Từ thực tiễn Việt
nam và thé giới, Chỉ thị Số 12-CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta chỉ rõ:
“Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con người mang
tính giai cấp sâu sắc”
Quyền con người xét
về bản chất là đặc quyền vốn có của con người. Đó là quyền tự nhiên, gắn với
con người và chỉ có con người. Nói cách khác, đay là dấu hiệu đặc trưng phân
biệt con người với các loài vật khác. Các quyền này biểu hiện dưới dạng những
nhu cầu, do chính phẩm giá con người quy định. Nhưng để trở thành quyền, những
nhu cầu ấy cần phải được pháp luật ghi nhạn và bảo vệ.
Pháp luật luôn bị
chi phối bởi các chế độ chính trị cụ thể. Trong xã hội có phân chia giai cấp
đối kháng, quyền lợi các giai cấp luôn xung đột nhau. Vì thế chính sách pháp
luật trước hết nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Khi pháp luật
thừa nhận quyền của giai cấp thống trị đồng thời hnj chế quyền của giai cấp bị
trị, không thể có quyền ngang nhau cho mọi giai cấp.
Trong phạm vi quốc
gia, quan điểm giai cấp thể hiện ở các chính sách bảo vệ hệ thống chính trị,
chế độ xã hội hiện hữu, bảo vệ lợi ích của giai cấp càm quyền, của các giai
cấp, tầng lớp xã hội đã từng đáu tranh bảo vệ xã hội đó. Mặt khác để duy trì sự
thống trị, bất cư nhà nước nào cũng buộc phải thừa nhận một số quyền cơ bản
của gia cấp đối kháng. Nhờ đó quyền con người vẫn có bước phát triển nhát định
trong xã hội có đối kháng giai cấp sau sắc.
Trên phạm vi quốc
teestinhs giai cấp của khía niệm quyền con người được thể hiện trong cuộc đấu
tranh giữa lực lượng cách mạng tiến bộ vơi các lực lượng phản động, phản tiến
bộ, từ việc xây dựng các văn kiện quyền con người đén việc thực thi quyền con
người. Trong thế kỷ XX, tính giai cấp của khái niệm quyền con người được biểu
hiện bằng cuộc đấu tranh về ý thức hệ giữa hệ thống tư bản chủ nghĩa với hệ
thống XHCN. Ngày nay cuộc đấu tranh này biểu hiện dưới hình thức thúc đẩy chiến
lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ thông qua các cuộc “cách mạng
đường phố”, “cách mạng màu”… của các thế lực phản động với cuộc đấu tranh chống
“diễn biến hòa bình”, chống bạo loạn lật đổ của các nước đi theo con đường XHCN
và độc lập dân tộc.
Như vậy cũng như
pháp luạt, các quy định về quyền con người gắn liền với mỗi nhà nước cụ thể,
thuộc thượng tầng kiến trúc và luôn bị quyết định bởi cơ sở kinh tế, xã hội.
Quyền con người về bản chất không có tính gia cấp, nhưng trong xã hội có gia
cấp đối kháng, khái niệm quyền con người được hiểu theo góc nhìn hay “lăng
kính” hệ tư tưởng của mỗi giai cấp cụ thể. Chỉ thị số 41/CT-ttg ngày 2/12/2004
của Thủ tướng Chính phủ về”tăng cường công tác bảo vệ, đấu tranh về nhân quyền
trong tình hình mới” đã chỉ rõ “Các thế lực phản động thù nghịch thực chất
không quan tâm tới quyền dân chủ của nhân dân ta mà chỉ lợi dụng vấn đề dan
chủ, nhân quyền để can thiệp công việc nội bộ chống phá đất nước ta, do đó cuộc
đấu tranh trên vấn đề nhân quyền là cuộc đấu tranh mang tính giai cấp sâu sắc sẽ
diễn ra liên tục lâu dài và quyết liệt”
Tuy nhiên trong khi
nhận rõ tính chat giai cấp của khái niệm quyền con người, cũng cần tránh khuynh
hướng tuyệt đối hóa vấn đề giai cấp trong giải quyết các vấn đề cụ thể về
quyền con người. Vì điều này dễ dãn tới cực đoan, làm cản trở sự hợp tác, tăng
đối đầu trên lĩnh vực quyền con người.
Trong xã hội Việt
Nam, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động gắn lienf với quyền
lợi của đất nước, dân tộc; tính giai cấp của khía niệm quyền con người thống
nhất với tính nhân loại, tính phổ biến của quyền con người. Nói một cách cụ
thể, trong xã hội Việt Nam. Quyền con người của tất cả mọi người đều được tôn
trọng và bảo đảm, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét