Thứ Tư, 27 tháng 10, 2021

Phương pháp tiếp cận vấn đề thời đại

 


Trong lịch sử đã có nhiều nhà tư tưởng bàn đến vấn đề thời đại. Tuy nhiên, do cách tiếp cận khác nhau, việc phân chia thời đại dựa vào các tiêu chí khác nhau dẫn đến quan điểm về thời đại cũng khác nhau.

- Nhà xã hội học Vicô người Italia (1668-1744) phân chia thời đại như phân chia các giai đoạn của một vòng đời: Thơ ấu, thanh niên, thành niên và cuối cùng là tuổi già

- Heghen phân chia lịch sử nhân loại thành 3 thời kỳ: Thời kỳ phương Đông, cổ đại, giecmani.

- Phurie chia lịch sử nhân loại thành 4 giai đoạn: Mông muội, dã man, gia trưởng, văn minh

- Moocgăng Người Mỹ lại chia thành 3 thời đại: Thời đại Mông muội, dã man, văn minh

- Lấy công cụ sản xuất làm tiêu chí phân chia lịch sử thành các thời kỳ: đồ đá, đồ đồng, thời đại cối xay gió, thời đại máy hơi nước, kỷ nguyên hạt nhân.

- Tiếp cận thời đại theo nền văn minh Anvin Toffler trong tác phẩm “làn sóng thứ ba” đã chia lịch sử nhân loại thành 3 nền văn minh: nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp.

- Tiếp cận theo dân tộc,  quốc gia -  dân tộc

Đây là cách tiếp cận lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm bản vị. Cách tiếp cận này đã căn cứ vào sự đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia dân tộc đang diễn ra phổ biến trên thế giới hiện nay để khẳng định: thời đại ngày nay là thời đại của lợi ích quốc gia dân tộc.

- Tiếp cận theo hình thái kinh tế - xã hội

Tiếp cận thời đại theo hình thái kinh tế - xã hội là phương pháp tiếp cận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã vạch ra cơ sở khách quan khoa học để xem xét phân chia thời đại, đó là: “Trong mọi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra, - cả hai cái đó cấu thành cơ sở lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”[1].

+ Lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã đưa ra tiêu chí tổng hợp để xem xét thời đại gồm: LLSX, QHSX, CSHT và KTTT, tức toàn bộ các yếu tố cấu thành nội dung của thời đại từ kinh tế, chính trị, xã hội đến văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Hơn nữa, lý luận hình thái kinh tế - xã hội còn chỉ rõ đối với xã hội có giai cấp, giai cấp nào là giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của một thời đại, là động lực xã hội chủ yếu chi phối sự vận động của thời đại đó.

+ Với cách tiếp cận trên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân kỳ lịch sử xã hội loài người đến thế kỷ XIX thành 4 hình thái kinh tế - xã hội là: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và rút ra kết luận hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa tất yếu sẽ ra đời, nhân loại sẽ bước sang thời đại mới - thời đại cộng sản chủ nghĩa.

Phương pháp tiếp cận vấn đề thời đại theo hình thái kinh tế - xã hội là cách tiếp cận khoa học, vì nó xuất phát từ những cơ sở vật chất khách quan.  

=> Song cần lưu ý thời đại và hình thái kinh tế - xã hội là 2 khái niệm khác nhau, chúng có quan hệ chặt chẽ, nhưng không đồng nhất. Đó là: hình thái kinh tế - xã hội là nội dung cấu thành thời đại; còn thời đại là thời kỳ hình thành, phát triển và bắt đầu ngự trị của một hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ nhất trong khi vẫn còn sự tồn tại của các hình thái kinh tế - xã hội thấp hơn. Hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ nhất chính là đặc trưng cho tính chất và xu hướng phát triển của một thời đại.

=> Đảng ta thống nhất với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về phương pháp tiếp cận thời đại theo hình thái kinh tế - xã hội, bởi đó là cách tiếp cận khoa học để hiểu thực chất thời đại trên các mặt cơ bản của đời sống xã hội. Tuy nhiên Đảng ta không tuyệt đối hóa phương pháp tiếp cận thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà có sự kế thừa, tiếp thu những yếu tố hợp lý từ các cách tiếp cận khác để nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện hơn vấn đề thời đại nói chung, thời đại ngày nay nói riêng.



[1] C .Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 21, tr.11.

 

ĐỂ "THANH BẢO KIẾM" NGÀY CÀNG SẮC BÉN!

Thời gian gần đây, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng chủ trương tập trung sức lãnh đạo, chỉ đạo, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, rơi vào suy thoái, biến chất, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng.

Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tồn đọng, phức tạp kéo dài đã lần lượt được đưa ra ánh sáng và xử lý đúng người, đúng tội. Hàng loạt cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước như bí thư, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố, bộ trưởng, thứ trưởng, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang, đến Ủy viên Bộ Chính trị vi phạm nghiêm trọng kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước đã bị xử lý nghiêm minh. Ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực, việc thi hành kỷ luật cán bộ được tiến hành công khai, đúng pháp luật; không còn “trên nóng, dưới lạnh”, “vùng cấm, ngoại lệ”; với quyết tâm chính trị làm trong sạch Đảng thì việc kỷ luật một số cán bộ, đảng viên cũng như “chặt cành để cứu cây”, giúp  nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trước yêu cầu mới. Cũng qua đó, thực hành kỷ luật Đảng đã giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành.

Đặc biệt, đối với Quân đội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương để "Thanh bảo kiếm" bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân sẽ ngày càng sắc bén!

Quá độ dân số ở Việt Nam

 


- Quy mô dân số ở Việt Nam đã tăng liên tục từ khoảng hơn 30 triệu lên 96 triệu từ năm 1960 – 2019. Hiện nay dân số Việt nam là 96.208.984 người (Nam: 47.881016; Nữ: 48.327.932, Đứng thứ 3 khu vực sau Inđônễia, PhiLípphin, đứng thứ 15 thế giới. Mật độ dân số là 290 người/km2, tăng 31người/km2 so với năm 2009 (Philippin 363người/km2; Xinh ga po 8.292 người/km2 (việt Nam đứng thức 3 khu vực đông nam á). Đồng bằng sông Hồng: 1.060 người/km2; Đông Nam Bộ:757 người/km2; Trung Du và Miền núi Băc Bộ: 132 người/km2; Tây Nguyên 107 người/km2

- Tốc độ tăng quy mô dân số ở nước ta có xu hướng chậm dần do mức sinh giảm liên tục trong giai đoạn 1960-2005

Số con trung bình của một phụ nữ giảm từ khoảng 7 con/1960, xuống còn 2.1 con (mức sinh thay thế) vào năm 2005.

Tổng hộ dân cư 26.870.079 tăng 4,4 triệu hộ so với năm 2009. Bình quân mỗi hộ có 3,6 người thấp hớn 0,2 người/hộ so với năm 2009. Tỷ lệ tăng bình quân số hộ dân là 1,8%/năm, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với gia đoạn 1999-2009 (là giai đoạn có số hộ dân cư thấp nhất trong vòng 40 năm qua)

Mức sinh thay thế là mức sinh mà một đoàn hệ phụ nữ trung bình có vừa đủ số con gái để “thay thế” họ trong quá  trình tái sinh sản dân số; tương ứng với tổng tỷ xuất sinh TFR)/ trên số con trung bình là 2,10 con/phụ nữ

-Quá độ dân số ở Việt Nam bắt đầu vào từ khoảng cuối những năm 1950 và kéo dài cho đến năn 2005

-Từ năm 2005 đến nay, mức sinh biến động không đáng kể và dao động quoanh mức sinh thay thế

Con số trung bình của phụ nữ ở Việt Nam giai đoạn 2005-2019

 

2005

2007

2008

2009

2010

2012

2013

2016

2017

2019

2,11

2,09

2,07

2,03

2,00

1,99

2,05

2,10

2,09

2,09

 

Phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

 Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, thông qua các phương tiện truyền thông, các thế lực phản động thiếu thiện chí, thù địch, bất mãn, cơ hội chính trị đã tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng, qua đó hạ thấp vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với chế độ.

Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị đẩy mạnh thực hiện, ngày càng quyết liệt ở tất cả các cấp, các ngành với quan điểm “không có vùng cấm”, “không có hạ cánh an toàn” và đã đạt được những kết quả rõ rệt; được người dân đồng tình, ủng hộ; các tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Mặc dù vậy, kết quả đấu tranh chống tham nhũng cũng là chủ đề mà các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị lợi dụng để công kích, xuyên tạc, bôi nhọ nhằm thực hiện các mưu đồ “diễn biến hòa bình”. Chúng đưa ra những luận điệu xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, như: Tham nhũng là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong một thể chế mà không có tư pháp độc lập, toà án xử theo lệnh của Đảng không thể chống được tham nhũng. Hoặc bản thân bộ máy đẻ ra tham nhũng, cái lò này đẻ ra tham nhũng thì phải vứt cái lò đẻ ra tham nhũng này đi, chứ không phải đốt những kẻ tham nhũng; bởi không bao giờ đốt hết được cả.

Luận điệu cho rằng “tham nhũng là sản phẩm của chế độ, thể chế chính trị ở Việt Nam” là một sự quy chụp, xuyên tạc, vô căn cứ. Nhà nước pháp quyền XHCN là thống nhất, trong đó, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp được phân cấp, phân quyền với chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Tòa án xét xử dựa trên hành vi, chứng cứ phạm tội, chứ không phải “xét xử theo lệnh của Đảng” như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Thực chất luận điệu xuyên tạc này nhằm tuyên truyền, cổ xúy cho nhà nước tam quyền phân lập.

Việc Đảng lãnh đạo hoạt động kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay là tất yếu, khách quan, dựa trên cơ sở lý luận, thực tiễn rõ ràng và đầy đủ. Bởi lẽ, việc không kiểm soát được quyền lực sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, sự “tha hóa quyền lực” và sự lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ thường đi liền với tham nhũng. Nếu không có giải pháp kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và đấu tranh tranh phòng, chống tham nhũng hữu hiệu thì hệ quả sẽ hết sức nghiêm trọng, sẽ tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức yếu kém, làm mục ruỗng hệ thống chính trị, thậm chí đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Công tác phòng, chống tham nhũng không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”, không có “đặc quyền” đối với bất kỳ ai. Với quan điểm rõ ràng, cụ thể đó, luận điệu: “Phòng chống tham nhũng đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực”; “Đảng không thể đấu tranh phòng, chống tham nhũng”... là hoàn toàn sai lầm và vô căn cứ. Việc xử lý cán bộ, công chức, đảng viên tham nhũng, vi phạm pháp luật là hết sức cần thiết, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Phương châm phòng, chống tham nhũng mà Đảng ta đề ra là: Phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa, chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng, hay bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng. Trên cơ sở đó, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng; tạo bước chuyển biến rõ rệt nhằm giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn cất lên những tiếng nói lạc lõng, cố tình xuyên tạc, bóp méo, làm sai lệch vấn đề, định hướng dư luận với mục đích xấu. Do đó, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần nhận diện đúng những âm mưu, thủ đoạn tinh vi đó, giữ vững quyết tâm cao trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay. Mỗi tổ chức, cá nhân phải nhận thức phòng, chống tham nhũng là cuộc chiến chống “giặc nội xâm”, kiên quyết phòng, chống với tinh thần thẳng thắng, quyết liệt. Phòng chống tham nhũng bằng cả cơ chế, chính sách và hệ thống kiểm soát quyền lực... Có như vậy, tham nhũng, lợi ích nhóm mới bị đẩy lùi và không còn cơ hội để tồn tại. Đồng thời, phải luôn tỉnh táo trước các âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này.

 

Nhận thức về thời đại có tác dụng gì

 


 Về mặt lý luận

V.I. Lênin đã từng chỉ rõ và nhấn mạnh rằng chỉ trên cơ sở hiểu đúng thời đại, “chúng ta mới có thể định ra đúng đắn sách lược của chúng ta; và chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước nọ”[1]               

Như vậy, theo V.I. Lênin, việc nhận thức đúng thời đại mang ý nghĩa trọng đại ở tầm chiến lược đối với con người, nhất là đối với những người cách mạng, bởi lẽ:

Thứ nhất, hiểu đúng thời đại, tức là nắm bắt được bản chất, quy luật, xu hướng vận động phát triển tất yếu của thời đại - đó là cơ sở khoa học, là điều kiện tiên quyết để những người cách mạng định ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn trong cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ trật tự xã hội cũ lỗi thời lạc hậu, xây dựng một xã hội mới tiến bộ hơn.

Thứ hai, hiểu đúng thời đại, nắm bắt được quy luật chung, đặc điểm chung, cơ bản của thời đại còn là cơ sở để những người cách mạng tiến hành vận dụng sáng tạo quy luật chung vào đặc thù của một nước cụ thể, tức là “cá biệt hóa” cái chung vào cái riêng phù hợp với “những đặc điểm chi tiết” của từng nước, tránh được sự giáo điều kinh viện.

Bởi lẽ, lịch sử của nhân loại đã khẳng định không thể có mô hình phát triển chung cho mọi quốc gia dân tộc, vì sự phát triển của mỗi nước, ngoài bị chi phối bởi quy luật chung, còn chịu sự quy định của các quy luật đặc thù và đặc điểm truyền thống văn hóa riêng của từng quốc gia dân tộc cụ thể.

Qua đây cho thấy “Sự nhận thức sai lệch về thời đại chắc chắn đưa lại những tổn thất cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho sự nghiệp giải phóng của các dân tộc và sự nghiệp giải phóng con người”[2].

 Về mặt thực tiễn

Thực tiễn trên bình diện quốc tế hiện nay đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề bức thiết, có liên quan trực tiếp đến sự cần thiết phải nhận thức thời đại ngày nay, nổi lên là 3 vấn đề lớn sau đây:

Một là, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội đang tạm thời lâm vào thoái trào, trong khi đó chủ nghĩa tư bản vẫn còn khả năng điều chỉnh, thích nghi để phát triển. Chủ nghĩa xã hội không còn tồn tại với tư cách là một hệ thống thế giới như trước đây mà chỉ còn lại một số nước như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba...

Trước thực tế này, đã có không ít người, thậm chí có cả người cách mạng cũng tỏ ra hoang mang, dao động, dẫn đến từ bỏ mục tiêu lý tưởng; còn kẻ thù của chủ nghĩa xã hội thì lớn tiếng cho rằng thời đại ngày nay vẫn là thời đại của chủ nghĩa tư bản!

Hai là, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đưa loài người bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của sự phát triển xã hội dựa trên cơ sở nền kinh tế tri thức

Từ sự biến đổi này, đã xuất hiện quan điểm cho thời đại ngày nay không phải là thời đại của chủ nghĩa tư bản và cũng không phải là thời đại của chủ nghĩa xã hội, mà là thời đại “hậu công nghiệp”, thời đại “văn minh tin học”, “văn minh trí tuệ”...

Ba là, vấn đề giai cấp và dân tộc, nhất là lợi ích quốc gia dân tộc đang nổi lên và diễn ra hết sức phức tạp. Các nước đã và đang thực hiện ưu tiên đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên hàng đầu trong xử lý các quan hệ quốc tế.

=> Căn cứ vào đặc điểm này, nhiều người đã cho rằng thời đại ngày nay là thời đại của quốc gia dân tộc chứ không còn là thời đại quốc tế vô sản.

Với những biến đổi nhanh chóng và phức tạp trên của đời sống quốc tế, để nhận thức đúng bản chất của thời đại ngày nay, đòi hỏi chúng ta phải có cách tiếp cận khoa học về thời đại.



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, NXB. Tiến bộ, Matxcowva, 1980, tập 26, tr. 174.

[2] .Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại hiện nay, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.124.

 

NỮ CHIẾN SỸ GIẢI PHÓNG CANH GIỮ TÙ BINH NGỤY QUÂN TRONG CHIẾN DỊCH LAM SƠN 719( MẶT TRẬN ĐƯỜNG 9- NAM LÀO 1971)

 

Sau 45 ngày chiến đấu, Quân Giải phóng tuyên bố diệt 2 lữ đoàn (Lữ đoàn dù 3 và Lữ 147 thủy quân lục chiến), 1 trung đoàn bộ binh (Trung đoàn 1, Sư đoàn 1) và 5 tiểu đoàn (Tiểu đoàn 39 biệt động quân, Tiểu đoàn 8 - Lữ 1 Dù, Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 3, Tiểu đoàn 2 và 4 của Trung đoàn 2 - Sư đoàn 1), 4 thiết đoàn (4, 7, 11 và 17), 8 tiểu đoàn pháo (3 tiểu đoàn pháo của Sư đoàn 1, 2 tiểu đoàn pháo của Dù, 1 tiểu đoàn pháo của lữ 147, 1 tiểu đoàn pháo của biệt động quân và 1 tiểu đoàn pháo của lữ kỵ binh không vận). Đánh thiệt hại nặng Sư đoàn Dù, Sư đoàn 1 bộ binh, Sư đoàn thủy quân lục chiến. Bắt sống 1.142 tù binh, lần đầu bắt sống toàn bộ chỉ huy của một lữ đoàn đối phương.

