy lý do điều tra xã hội học phục vụ công tác nghiên cứu để tìm hiểu đời sống công nhân tại doanh nghiệp, chế độ, giờ giấc làm việc, việc đối xử của doanh nghiệp với công nhân…; lồng ghép điều khoản yêu cầu phía doanh nghiệp Việt Nam phải cam kết đồng ý thành lập ban tư vấn cải tiến doanh nghiệp (PICC) từ 8-16 người (một dạng tổ chức “công đoàn độc lập”). Các tổ chức khủng bố, phản động ráo riết đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền lôi kéo công nhân, người lao động thành lập các hội, nhóm, tổ chức bất hợp pháp trên lĩnh vực lao động, công đoàn tại các địa phương nhằm đón bắt thời cơ thành lập “Công đoàn độc lập” tại Việt Nam. Điển hình như tổ chức khủng bố Việt Tân công khai mưu đồ thành lập các “nghiệp đoàn độc lập” ở trong nước với 3 giai đoạn. Giai đoạn 1: Củng cố hoạt động “nhóm bạn công nhân” (được thành lập từ tháng 12/2019 trên không gian mạng với mục tiêu phát hiện, lôi kéo, kết nối số công nhân, người lao động có quan điểm chống đối đấu tranh đòi quyền lợi, làm lực lượng nòng cốt cho các “nghiệp đoàn độc lập”). Giai đoạn 2: âm mưu thành lập tổ chức phi chính phủ để thúc đẩy ra đời “nghiệp đoàn độc lập”. Giai đoạn 3: Công khai hóa tổ chức “nghiệp đoàn độc lập”. Tổ chức Lao động Việt (do Trần Ngọc Thành, Việt kiều Ba Lan làm chủ tịch) vận động tổ chức Công đoàn quốc tế công nhận là thành viên chính thức để công khai là tổ chức “công đoàn độc lập” tại Việt Nam; đồng thời kêu gọi, kích động các đối tượng ở trong nước móc nối, phát triển lực lượng trong công nhân để hình thành các hội, nhóm, “nghiệp đoàn độc lập” trong công nhân nhằm tiến hành hoạt động đình công, lãn công, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự.
    Trong khi đó, một số đối tượng phản động, phần tử xấu ở trong nước, nhất là số đối tượng cực đoan trong tôn giáo đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, thúc đẩy hình thành các tổ chức công đoàn, nghiệp đoàn trong tôn giáo theo kiểu “Công đoàn đoàn kết Ba Lan” tại Việt Nam, thành lập các “công đoàn độc lập” trong các cơ sở của tôn giáo (trường học, bệnh viện, công ty, xí nghiệp…); liên kết với đại diện Tổ chức Lao động quốc tế hỗ trợ thành lập các tổ chức “công đoàn độc lập” nhằm bảo vệ quyền lợi công nhân theo đạo làm việc tại các nhà máy, khu công nghiệp…
    Những hoạt động trên đã làm gia tăng nguy cơ xuất hiện các tổ chức “công đoàn độc lập”, “nghiệp đoàn độc lập” biến tướng ở Việt Nam. Đồng thời, cũng làm xuất hiện nguy cơ “đa nguyên công đoàn”, gây chia rẽ, phân hóa giai cấp công nhân, đe dọa trực tiếp đến vai trò lãnh đạo của Đảng.
    Thực tiễn lịch sử ở nhiều quốc gia đã cho chúng ta thấy nhiều bài học đắt giá về việc buông lỏng quản lý đối với các phong trào công nhân, đặc biệt khi nó được dẫn dắt bởi các tổ chức công đoàn độc lập với nhà nước. Phong trào công nhân tại Ba Lan được dẫn dắt bởi “Công đoàn đoàn kết Ba Lan” (tổ chức liên hiệp của các công đoàn độc lập trong xã hội Ba Lan) những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX đã dẫn đến sự mất vai trò lãnh đạo của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan và sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Ba Lan vào năm 1989. Tại Pháp, phong trào “áo vàng” bắt nguồn từ phong trào đình công, biểu tình của công nhân phản đối chính sách về thuế, nhất là chính sách về thuế nhiên liệu của Chính phủ Pháp kéo dài từ tháng 11/2018 đến tháng 9/2020 đã dẫn đến những hậu quả rất nặng nề khi các cuộc biểu tình, bạo loạn bùng phát trên diện rộng, sau đó lan sang các quốc gia lân cận như Hà Lan, Bỉ. Tại Campuchia, tổ chức công đoàn tự do đã lôi kéo, kích động hàng chục ngàn công nhân đình công, biểu tình phản đối chính sách của chính phủ, kêu gọi Thủ tướng Hun Sen từ chức…
    Có thể thấy rằng, ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, công đoàn là tổ chức rất phổ biến, ở đâu có tồn tại quan hệ lao động thì ở đó có công đoàn, không phân biệt thể chế chính trị, trình độ phát triển. Dù tên gọi, cách thức tổ chức và hoạt động của công đoàn ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ không hoàn toàn giống nhau, nhưng đều có điểm chung là đại diện cho quyền lợi của người lao động. Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam là bảo đảm quá trình hình thành và hoạt động của hệ thống các tổ chức đại diện người lao động lành mạnh, song hành cùng hệ thống Công đoàn Việt Nam, cùng thực hiện đồng bộ, thống nhất chức năng, nhiệm vụ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân, người lao động. Tính đến trước thời điểm làn sóng dịch COVID-19 lần thứ tư bùng phát, Việt Nam có khoảng 14 triệu lao động đang làm việc tại các loại hình doanh nghiệp, trong đó có hơn 10,5 triệu đoàn viên công đoàn, trong đó hiện vẫn còn hàng triệu công nhân, người lao động chưa quan tâm hoặc chưa tìm được tổ chức đại diện cho mình.
