"Dân duy bang bản, bản cố bang ninh" (Dân là gốc của nước, gốc có vững thì nước mới yên) - sách cổ Trung Hoa "Hạ thư" đã từng ghi vậy. Là người thấm nhuần tinh hoa văn hóa phương Đông cũng như phương Tây, sinh thời, Bác Hồ vĩ đại trong mọi suy nghĩ và hành động đã thể hiện rõ tư tưởng "gốc là dân".
Trong tác phẩm "Phép dùng binh của ông Tôn Tử", viết năm 1943 nhưng xuất bản tháng 2-1945 tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ đã nhấn mạnh khi diễn giải những ý tưởng quân sự của danh tướng Trung Hoa cổ đại rằng, được lòng dân là yếu tố cần thiết đầu tiên để giành chiến thắng: "Tất cả dân đồng tình với ta, có thể cùng sống chết mà không sợ nguy hiểm". Bác cũng dẫn lại lời của Khổng Minh: "Trước hết, cốt lấy lòng dân, thứ hai mới cốt lấy thành trì của địch". Thế nhưng, khác với các thủ lĩnh chính trị của những thời đại khác, trong ý niệm thường trực của Bác, người dân không chỉ là những ngọn gió để đẩy thuyền lên hay lật thuyền xuống mà là đối tượng cần được hướng tới, yêu thương, chăm lo, những người có quyền được tự do, bình đẳng và sống trong những điều kiện xứng đáng với kiếp nhân sinh.
Chính vì thế nên lo cho dân, cho nước luôn là nỗi niềm canh cánh năm canh của Bác Hồ. Theo hồi ức của đồng chí Lê Giản, nguyên Tổng Giám đốc Nha Công an Trung ương, ngay từ lúc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vừa thành công, chuẩn bị rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội để xây dựng chính quyền mới, Bác đã dặn dò: "Nhân dân bao năm nhường cơm xẻ áo cho mình thì mình phải có trách nhiệm chăm lo đời sống cho nhân dân. Các chú thấy đồng bào ở đây còn lạc hậu lắm, người ở trên sàn, dưới nuôi súc vật mất vệ sinh, vì vậy các chú phải ở lại chăm lo cải thiện đời sống cho nhân dân, để đồng bào ở đây cũng được hưởng thành quả của Cách mạng".
Cũng chính vì tình yêu thương thực sự bao la với nhân dân nên trong mọi chuyện liên quan tới đời sống nhân dân và đất nước, Bác đều muốn tìm hiểu thấu đáo sự thật. Trong mọi trường hợp, Bác đều muốn trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, với cán bộ, chiến sĩ để biết rõ tâm trạng, suy tư thực của họ. Một lãnh tụ lịch duyệt và từng trải như Bác không thể nào không biết đến những tích ngụ ngôn về các chuyện "giả lễ chúa Mường" Đông Tây kim cổ. Thí dụ như chuyện nữ hoàng Nga Ekaterina có lần đi kinh lý xuống địa phương, bị ông quan sở tại là Potiomkin "qua mặt" bằng cách dựng lên hàng loạt bức tranh quang cảnh xóm thôn trù phú, thịnh vượng để nữ hoàng tưởng rằng đất nước mà bà đang trị vì phát triển lắm (trong tiếng Nga, thành ngữ "Làng xóm của Potiomkin" về sau đã được dùng để chỉ tất cả những trò dối trên lừa dưới như thế). Bác hẳn cũng biết một thủ lĩnh phương Đông, cũng trong một lần xuống kinh lý địa phương, cứ tưởng mùa màng bội thu lắm vì các cán bộ lãnh đạo ở đó đã buộc người dân nhổ lúa đến trồng ở hai bên đường san sát, mặc dù sau đó thì lúa chết, làm thiệt hại vô kể...