Một tướng Mỹ nhận xét: "Chiến dịch Lam Sơn đã phá hủy mất phần tinh nhuệ nhất của QLVNCH và trở nên nghiêm trọng, bất lợi hơn nhiều so với điều mà người ta tưởng lúc đó. Việc điều khiển chiến dịch của chúng ta rất tồi. Toàn bộ vai trò và chỉ đạo yểm trợ của Mỹ không hoàn tất được vì sự quan liêu của Lầu Năm góc... Đây là một thử thách thực sự của chương trình "Việt Nam hóa". Lầu Năm góc đã từ chối không để người Mỹ tham gia vào chiến dịch. Sự yểm trợ mà Nam Việt Nam đã quá quen thuộc và đang mong đợi được tiếp tục, đến đây đã bị cắt đứt...".

Tướng Nguyễn Cao Kỳ đánh giá: Đem một đội quân quen "lệ thuộc phần lớn vào quân đội khác về chỉ huy, về vũ khí và ngay cả chiến lược "để nhào nặn thành" mới" và tách ra độc lập tác chiến như kiểu Lam Sơn 719 rất khó mà địch nổi đối phương"


Quá độ dân số trong quá trình hiện đại hóa

 

 

- Hiện đại hóa là thời kỳ quá độ các xã hội nông nghiệp chuyển đổi lên các xã hội công nghiệp

- Hiện đại hóa tác động đến dân số qua 2 giai đoạn

Giai đoạn đầu của hiện đại hóa: cách mạng CN chỉ tác động làm tăng nhanh quy mô dân số trong giai đoạn đầu của nó khi có tác động làm cho mức chết giảm xuống nhanh chóng)

+ Trong xã hội nông nghiệp truyền thống, khi năng xuất lao động thấp và trình độ khoa học chưa phát triển cả mức sinh và mức chết đều rất cao

+ Khi xã hội bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước hết làm mức chết giảm, trong khi đó, mức sinh vẫn ở mức cao, nên đã dẫn tới bủng nổ dân số, làm tăng nhanh quy mô dân số

Mức chết giảm là do:

>Xã hội bước vào quá trình CNH-HĐH năng xuất lao động trong sản xuất nông nghiệp được nâng cao nhờ áp dụng KHKT; sản lượng lương thực tăng lên đã cơ bản đẩy lùi các nạn đói và cải thiện chế độ dinh dưỡng, góp phần  giảm tỷ lệ tử vong

>Với các thành tựu y học (thuốc kháng sinh, vắc xin tiêm chủng) giảm nmạnh tỷ lệ tử vong của các nhóm dân số đặc biệt là trẻ em

Giai đoạn tiếp theo của hiện đại hóa: Sau khi mức chết đã giảm mạnh, mức sinh cũng có xu hướng giảm theo tương tự.

Nguyên nhân: (giảm con số trung bình trên 1 bà mẹ:

>Phổ cập giáo dục là bắt buộc trong xã hội hiện đại

> Đi học làm tăng độ tuổi kết hôn của thế hệ cha mẹ

> Con cái đi học làm tăng chi phí tài chính của cha mẹ, không hỗ trợ cha mẹ tăng thu nhập

> Việc sinh nhiều con không có lợi về mặt kinh tế

> Các yếu tố xã hội khác: di dân, mong muốn và khẳ năng tìm kiếm việc làm ổn định dẫn đến tuổi kết hôn, tuổi sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh đều tăng lên, dó đó có tác động làm mức sinh giảm mạnh

- Bản chất của quá độ dân số là khi các xã hội chuyển từ thời kỳ có cả mức sinh và mức chết đều cao sang thời kỳ mức sinh và mức chết đều thấp

+ Ở hầu hết các nước đang phát triển trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, đã thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình nhằm thúc đẩy giảm mức sinh nhanh hơn, bởi vì mức sinh tương đối cao trong thời kỳ đó đã cản trở nghiêm trọng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội ở các quốc gia này. Hàn Quốc và Sinh ga po là những quốc gia đã sớm thực hiện thành công chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình (đạt mức sinh thay thế trong những năm đầu của thập niên 1980. Đây là một yếu tố quan trọng góp phần đưa hai nước này trở thành những con Rồng (kinh tế) của Châu Á từ những năm 1980

 

100 NĂM NGÀY SINH THƯỢNG TƯỚNG, GS, NGND HOÀNG MINH THẢO.

 

100 năm Thầy giáo già.

Tướng Hoàng Minh Thảo xông pha chiến trường.

Người Thầy sáng mãi tấm gương.

Từ chiến trường đến giảng đường lưu danh.

 

Trở tay chuyển bại sang thành.

Đều nhờ mưu, kế mới giành thế trên.

Hoàng Minh Thảo - mãi gọi tên.

Ngàn năm hậu thế không quên ơn Thầy.

 


Quan niệm về thời đại

 


Thời đại là một khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sử xã hội, phân biệt những nấc thang phát triển của xã hội loài người.[1]

 Thời đại, được tiếp cận ở đây là từ góc độ triết học - chính trị - xã hội, nghĩa là đi từ điểm xuất phát con người làm nên lịch sử và tổ chức nên đời sống xã hội của mình; lịch sử nhân loại là một quá trình phát triển hết sức lâu dài, quanh co, phức tạp bắt đầu từ mông muội, dã man tới văn minh, hiện đại như ngày nay. Bằng tư duy lý luận, con người có thể nhận thức được quá trình lịch sử của mình.

Để làm rõ sự khác nhau của những nấc thang xã hội, cần chỉ rõ: Nền tảng vật chất, bản chất, bộ mặt và quy luật vận động phát triển của chế độ chính trị - xã hội.

 Thời đại, thực chất là sự phân kỳ, chia các nấc thang lịch sử xã hội loài người. Theo V.I. Lênin, thời đại còn là thời kỳ, giai đoạn lịch sử; từ đó có thể tiến hành phân chia thời đại lớn thành các thời đại nhỏ, thành các thời kỳ, giai đoạn cụ thể trong đó. Chẳng hạn, có thể phân chia thời đại tư bản chủ nghĩa thành các giai đoạn: tư bản tự do cạnh tranh, tư bản độc quyền và tư bản hiện đại ngày nay.

- Sự phân chia lịch sử thành các thời đại khác nhau, không phải một cách chủ quan, tùy tiện theo ý muốn của con người mà là dựa trên những dấu hiệu, những đặc điểm bản chất của nó, nghĩa là phải dựa trên những tiêu chuẩn (tiêu chí) khách quan, khoa học để phân chia. Qua đó có thể phân biệt được sự khác nhau về chất của các thời đại, các nấc thang lịch sử khác nhau.



[1]  Hội đông Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2010, tr. 200.

CẦN NHẬN THỨC sÂU SẮC VỀ THỜI ĐẠI NGÀY NAY

 


Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới với đầy biến động, phức tạp và diễn biến nhanh chóng, khó lường đã phản ánh vào ý thức tư tưởng con người, dẫn đến sự hình thành các quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về thời đại ngày nay. Vì vậy, việc nhận thức đúng bản chất, xu hướng vận động, phát triển tất yếu của thời đại là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược không chỉ đối với chúng ta, mà còn đối với mọi quốc gia, dân tộc trong việc lựa chọn con đường phát triển sao cho phù hợp với xu thế khách quan của thời đại.

Nhận thức sâu sắc về thời đại ngày nay góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ tư duy, năng lực vận dụng vào giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở tầm chiến dịch, chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở thời kỳ cách mạng mới.

 

 

 

10 CÁI NGU ĐIỂN HÌNH CỦA BỌN CHỐNG PHÁ

 

1. Cái ngu kinh điển nhất: Xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Bác Hồ, trong khi cả thế giới và cả kẻ thù đều kính trọng và ca ngợi Người.

2. Cái ngu kinh tởm: Gân cổ, chày cối cho rằng chiến tranh Việt Nam là "Nội chiến" trong khi lờ đi việc lúc cao điểm có tới nửa triệu lính Mỹ ở Việt Nam, 58 ngàn lính Mỹ chết ở Việt Nam, Bom pháo Mỹ tống vào thành cổ Quảng Trị thôi đã bằng 6 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima. Bị đánh tơi bời mới "Việt Nam hoá chiến tranh"..

3. Cái ngu đáng phỉ nhổ: Việt Nam Cộng Hòa là tay sai do Mỹ dựng lên, đã khước từ nguyện vọng thống nhất của nhân dân, đàn áp giết hại bao nhiêu đồng bào, nhưng các nhà "dân chủ" cho rằng đó là 1 nhà nước "đầy ắp dân chủ, căng tràn tự do"...

 

4. Cái ngu tệ hại: Phủ nhận sạch trơn mọi công lao của Đảng Cộng sản Việt Nam.

5. Cái ngu đáng.kinh ngạc: Nguỵ tạo chứng cớ, bịa đặt để xuyên tạc. Từ Văn bản "chặn Facebook" đến clip "đảo chính ở Việt Nam", rồi thì suốt ngày dùng ..tiết lợn bôi lên người để la lối "công an đánh"...!!!

6. Cái ngu..Phi phàm: Cứ ai chửi đảng, chửi nhà nước một câu thì suy tôn ngay thành "anh hùng", "nữ hào kiệt, thành "người con của sông núi", thành "nhân sỹ" bất kể đó là thành phần bệnh hoạn như Lý Tống hay giang hồ như Chí Đức, máu trên máu dưới như Bùi Hằng. Thậm Chí là những kẻ giết người như Đặng Ngọc Viết, u mê như Phương Uyên (với bọn này, chỉ ai giơ cờ Mỹ hay cờ ba que mới là yêu nước, còn ai đứng dưới cờ đỏ sao vàng đc cả thế giới công nhận thì đều..ko yêu nước.!!!

7. Cái ngu bệnh hoạn: Ỉa chảy hay táo bón đều là tại đảng và nhà nước" đó là lý lẽ của các nhà dân chủ cuội, bất kể là việc con trâu nó có sừng hay việc con voi nó có vòi thì họ đều quy cho trách nhiệm thuộc về đảng và nhà nước...

8. Cái ngu đáng cười: Miệng nói dân chủ, nhưng thực tế chẳng hiểu dân chủ là gì, hỏi dân chủ là gì thì câu trả lời dài hay ngắn thì chung quy cũng là "giống như..nước ngoài ấy"???

Chẳng khác gì hỏi fan cuồng JAV rằng nghệ thuật là gì thì nhận được câu trả lời "giống JAV ấy"...

9. Cái ngu đáng nguyền rủa: Biểu tình phản đối VN gia nhập WTO, dâng thỉnh nguyện thư kiến nghị Hoa Kỳ và phương Tây cấm vận VN, kích động chiến tranh Việt - Trung, "cầu cho Trung Quốc đánh Việt Nam" và nhiều trò phản quốc tương tự..

10. Cái ngu nhất trong các thể loại ngu: Ngu mà không biết mình ngu.

Nguồn st:

 

 

 


CỘNG ĐỒNG MẠNG ĐANG YÊU CẦU NHÀ NƯỚC BẮT TRẦN ĐÌNH SỬ TRẢ TIỀN ĐÀO TẠO VÀ 20% BẢO HIỂM NHÀ NƯỚC ĐÓNG THUẾ CHO ÔNG TA

 

Trên mạng xã hội nhiều năm qua xôn xao việc giáo sư Trần Đình Sử đã trở thành kẻ chống lại chế độ, chống Nhà nước ra mặt khi ông này đạt được đỉnh cao trí thức từ tiền của dân và công của Đảng bỏ ra đào tạo thành 1 giáo sư, nhà giáo nhân dân.

Trần Đình Sử là một học sinh bên kia vị tuyến 17 thời Mỹ xâm lược Việt Nam và được Cách Mạng đưa ra Bắc cả gđ, được cho ăn học chu toàn, đưa ra nước ngoài đào tạo để về phụng sự Tổ quốc khi hoàn thành cuộc Cách Mạng giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Giáo sư Trần Đình Sử được phong danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 2002, Nhà giáo Nhân dân năm 2010, được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhì, Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục.Thế nhưng, Bộ giáo dục vẫn không hề để ý những phát ngôn đầy tiêu cực chống Đảng, Nhà nước. Mới đây được làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định bộ sách Giáo khoa lớp 1 đang gây tranh cãi trong những ngày vừa qua.

Trên mạngxã hội, Trần Đình Sử luôn tuyên truyền Chế độ Cộng sản đã từng nuôi dưỡng ông là 1 "chế độ thối nát nhất trong các chế độ", xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lê Nin, chủ nghĩa Mác.

Một kẻ ăn cháo đá bát như Trần Đình Sử đã trở thành tâm điểm, gây phẫn nộ cả cộng đồng yêu nước Việt Nam. Đa số họ yêu cầu Nhà nước bắt Trần Đình Sử hoàn trả toàn bộ số tiền Nhà nước chi ra để đào tạo, nuôi dưỡng ông và bắt trả toàn bộ lương hưu trong số 20% Nhà nước đóng thế theo luật Lao động.

Cộng đồng mạng xã hội còn đề nghị UBKT cấp trên xác minh khai trừ khỏi Đảng, đề nghị Hội đồng Nhà nước tước danh hiệu Nhà giáo nhân dân đối với Trần Đình Sử.


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LÀM GÌ ĐỂ MIỄN NHIỄM TRƯỚC SẢN PHẨM VĂN HÓA ĐỘC HẠI?

 Các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động và các tệ nạn xã hội nếu thâm nhập vào các cơ quan, đơn vị trong quân đội sẽ gây tác hại khôn lường. Nó làm cho đời sống văn hóa, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ ta bị vẩn đục; làm xói mòn niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nghi ngờ về sự thành công của đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thậm chí làm hoen ố phẩm giá, nhân cách con người Việt Nam, phai mờ hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” trong con mắt bạn bè quốc tế, gây dư luận xấu trong lòng xã hội ta, là cơ sở “ươm mầm”, “nảy nở” mọi thói hư, tật xấu, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Và chính nó sẽ là nguy cơ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

Lây nhiễm lối sống phương Tây, đề cao thái quá đời sống vật chất, sùng bái đồng tiền, vì tiền; coi thường nhân nghĩa, đạo lý, vi phạm pháp luật, kỷ luật rất nghiêm trọng. Phải chăng, việc phạm pháp, thoái hóa, biến chất, mất nhân cách ở một số cán bộ, chiến sĩ có nguyên nhân sâu xa từ sự “lây nhiễm” các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động, các tệ nạn xã hội thẩm lậu vào các cơ quan, đơn vị không được kiểm soát, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi?

Thấy rõ sự nguy hại đặc biệt nghiêm trọng của các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động và các tệ nạn xã hội đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ; lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan chức năng các cấp trong hệ thống chính trị ở nước ta và lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp tích cực như xác định đúng và trúng mục tiêu, mô hình, nội dung, tiêu chuẩn xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh; duy trì liên tục phong trào thi đua quyết thắng gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đổi mới nội dung, hình thức giáo dục, xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; đưa ra và thực hiện nhiều quy chế, quy định trong quản lý kiểm duyệt, sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, các xuất bản phẩm, các nội dung sinh hoạt văn hóa, văn nghệ…; kiện toàn hệ thống thiết chế văn hóa, nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa; chủ động ngăn chặn sự thâm nhập, ảnh hưởng của các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động như băng nhạc, đĩa hình, sách báo, phim ảnh “đen”, nghiêm cấm sử dụng các xuất sản phẩm văn hóa “ngoài luồng” có nội dung thiếu lành mạnh như kích dục, kích động bạo lực, các tệ nạn xã hội: hút, hít, buôn bán, tàng trữ ma túy, cờ bạc, rượu chè tại các cơ quan, đơn vị. Nhờ đó đã góp phần ngăn chặn, đẩy lùi, khắc phục có hiệu quả những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa phẩm đồi trụy; không để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; giữ vững, nuôi dưỡng và phát huy tốt vai trò, bản lĩnh, nhân cách cán bộ, đảng viên là “công bộc” của dân, là “đày tớ của nhân dân”; xây dựng môi trường văn hóa trong sạch lành mạnh; làm cho đời sống văn hóa, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ ngày càng tốt hơn theo hướng chân, thiện, mỹ./.

 

 

ĐẨY MẠNH TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH

TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc, quy luật phát triển của Đảng, nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Đây là việc làm cấp bách, có ý nghĩa sống còn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định.

Có thể nhận thấy, chưa bao giờ vấn đề đấu tranh chống tham nhũng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên lại nóng bỏng như hiện nay. Kể từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) đến nay, Đảng ta đã phát hiện và thi hành kỷ luật hàng vạn cán bộ, đảng viên, trong số đó có nhiều người thuộc diện Trung ương quản lý. Điều đó cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng nhằm làm trong sạch bộ máy, củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa..

Nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên có cả khách quan và chủ quan. Trong đó, nguyên nhân chủ quan là chủ yếu do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình chưa sâu sắc hoặc thiếu tự giác nhận khuyết điểm, trách nhiệm trong công việc; ở một số nơi nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình chưa được thực hiện nghiêm: “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”.

Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình đang trở thành yêu cầu cấp thiết để ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, góp phần làm trong sạch Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần “Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ,…”.

Để tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đạt hiệu quả thiết thực, cần tập trung thực hiện tốt những nội dung cơ bản sau:

Một là, thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải thường xuyên giáo dục cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình đối với công tác xây dựng Đảng; củng cố đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ sáng tạo của cán bộ, đảng viên tham gia xây dựng nghị quyết và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng bộ, chi bộ và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Nêu ưu điểm, vạch rõ khuyết điểm của tổ chức đảng, cấp ủy và cán bộ, đảng viên, qua đó tìm biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, giúp tổ chức và mỗi người tiến bộ.

Thực chất tự phê bình và phê bình chính là giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ tổ chức đảng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc và Điều lệ của Đảng, trong mối quan hệ của những người đồng chí cùng mục đích, lý tưởng. Tự phê bình và phê bình vừa mang tính cách mạng, khoa học, vừa mang tính nhân văn, thúc đẩy con người vươn tới sự hoàn thiện. Do đó, tự phê bình và phê bình đòi hỏi tính đảng, tính nguyên tắc cao, phải khách quan, trung thực, thẳng thắn, chân thành, công khai, có lý, có tình, nhằm trực tiếp góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, giữ gìn phẩm chất, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín và củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng. Hiện nay, “Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyến hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp”. Bởi vậy, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình là vấn đề cấp bách, đòi hỏi cấp ủy, chi bộ cần giáo dục cho cán bộ, đảng viên nắm vững các chế độ, quy định, trách nhiệm của đảng viên trong thực hiện tự phê bình và phê bình, nhất là những nội dung biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã nêu ra.

 Hai là, duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Đây là biện pháp rất quan trọng, vấn đề có tính nguyên tắc trong hoạt động của tổ chức đảng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phải thực hiện nghiêm, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm. Các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần chủ động xây dựng kế hoạch, duy trì, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình để đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên. Qua đó, ngăn ngừa, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong từng cán bộ, đảng viên hiện nay.

Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình cần có động cơ trong sáng, thái độ chân thành, đánh giá đúng sự thật, không nể nang, né tránh, bao che khuyết điểm; không lợi dụng tự phê bình và phê bình để công kích, nói xấu, hạ uy tín của đồng chí, đồng đội. Phương châm tiến hành là: cấp trên phải gương mẫu tự phê bình trước, cấp dưới làm sau; tập thể làm trước, cá nhân làm sau, “cấp ủy cấp trên chủ động gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân ở những nơi có vấn để phức tạp, có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; coi trọng kiểm tra việc khắc phục hạn chế, khuyết điểm”; cấp trên gương mẫu, nghiêm túc tự phê bình và phê bình cho cấp dưới noi theo. Người đứng đầu phải công minh, không để công tư lẫn lộn, không dung túng, bao che; phải tạo được chỗ dựa tin cậy, khơi dậy được không khí dân chủ, thẳng thắn; không để tình trạng mất đoàn kết trong nội bộ. Tự phê bình và phê bình phải được tiến hành trong hoạt động của tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị; không tùy tiện gặp đâu nói đó, việc bé xé ra to. Sau phê bình phải có biện pháp cụ thể, sát thực để khắc phục, sửa chữa khuyết điểm; kết hợp giữa “xây” với “chống”, nói đi đôi với làm, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm nhất trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Đồng thời, thực hiện tốt việc gắn tuyên truyền, biểu dương gương “người tốt, việc tốt” với công tác phát hiện, phê phán, lên án các hành vi sai trái, nhận thức lệch lạc của cán bộ, đảng viên.

Ba là, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình. Nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình phải bám sát định hướng của Đảng, những vấn đề nổi cộm, bức xúc, những hạn chế, yếu kém trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng; trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Trong tình hình hiện nay, nội dung cần tập trung hướng vào những vấn đề cấp bách, nổi cộm, như: đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để làm trong sạch nội bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng, coi đó “là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất”.

Hình thức tự phê bình và phê bình cần đa dạng, phong phú, như: thông qua các cuộc họp, hội nghị, các đợt sinh hoạt được tổ chức ở cơ quan, đơn vị và khu dân cư. Các cơ quan, đoàn thể, tổ chức cần thường xuyên tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị, như: nghe thời sự chuyên đề, học tập lý luận chính trị,... để nâng cao ý thức chính trị, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Qua đó, giúp họ nâng cao ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong việc tự phê bình và phê bình, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

 Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định đến việc rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Bởi vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần quán triệt và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là tấm gương mẫu mực về tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tích cực, tự giác: “Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên”. Bên cạnh đó, từng cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu của mình trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao, tích cực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong công tác, luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc, quy luật phát triển; đồng thời, là chế độ thường xuyên trong sinh hoạt đảng của cán bộ, đảng viên. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên cần tích cực, chủ động, tự giác chấp hành nghiêm các chế độ, nền nếp sinh hoạt đảng, nhất là tự phê bình và phê bình, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng ta thật là đạo đức, văn minh./.


 

NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC

THÙ ĐỊCH VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM THÔNG QUA TÔN GIÁO

                                 Vấn đề “tự do tôn giáo” luôn là hướng ưu tiên chính trong chính sách đối với Việt Nam của các thế lực thù địch đứng đầu là Mỹ, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước. Quốc hội Mỹ đã từng ra một số nghị quyết và tổ chức nhiều cuộc điều trần về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam; xếp Việt Nam vào danh sách các quốc gia “đàn áp tôn giáo”.

Các cơ quan đại diện chính thức của một số nước lớn tại Việt Nam có nhiều hoạt động công khai, trắng trợn nhằm ủng hộ cho các đối tượng cực đoan, phản động trong các tôn giáo. Đại sứ quán của họ tại Hà Nội và Tổng lãnh sự quán tại thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên cử người đi các tỉnh, thành phố của Việt Nam để nắm tình hình của các tôn giáo, nhưng thực chất là nhằm trực tiếp tiếp xúc, kích động các chức sắc và tín đồ tôn giáo gây áp lực đòi thả những tên đội lốt tôn giáo hoạt động chống phá bị ta bắt; “tiếp sức” cho các đối tượng đang có hoạt động chống đối. Thông qua một số chức sắc tôn giáo cực đoan ra các “lời kêu gọi” phản động để “nắn gân” Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhóm thiên chúa giáo cực đoan liên tục lợi dụng tranh chấp đất đai để hoạt động đấu tranh chống chính quyền. Đặc biệt, ở một số địa phương có tranh chấp đất đai, chúng lợi dụng người cầm đầu tổ chức tôn giáo ở đó để kích động, xô đẩy giáo dân vào cuộc đấu tranh mang màu sắc chính trị, gây mất ổn định chính trị, tạo cớ cho các thế lực thù địch bên ngoài can thiệp.

Các thế lực thù địch đã chỉ đạo cho một số đối tượng cực đoan, núp dưới danh nghĩa những nhà truyền đạo, như “mục sư”, “tình nguyện viên”... để đi sâu vào nội bộ các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, nhằm lừa phỉnh, dụ dỗ, xúi giục, kích động các tín đồ bỏ lao động sản xuất để tham gia hoạt động biểu tình chống đối chính quyền. Được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch hậu thuẫn, bọn phản động trong các tôn giáo ở Tây Nguyên ra sức lợi dụng việc Đảng và Nhà nước ra chủ trương xoá các tổ chức Tin Lành trái phép để vu cáo chính quyền Nhà nước Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo” đồng thời kích động các hoạt động chống đối.

          Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ gia tang các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam thông qua vấn đề tôn giáo. Vì vậy, mỗi cán bộ đảng viên phải có ý thức cảnh giác cách mạng, làm tốt công tác dân vận, mỗi cán bộ đảng viên là một tuyên truyền viên, tích cực tuyên truyền để quần chúng nhân dân, nhất là nhân dân ở các dân tộc ít người, đồng bào theo đạo thấy rõ âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, từ đó đấu tranh làm thất bại ý đồ của chúng đối với cách mạng Việt Nam.  

 

TÔN GIÁO LÀ MŨI NHỌN ĐỂ CÁC THẾ LỰC

THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

                                     Các thế lực thù địch luôn xác định tôn giáo là vấn đề nhạy cảm, tín đồ tôn giáo là lực lượng xã hội dễ bị kích động và bị lừa bịp để tạo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng chống đối. Thời gian qua, lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch đã ra sức mua chuộc, lôi kéo các giáo sĩ, tín đồ các tôn giáo để thực hiện mục đích chính trị phản động chống phá cách mạng nước ta.

Trong quá khứ, khi rút khỏi Việt Nam, viên Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn - Polga -  nói rằng: “Sau khi Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam thì lực lượng đấu tranh với cộng sản, chủ yếu là tôn giáo...”. Những năm đầu của công cuộc đổi mới, chúng đã triệt để lợi dụng vấn đề tôn giáo để thực hiện “diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch tuyên truyền rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đang còn mạnh, chưa thể chuyển hoá ngay được. Vì vậy, để làm cho Cộng sản Việt Nam suy yếu, biện pháp hữu hiệu nhất là dùng vấn đề tôn giáo và dân tộc để phá hoại an ninh, làm cho Việt Nam suy yếu...”.

Các thế lực thù địch cho rằng tôn giáo ở Việt Nam như một lực lượng chính trị có thể “đối trọng” với Đảng Cộng sản Việt Nam và ra sức hậu thuẫn mọi mặt cho số đối tượng chống đối trong các tôn giáo cả về tinh thần và vật chất, phục vụ cho âm mưu sử dụng tôn giáo làm lực lượng thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hoá” nhằm làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Chính sự hậu thuẫn này là nhân tố giúp bọn phản động lợi dụng tôn giáo trong nước, nhất là số cực đoan, quá khích trong công giáo, lợi dụng những diễn biến phức tạp tình hình trong nước, câu kết với các thế lực thù địch bên ngoài lôi kéo, tập hợp tín đồ để kích động tập trung, gây rối, tạo cớ cho bên ngoài can thiệp.

          Thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tăng cường chỉ đạo, giúp đỡ mọi mặt để phát triển, truyền đạo trong các vùng dân tộc ít người, bao gồm cả phát triển các đạo giáo mới và cả số người theo đạo, biến các tổ chức và hoạt động tôn giáo thành các tổ chức và hoạt động chính trị chống lại cách mạng Việt Nam. Chúng ta phải thường xuyên nêu cao cảnh giác, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền để nhân dân thấy rõ âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch./.