    Thời gian qua, bên cạnh những kết quả tích cực, hệ thống Công đoàn Việt Nam vẫn chưa thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích của công nhân, người lao động dẫn đến nhiều nơi tỉ lệ công nhân, người lao động tham gia công đoàn chưa cao. Đây sẽ là điều kiện mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng nhằm lôi kéo, kích động công nhân, người lao động thành lập các “tổ chức đại diện người lao động”, âm mưu tập hợp lực lượng, thúc đẩy sớm ra đời tổ chức “công đoàn độc lập”, “nghiệp đoàn độc lập” tại Việt Nam nhằm tạo dựng lực lượng chính trị đối lập, tiến tới thực hiện mưu đồ thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam. Bởi vậy, hơn lúc nào hết chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện và đấu tranh với thủ đoạn nguy hiểm này. Cần tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho công nhân, người lao động nắm rõ mục đích, ý nghĩa việc tham gia Công đoàn, đồng thời nhận diện âm mưu của kẻ xấu lợi dụng việc kêu gọi thành lập các tổ chức công đoàn độc lập, giúp công nhân tẩy chay, loại trừ./.

CHỨC TƯỚC CHỈ LÀ PHÙ VÂN

- Khi Ông ấy là ủy viên trung ương Đảng mà vẫn rụt rè gửi người bạn học hồ sơ xin việc cho con, dù bằng cấp, trình độ đào tạo của con mình hoàn toàn đầy đủ. Rồi ngay cả khi con không được tiếp nhận, Ông vẫn khiêm nhường cảm ơn, thậm chí cáo lỗi với người bạn được nhờ. - Khi Ông ấy là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội nhưng về thăm ngôi trường cấp 3 Nguyễn Gia Thiều, Ông vẫn xin được đứng sau khi chụp ảnh, nhường ghế ngồi hàng đầu cho các thầy cô, bạn học lớn tuổi hơn. - Khi Ông ấy là người đứng đầu Thủ đô vẫn lặng lẽ một mình đi xe máy về thăm Trường Đại học Tổng hợp trong sự ngỡ ngàng của cô thầy bè bạn. Không xe đưa rước, không trống rong cờ mở, không võng lọng nghênh ngang, chỉ là một người đàn ông cao tuổi tự đi xe về trường. - Khi Ông ấy là Chủ tịch Quốc hội, đám cưới con gái ông ấy hầu như không ai biết. Sau đó một số bạn bè thân lắm mới nhận được thiếp báo hỷ mà thôi. - Khi Ông ấy là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, đi dự gặp mặt lớp cũ ông ấy đã nói: Xin cho em, cho tôi bỏ mọi chức tước bên ngoài căn phòng này. Em đến đây mãi mãi là học trò của các thầy các cô ngày nào. Tôi đến đây mãi mãi là bạn học của các bạn... Chức tước như phù vân ! - Hôm vừa rồi có bạn đồng nghiệp nói với tôi về chị N, con ông ấy, tôi hỏi mãi mới ra, chị ấy giờ cũng chỉ là cán bộ bình thường ở một tạp chí. - Đấy chẳng phải đâu xa, Ông ấy là một vị quan đương chức đang hiển hiện trước mắt chúng ta. Một người đàn ông gần 80 tuổi có gương mặt hiền hòa, mái tóc trắng tinh thường mặc chiếc áo rét màu cánh gián đã cũ rất nhiều năm. - Các quan chức bây giờ hãy nhìn Ông ấy mà soi lại bản thân mình. Cảnh giới cao nhất của đạo làm quan không phải là lên xe xuống ngựa, trống giong cờ mở, kính gửi kính thưa, một vâng hai dạ... mà chính là xóa nhòa khoảng cách với nhân dân. Nghĩ cho cùng núi cao phải có đất bồi, núi chê đất thấp núi ngồi ở đâu ? - Ông ấy chính là một "vị quan" biết con đường để tu dưỡng của mình, vì đạo đức của ông quan ảnh hưởng lên cuộc đời của nhiều người. Và Ông chính là một trong những vị học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại !St