Thứ Hai, 4 tháng 10, 2021

Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc

 


Từ thực tiễn Việt nam và thé giới, Chỉ thị Số 12-CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta chỉ rõ: “Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc”

Quyền con người xét về bản chất là đặc quyền vốn có của con người. Đó là quyền tự nhiên, gắn với con người và chỉ có con người. Nói cách khác, đay là dấu hiệu đặc trưng phân biệt con người với các loài vật khác. Các quyền này biểu hiện dưới dạng những nhu cầu, do chính phẩm giá con người quy định. Nhưng để trở thành quyền, những nhu cầu ấy cần phải được pháp luật ghi nhạn và bảo vệ.

Pháp luật luôn bị chi phối bởi các chế độ chính trị cụ thể. Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, quyền lợi các giai cấp luôn xung đột nhau. Vì thế chính sách pháp luật trước hết nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Khi pháp luật thừa nhận quyền của giai cấp thống trị đồng thời hnj chế quyền của giai cấp bị trị, không thể có quyền ngang nhau cho mọi giai cấp.

Trong phạm vi quốc gia, quan điểm giai cấp thể hiện ở các chính sách bảo vệ hệ thống chính trị, chế độ xã hội hiện hữu, bảo vệ lợi ích của giai cấp càm quyền, của các giai cấp, tầng lớp xã hội đã từng đáu tranh bảo vệ xã hội đó. Mặt khác để duy trì sự thống trị, bất cư nhà nước nào cũng buộc phải thừa nhận một số quyền cơ bản của gia cấp đối kháng. Nhờ đó quyền con người vẫn có bước phát triển nhát định trong xã hội có đối kháng giai cấp sau sắc.

Trên phạm vi quốc teestinhs giai cấp của khía niệm quyền con người được thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng tiến bộ vơi các lực lượng phản động, phản tiến bộ, từ việc xây dựng các văn kiện quyền con người đén việc thực thi quyền con người. Trong thế kỷ XX, tính giai cấp của khái niệm quyền con người được biểu hiện bằng cuộc đấu tranh về ý thức hệ giữa hệ thống tư bản chủ nghĩa với hệ thống XHCN. Ngày nay cuộc đấu tranh này biểu hiện dưới hình thức thúc đẩy chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ thông qua các cuộc “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu”… của các thế lực phản động với cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, chống bạo loạn lật đổ của các nước đi theo con đường XHCN và độc lập dân tộc.

Như vậy cũng như pháp luạt, các quy định về quyền con người gắn liền với mỗi nhà nước cụ thể, thuộc thượng tầng kiến trúc và luôn bị quyết định bởi cơ sở kinh tế, xã hội. Quyền con người về bản chất không có tính gia cấp, nhưng trong xã hội có gia cấp đối kháng, khái niệm quyền con người được hiểu theo góc nhìn hay “lăng kính” hệ tư tưởng của mỗi giai cấp cụ thể. Chỉ thị số 41/CT-ttg ngày 2/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ về”tăng cường công tác bảo vệ, đấu tranh về nhân quyền trong tình hình mới” đã chỉ rõ “Các thế lực phản động thù nghịch thực chất không quan tâm tới quyền dân chủ của nhân dân ta mà chỉ lợi dụng vấn đề dan chủ, nhân quyền để can thiệp công việc nội bộ chống phá đất nước ta, do đó cuộc đấu tranh trên vấn đề nhân quyền là cuộc đấu tranh mang tính giai cấp sâu sắc sẽ diễn ra liên tục lâu dài và quyết liệt”

Tuy nhiên trong khi nhận rõ tính chat giai cấp của khái niệm quyền con người, cũng cần tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vấn đề giai cấp trong giải quyết các vấn đề cụ thể về quyền con người. Vì điều này dễ dãn tới cực đoan, làm cản trở sự hợp tác, tăng đối đầu trên lĩnh vực quyền con người.

Trong xã hội Việt Nam, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động gắn lienf với quyền lợi của đất nước, dân tộc; tính giai cấp của khía niệm quyền con người thống nhất với tính nhân loại, tính phổ biến của quyền con người. Nói một cách cụ thể, trong xã hội Việt Nam. Quyền con người của tất cả mọi người đều được tôn trọng và bảo đảm, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét