Chủ Nhật, 31 tháng 10, 2021

"TỊNH THẤT BỒNG LAI" MẠO DANH TU HÀNH, LỢI DỤNG "TRẺ MỒ CÔI" ĐỂ TRỤC LỢI NHƯ THẾ NÀO?


          Nơi tự xưng là "Tịnh thất Bồng Lai" đã lợi dụng Phật giáo và danh nghĩa nuôi "trẻ mồ côi" (mà thật ra là con cháu ruột của ông Lê Tùng Vân) để trục lợi tiền từ thiện

          Những ngày qua, câu chuyện xoay quanh "Tịnh thất Bồng Lai" lại nóng lên trên mạng xã hội sau khi Lê Thanh Minh Tùng, tự nhận là con ruột của Lê Tùng Vân (người xưng là Hòa thượng Thích Tâm Đức ở "Tịnh thất Bồng Lai") xuất hiện trên livestream của bà Nguyễn Phương Hằng. Tại đây, Lê Thanh Minh Tùng đã tố cáo những câu chuyện động trời ở "Tịnh thất Bồng Lai".

          Trước đó, vào tháng 10/2020, Đài Truyền hình Việt Nam đã phát sóng phóng sự về sự thật của nơi gọi là "Tịnh thất Bồng Lai" cùng những thủ đoạn kêu gọi từ thiện dành cho những đứa trẻ mà họ tự nói là mồ côi từ nhiều năm qua.

          "Tịnh thất Bồng Lai" (sau tự đổi tên là "Thiền am bên bờ vũ trụ"), tọa lạc xã Hòa Khánh Tây, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Một địa điểm tâm linh tự xưng làm xôn xao dư luận trong vùng thời gian qua. Cơ sở này gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của tổ chức Phật giáo và an ninh trật tự tại địa phương.

          Đến nay, Công an tỉnh Long An và các cơ quan chức năng khác của tỉnh đã điều tra, xác minh và có đủ cơ sở để xác định, đây là cơ sở lợi dụng Phật giáo và danh nghĩa nuôi trẻ mồ côi để kêu gọi lòng tốt của mọi người trong và ngoài nước giúp đỡ, nhằm trục lợi cá nhân.

          Theo Giáo hội Phật giáo tỉnh Long An, nơi tự xưng là "Tịnh thất Bồng Lai" ở xã Hòa Khánh Tây, H.Đức Hòa, tỉnh Long An không phải là tự viện hợp pháp và không do Ban trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Long An quản lý.

          Những người đang sống và sinh hoạt tại đây không phải là tu sĩ Phật giáo và có dấu hiệu lợi dụng hình thức tu sĩ Phật giáo để kêu gọi lòng tốt của của tín đồ Phật giáo.

          Hòa Thượng Thích Minh Thiện, Trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Long An khẳng định: "Đây là không phải là một cơ sở của Phật giáo mà chỉ mượn danh xưng là cơ sở Phật giáo. Lợi dụng hình thức tu sĩ phật giáo, lợi dụng hình thức cơ sở của giáo hội, lợi dụng hình thức nuôi những người cơ nhỡ làm từ thiện để trục lợi cho mình. Đó là vi phạm về pháp luật, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức phật giáo thế giới và gần nhất là tổ chức phật giáo của nước nhà".

          Lãnh đạo xã Hòa Khánh Tây, huyện Đức Hòa cho biết, hiện trong tư thất Bồng Lai có gần 30 người đăng ký thường trú, tạm trú. Chủ hộ là bà Cao Thị Cúc, 60 tuổi. Chủ trì tại nơi tự xưng là "Tịnh thất Bồng Lai" này là ông Lê Tùng Vân, người tự xưng là Hòa Thượng, nhưng theo các cơ quan chức năng tỉnh Long An, đây chỉ là hình thức giả sư.

          Đại diện Sở Nội vụ tỉnh Long An cho biết: "Trường hợp hộ bà Cao Thị Cúc chỉ là hộ gia đình, nhà ở, không phải là cơ sở thờ tự tôn giáo. Việc ông Lê Tùng Vân nói mình là hòa thượng là tự phong, không được GHPGVN và cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận".

          Những video clip được tung lên các trang mạng xã hội cho thấy, mặc dù chưa bao giờ xuất gia, nhưng ông Lê Tùng Vân, luôn mạo xưng mình là "Thầy ông Nội" hay Thầy Thích Tâm Đức. Tự cạo đầu trọc, mặc lễ phục, pháp phục, làm lễ phục xuất gia cho người khác, nhận Phật tử làm tín đồ và tự xưng "Tịnh thất Bồng Lai" là chùa.

          Tuy nhiên, khi Đoàn kiểm tra liên ngành của huyện Đức Hòa đến kiểm tra việc chấp hành các quy định về tín ngưỡng, tôn giáo, ông Lê Tùng Vân lại giải thích trái ngược hẳn với những tuyên bố thường ngày: "Ai muốn đến đây, kể cả chính quyền đều phải bấm chuông và gõ cửa, chứ không phải đi vô nói đây là chùa. Xin lỗi chuyện đó không có. Ở đây không phải là chùa".

          Do bị cộng đồng Phật giáo, báo chí, truyền thông, mạng xã hội, phản ứng gay gắt nên Lê Tùng Vân đổi tên "Tịnh Thất Bồng Lai" thành "Thiền am bên bờ vũ trụ".

          Lấy danh nghĩa "trẻ mồ côi" kêu gọi từ thiện nhưng hóa ra là... con cháu ruột.

          Nhiều năm qua, "Tịnh Thất Bồng Lai" lợi dụng Phật giáo và danh nghĩa nuôi trẻ mồ côi đã có những thủ đoạn để tạo dựng niềm tin trong nhân dân, trục lợi tiền từ thiện.

          Theo cơ quan công an, từ năm 1990 đến năm 2007, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh, ông Lê Tùng Vân đã tạo lập cơ sở tự lấy tên là Trại dưỡng lão - Cô nhi Thánh Đức, lợi dụng danh nghĩa nuôi trẻ mồ côi để kêu gọi và tiếp nhận tiền từ thiện. Đến năm 2007 thì bị xử lý và chấm dứt hoạt động.

          Thủ đoạn này, ông Lê Tùng Vân lại tiếp tục tại "Tịnh thất Bồng Lai", tỉnh Long An từ năm 2015 đến nay, nhưng với mức độ tinh vi hơn do tận dụng mạng xã hội để quảng cáo, kêu gọi tài trợ.

          Cơ quan chức năng địa phương cho biết, những đứa trẻ đang được nuôi dưỡng tại đây không phải là trẻ mồ côi và phần lớn đều có quan hệ huyết thống với ông Lê Tùng Vân.

          "Tịnh thất Bồng Lai" liên tục cho những em nhỏ được nuôi dưỡng tại đây đi tham gia các cuộc thi thi hát Bolero, "Thách thức danh hài"… Tất cả đều giới thiệu là trẻ mồ côi đến từ "Tịnh thất Bồng Lai". Mục đích không gì khác là để gây chú ý, quảng bá hình ảnh. Bằng cách này "Tịnh thất Bồng Lai" trở thành điểm lui tới của nhiều cá nhân, tổ chức từ thiện và những tấm lòng vàng trong, ngoài nước gửi quà tặng, tiền hỗ trợ.

          Hòa Thượng Thích Minh Thiện nhấn mạnh: "Tự thân những nhà tu học đã không được tổ chức ca hát. Không có lý do nào mà một người tu hành đàng hoàng cho những đứa nhỏ thi danh hài hoàn toàn không đúng Phật giáo và Phật giáo cấm điều đó".

          Sau khi xuất hiện nhiều thông tin về hoạt động lợi dụng Phật giáo và danh nghĩa nuôi trẻ mồ côi để trục lợi của Tịnh Thất Bồng Lai, ông Lê Hồng Dũng, có chị ruột là vợ của ông Lê Tùng Vân cũng đã đăng đàn tố cáo, vạch trần sự thật.

          Ông Dũng nói: "Tôi quyết đưa ra chính quyền để mọi người biết "Tịnh thất Bồng Lai" này là lừa đảo từ xưa đến nay, chứ không phải mới đây. Tịnh thất này lừa gạt về mọi mặt về tinh thần, vật chất, tiền bạc... Thậm chí lấy mẹ tôi ra làm con mồi. Kêu mẹ tôi đem tiền lên cho chị Hai tôi là vợ ổng".

          Bà Lê Thị Tuyết là người được ông Lê Tùng Vân mời về dạy những đứa trẻ sống tại Thánh Đức, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh năm 2006. Trong thời gian sống ở đây, bà từng chứng kiến nhiều việc làm sai trái của Lê Tùng Vân và nay, bà cũng đã quyết định tố cáo.

          Bà Tuyết cho biết: "Tôi đưa đơn tố cáo ông Lê Tùng Vân với nội dung "hiếp dâm trẻ" và "hành hung trẻ cô nhi". Tập đoàn ông Lê Tùng Vân là một bầy sư sãi giả mạo, lưu manh, dâm dục, lừa đảo. Đây là câu chuyện có thật. Tôi là người thật việc thật và tôi có trách nhiệm nói ra sự thật

          Để ổn định tình hình xã hội, Chủ tịch UBND tỉnh Long An đã chỉ đạo các ngành, các cấp vận động di dời số tượng Phật về cơ sở tôn giáo hợp pháp tại huyện Đức Hòa và yêu cầu cơ sở tự xưng "Tịnh Thất Bồng Lai" không được tụ tập đông người, tổ chức hoạt động tôn giáo trái pháp luật. Các cơ quan chức năng phải điều tra làm rõ mục đích, động cơ tổ chức hoạt động tôn giáo, nuôi dưỡng trẻ em của tổ chức này để xử lý theo quy định của pháp luật.

          "Tịnh Thất Bồng Lai" là cơ sở mạo danh, lợi dụng lòng tốt của các nhà từ thiện, làm xấu đi hình ảnh của các tổ chức tôn giáo.

          Pháp luật nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng. Tuy nhiên, hoạt động tôn giáo có tổ chức thành nơi tu hành tập trung dưới hình thức tự viện phật giáo phải tuân thủ quy định pháp luật. Phải được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo tập trung theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, phải được sự đồng ý, tuân theo sự quản lý của Ban trị sự giáo hội phật giáo địa phương.

          Việc tổ chức cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo không tuân thủ các quy định pháp luật, lợi dụng quyên tiền từ thiện sinh hoạt tôn giáo, nuôi dưỡng trẻ em nhưng thực chất sử dụng số tiền trên không đúng mục đích sẽ bị coi là hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật./.

 

Lê Văn Thương - từ kẻ vô kỷ luật đến chống phá đất nước


          Thời gian gần đây, một số đối tượng vì bất mãn, hám lợi đã bị các phần tử xấu, các tổ chức phản động dụ dỗ, lôi kéo thực hiện những hành vi sai trái, chống phá đất nước.

          Mặc dù đã chạy trốn ra nước ngoài, trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật, nhưng các đối tượng này vẫn ngoan cố lợi dụng không gian mạng tán phát thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ chính quyền khiến dư luận hết sức bất bình.

Một trong số đó là Lê Văn Thương, kẻ vô kỷ luật, thoái hóa biến chất, hiện đang bị cơ quan công an truy nã với tội danh “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.

 Đối tượng Lê Văn Thương.

          Lê Văn Thương (sinh năm 1988 tại Quảng Ngãi) từng có thời gian phục vụ trong quân ngũ, được quan tâm tạo điều kiện để phấn đấu trưởng thành, nhưng do không chịu rèn luyện, tu dưỡng, nhiều lần vi phạm kỷ luật. Mặc dù đã được động viên, giáo dục, Thương vẫn tính nào tật ấy, do đó đã bị kỷ luật và được giải quyết cho xuất ngũ.

          Thương được cho phục viên về quê mở xưởng mộc. Lẽ ra, nếu giữ gìn bản lĩnh và nhân cách, Thương có thể làm lại cuộc đời, sửa chữa sai lầm bởi xưởng mộc của Thương cũng khá đông khách. Nhưng Thương lại bị kích động, lôi kéo, bỏ trốn ra nước ngoài và lên mạng xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, quân đội.
          Với giọng điệu ngông cuồng của kẻ thoái hóa biết chất, Lê Văn Thương còn tuyên bố thành lập lực lượng hòng thay đổi chế độ ở Việt Nam. Mặc dù chỉ được ở trong quân ngũ thời gian ngắn, nhưng Lê Văn Thương đã ảo tưởng tuyên bố có thể chỉ huy những đội quân lớn, có thể làm thay đổi tình hình đất nước.

          Trước những hoạt động chống phá đất nước, Lê Văn Thương đã bị khởi tố về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, đồng thời đã bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra-Công an tỉnh Quảng Ngãi phát lệnh truy nã sau khi bỏ trốn khỏi địa phương vào năm 2018. Các cơ quan chức năng đã nhiều lần có văn bản gửi gia đình, vận động, kêu gọi Thương ra đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

          Sau khi bỏ trốn ra nước ngoài, Lê Văn Thương tiếp tục lún sâu vào con đường tội lỗi khi núp bóng các thế lực phản động chống phá Đảng, Nhà nước ta. Để được các thế lực ngoại bang sử dụng và có tiền sinh sống, Lê Văn Thương đã tạo lập các tài khoản trên không gian mạng để xuyên tạc, nói xấu tình hình đất nước. Trên tài khoản facebook cá nhân và tài khoản youtube “Tiếng nói Dân chủ Việt”, Lê Văn Thương đã công khai bộc lộ là một kẻ phản bội khi liên tục phát tán những thông tin sai trái, bịa đặt.

          Chính Lê Văn Thương đã tự bôi xấu bản thân, làm ảnh hưởng đến những người thân và tự chọn con đường quay lưng lại với trở về quê hương mà một số kẻ đã sai lầm mắc phải trước đây. Nhiều đồng đội đau xót cho Thương chỉ vì thiếu bản lĩnh mà sa ngã. Đó là bài học đắt giá về việc rèn luyện, giữ gìn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Nếu không tu dưỡng, rèn luyện có thể sa ngã, thậm chí từ tự diễn biến tự chuyển hóa chuyển rất nhanh sang tiếp tay cho thế lực thù địch.

 

Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”: Tỉnh táo trước các luận điệu “mê hoặc" dư luận về biên giới, lãnh thổ


          Cần kiên trì vạch trần, phản bác và bác bỏ các luận điệu sai trái biên giới, lãnh thổ.

          Trong cuộc trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân mới đây, TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, cho rằng chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là vấn đề nhạy cảm nên thường bị các thế lực thù địch khai thác, lợi dụng nhằm phá hoại sự ổn định về chính trị-xã hội ở Việt Nam. Bởi vậy, cần kiên trì vạch trần, phản bác và bác bỏ các luận điệu sai trái về vấn đề này. 

          Phóng viên (PV): Từng nhiều năm làm việc liên quan đến vấn đề biên giới, lãnh thổ và đã tham gia các cuộc đàm phán hoạch định biên giới trên đất liền, đề nghị ông cho biết những thành quả mà Việt Nam đã đạt được trên lĩnh vực này?

          TS Trần Công Trục: Đến nay, việc giải quyết vấn đề biên giới đất liền giữa Việt Nam với 3 nước láng giềng có chung đường biên giới là Lào, Trung Quốc và Campuchia thu được những thành quả rất quan trọng, không chỉ có ý nghĩa về chính trị trong quan hệ quốc tế hiện nay mà còn có giá trị pháp lý, kinh tế, quốc phòng, an ninh của quốc gia.

          Quá trình này được triển khai theo nguyên tắc pháp lý mà các bên đã thỏa thuận dùng làm căn cứ duy nhất để xử lý tất cả nội dung cần thực hiện trong các giai đoạn: Hoạch định biên giới, phân giới cắm mốc và quản lý biên giới, mốc quốc giới mới.

          Về giải quyết vấn đề biên giới đất liền với Trung Quốc: Tháng 12-1999, Việt Nam và Trung Quốc chính thức ký Hiệp ước hoạch định biên giới, được Quốc hội hai nước phê chuẩn trong năm 2000.

          Dựa vào hiệp ước này, từ tháng 12-2001, hai bên tiến hành phân giới, cắm mốc và đến cuối năm 2008, công tác phân giới, cắm mốc cơ bản hoàn thành.

          Kết quả, chiều dài biên giới chính xác là 1.449,566km, trong đó có 383,914km đường biên giới đi theo sông, suối, cắm được 1.970 cột mốc, trong đó có 1.548 cột mốc chính, 422 cột mốc phụ.

          Sau khi hoàn thành việc phân giới, cắm mốc biên giới đất liền, để hợp tác bảo vệ, quản lý biên giới và mốc quốc giới, năm 2009, Việt Nam và Trung Quốc đã ký Hiệp định quản lý biên giới đất liền Việt Nam-Trung Quốc và Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc; năm 2015, hai bên chính thức ký kết Hiệp định tàu thuyền đi lại tự do ở cửa sông Bắc Luân và Hiệp định hợp tác, khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch thác Bản Giốc.

          Về giải quyết vấn đề biên giới đất liền với Campuchia: Ngày 27-12-1985, hai bên ký chính thức Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và   Campuchia. Ngày 10-10-2005, hai bên ký chính thức Hiệp ước giữa Việt Nam và Campuchia bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985.

Ngày 5-10-2019, tại Hà Nội, hai bên ký chính thức hai văn kiện nhằm ghi nhận khoảng 84% thành quả phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền.

          Như vậy, sau hơn 36 năm đàm phán, hai nước đã có khoảng 84% chiều dài đường biên giới được phân giới, cắm mốc và được ghi nhận rõ ràng trên hồ sơ pháp lý cũng như trên thực địa với một hệ thống mốc biên giới khang trang, chính quy, hiện đại và bền vững.

Lãnh thổ, biên giới quốc gia đã trở thành vấn đề thiêng liêng, rất nhạy cảm và luôn được quan tâm đặc biệt bởi mọi tầng lớp nhân dân. Ảnh minh họa:Tạp chí Cộng sản

          Về giải quyết vấn đề biên giới đất liền Việt Nam-Lào: Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Việt Nam và Lào đã được ký kết ngày 18-7-1977.

          Đến tháng 6-1981, hai bên đã phân giới trên thực địa và cắm mốc xong 95% đường biên giới Việt Nam-Lào. Ngày 16-10-1987, hai bên đã ký Nghị định thư bổ sung ghi nhận toàn bộ kết quả công tác phân giới, cắm mốc theo Hiệp ước bổ sung, kèm theo toàn bộ các văn bản pháp lý của quá trình này, kết thúc quá trình phân giới, cắm mốc toàn bộ đường biên giới Việt Nam-Lào.

          Từ tháng 5-2008, hai nước chính thức triển khai Kế hoạch tổng thể thực hiện công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam-Lào nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống mốc quốc giới giữa hai nước theo hướng chính xác, hiện đại, bền vững và thống nhất trên toàn tuyến biên giới, trong đó ưu tiên cắm mốc ở khu vực có cửa khẩu và khu vực có đường giao thông thuận lợi đi qua nhằm tăng cường hợp tác, giao lưu phát triển kinh tế và ổn định trật tự an toàn xã hội vùng biên giới....

          Có được thành quả nói trên, yếu tố tiên quyết là Việt Nam đã cùng với các quốc gia láng giềng giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ hoàn toàn dựa theo các nguyên tắc hiện hành và phổ biến của luật pháp và thực tiễn quốc tế, theo phương thức đàm phán hòa bình đã được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc.

          PV: Vậy tại sao vẫn có những người thường xuyên đưa ra những “phán xét” nhằm phủ nhận hoặc cố tình làm sai lệch những thành quả ấy?

          TS Trần Công Trục: Giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ giữa các quốc gia là vấn đề cực kỳ phức tạp, phụ thuộc vào quá trình hình thành các quốc gia theo sự biến động không ngừng của luật pháp và tập quán quốc tế, qua các giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại.

          Lãnh thổ, biên giới quốc gia đã trở thành vấn đề thiêng liêng, rất nhạy cảm và luôn được quan tâm đặc biệt bởi mọi tầng lớp nhân dân. Vì vậy, đây là một trong những nội dung thường được các thế lực thù địch khai thác, lợi dụng nhằm rắp tâm phá hoại sự ổn định về chính trị-xã hội ở Việt Nam.

          Các đối tượng này đã và đang sử dụng nhiều hình thức và thủ thuật rất tinh vi, xảo hoạt, cố tình tung ra những thông tin và những tư liệu lịch sử, kỹ thuật không có tính pháp lý để "mê hoặc" và đánh lừa dư luận.

          Cũng cần nói thêm rằng, muốn giải quyết được vấn đề biên giới, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đòi hỏi phải kiên trì, bền bỉ và dựa trên tinh thần hết sức cầu thị, cái gì đúng thì chúng ta kiên quyết bảo vệ; cái gì sai chúng ta phải điều chỉnh.

          Có như vậy đàm phán mới có kết quả, nguyên tắc pháp lý mới được tôn trọng. Thực tế cho thấy, đại đa số người dân cũng như công luận quốc tế, khu vực và ngay cả các quốc gia láng giềng tham gia đàm phán với chúng ta đều hoan nghênh thái độ cầu thị này.

          Cá nhân tôi mong muốn thông qua quá trình trao đổi, đối thoại để thu hẹp khoảng cách trong nhận thức xã hội về vấn đề biên giới, lãnh thổ quốc gia, tạo nên sự đồng thuận, củng cố sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và sự đồng lòng, giúp sức của người dân, bạn bè quốc tế trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và các quyền hợp pháp của quốc gia, dân tộc.

          PV: Nhắc đến bảo vệ chủ quyền, biên giới quốc gia không thể không nhắc tới vai trò của người dân, đặc biệt là người dân ở khu vực giáp biên. Theo ông, vai trò đó cần được phát huy bằng cách nào?

          TS Trần Công Trục: Muốn bảo vệ, quản lý biên giới hiệu quả và vững bền thì phải dựa vào dân, lấy nhân dân làm trung tâm trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị-xã hội ở biên cương. Vì vậy, phải ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, văn hóa, xã hội nơi vùng cao, biên giới. Đó cũng là một trong những chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

          Bên cạnh đó, để phát huy vai trò của người dân trong bảo vệ, quản lý biên giới không thể chỉ dừng lại ở những chỉ thị, nghị quyết mà điều cốt lõi là phải bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, thông qua các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội thực tế và khả thi. Trước hết, cần phải đổi mới nhận thức và thay đổi tư duy về công tác quản lý biên giới sao cho phù hợp với những biến đổi về kinh tế-xã hội và quan hệ chính trị quốc tế hiện nay.

          Cùng với sự phát triển của quan hệ quốc tế trong kỷ nguyên hội nhập, hợp tác, phát triển vì lợi ích chung của nhân loại, việc bảo vệ, quản lý biên giới cũng đã có chuyển biến mới về tư duy và phương thức hành xử trên thực tế.

          Một mặt phải có chính sách khuyến khích người dân ra sinh sống, phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, củng cố chính hệ thống chính trị ở khu vực biên giới một cách ổn định, bền vững, lâu dài; mặt khác cũng cần tỉnh táo, cảnh giác với chiến lược “sức mạnh mềm”, “biên giới mềm” đã và đang triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau.

          PV: Hiện nay, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin, ý kiến mang tính quy chụp, sai lệch và đi ngược với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Ông nghĩ sao về vấn đề này?

          TS Trần Công Trục: Đúng là hiện nay, trên mạng xã hội vẫn còn những ý kiến băn khoăn, thậm chí phủ nhận hoặc cố tình xuyên tạc những thành quả của quá trình giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam với các nước láng giềng.

          Đối tượng đưa ra những ý kiến kiểu này có thể được chia thành 3 nhóm: Các thế lực phản động, chống phá, âm mưu lật đổ Đảng và Nhà nước Việt Nam; các phần tử cơ hội chính trị thường dùng thủ đoạn bôi nhọ hòng hạ thấp vai trò, uy tín của một số lãnh đạo Đảng và Nhà nước; cán bộ, nhân dân xuất phát từ động cơ luôn quan tâm và đau đáu với vấn đề lãnh thổ, biên giới quốc gia, song lại thiếu thông tin và bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các thông tin sai lệch đang lan tràn trên các trang mạng xã hội.

          Đáng chú ý, nhóm đối tượng thứ nhất và thứ hai đang lợi dụng tính phức tạp, nhạy cảm của vấn đề biên giới, lãnh thổ quốc gia để phục vụ cho mục đích chính trị đen tối.

          Thường thì các đối tượng này sử dụng vấn đề biên giới, lãnh thổ, cùng với vấn đề tôn giáo, sắc tộc, nhân quyền để kích động, lôi kéo công chúng nhằm mục đích chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, chia rẽ lãnh đạo Đảng, Nhà nước với nhân dân, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, từ đó tạo nên môi trường xã hội, chính trị bất ổn để dễ bề thực hiện mưu đồ chính trị của mình.

          Với nhóm đối tượng này, chúng ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác, có biện pháp ngăn chặn và vạch trần những sai trái trong các luận điệu của họ, nhất là những luận điệu núp dưới hình thức là những thông tin, công trình nghiên cứu khoa học, kỹ thuật...

          Các cơ quan truyền thông và các cơ quan chức năng cũng cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, cung cấp một cách công khai, minh bạch những thông tin có liên quan đến quá trình giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ quốc gia; kịp thời phản biện, ngăn chặn những thông tin giả...

          Đồng thời, mỗi người dân phải luôn tỉnh táo, không để dễ dàng bị "mê hoặc" bởi những luận điệu xuyên tạc như đã nói ở trên.

          PV: Trân trọng cảm ơn ông! 

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI!

     Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Trong thời gian tới, để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp tục đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ta cần chú trọng thực hiện tốt một số định hướng, giải pháp như sau:


Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu ĐLDT và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.  


Hai là, đặc biệt coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và mỗi tầng lớp nhân dân. Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo kịch bản chặt chẽ, tổ chức chiến dịch truyền thông thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền thông, báo chí, nhất là quản lý thông tin trên internet và mạng xã hội. Khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý các hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.


Ba là, tăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn tận “gốc” nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các trang mạng độc hại. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén, “chắc tay”, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, từng bước giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận trên internet.


Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu để định hình, thiết lập hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chú ý nhận diện những vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung chống phá để xây dựng luận cứ khoa học thuyết phục, phục vụ và trực tiếp đấu tranh phản bác. Tập trung bảo vệ và làm lan tỏa những nội dung mới, tầm nhìn, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận; trong đó, chú trọng bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những vấn đề lý luận mới về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, QP, AN trong tình hình mới... Nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng thời, nghiên cứu sâu các vấn đề quốc tế, các sự kiện gây “sốc” trên thế giới, để “mở mắt” cho các thế lực thù địch, phản động - những kẻ thường xuyên viện dẫn một cách lệch lạc, khập khiễng các vấn đề bên ngoài để bôi xấu, chỉ trích, xuyên tạc tình hình trong nước.


Năm là, gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên, với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và xây dựng đơn vị TSVM. Đặc biệt đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm điều kiện làm việc để người tài chuyên tâm, nỗ lực đóng góp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực tìm kiếm, nhân rộng những mô hình hay, những cách làm đổi mới, sáng tạo, hiệu quả, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến; chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh; khen thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch./.

Môi Trường ST.

CHỌN CÁN BỘ - LIỀU THUỐC ĐẶC TRỊ CHO "BỆNH SỢ TRÁCH NHIỆM"

 Các chuyên gia cho rằng mọi cơ chế khuyến khích và bảo vệ sẽ thất bại nếu cán bộ chỉ nghĩ đến chiếc ghế của bản thân. Khi con người là yếu tố quyết định, chọn đúng cán bộ mới là mấu chốt để tạo nên sức bật đổi mới, sáng tạo, phá bỏ sự trì trệ mà chúng ta hướng đến.
Tạo không gian thể chế cho đổi mới
Đánh giá Kết luận 14 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm là “hết sức cần thiết”, thậm chí “cấp bách” trong giai đoạn hiện nay, ông Nguyễn Túc, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam, cũng nhấn mạnh để chủ trương đúng đắn này đi vào cuộc sống, trước hết cần có sự thống nhất, đồng thuận trong cả xã hội, đặc biệt là từ lãnh đạo cấp cao nhất. “Nếu không có sự nhất trí cao thì rất khó”, ông Túc nói.

Đồng tình với ông Túc, TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nhìn nhận khi “người ta dấn thân, dám nghĩ dám làm, chưa biết kết quả thế nào mà đã ném đá thì khó lắm”. “Vấn đề nhận thức, nhất trí là rất quan trọng”, ông Dũng nói. Cũng theo ông Dũng, Kết luận 14 của Bộ Chính trị khơi gợi những cải cách về thể chế để đảm bảo khuôn khổ cho tự do - cốt lõi cho sự đổi mới, sáng tạo.

Dẫn câu chuyện quy định của pháp luật về trưng thu tài sản cá nhân trong trường hợp khẩn cấp, ông Dũng phân tích, nếu có một quy định chung, một công chức có thể lấy ô tô đi ngang qua để cứu đê trong trường hợp khẩn cấp nhưng nếu luật quy định để sử dụng chiếc ô tô đó đi cứu con đê sắp vỡ, phải có người làm chứng, phải có thỏa thuận, hoặc có ý kiến của UBND thì làm xong có khi đê vỡ từ lâu. Theo ông Dũng, tư duy lập pháp kiểu “cái gì cũng cần luật” và luật nào cũng cần chi tiết hiện nay đang “trói chặt” không gian đổi mới sáng tạo không chỉ ở khu vực công. “Nếu luật khung thì có thể xảy ra tự tung tự tác, có thể tham nhũng, nhưng luật chi tiết thì còn cái gì mà làm nữa”, ông Dũng nói và cho rằng chỉ nên quy định chi tiết ở những lĩnh vực có thể xảy ra tham nhũng, khi công chức tồi, còn ở các lĩnh vực khác thì chỉ nên quy định khung.

“Luật pháp sinh ra để bảo vệ quyền tự do của con người. Nếu cái gì cũng điều chỉnh hết sẽ thành vô vàn sợi dây trói buộc, trói chặt tiềm năng của đất nước, trói chặt khả năng của con người”, ông Dũng nói. Bên cạnh đó, sự chồng chéo, xung đột trong hệ thống pháp luật đến mức không ai có thể tuân thủ hết được, vì cứ tuân thủ luật này sẽ vi phạm luật kia dẫn đến tình trạng “càng làm nhiều càng sai nhiều” mà nhiều người đã nhắc tới.

“Không xử lý được những vấn đề nói trên thì không có sáng tạo, không có tự do và đòi hỏi cán bộ dám nghĩ, dám làm là điều rất khó”, ông Dũng nói.

Cốt cách con người vẫn là quyết định
Tuy nhiên, mọi cơ chế thí điểm, thậm chí không gian thể chế cho tự do đổi mới, sáng tạo sẽ trở nên vô dụng, thậm chí có khả năng bị lợi dụng, nếu như cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo vẫn chỉ nghĩ tới chiếc ghế của bản thân. Sợ trách nhiệm lúc này đã trở thành ngó lơ trách nhiệm.

Thực tiễn từ lịch sử cho tới hiện tại cho thấy, chỉ khi những người đứng đầu quyết liệt dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và những cán bộ thực thi dù không đủ thẩm quyền để chịu trách nhiệm nhưng xác quyết mục tiêu: cái gì tốt, có lợi cho dân thì làm, chúng ta mới có những câu chuyện “xé rào” thành công. “Cốt cách con người vẫn là quyết định”, nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan đúc kết.

Ông Vũ Khoan kể, khi giao cho ông làm Vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế (Bộ Ngoại giao) để thực hiện chủ trương ngoại giao làm kinh tế, ông Nguyễn Cơ Thạch (nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) đã phải gọi điện cho ông Lữ Minh Châu, khi đó là Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước (tương đương Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hiện nay) để “chỉ thị”, cung cấp thông tin cho ông Khoan. “Ông Thạch đứng ra hỗ trợ thì mới làm được chứ nếu không thì tôi có là vụ trưởng thì đến bảo vệ cũng gạt ra từ ngoài cổng chứ làm sao mà tiếp cận được Thống đốc Ngân hàng”, ông Khoan nói và nhấn mạnh, nhân tố quyết định nhất vẫn là người lãnh đạo, “không có lãnh đạo đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì mọi chuyện chẳng đi đến đâu hết”.

Theo ông Vũ Khoan, tâm lý sợ hãi, giữ mình khi nhiều cán bộ bị xử lý, kỷ luật là có, song không phải là trở ngại. “Vì anh đã đổi mới sáng tạo, tâm anh trong sáng anh sợ gì. Chỉ sợ anh lợi dụng cái đó anh đút túi thôi. Thời chúng tôi khó khăn thế nhưng vẫn vượt qua được nhờ có sự ủng hộ của người lãnh đạo. Sai lầm bây giờ là do mình chọn cán bộ dở quá, thành thử mới xảy ra tình trạng nhiều cán bộ bị xử lý như vừa qua. Chứ còn dùng người mà đúng, có tư tưởng đổi mới, sáng tạo thật và động cơ trong sáng thì đâu có phải. Đừng lẫn lộn 2 chuyện đó”, ông Khoan nói và cho rằng những người bị xử lý thời gian qua là do vi phạm chứ không ai bị xử lý vì đổi mới, sáng tạo cả.

Cũng theo ông Khoan, một khi cán bộ dám đổi mới, sáng tạo thì phải sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng, thậm chí là vị trí, uy tín của mình cũng có thể phải hy sinh. Thường những người đổi mới sáng tạo thực sự sẽ như vậy. “Còn nghĩ đến thân thì không bao giờ có đổi mới, sáng tạo gì cả”, ông Khoan nói.

Cũng cho rằng, cách chọn người cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc chúng ta chưa có những cán bộ dám nghĩ, dám làm, và dám chịu trách nhiệm, GS-TS Nguyễn Trọng Chuẩn, nguyên Viện trưởng Viện Triết học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, chỉ ra rằng hạn chế trong việc chọn người hiện nay là quá phụ thuộc vào cơ quan tổ chức, chọn từ trên xuống mà không phát hiện từ dưới lên, trong khi cơ quan tổ chức cán bộ quá phụ thuộc vào lý lịch, bằng cấp mà ít lắng nghe ý kiến nhân dân.

“Quy trình lựa chọn cán bộ rất chặt chẽ nhưng vẫn sai vì dù quy trình rất đúng, rất chặt chẽ nhưng từng bước trong quy trình ấy lại không đúng”, ông Chuẩn nói và cho rằng chỉ khi cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược được chọn có đủ nền tảng văn hóa, tầm nhìn sâu rộng, tiếp cận được những tư duy mới thì họ mới dám đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, đồng thời dám chịu trách nhiệm.
-----------------
Phùng Tiến
Theo: Báo Thanh Niên.


Thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với lực lượng vũ trang

 


Thông qua các mạng xã hội như YouTube, Facebook... các thế lực thù địch đang thực hiện chiến dịch truyền thông “gắp lửa bỏ tay người”, xuyên tạc, bôi nhọ một số tướng lĩnh, nguyên cán bộ cấp cao trong quân đội.

Mục đích hướng tới của chúng nhằm hạ bệ thần tượng, làm mất uy tín đội ngũ cán bộ quân đội, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết đồng chí, đồng đội, phá hoại giá trị bản sắc Bộ đội Cụ Hồ.

Nội dung do các thế lực thù địch thực hiện nhắm vào hàng ngũ tướng lĩnh, nguyên cán bộ cấp cao trong quân đội, đều là chiêu bài ngụy tạo chứng cứ, nói không thành có, bóp méo, bôi đen... Chúng đẩy vấn đề lên thành một chiến dịch truyền thông để gây nhiễu thông tin, nhiễu loạn môi trường tương tác trên không gian mạng, kích động, lôi kéo dư luận, hòng gây mất ổn định chính trị và an ninh trật tự trong bối cảnh cả nước đang tập trung nguồn lực cao phong, chống đại dịch Covid-19... Đây là thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”, hướng đến mục tiêu chống phá quân đội, chống phá Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, gây mất niềm tin trong cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân.

Có thể nhận diện thủ đoạn của các thế lực thù địch và đối tượng phản động nhắm vào hàng ngũ tướng lĩnh, nguyên cán bộ cấp cao trong quân đội trên không gian mạng như sau:

Về hình thức, ngoài những bài viết, chúng sử dụng chủ các video. Thông qua sử dụng phần mềm chỉnh sửa, cắt cúp, gán ghép hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao và nguyên lãnh đạo cấp cao của quân đội làm hình ảnh nền, sắp xếp, trình bày theo ý đồ xuyên tạc. Những cái gọi là “phóng sự truyền hình”, thực chất chỉ là thủ thuật lấy hình ảnh, clip về hoạt động của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cấp cao trong quân đội đã được báo chí, truyền thông đăng tải rồi cắt ghép, sắp xếp, làm nền cho lời bình xuyên tạc. Chiêu bài này thực chất là kiểu ngụy tạo chứng cứ để lừa bịp những người nhẹ dạ cả tin.

Về nội dung, những cái gọi là “tin mật”, “nguồn tin riêng”, “nguồn tin đáng tin cậy”, “tin từ nội bộ”... mà các thế lực thù địch, phần tử phản động rêu rao, thực chất là mớ thông tin ngụy tạo, nhảm nhí, nhằm mục đích giật gân, câu view. Chúng tung tin thất thiệt bôi nhọ đời tư, xuyên tạc tình hình vợ con, gia đình, giải quyết quan hệ đối ngoại... của một số đồng chí tướng lĩnh, nguyên lãnh đạo cấp cao của Quân đội ta nhằm gây nhiễu dư luận trên không gian mạng.

Trong chiến dịch chống phá này, chúng hướng tới là với chiêu thức “lộng giả thành chân”, chúng muốn lèo lái dư luận theo hướng nội bộ lãnh đạo cấp cao của quân đội đang có “vấn đề”, mâu thuẫn, mất đoàn kết...?! nhằm:

Thứ nhất: Thông qua luận điệu xảo trá, chúng xuyên tạc, kích động để cán bộ, chiến sĩ LLVT và công chúng hiểu sai lệch về mối quan hệ giữa cán bộ đương chức với các đồng chí đã nghỉ hưu, nghỉ chờ hưu.

Thứ hai: chúng xuyên tạc, phá hoại chủ trương hiện đại hóa quân đội theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Để hiện đại hóa quân đội thành công, phải bắt đầu bằng chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. chống phá vào hàng ngũ tướng lĩnh, cán bộ cấp cao của quân đội chính là chúng muốn chống phá ta trên lĩnh vực tư tưởng chính trị từ trong đánh ra, từ trên đánh xuống.

Thứ ba: gây xói mòn lòng tin, phá vỡ mối quan hệ đoàn kết giữa quân với dân. Đất nước ta tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, hội nhập với phương châm tự lực, tự cường, hướng tới mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước hùng cường dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc giữ vững ổn định chính trị đất nước là nhân tố có ý nghĩa quyết định. Các thế lực thù địch hiểu rõ Quân đội ta chính là thành trì vững chắc về chính trị, tư tưởng của Đảng và nhân dân. Để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng nhắm vào trận địa tư tưởng trong quân đội, xuyên tạc, phá hoại từ trung tâm bộ máy lãnh đạo

Thứ tư, nhằm gây rối về chính trị, tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, làm suy yếu lực lượng trên tuyến đầu phòng, chống dịch Covid-19; lôi kéo, xúi giục nhân dân phủ nhận vai trò của quân đội. Phá hoại trận địa tư tưởng trong quân đội cũng chính là cách các thế lực thù địch hướng tới nhằm cản trở quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng gắn với tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.

  vậy mỗi cán bộ chiến sỹ trong lực lượng vũ trang cần nâng cao cảnh giác, nhận diện âm mưu, thủ đọan chống phá của các thế lực trên lĩnh vực chhính trị, tư tưởng; giữ vững trận địa tư tưởng, bản lĩnh chính trị. Kiên quyết đấu tranh phản bác, làm thất bại thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch nhằm hạ thấp uy tín, niềm tin của nhân dân đối với lực lượng vũ trang./. NVS

DƯỚI ÁNH SÁNG CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA, VIỆT NAM TRỞ THÀNH ĐIỂM SÁNG TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG THẾ GIỚI

 

DƯỚI ÁNH SÁNG CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA, VIỆT NAM TRỞ THÀNH ĐIỂM SÁNG TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG THẾ GIỚI

Khi Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi, Quốc tế 3 ra đời, đã định ra xu hướng thời đại: Giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Mười Nga thổi luồng sinh khí chính trị hiện thực hóa Chủ nghĩa Mác - Lênin, tập trung sự chú ý của phong trào cách mạng Việt Nam hướng về nước Nga và Lênin. Sự thôi thúc của phong trào cách mạng thế giới đã đưa Nguyễn Ái Quốc tự giác và tiến sâu hơn vào phong trào cách mạng quốc tế, trước hết là cách mạng ở nước Pháp, đó là cơ hội giúp cho Nguyễn Ái Quốc hoàn thiện nhãn quan chính trị , trở thành người Việt Nam đầu tiên là chiến sĩ cộng sản quốc tế, trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam.

Luận cương của Lênin là sản phẩm lý luận được người đứng đầu Đảng bôn-sê-vích Nga kế thừa, phát triển, sáng tạo vào thực tiễn nước Nga và cách mạng thế giới ở đầu thế kỷ XX. Tư tưởng lớn, được kiểm định qua cuộc cách mạng vĩ đại đã hoàn toàn thuyết phục được Nguyễn Ái Quốc. Hướng đi đúng đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc bắt gặp chân lý thời đại, Người đinh ninh rằng, chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất là chủ nghĩa Lênin, đến nay, qua 100 năm rồi, điều đinh ninh ấy đã đủ thời gian và thực tiễn cách mạng kiểm chứng. Lịch sử đã đúng, dân tộc Việt Nam đã đúng khi Nguyễn Ái Quốc quyết định dứt khoát ngay từ đầu là hướng theo ánh sáng của cách mạng Tháng Mười Nga, lựa chọn Chủ nghĩa Mác-Ăng ghen-Lênin làm kim chỉ Nam cho Đảng cộng sản Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc “tấn công lên trời” của một dân tộc bị đô hộ giành lại quyền độc lập.

Ngay tiếp cách mạng Tháng Tám năm 1945 là hai cuộc kháng chiến vệ quốc kéo dài 30 năm đã cho thấy lý luận cách mạng mà Đảng ta lựa chọn, con đường đi theo cách mạng Tháng Mười Nga là đúng đắn. Có Đảng, có Bác Hồ, đồng bào ta đã viết nên khúc tráng ca lịch sử thời đại Hồ Chí Minh.

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA ĐẶT TIỀN ĐỀ NHỮNG GIÁ TRỊ CỐT LÕI KHỞI ĐẦU THỜI ĐẠI MỚI

 Cuộc cách mạng tư sản Anh (năm 1860 - 1864) và tiếp đó là các cuộc cách mạng tư sản bùng nổ ở châu Mỹ, châu Âu đã cáo chung thời đại phong kiến, mở ra thời đại tư bản chủ nghĩa trên phạm vi thế giới. Tuy nhiên, như Nguyễn Ái Quốc nhận định, các cuộc cách mạng tư sản Anh, Mỹ, Pháp chưa phải là cách mạng xã hội triệt để, vì bản chất của nó là chuyển địa vị thống trị từ giai cấp phong kiến sang giai cấp tư sản với hình thức bóc lột tinh vi hơn (Mác đã chỉ ra đó là bóc lột sức lao động thông qua giá trị thặng dư). Chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn phát triển cao của phương thức áp bức, bóc lột do giai cấp tư sản là chủ nhân, khiến cho nhân loại phải đau đớn. Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi đã mở ra chân trời mới, thời đại lịch sử mới trong lịch sử nhân loại. Cuộc cách mạng này đã giải quyết được một số mục tiêu có tính bao trùm thời đại, như: (1) Thay đổi trật tự và các mối quan hệ xã hội theo hướng tiến bộ; (2) Thay đổi động lực phát triển xã hội trên cơ sở giải phóng tư tưởng các tầng lớp bị áp bức thống trị; (3) Thiết kế và xây dựng một chế độ xã hội, một thể chế chính trị vì con người, cho con người, vì Tổ quốc, vì sự tiến bộ của nhân loại; (4) Phát triển thực chất tư tưởng nhân văn, nhân ái của Mác - Ăng ghen về tình hữu ái giữa người với người trên phạm vị thế giới; đoàn kết giai cấp vô sản, đoàn kết các dân tộc bị áp bức cùng đấu tranh vì hòa bình.

Từ những giá trị cốt lõi nêu trên, thế kỷ XX được coi là thế kỷ thắng lợi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, thế kỷ của đấu tranh giải phóng dân tộc, thế kỷ của đấu tranh vì dân chủ, hòa bình. Những giá trị sống văn minh, tiến bộ, tình hữu ái nhân loại, tình yêu Tổ quốc trở thành những giá trị thiêng liêng, có sức mạnh gấp triệu lần sức mạnh vật chất. Thế giới có hệ thống xã hội chủ nghĩa đối trọng, đấu tranh sinh tử buộc chủ nghĩa tư bản phải tự điều chỉnh. Chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, chủ nghĩa thực dân kiểu mới lần lượt bị đánh đổ. Các cuộc chiến tranh do chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát xít gây ra đều bị các lực lượng tiến bộ đẩy lùi.