Tai nghe, mắt thấy mới tư duy được chuẩn xác. Đó là phương thức làm việc gần dân, vì dân, cho dân của Bác. Đồng chí Nguyễn Tài, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, lần đầu tiên được gặp Bác ở chiến khu từ đầu năm 1945. Khi đó, Cách mạng còn trong giai đoạn hoạt động bí mật và còn ít ai biết mặt và tên người lãnh đạo tối cao. Cùng các đồng đội trong Đoàn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu lên tới Tân Trào, đồng chí Nguyễn Tài gặp ngay một cụ già, áo chàm vắt vai, quần chàm xắn tới đầu gối, ngay lập tức đã đặt ra nhiều câu hỏi và lắng nghe những câu trả lời rất chăm chú. Đồng chí Nguyễn Tài nhớ lại: "Tôi kể tình hình đói ở dưới xuôi, cảnh người chết dọc đường mà tôi được tận mắt nhìn thấy; phân tích việc giặc Nhật hất cẳng giặc Pháp, tiếp tục áp bức, bóc lột dân ta; giải thích về Mặt trận Việt Minh và chính sách cứu nước của Việt Minh. Cụ hỏi tôi: Các cháu lên đây làm gì? Tôi đáp là học quân sự để đánh đuổi giặc Nhật, giành độc lập cho dân ta...". Tóm lại, đồng chí Nguyễn Tài đã "tuyên truyền Cách mạng" cho ông cụ mà đồng chí ngỡ là người dân thường trên miền sơn cước. Ông cụ cứ nghe anh thanh niên miền xuôi lên nói mà không hề bộc lộ gì khác ngoài những lời như: "Ngày trước, khi giặc Pháp đến cướp nước ta thì đồng bào dưới xuôi bị nô lệ trước, trên này bị nô lệ sau; bây giờ trên này độc lập trước, thế nào đồng bào dưới xuôi cũng sẽ được độc lập…". Về sau, đồng chí Nguyễn Tài đã vừa kinh ngạc vừa sung sướng khi biết cụ già mặc đồ chàm hôm ấy chính là ông Ké, là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc! Không chỉ vì yêu cầu giữ bí mật mà Bác đã hành xử một cách dân dã như vậy. Đơn giản là Bác muốn biết tận tường và đích xác tâm trạng thực của lớp thanh niên đang hăm hở đi theo Cách mạng khi đó.
Còn đây là hồi ức của đồng chí Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nhiều năm từng làm người bảo vệ cho Bác: "Là một lãnh tụ, không dễ có ai quan tâm đến các vùng đất, con người cụ thể nhiều như Bác. Những chuyến công tác về địa phương của Bác cứ được tiến hành liên tục. Bác đi đâu, đến đâu cũng đều chuẩn bị kỹ nhưng không hề báo trước. Người giải thích đơn giản: "Bác muốn đi để thấy cảnh thật, người thật, việc thật, chứ đâu muốn đi để thấy cảnh được đón tiếp?". Đi đến đâu, làm việc gì xong là Bác về ngay. Chẳng bao giờ Bác chấp nhận tiệc tùng, chiêu đãi...".
Gần dân, sâu sát nhân dân nên Bác Hồ luôn biết cách tìm ra những vấn đề có lợi nhất cho dân, cho nước, ngay cả trong những tình huống tưởng chừng như quá nan giải. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong bài viết "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa", Bác đã đề cập tới vấn đề cải thiện dân trí cho thích hợp với chế độ mới: "Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập... Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH...".
Thực sự thương dân nên Bác luôn đặt ra cho chính quyền Cách mạng nhiệm vụ chính yếu và trên hết là hành động vì quyền lợi chân chính của dân. Theo quan niệm của Bác, Chính phủ không thể có mục đích phấn đấu gì hơn ngoài mục đích phục vụ nhân dân tận tụy, công tâm. Trong bài viết "Chính phủ là công bộc của dân", viết ngày 19-9-1954 với bút danh Chiến Thắng, Bác đã xác định ngay nhiệm vụ và đặc tính căn bản của chính quyền cách mạng: "Non hai tháng trước đây, trước cuộc khởi nghĩa 19-8-1945, nói tới hai chữ Chính phủ, người ta nghĩ ngay tới một bọn đầu đảng cướp nguy hiểm, xảo quyệt. Trái lại, ai ai đối với Chính phủ nhân dân hiện nay cũng đều có một cảm tình thân mật xen lẫn tôn kính sâu xa: Chính phủ đối với ta là "người anh cả" trong gia đình, một đồng chí phụ trách trong một địa phương, một người đứng mũi chịu sào ta có thể vững lòng trông cậy và gửi số mệnh vào. Người xưa nói: Quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc Chính phủ phải nhằm mục đích duy nhất là mưu cầu tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh". Rất giản dị nhưng rất chính yếu và luôn luôn đúng đắn!
Ngay cả tới lúc chuẩn bị ra đi vào cõi vĩnh hằng, canh cánh trong lòng Bác vẫn là nỗi lo cho dân, cho nước. Lời dặn dò cuối cùng trong Di chúc của Bác vẫn là: "Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân".
Mạnh Tử ngày xưa cũng từng nói: "Lấy ân huệ nuôi dân, lấy nghĩa sai khiến dân". Biết thế lại càng thấy tấm lòng của Bác với dân chân thành và ruột thịt hơn biết chừng nào!
QV-ST!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét