Thứ Hai, 3 tháng 1, 2022

Phát huy hơn nữa vai trò là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao cấp của quân đội ta

 

Phát huy hơn nữa vai trò là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao cấp của quân đội ta


 - Chủ tịch nước khẳng định, một trong những vấn đề quan trọng là làm tốt công tác xây dựng Đảng trong quân đội; đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ, sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, tầm nhìn chiến lược, năng lực lãnh đạo, chỉ huy nổi bật, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung và thực sự tiên phong, gương mẫu, đoàn kết.
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dự lễ kỷ niệm 45 năm Ngày truyền thống Học viện Quốc phòng  

Ngày 31/12, tại Hà Nội, Học viện Quốc phòng tổ chức Lễ đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất và kỷ niệm 45 năm Ngày truyền thống (03-01-1977/03-01-2022). Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước tới dự và phát biểu chỉ đạo.

Cùng dự có Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng; lãnh đạo một số bộ, ngành Trung ương, thành phố Hà Nội; đại diện các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng và các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên, công nhân viên, chiến sĩ trong Học viện qua các thời kỳ…

Thượng tướng, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trần Việt Khoa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng, đọc diễn văn, nêu rõ, ngày 3/1/1977, Học viện Quân sự Cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng) tổ chức lễ khai giảng khóa học đầu tiên. Trải qua 45 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước mà thường xuyên, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan Đảng, Nhà nước, quân đội, các địa phương và nhân dân cả nước, các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viện, nhân viên, chiến sĩ Học viện Quốc phòng luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, chủ động sáng tạo, nỗ lực khắc phục khó khăn, đoàn kết phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Từ ngày thành lập đến nay, Học viện đã đào tạo, bồi dưỡng hơn 400 lớp với 18 loại hình đào tạo và 53 đối tượng học viên. Hàng chục nghìn cán bộ cao cấp đã tốt nghiệp tại Học viện, trong đó có hơn 1000 đồng chí trở thành tướng lĩnh quân đội, hơn 500 đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng, nhiều đồng chí đã và đang đảm nhiệm những trọng trách cao cấp của Đảng, Nhà nước và quân đội. Học viện đã đào tạo được 913 thạc sỹ, 473 tiến sỹ, 187 phó giáo sư, 14 giáo sư khoa học quân sự; tổ chức 83 khóa bồi dưỡng kiến thức quốc phòng- an ninh cho hơn 5 nghìn cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước thuộc diện Trung ương quản lý. Học viện cũng đã hoàn thành 81 khóa đào tạo, bồi dưỡng cho hơn 700 cán bộ cao cấp của quân đội một số nước.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Lễ kỷ niệm 

Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại buổi lễ, thay mặt Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân ủy Trung ương, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đánh giá, những năm gần đây, Học viện đã quán triệt và thực hiện tốt chủ trương của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Công tác đào tạo đã có nhiều chuyển biến tích cực, đi vào thực chất hơn, chất lượng ngày càng cao hơn, đặc biệt là không để dịch bệnh lây lan vào Học viện; hoạt động nghiên cứu khoa học được đẩy mạnh và đạt được nhiều kết quả quan trọng, công tác đối ngoại quốc phòng có bước phát triển mới.

Đề cập tình hình thế giới và khu vực và tác động của đại dịch COVID-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Chủ tịch nước khẳng định, một trong những vấn đề quan trọng là làm tốt công tác xây dựng Đảng trong quân đội; đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ, sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, tầm nhìn chiến lược, năng lực lãnh đạo, chỉ huy nổi bật, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung và thực sự tiên phong, gương mẫu, đoàn kết. Học viện Quốc phòng cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao cấp của quân đội ta.

Trên tinh thần đó, Chủ tịch nước yêu cầu Học viện không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược của quân đội, công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ chủ chốt các cơ quan Trung ương và địa phương; góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ giỏi về quân sự, quốc phòng, có kiến thức toàn diện về các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, thực sự là những nhà chiến lược có năng lực lãnh đạo, chỉ huy giỏi, xử lý đúng đắn, sáng tạo mọi tình huống thực tiễn công tác, chiến đấu.

Học viện cần tích cực đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy và học tập theo hướng nâng cao nhận thức lý luận cơ bản, gắn lý luận với thực tiễn đổi mới đất nước, chú trọng những vấn đề mới đặt ra, vừa bảo đảm cho nhiệm vụ trước mắt, vừa đáp ứng yêu cầu lâu dài; xây dựng Học viện thực sự là một "pháo đài" vững mạnh tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, có sức lan toả lớn trong toàn quân với đội ngũ cán bộ giảng dạy, quản lý vững vàng về chính trị tư tưởng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kiến thức sâu rộng, trải nghiệm thực tiễn, có vốn sống phong phú ở tầm chiến dịch, chiến lược.

Đồng thời, Học viện cần tích cực nghiên cứu, nắm chắc tình hình, nâng cao khả năng dự báo chiến lược, chủ động tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng những vấn đề mới về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và sẵn sàng đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược; chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch; về những vấn đề quốc phòng, an ninh phi truyền thống; nâng cao vị thế, sức mạnh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Chủ tịch nước yêu cầu Học viện đẩy mạnh công tác nghiên cứu phát triển khoa học quân sự, quốc phòng, nghệ thuật quân sự và văn hóa quân sự Việt Nam; bổ sung, điều chỉnh cách đánh mới khi địch sử dụng vũ khí công nghệ cao và các loại hình tác chiến mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của quân đội trong tình hình mới. Học viện cần có cơ chế phù hợp huy động các nhà khoa học trong và ngoài quân đội tham gia nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn về quân sự, quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, Học viện cần mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, tiếp tục hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quân sự cao cấp cho hai nước bạn Lào và Campuchia, mở các lớp đào tạo quan chức quốc phòng đa quốc gia.

Chủ tịch nước tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, mà thường xuyên, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Học viện Quốc phòng sẽ ngày càng lớn mạnh, lập được nhiều thành tích to lớn hơn nữa trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.


Phê phán luận điệu phủ nhận “không có thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

 

Phê phán luận điệu phủ nhận “không có thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại.

Luận điệu sai trái về thời đại ngày nay

Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một việc rất cần thiết. Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách thức phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch trên đường đi; từ đó sẽ không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của thời cuộc và đời sống chính trị quốc tế.

V.I.Lenin từng chỉ rõ: Khi phân tích bất cứ vấn đề xã hội nào, phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác. Nói cách khác, vấn đề thời đại là căn cứ khách quan và tiền đề cần thiết để các chính đảng đi theo Chủ nghĩa Mác phân tích tình hình, xác định nhiệm vụ, phân chia trận tuyến, xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, triển khai thực hiện một cách khoa học.

Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như hiện nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại và nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo.

Phê phán luận điệu phủ nhận “không có thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội”
Ảnh minh họa. Nguồn: bantuyengiao.vn 

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy, nhưng hiện nay, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến chủ nghĩa xã hội nữa. Cụ thể hơn, họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và hệ thống XHCN nữa thì Việt Nam làm sao có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được.

Đây là luận điệu sai trái cần phải phê phán, vì những lý do cơ bản sau:

Thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga khai sáng

Theo nghĩa chung nhất, thời đại lịch sử được hiểu là toàn bộ thời kỳ phát triển của một hình thái kinh tế-xã hội hoặc những giai đoạn chủ yếu trong hình thái ấy.

Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN tháng 11-1957 tại Moscow (Liên Xô) đã khẳng định: “Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga”.

Thực tế cho thấy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và nhà nước XHCN đầu tiên ra đời năm 1917 đã đánh dấu chấm hết thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại mới, thời đại của sự quá độ lớn lao nhất trong lịch sử loài người, tiến tới một xã hội hiện thực không còn người bóc lột người, không còn nô dịch giữa người và người. Chế độ XHCN non trẻ đã vượt qua hàng loạt thử thách khắc nghiệt nhất của lịch sử, hiện diện cả ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, phát triển mạnh mẽ với nhiều ưu việt về chính trị, kinh tế, xã hội.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhận thức rõ bản chất, nội dung của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tình hình phức tạp, quanh co và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội nên đã hướng vào đánh giá trực tiếp những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất trong giai đoạn hiện nay của thời đại.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng năm 1991 đã nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

Thế giới có nhiều biến động nhưng khuynh hướng phát triển thời đại không thay đổi

Xem xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội loài người đều cho thấy, mỗi bước chuyển từ một hình thái kinh tế-xã hội này đến hình thái cao hơn đều diễn biến trong thời gian rất dài, có khi vài trăm năm hoặc vài nghìn năm. Vậy nên việc Đảng ta phân định giai đoạn hiện nay của thời đại “quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới” là tư duy sáng tạo, có tính khoa học xác thực và cần thiết. Theo đó, việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng được thực hiện trong khung khổ giai đoạn hiện nay của thời đại.

Khi đã xác định thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga, thì rõ ràng nội dung của thời đại ngày nay có hai vấn đề chính: Một là, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; hai là, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục.

Tuy nhiên, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại. Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì nay chủ nghĩa xã hội sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của chủ nghĩa tư bản; rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

Cách nhìn nhận như vậy rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp, chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước thụt lùi.

Sự đổ vỡ của XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản. Sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng.

Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chấm hết. Đây là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng thành quả mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Vả chăng, lịch sử đã chứng minh, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng tư sản Pháp vào các năm 1830, 1848, 1871.

Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười Nga làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ một mảng lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới của sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều bắt nguồn từ kết quả của xã hội đấu tranh của những người lao động và sâu xa hơn là được ảnh hưởng những yếu tố tích cực của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định của Đảng ta rằng, tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới.

Chặng đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được.

Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

NGƯỜI PHÁP, NGƯỜI MỸ VIẾT VỀ BÁC HỒ CHÚNG TA!

      Tuần báo "ĐÂY PARIS" số ra 18-6-1946:

"Chủ tịch nước Việt Nam là một người quá đỗi giản dị, Quanh năm chỉ bộ quần áo kaki giản dị! Khi những người cộng tác xung quanh nhắc Ông: 'với địa vị Ông, nên quan tâm mặc bộ trang trọng hơn!' Ông chỉ mỉm cười trả lời: "Chúng ta thì tưởng rằng chúng ta được quý trọng vì có áo đẹp mặc, trong khi bao nhiêu đồng bào thân trần, đang rét run ngay trong thành phố và các vùng quê...".

Sự giản dị đến cực độ như một nhà ẩn sĩ thế đó là một trong những đức tính rõ rệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Một tuần lễ Ông nhịn ăn một bữa, không phải hành tự xác mình.. mà để nêu gương dè xẻn gạo cho đồng bào, mong mọi người cùng làm để góp phần giảm bớt nạn đói trong nước. Và hết thảy mọi người xung quanh đều bắt chước làm theo hành động đó của Ông...

Tính giản dị, gần gũi qua những bài diễn văn: Không bao giờ Ông tỏ ra thông thái, dù Ông thông thạo bảy thứ tiếng khác nhau và nói được rất nhiều tiếng thổ âm.. Ông chỉ dùng những câu từ nôm na, thường dùng sao cho một người dù quê mùa chất phác nghe cũng hiểu ngay được...

Tất cả đức tính Hồ Chí Minh luôn thể hiện trong từng hành động tưởng chừng như bé nhỏ đó... Chủ tịch Hồ Chí Minh rất ghét lối nói khoa trương, văn vẻ. Mỗi bài diễn văn của Ông là một bài học nhỏ về đạo đức. chính những ý tưởng hết sức giản đơn ấy mà từng bài diễn văn của Ông là tiếng vang lớn trong giới trí thức và dân chúng."


*****

Sau khi Bác đã mất, năm 1971 nhà báo, nhà văn Mỹ (Đâyvít Hanbơcstơn) trong ấn phẩm “HỒ”- NXB 'Răngđôm Haosơ - Niu Yoóc" đã viết:

"Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này, hơi giống Găngđi, hơi giống Lênin, nhưng hoàn toàn Việt Nam. Hơn tất cả, đối với dân tộc của Ông, và cả thế giới Ông là hiện thân của một cuộc cách mạng.

Thế nhưng, với hầu hết người dân Việt Nam, Ông là biểu tượng của cuộc sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh và thắng lợi của họ.

Ông là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, nói năng hòa nhã, không màng địa vị, luôn luôn ăn mặc đơn giản nhất - cách ăn mặc không khác mấy so với người nông dân nghèo nhất - là phong cách mà phương Tây đã chế giễu Ông thiếu nghi thức quyền lực, không có đồng phục, không biết thời trang. Cho đến một ngày họ mới tỉnh ngộ và ngộ ra chính cái giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào nhân dân ấy là cơ sở tiên quyết cho sự thành công của Ông...

Tính giản dị của Ông Hồ là một sức mạnh. Địa vị càng cao sang, Ông càng giản dị và trong sạch. Hình như ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh cửu của Việt Nam: kính già, yêu trẻ, ghét tiền của. Ông Hồ không tìm kiếm cho mình những cái trang sức quyền lực vì Ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của mình với nhân dân, với lịch sử... Việc Ông luôn từ chối sự sùng bái cá nhân, sùng bái lãnh tụ là đặc biệt đáng chú ý trong một xã hội kém phát triển…"./.

Yêu nước ST.

TÍN HIỆU VỀ NGÀY TÀN CỦA “GIỚI RẬN CHỦ”!

         Năm 2021 đã qua đi và đối với "đám rận chủ" quốc nội thì đây đúng là một năm đầy “ác mộng” khi hàng loạt số đối tượng cầm đầu, cốt cán trong làng rận chủ quốc nội “được nhập kho”. Nhưng có lẽ kẻ xót xa nhất chính là các tổ chức thù địch chống phá Việt Nam ở nước ngoài, họ lần lượt chứng kiến đám “con cưng” do mình dày công “gây dựng”, đào tạo xa vào vòng lao lý mà “bất lực” không thể làm gì để thay đổi tình thế ngoài việc giở chiêu trò cũ rích, đeo bám phía “quốc mẫu” để cầu xin sự can thiệp, gây sức ép với Việt Nam đòi thả tự do cho số đối tượng đã bị bắt, xử lý hình sự. Nhưng như vậy càng cho thấy ngày tàn của những kẻ hành nghề “dân chủ” cũng sắp đến.


        Tuy nhiên, chúng ta không được chủ quan, mất cảnh giác, vì thủ đoạn của đám kền kền rất tinh vi và xảo trá khi phủ nhận sạch trơn mọi tội lỗi cho đám đồng đảng. Trong khi căn cứ vào kết luận và bằng chứng của các cơ quan chức năng, thì tội trạng của các đối tượng là rất rõ ràng. Thế nhưng, để bẻ lái vụ án, đám kền kền lại không ngần ngại thể hiện sự “mặt dày” của mình mà vu vạ mọi tội lỗi cho chính quyền. Chẳng hạn, mới đây, sau khi Toà tuyên án cho các đối tượng Đỗ Nam Trung, Phạm Đoan Trang, Trịnh Bá Phương và Nguyễn Thị Tâm, những tổ chức chống phá và “đồng đảng” lại ca ngợi số đối tượng này như những “anh hùng dân chủ”. Nực cười hơn khi họ rêu rao “nếu Việt Nam có dân chủ thì những người như Trang, Phương, Tâm, Trung đã có vị thế khác”?! Ngoài ra, họ còn đưa ra cái gọi là các bản báo cáo, bản phúc trình, thông cáo. Thậm chí, là tung ra yêu sách đòi Việt Nam phải trả tự do vô điều kiện cho các đối tượng phạm tội. Và dĩ nhiên, đi liền với đó là việc kêu gọi các thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

        Nhưng nói đi thì cũng nói lại, đây chẳng qua là sự cứu cánh, những động thái cuối cùng mà đám kền kền ở bên ngoài thể hiện để vớt vát chút danh dự cho các đối tượng cũng như để “lợi dụng” họ nhằm tiếp diễn các hoạt động chống phá trên lĩnh vực “dân chủ, nhân quyền” mà thôi. Và hơn nữa, họ làm vậy chẳng qua cũng để nuôi hy vọng sẽ tiếp tục lợi dụng được các đối tượng trên sau khi mãn hạn tù. Vì chúng ta đều thấy rõ một thực tế ở Việt Nam có khoảng 98 triệu dân thì giới “dân chủ” chỉ lác đác vài người, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có một vài “gương mặt thân quen”. Cho nên, sau khi số đối tượng như Phạm Đoan Trang, mẹ con Cấn Thị Thêu bị kết án, giới “dân chủ” suy yếu rất nhiều, trong khi đó, số đối tượng cốt cán khác thì đã được “xuất khẩu” ra nước ngoài, và tất nhiên khi ở nơi trời Âu thì họ cũng chẳng thể hiện được vai trò gì và cũng dần bị quên lãng. Chính vì vậy, các đối tượng “dân chủ” ra sức bám víu ở lại Việt Nam, thậm chí, trước khi vào tù, chúng cũng cố tình biến phiên xét xử trở thành một “sàn diễn” về cái gọi là “lý tưởng dân chủ, nhân quyền”. Đây như một cách “kéo dài hơi tàn” nhằm tranh thủ sự chú ý từ các thế lực bên ngoài./.

Yêu nước ST.

BÀ HENRIETTE BÙI - NỮ BÁC SĨ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM: THÔNG THẠO 7 THỨ TIẾNG, TÀI GIỎI ĐẾN MỨC GÂY CHẤN ĐỘNG MỘT THỜI

     Bà Henriette Bùi biết đến 7 ngoại ngữ, bao gồm: Tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý, tiếng La Tinh và tiếng Hy Lạp.

Bà Henriette Bùi Quang Chiêu sinh ngày 8/9/1906 tại Hà Nội và lớn lên ở Sài Gòn. Bà xuất thân trong một gia đình tri thức và giàu có nức tiếng thời bấy giờ. Điều khiến bà được người đời nhớ tới là bởi, bà chính là nữ bác sĩ đầu tiên ở Việt Nam. Tài năng, năng lực học tập của nữ bác sĩ này từng gây chấn động một thời...


Thông thạo đến 7 thứ tiếng, tốt nghiệp trường Y với luận án xuất sắc

Ngay từ nhỏ, bà Henriette Bùi Quang Chiêu đã được ăn học đầy đủ. Bà cũng rất sáng dạ và luôn có thành tích học tập xuất sắc. Thưở nhỏ, bà Henriette Bùi Quang Chiêu theo học tại Trường Saint Paul de Chartres (trường Nhà Trắng) tại Sài Gòn. Năm 1915, bà thi vượt cấp và nhận bằng Certificat d'Études sớm 2 năm, rồi vào học trường Collège des Jeunes Filles, tức Trường Trung học Gia Long, trường Áo Tím sau này, mà nay là Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai thuộc quận 3, TP.HCM.

Năm 15 tuổi, Henriette Bùi Quang Chiêu được đưa sang Pháp du học tại Trường Lycée Fenelon ở Paris vào năm 1926. Năm 1927, bà vào học Y tại ĐH Y khoa Paris. Thời điểm ấy, việc phụ nữ học lên đại học đã ít, huống chi còn là ĐH Y, và còn là một nữ sinh người Việt. Chính vì vậy mà sự kiện này gây chấn động thời đó. Sự có mặt một phụ nữ Việt tại một trường đại học danh tiếng của Pháp cũng là bước đột phá trong hệ thống giáo dục của nước này.

Sau 7 năm miệt mài học tập, bà Henriette Bùi Quang Chiêu tốt nghiệp trường Y với luận án đạt loại xuất sắc vào năm 1934. Bản luận án thậm chí còn được Hội đồng giám khảo khen ngợi và tặng thưởng huy chương. Từ đây, Henriette chính thức bắt đầu con đường hành nghề y, trở thành nữ bác sĩ khoa sản đầu tiên của Việt Nam.

Một điều ấn tượng nữa, đó là bà Henriette Bùi Quang Chiêu biết đến 7 ngoại ngữ, bao gồm: Tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý, tiếng La Tinh và tiếng Hy Lạp.


Chọn cứu người, thay vì hạnh phúc riêng tư

Năm 1935, bà Henriette về nước lấy chồng theo lệnh của cha mẹ. Chồng bà là ông Vương Quang Nhường, Tiến sĩ Luật khoa đầu tiên của Việt Nam. Thời điểm về nước, bà Henriette nhậm chức Trưởng khoa Hộ sinh cho một bệnh viện sản ở Chợ Lớn, và là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên có trách nhiệm chăm lo hệ thống bệnh viện thuộc địa thời ấy.

Cuộc hôn nhân của bà và ông Nhường chỉ kéo dài được 2 năm vì bà Henriette rất bận rộn công việc, thường xuyên phải ra khỏi nhà vào đêm hôm để đi cứu người. Sau đổ vỡ, bà tái giá với kỹ sư, đồng thời là bác sĩ Nguyễn Ngọc Bích. Ông Bích từng tốt nghiệp kỹ sư cầu cống từ trường nổi tiếng bậc nhất xứ Pháp “École Polytechnique,” vốn chỉ dành riêng cho sinh viên ưu tú nhất của nước Pháp và thế giới thời ấy.

Được biết thời điểm làm việc tại bệnh viện sản ở Chợ Lớn, bà Henriette thường xuyên đấu tranh trực diện với cấp trên để yêu cầu những quyền lợi chính đáng cho y bác sĩ Việt, cho bệnh nhân người Việt, trước sự bất công, thiên vị dành cho bác sĩ, bệnh nhân người Pháp.


Trong suốt 44 năm theo nghề y, bà Henriette từng làm việc cả ở Việt Nam và Pháp

Năm 1957, bà từng sang Nhật học thêm châm cứu để áp dụng trong ngành sản khoa. Năm 1961, bà sang Pháp sinh sống và mở phòng mạch riêng.

Năm 1970, bà Henriette về nước, tình nguyện phục vụ không lương trong ngành hộ sản và nhi khoa tại Bệnh viện Phú Thọ. Năm 1971, bà lại sang lại Pháp tiếp tục làm nghề y đến năm 1976 và mất vào ngày 27/4/2012 tại Paris, thọ 106 tuổi.

Được biết, bà Henriette còn hiến tặng biệt thự tư gia của bà ở số 28 đường Testard làm cơ sở cho Trường ĐH Y khoa Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Hiện nay, nơi này là địa điểm thuộc Bảo tàng Chứng tích chiến tranh ở đường Võ Văn Tần, TP.HCM./.

Yêu nước ST.

CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968 TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM!

     Cách đây hơn nửa thế kỷ, đúng vào dịp Tết Mậu Thân 1968, hưởng ứng lời hiệu triệu của Bộ Thống soái tối cao, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, toàn quân và toàn dân ta ở miền Nam đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt đánh vào hầu hết các thành phố, đặc biệt là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, các thị xã, thị trấn, chi khu, quận lỵ, sân bay và căn cứ hậu cần của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn trên toàn chiến trường miền Nam.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã gây ra cho đế quốc Mỹ một đòn "choáng váng đột ngột", làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến dự định của chúng; làm rung chuyển không những toàn bộ chiến trường miền Nam Việt Nam mà còn làm rung chuyển cả Lầu Năm Góc cũng như toàn nước Mỹ. Với ý nghĩa to lớn đó, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là một sự kiện lịch sử quan trọng và để lại dấu ấn sâu đậm trong tiến trình lịch sử Việt Nam hiện đại.

Kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2-9-1945) cho đến trước sự kiện Tết Mậu Thân 1968, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược với tinh thần anh dũng, kiên cường, lập nhiều chiến công xuất sắc, từng bước đánh bại mọi âm mưu xâm lược của kẻ thù. Đặc biệt, trong 10 năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1964), bằng đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo, nhân dân Việt Nam từng bước đẩy đế quốc Mỹ vào thế bị động, không còn giữ được ưu thế trên chiến trường miền Nam.

Đầu năm 1965, chiến lược "chiến tranh đặc biệt" bị phá sản, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ", ồ ạt đưa quân Mỹ vào tham chiến ở quy mô lớn ở miền Nam, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. Tham vọng của đế quốc Mỹ trong chiến lược "chiến tranh cục bộ" là đánh bại cách mạng miền Nam trong vòng từ 25 đến 30 tháng, với kế hoạch ba giai đoạn, hai cuộc phản công chiến lược, mà giai đoạn ba dự tính là hoàn thành việc tiêu diệt khối chủ lực của ta, tiếp tục bình định miền Nam, rút quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ về nước vào cuối năm 1967. Đứng trước tình thế đó, Đảng ta khẳng định: "Với việc thay đổi chiến lược chiến tranh như trên của đế quốc Mỹ, cách mạng và cuộc kháng chiến của nhân dân ta đứng trước một tình thế hiểm nghèo. Đảng ta, nhân dân ta sẽ đối phó với thách thức ấy như thế nào? Trên chiến trường, cách đánh với quân Mỹ sẽ ra sao? Có tiếp tục đấu tranh chính trị được nữa hay không? Vận mệnh của dân tộc, chiều hướng phát triển của sự nghiệp cách mạng nước ta và trên một mức độ nào đó của cả phong trào cách mạng thế giới, phụ thuộc vào câu trả lời về cách thức chúng ta xử trí tình huống chiến lược hệ trọng này"(1).

Trước sự thay đổi nhanh chóng của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược, Đảng Lao động Việt Nam đã đánh giá tình hình chiến lược mới một cách bình tĩnh và sáng suốt, tạo nên sự nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, cả nước một lòng thực hiện Lời kêu gọi vang dậy núi sông của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn"(2). Theo đó, với khí thế quyết chiến, quyết thắng, quân dân ta đã đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của địch ở miền Nam, đánh bại một bước chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, tạo đà cho cách mạng Việt Nam tiến lên.

Tháng 4-1967, đồng chí Nguyễn Chí Thanh ra miền Bắc báo cáo về tình hình miền Nam và đề xuất phải tổ chức những cuộc tiến công đánh thẳng vào hang ổ của địch trong các thành phố, thị xã để tạo chuyển biến lớn. Đồng chí Lê Duẩn tán thành ý kiến của đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Đây cũng là vấn đề mà đồng chí Lê Duẩn đang trăn trở, ý đồ chiến lược theo đó ngày càng sáng tỏ thêm.

Xuất phát từ những suy nghĩ trên, khi trao đổi với đồng chí Văn Tiến Dũng về kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu, đồng chí Lê Duẩn nảy ra ý định phải có cách đánh mới, phải khởi nghĩa và tiến công địch ở đô thị, nhất là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Tuy nhiên, cách đánh mới như thế nào thì chưa hình dung được cụ thể. Song theo các đồng chí thì phải khởi nghĩa và đánh vào đầu não địch ở các trung tâm thành phố - nơi địch cho là an toàn và ổn định nhất. Có làm được như vậy mới đánh bại địch về chiến lược. Vì đánh được vào các thành phố, nhất là Sài Gòn, mới làm "thôi động" hậu phương địch, làm rung động nước Mỹ, tạo nên làn sóng đấu tranh chính trị của nhân dân các đô thị miền Nam, nhân dân Mỹ, đồng thời cũng để tỏ rõ thế và lực của ta mạnh chứ không tàn lụi như đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tuyên truyền.

Tháng 5-1967, ngay sau khi cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của quân Mỹ kết thúc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá tình hình, xem xét dự thảo Kế hoạch chiến lược Đông - Xuân 1967 - 1968. Tiếp đó, tháng 6-1967, Hội nghị Bộ Chính trị được triệu tập và bàn bạc rất kỹ dự thảo kế hoạch chiến lược này. Hội nghị nhận định, thắng lợi của quân và dân ta giành được trên cả hai miền Nam, Bắc là to lớn, toàn diện. Thắng lợi đó đã làm thất bại một bước rất cơ bản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, đẩy chúng vào thế lúng túng, bị động về chiến lược.

Hội nghị còn nhận định, về phía ta, cả thế và lực đang có những tiến bộ, cho phép ta "trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn"(3). Nhưng tương đối ngắn là bao lâu? Tuy bàn bạc rất tỉ mỉ về tương quan lực lượng lúc đó nhưng Hội nghị cũng chỉ có thể dự kiến sẽ giành thắng lợi quyết định trong năm 1968 theo phương hướng đánh lớn. Muốn vậy, nhiệm vụ quân sự của ta là phải tiêu diệt một bộ phận sinh lực quân Mỹ, làm mất khả năng tiến công của chúng, đồng thời phải tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân đội Sài Gòn, khiến cho chúng không còn là lực lượng chiến lược trong tiến công và phòng ngự mà Mỹ dựa vào đó để tiến hành chiến tranh.

Từ ngày 20 đến ngày 24-10-1967, Bộ Chính trị họp bàn cụ thể hơn về chủ trương và kế hoạch chiến lược năm 1968 - kế hoạch tiến công táo bạo "Tết Mậu Thân” lịch sử. Tại Hội nghị này, thay mặt Quân ủy Trung ương, đồng chí Văn Tiến Dũng trình bày dự thảo Kế hoạch chiến lược Đông - Xuân - Hè 1967-1968 làm cơ sở cho Bộ Chính trị bàn bạc và thảo luận. Bên cạnh đó, Hội nghị còn dành thời gian nghe báo cáo về tình hình địch của Cục 2, về tình hình ta của Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu, về các kế hoạch tác chiến của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Khu 5, Tây Nguyên và Nam Bộ. Trên cơ sở đường lối độc lập, tự chủ và thảo luận kỹ các báo cáo, đặc biệt là Kế hoạch Đông - Xuân - Hè 1967-1968 do Quân ủy Trung ương dự thảo, Bộ Chính trị chủ trương tạo một bất ngờ lớn về chiến lược đánh địch. Để tạo được bất ngờ về chiến lược, Bộ Chính trị quyết định thời gian bắt đầu mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Mậu Thân. Tiếp đó, tháng 11-1967, Bộ Chính trị họp tiếp để bàn cụ thể về Kế hoạch tổng khởi nghĩa ở các đô thị miền Nam.

Quán triệt chủ trương của Bộ Chính trị, các chiến trường, các địa phương nhanh chóng bắt tay chuẩn bị trực tiếp cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, cụ thể: xây dựng và hoàn chỉnh phương án, kế hoạch công kích; khởi nghĩa; tổ chức, điều động, bố trí lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị; phân chia chiến trường; tổ chức hệ thống bảo đảm hậu cần; triển khai mạng lưới giao liên từ căn cứ xuống vùng ven, vào nội thành; chuẩn bị khu vực, địa điểm cất giấu lực lượng và địa bàn xuất phát tiến công; điều tra các mục tiêu và nắm tình hình cũng như quy luật hoạt động của địch ở nội đô. Đồng thời, huy động lực lượng bí mật bằng nhiều đường, nhiều loại phương tiện vận chuyển vũ khí vào nội thành cất giấu... Để khắc phục mọi khó khăn, các địa phương, các chiến trường đã phân cấp, phân hướng, trên dưới đồng thời chuẩn bị. Trong điều kiện thời gian gấp, chiến trường chia cắt, hơn một triệu quân Mỹ, quân đội Sài Gòn, quân một số nước đồng minh của đế quốc Mỹ với bộ máy kìm kẹp cùng mạng lưới tình báo, gián điệp, chỉ điểm giăng rộng và trà trộn khắp mọi nơi nhưng quá trình chuẩn bị của ta vẫn giữ bí mật tuyệt đối và cơ bản hoàn tất trước khi ngày giờ nổ súng bắt đầu.

Cùng với quá trình chuẩn bị, các chiến trường mở đợt hoạt động Thu - Đông 1967. Đợt hoạt động này nằm trong khuôn khổ giai đoạn 1 của kế hoạch tác chiến chiến lược. Mục đích của đợt hoạt động là trực tiếp tạo thế, tạo lực cho Tết Mậu Thân, buộc địch phải phân tán binh lực, nghi binh làm lạc hướng chú ý của chúng, tạo thêm điều kiện cho quá trình chuẩn bị của ta. Vì thế, ở vùng ven đô thị và vùng nông thôn đồng bằng, lực lượng vũ trang ta được lệnh duy trì các hoạt động. Trong khi đó, chủ lực Quân giải phóng liên tiếp mở các chiến dịch có quy mô tương đối lớn ở khu vực rừng núi nhằm đánh bồi vào quân Mỹ, phá kế hoạch chuẩn bị phản công lần thứ ba của chúng và lôi kéo, ghìm chân một bộ phận quan trọng chủ lực Mỹ tại vòng ngoài(4).

Cùng với hoạt động trên chiến trường miền Nam trong Thu - Đông 1967, cơ quan chỉ đạo chiến lược đã đề ra các biện pháp nghi binh nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của bộ chỉ huy đối phương(5).

Toàn bộ những hoạt động trên đây của ta không lọt qua sự chú ý của giới lãnh đạo nước Mỹ và Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn. Cuối năm 1967, chúng nhận định: Trong năm 1968, trọng tâm hoạt động của ta chỉ là chống phá bình định, mở một số trận đánh dọc miền biên giới, tiến công các mục tiêu ở hai tỉnh Quảng Trị - Thừa Thiên, tìm cách bảo tồn lực lượng, cố gắng duy trì mức độ giao tranh như năm 1967.

Từ nhận định này, chúng chủ trương tiếp tục mở cuộc phản công chiến lược lần thứ ba, mùa khô 1967-1978 mà hướng chủ yếu vẫn là miền Đông Nam Bộ và hướng quan trọng là Trị - Thiên nhằm duy trì thế giằng co, tránh mọi sự đảo lộn bất ngờ, chờ cho kỳ bầu cử tổng thống mới ở Mỹ kết thúc sẽ tính toán bước đi tiếp theo.

Ngày 28-12-1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt, chính thức thông qua Kế hoạch chiến lược năm 1968 và chủ trương: "Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định"(6). Bộ Chính trị quyết định: "Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích - tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định"(7).

Bộ Chính trị dự kiến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy có thể phát triển theo ba khả năng:

Một là, ta giành được thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, những cuộc công kích và khởi nghĩa thành công ở các đô thị lớn, ý chí xâm lược của địch bị đè bẹp, địch phải chịu thương lượng đi đến kết thúc chiến tranh theo mục tiêu, yêu cầu của ta.

Hai là, tuy ta giành thắng lợi quan trọng nhiều nơi nhưng địch vẫn còn lực lượng dựa vào những căn cứ lớn và tăng thêm lực lượng từ ngoài vào phản công giành lại những vị trí quan trọng và các đô thị lớn - nhất là Sài Gòn để tiếp tục chiến đấu với ta.

Ba là, Mỹ tăng cường nhiều lực lượng, mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, sang Lào và Campuchia hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh, gỡ thế đang thua của chúng. Bộ Chính trị cũng chỉ rõ: ta phải nỗ lực phi thường giành thắng lợi cao nhất theo khả năng một, nhưng phải chuẩn bị sẵn sàng chủ động đối phó với khả năng hai, khả năng ba, tuy ít.

Tháng 1-1968, để giữ bí mật ý đồ chiến lược, Ban Chấp hành Trung ương lên họp ở Kim Bôi, Hòa Bình để thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967. Hội nghị Trung ương phân tích sâu sắc, toàn diện các vấn đề Bộ Chính trị nêu ra, tính kỹ các phương án, cuối cùng Trung ương nhất trí với Bộ Chính trị và lấy đó làm Nghị quyết Trung ương lần thứ 14. Phát biểu trong Hội nghị, đồng chí Trường Chinh cho đây là một sáng tạo lớn của Đảng.

Căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 14, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh gấp rút hoàn chỉnh lần cuối phương án tổng công kích - tổng khởi nghĩa và xác định cụ thể: "Cùng với đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở hướng phối hợp chiến lược đặc biệt quan trọng là Đường 9 - Khe Sanh, nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, một đòn tiến công chiến lược đánh vào thị xã, thành phố quy mô trên toàn miền Nam, kết hợp với nổi dậy của quần chúng nông thôn và đô thị, mở đầu cho tổng công kích - tổng khởi nghĩa, lấy chiến trường chính là Sài Gòn, Gia Định, Đà Nẵng, Huế; trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định, Huế - Đà Nẵng và các thành phố lớn"(8).

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng và thấm nhuần sâu sắc tư tưởng "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, quân dân miền Nam từ Trị - Thiên đến Khu 5 và Nam Bộ đã tiến công và nổi dậy đồng loạt hướng trọng điểm nhằm vào các thành phố, thị xã, nhất là các hang ổ của địch ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, các căn cứ quân sự, sân bay, bến cảng, kho tàng lớn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên toàn miền, gây cho chúng tổn thất lớn và choáng váng nhiều ngày, đối phó bị động, lúng túng ở tất cả các vùng chiến lược, nhiều nơi ta đánh chiếm và làm chủ được nhiều ngày.

Ở Huế, quân và dân ta hoàn toàn làm chủ thành phố, đánh lui hàng trăm đợt phản kích của địch. Ở Sài Gòn - Gia Định, sào huyệt đầu não của địch, quân và dân ta tập kích nhiều mục tiêu quan trọng như Tòa Đại sứ Mỹ, dinh "Gia Long", Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn... là những nơi đề xướng và điều hành mọi tội ác chiến tranh chống nhân dân, chống cách mạng. Đánh phá làm tê liệt nhiều hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, làm ngưng trệ việc vận chuyển và thông tin liên lạc của địch trong nhiều ngày, nhiều giờ. Phối hợp chặt chẽ với tiến công, đội quân chính trị hùng hậu của nhân dân ở cả nông thôn và thành thị nổi dậy mạnh mẽ, lật đổ bộ máy chính quyền cơ sở, phá ách kìm kẹp của địch ở nhiều nơi, san bằng hàng loạt "ấp chiến lược", giành quyền làm chủ nhiều vùng rộng lớn, xây dựng và củng cố hậu phương trực tiếp, mở rộng địa bàn của ta.

Thắng lợi lớn nhất và quan trọng nhất của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là ta đã làm đảo lộn chiến lược chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ - một siêu cường quân sự, kinh tế, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của chúng. Trong chiến tranh, thắng lợi ở quy mô chiến dịch là rất quan trọng, song chỉ khi làm đảo lộn kế hoạch chiến lược chiến tranh của đối phương mới tạo được chuyển biến lớn, thay đổi cục diện chiến trường. Đó là vấn đề có tính quy luật thuộc về nghệ thuật chỉ đạo và điều hành chiến tranh, có tác động lớn đến tiến trình và kết cục cuộc chiến tranh. Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ta đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Sự kiện Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta là lần đầu tiên trong lịch sử Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, quân Mỹ bị đánh bại bởi một dân tộc nhỏ ở cách xa nước Mỹ.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đồng thời đã tác động trực tiếp đến đời sống chính trị - tinh thần nước Mỹ, làm cho làn sóng đấu tranh phản đối chiến tranh xâm lược trong nhân dân Mỹ lên cao chưa từng thấy - một cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ. Không còn sự lựa chọn nào khác, ngày 31-3-1968, Tổng thống Giônxơn buộc phải tuyên bố đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari và không ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ hai.

"Kết quả cuộc Tổng tiến công và nổi dậy chứng tỏ Đảng ta không máy móc, mà luôn luôn có những phát kiến chiến lược lớn, luôn luôn sáng tạo trong chủ trương cũng như trong chỉ đạo toàn dân, toàn quân hành động"(9). Đánh giá về sự kiện Tết Mậu Thân 1968, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng sau ngày toàn thắng đã nêu rõ: ”... Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó đã đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari"(10).

Như vậy, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã mang lại cho quân và dân ta một xung lực mới, một khả năng mới và củng cố niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng ngay trong những ngày tháng cam go, ác liệt nhất. Nếu so với kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta phải tập trung hầu như toàn bộ các đơn vị chủ lực tinh nhuệ của quân đội vào một trận quyết chiến chiến lược ở một địa bàn xa trung tâm đất nước tại Điện Biên Phủ, thì trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ta đã có đủ lực lượng cùng lúc đánh đồng loạt vào gần 40 thành phố, thị xã toàn miền Nam, trong đó tập trung vào các sào huyệt quan trọng, hiểm yếu nhất của đế quốc Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa như Sài Gòn, Huế... Mặc dù còn có những khuyết điểm, hạn chế, song thắng lợi to lớn mà Tết Mậu Thân 1968 tạo ra là không thể phủ nhận được. Từ đó có thể khẳng định, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là một sự kiện lịch sử tiêu biểu trong tiến trình lịch sử Việt Nam hiện đại.

Thời gian không ngừng trôi, những trang vàng lịch sử dân tộc Việt Nam sẽ tiếp tục trải dài, nhưng sự kiện Tết Mậu Thân 1968 vẫn mãi là dấu ấn không thể phai mờ. Kỷ niệm 50 năm sự kiện Tết Mậu Thân là dịp để chúng ta cùng nhìn lại sự chủ động, sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân, toàn dân ta kháng chiến; thấy được sự anh dũng, quả cảm của các lực lượng tham gia sự kiện này; đồng thời, đây cũng là dịp để chúng ta nhìn lại những điểm còn tồn tại, từ đó đúc rút những bài học kinh nghiệm quý báu, vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định; đưa dân tộc Việt Nam vững bước tiến lên sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong đợi lúc sinh thời.

---------------

(1). Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Nxb. Quân đội nhân dân, Hà nội, 1998, tr.19.

(2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.15, tr.131.

(3). Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.384-385.

(4). Chiến dịch Lộc Ninh – Đường 13 của chủ lực miền Nam (27-10 đến 10-2-1967) ở khu vực rừng núi miền Đông Nam Bộ; Chiến dịch Đắk Tô của lực lượng vũ trang Tây nguyên (đầu tháng 11-1967).

(5). Tung bản tác chiến giả vào chiến trường, phóng thích hai tù binh “giặc lái” Mỹ về đoàn tụ với gia đình nhân dịp Nôen năm 1967, nhắc lại tuyên bố ngày 28-1-1967 của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh, rằng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ nói chuyện với Chính phủ Hoa Kỳ sau khi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc vô điều kiện,…

(6). Hồ Khang: Tết Mậu Thân 1968 – Bước ngoặt lớn của Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.95.

(7). Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967 được Ban chấp hành Trung ương thông qua tháng 1-1968 thành Nghị quyết Trung ương 14.

(8). Bộ Quốc phòng-Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 11- Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1955), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.238.

(9). Cuộc tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr.265.

(10). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđđ, t.37, tr.481.

Môi Trường ST.

Chuẩn bị đón Tết ở Trường Sa

 

Chuẩn bị Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, bộ đội và nhân dân huyện đảo Trường Sa (Khánh Hòa) được đón nhận những cành mai, cây quất và rất nhiều món quà từ đất liền gửi ra.

Tình cảm, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, quân đội và đồng bào cả nước giúp cán bộ, chiến sĩ cùng bà con nơi đảo xa được đón Tết sung túc, vui tươi. Cùng với hương vị Tết từ đất liền, quân dân trên các đảo tích cực tăng gia sản xuất để đón Tết thêm đủ đầy, ấm cúng.

Phóng viên Báo Quân đội nhân dân gửi đến bạn đọc một số hình ảnh chuẩn bị đón Tết ở huyện đảo Trường Sa.

Chuẩn bị đón Tết ở Trường Sa
 Đoàn công tác Lữ đoàn 146, Vùng 4 Hải quân tặng quà và chúc Tết cán bộ, chiến sĩ đảo Cô Lin.

 

Chuẩn bị đón Tết ở Trường Sa
 Vượt muôn trùng sóng gió, những chậu quất trĩu quả được trao tận tay bộ đội Trường Sa.

 

Chuẩn bị đón Tết ở Trường Sa
 Chăm sóc rau xanh chuẩn bị phục vụ Tết trên đảo.

 

Chuẩn bị đón Tết ở Trường Sa
 Những chú lợn được đưa lên đảo để tiếp tục nuôi dưỡng.

 

Chuẩn bị đón Tết ở Trường Sa
 Hành, tỏi từ đất liền gửi ra được phơi nắng để tránh ẩm mốc.

 

Chuẩn bị đón Tết ở Trường Sa
 Vận chuyển quà từ tàu lên đảo.

SƠN BÌNH - THẾ TUẤN (thực hiện)

Điểm tựa phòng, chống dịch

 

Khác với nhiều người được sum vầy bên gia đình để đón chào năm mới 2022, những cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh Thừa Thiên Huế đang thực hiện nhiệm vụ tại Khung T2 (khu điều trị bệnh nhân Covid-19 không triệu chứng tại Trường Cao đẳng nghề số 23) trong bộ trang phục bảo hộ đẫm mồ hôi vẫn ngày đêm tất bật làm việc để hỗ trợ điều trị bệnh nhân, tuần tra canh gác, vệ sinh môi trường, chuẩn bị khẩu phần ăn... cho gần 1.000 bệnh nhân.

Trong số cán bộ, nhân viên đang làm việc tại đây có những đồng chí nhiều tháng liền chưa một lần về thăm nhà; có chiến sĩ sắp hoàn thành nghĩa vụ quân sự nhưng vẫn không ngại khó khăn, nguy hiểm, xung phong tình nguyện ở lại tuyến đầu để chung sức với đồng đội phòng, chống dịch. Binh nhất Hoàng Hùng Cường, chiến sĩ Trung đoàn 6 bày tỏ: “Tôi muốn dành khoảng thời gian còn lại trong quân ngũ để phục vụ, giúp đỡ bệnh nhân vượt qua dịch bệnh, sớm trở lại cuộc sống bình thường”.

Điểm tựa phòng, chống dịch
 Quân y Bộ CHQS tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với lực lượng y tế huyện A Lưới lấy mẫu xét nghiệm cho người dân. 

Cảm động trước sự tận tình, chu đáo, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ và các lực lượng thực hiện nhiệm vụ tại đây, chị Mai Thị Lệ Chinh ở phường Phú Thượng, TP Huế, nói: “Khi biết mình trở thành F0, tôi rất lo lắng, hoang mang, nhưng khi vào điều trị tại Khung T2, thường xuyên được các anh bộ đội cùng các lực lượng tận tình chăm sóc, điều trị, động viên, tôi đã không còn lo lắng nữa. Các anh chị là điểm tựa để những bệnh nhân như chúng tôi thêm vững tin, yên tâm điều trị...”.

Những ngày này, tại các chốt kiểm soát phòng, chống dịch Covid-19 trên tuyến biên giới hay ở “vùng đỏ”, “vùng cam”, cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh Thừa Thiên Huế cũng không quản ngày đêm tham gia chốt chặn, tuần tra, theo dõi các trường hợp F1 cách ly tại nhà, hỗ trợ truy vết, xét nghiệm... kiên quyết ngăn chặn, không cho dịch lây lan. 

Để làm điểm tựa cho nhân dân phòng, chống dịch, Bộ CHQS tỉnh Thừa Thiên Huế đã chủ động thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt, đồng bộ. Đặc biệt, việc chuẩn bị các khu cách ly, nâng cấp, mở rộng các khu điều trị bệnh nhân có triệu chứng nhẹ và không triệu chứng đã được Bộ CHQS tỉnh chuẩn bị từ sớm... Đến nay đã có 7 khu điều trị do Bộ CHQS tỉnh quản lý, tiếp nhận và điều trị gần 13.000 bệnh nhân. Đại tá Hoàng Văn Nhân, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết: “Với tinh thần vì nhân dân phục vụ, cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh quyết tâm, nỗ lực vượt mọi khó khăn, luôn là điểm tựa vững chắc, sát cánh cùng chính quyền, nhân dân địa phương sớm ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh và đưa cuộc sống bình thường trở lại”.

Bài và ảnh: VÕ ĐÔNG

Bình Phước nâng cấp độ dịch lên mức “nguy cơ cao”

 

Ngày 3-1, UBND tỉnh Bình Phước cho biết vừa ban hành văn bản về phân loại cấp độ dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh.

Theo đó, Bình Phước nâng từ cấp độ 2 (nguy cơ trung bình) lên cấp độ 3 “vùng cam” (nguy cơ cao) tính từ ngày 3-1-2022.

Cụ thể, Bình Phước có 1 huyện đang thuộc vùng nguy cơ dịch ở cấp độ 1 (vùng xanh - nguy cơ thấp) là Bù Đốp. Có 10/11 huyện, thị xã, thành phố ở vùng nguy cơ dịch cấp độ 3 gồm: Đồng Xoài, Phước Long, Bình Long, Bù Gia Mập, Lộc Ninh, Hớn Quản, Đồng Phú, Bù Đăng, Chơn Thành, Phú Riềng.

Bình Phước nâng cấp độ dịch lên mức “nguy cơ cao”
Lấy mẫu xét nghiệm tại tỉnh Bình Phước. 

Đối với cấp xã, tỉnh có 8 xã ở vùng nguy cơ dịch cấp độ 1; 23 xã có nguy cơ dịch cấp độ 2 và 80 xã có nguy cơ dịch cấp độ 3 (vùng cam - nguy cơ cao).

Theo Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Bình Phước, tính đến 8 giờ sáng 3-1-2022, Bình Phước đã ghi nhận 31.582 ca nhiễm Covid-19. Bình Phước đang có hơn 10.300 bệnh nhân đang được theo dõi, điều trị. Ngày 1-1 và ngày 2-1-2022, Bình Phước ghi nhận trung bình trên 700 ca mắc Covid-19.

UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, đoàn thể, các huyện, thị xã, thành phố triển khai các hoạt động phòng, chống dịch phù hợp với mức độ nguy cơ về dịch bệnh của từng xã, phường, thị trấn theo quy định.

Tin,ảnh: LONG PHÚC