Thứ Hai, 3 tháng 1, 2022

Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế

 

Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế

 Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực và trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, khẳng định vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam. Những đóng góp hiệu quả của Việt Nam trong các tổ chức khu vực và quốc tế ngày càng được các nước ghi nhận, góp phần tích cực vào sự phát triển chung của thế giới.
Tuân thủ các nguyên tắc, cam kết và thể chế quốc tế

Là thành viên của Liên hợp quốc (năm 1977), Việt Nam luôn ủng hộ các mục tiêu và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, không đe đọa hoặc sử dụng vũ lực, giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình, đóng góp tích cực trong giải quyết xung đột, khủng hoảng trên thế giới. Biểu hiện rõ nét là việc Việt Nam luôn chủ động và tích cực thông qua đàm phán hòa bình để giải quyết các vấn đề chủ quyền biên giới trên bộ và trên biển với các quốc gia láng giềng. Bên cạnh đó, nhằm góp phần thúc đẩy vai trò Liên hợp quốc là một thể chế đa phương toàn cầu công bằng, hiệu quả, Việt Nam tích cực tham gia xây dựng và thực thi các điều ước quốc tế của Liên hợp quốc. Năm 2017, Việt Nam là một trong 52 nước đầu tiên ký kết Hiệp ước Cấm vũ khí hạt nhân và năm 2018 là nước thứ 10 phê chuẩn Hiệp ước này. Điều này thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với trách nhiệm chống phổ biến vũ khí hạt nhân, góp phần gìn giữ hòa bình trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người; cam kết thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo Tuyên ngôn nhân quyền và các công ước quốc tế. Bên cạnh đó, để góp phần thực hiện tốt hơn nữa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người, bảo vệ nhân dân, Chính phủ còn chủ động điều chỉnh hệ thống chính sách, pháp luật cho phù hợp với quá trình triển khai thực hiện các cam kết. Việt Nam đã rất thành công khi đảm nhiệm vị trí, vai trò là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam đã nhận định: “Với chủ trương phát triển lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Việt Nam đạt được mức phát triển con người cao. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận và cũng tạo cơ hội cho sự phát triển tốt hơn, nhanh hơn trong giai đoạn tới”(1).

Sau 26 năm gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam luôn tuân thủ sáu nguyên tắc chính được nêu trong Hiệp ước Thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (TAC): Một là, cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các quốc gia; hai là, quyền của mọi quốc gia được tồn tại mà không có sự can thiệp, lật đổ hoặc áp bức của bên ngoài; ba là, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bốn là, giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; năm là, từ bỏ việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực; sáu là, hợp tác với nhau một cách có hiệu quả(2).

Khi tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam luôn tuân thủ Bộ Quy tắc thương mại toàn cầu và giảm thiểu các rào cản thương mại quốc tế, thực hiện đầy đủ các quy định mang tính ràng buộc của WTO, như các cam kết về thuế quan, tài chính, mở cửa thị trường hàng hóa, mở cửa thị trường dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó còn có các cam kết tài chính khác, như định giá trị hải quan, chính sách giá, chính sách trợ cấp, chính sách phí và lệ phí. Các cơ quan nhà nước đã tiến hành rà soát, sửa đổi nhiều luật cũng như các văn bản dưới luật, như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ… để hệ thống pháp luật của Việt Nam phù hợp với các quy tắc pháp lý của WTO. Việc tuân thủ các quy định trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển, có mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp là sự thể hiện nỗ lực cao của Việt Nam trong thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm đối với các cam kết quốc tế. Bởi, bên cạnh những cơ hội trong hội nhập quốc tế, việc tuân thủ các cam kết tạo ra sức ép lớn đối với nền kinh tế, đòi hỏi vượt lên sự cạnh tranh không chỉ ở tầng cấp sản phẩm, doanh nghiệp mà cả trên bình diện quốc gia.

Xử lý hài hòa giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế

Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc diễn ra ngày càng gay gắt, các quốc gia vừa và nhỏ đều nhận thấy lợi ích quốc gia - dân tộc sẽ chỉ được bảo đảm khi lợi ích chung của cộng đồng quốc tế được bảo đảm dựa trên luật lệ quốc tế và chủ nghĩa đa phương. Bên cạnh đó, phải nhìn nhận rõ hơn về tầm quan trọng của lợi ích quốc tế, bởi khi các quốc gia có những lợi ích chung mới có thể cùng nhau hợp tác, xử lý và giải quyết những vấn đề xung đột lợi ích. Để xử lý hài hòa lợi ích quốc gia với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã xây dựng, củng cố các hợp tác song phương và đa phương; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình hội nhập quốc tế.

Với vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), lần đầu tiên có sự tham gia của lãnh đạo quan chức quốc phòng cấp cao của các nước lớn (như Mỹ, Nga, Trung Quốc…), giúp tăng cường giải quyết các thách thức an ninh khu vực. Việt Nam đã cùng với các quốc gia khu vực phối hợp thông qua Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), làm cơ sở để giải quyết các vấn đề trên biển, góp phần vào ổn định chung của khu vực. Việt Nam chủ động thúc đẩy hợp tác phát triển Tiểu vùng sông Mekong theo hướng toàn diện với các đối tác Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ…, giúp các nước tại Tiểu vùng sông Mekong tiếp cận với các nguồn lực và hỗ trợ cần thiết. Năm 2020, đảm nhận trọng trách Chủ tịch ASEAN, một trong năm ưu tiên thúc đẩy mà Việt Nam lựa chọn là duy trì môi trường hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực trên cơ sở tăng cường đoàn kết, thống nhất ASEAN; đẩy mạnh tinh thần gắn bó, tương trợ và ủng hộ lẫn nhau giữa các thành viên. Với vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009, Việt Nam đã cùng các nước thành viên khéo léo xử lý những khác biệt nảy sinh, giải quyết các tranh chấp trong khu vực bằng biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, phù hợp với các thỏa thuận giữa hai nước và luật pháp quốc tế, tránh xung đột vũ trang và ảnh hưởng tới sự đoàn kết của ASEAN. Đối với vấn đề hạt nhân trong khu vực, Việt Nam bày tỏ quan điểm tôn trọng quyền sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình của các quốc gia, song cũng mong muốn ngăn ngừa việc phổ biến vũ khí hạt nhân. Quan điểm của Việt Nam trong việc giải quyết quan hệ giữa các nước đều dựa trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, đề cao vai trò của các tổ chức khu vực, đề cao vai trò trung gian, hòa giải.

Với vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, Việt Nam đã ghi rõ “dấu ấn” trong việc nhấn mạnh đến lợi ích chung của khu vực và toàn cầu về duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Tháng 1-2020, Việt Nam đã chủ trì thảo luận mở về “Thúc đẩy tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế” với sự tham gia của 111 diễn giả đến từ 106 quốc gia, là phiên thảo luận với số diễn giả tham gia đông kỷ lục; lần đầu tiên tổ chức diễn đàn trao đổi “Hợp tác giữa Liên hợp quốc và ASEAN”. Thông qua sự kiện này, cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao vai trò của Việt Nam trong việc góp phần thúc đẩy, đề cao sự đoàn kết và tăng cường kết nối giữa ASEAN với Liên hợp quốc. Điều này cũng thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc duy trì, thúc đẩy các lợi ích chung toàn cầu. Có thể thấy rằng, những đóng góp của Việt Nam thời gian vừa qua càng góp phần nâng cao hơn nữa vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế, tạo cơ sở thuận lợi để chúng ta tiếp tục triển khai đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Đóng góp nhiều sáng kiến trong khuôn khổ hợp tác quốc tế và khu vực

Với vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc năm 2020, Việt Nam đã có sáng kiến tổ chức hai sự kiện quan trọng và tạo dấu ấn mạnh mẽ đối với cộng đồng quốc tế, đó là “Thảo luận mở của Hội đồng Bảo an với chủ đề Thúc đẩy tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế” và “Phiên họp về hợp tác giữa Liên hợp quốc và ASEAN”. Đây là lần đầu tiên các chủ đề này được thảo luận tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Một trong những sáng kiến đáng chú ý khác của Việt Nam tại Hội đồng Bảo an thời gian qua chính là đề xuất và thúc đẩy thông qua Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về Ngày Quốc tế sẵn sàng chống dịch bệnh 27-12 hằng năm với số lượng nước đồng bảo trợ đạt kỷ lục (112 quốc gia). Bên cạnh đó, Việt Nam đã có những sáng kiến góp phần đề cao vai trò, hợp tác và sự hiện diện của ASEAN tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Với vai trò Chủ tịch Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) năm 2001, Việt Nam triển khai Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, hỗ trợ thành viên mới hội nhập khu vực. Khi tham gia xây dựng Cộng đồng ASEAN, Việt Nam đưa ra Sáng kiến về xây dựng Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN (ASCC). Trong vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010, Việt Nam là một trong số các nước có tỷ lệ sáng kiến đề ra trong Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) cao nhất trong ASEAN. Trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM hẹp) lần thứ 26, với vai trò Chủ tịch ASEAN 2020, Việt Nam đưa ra 12 đề xuất và đã được thông qua về các sáng kiến, ưu tiên hợp tác kinh tế, tập trung vào các lĩnh vực, như thương mại điện tử, thương mại hàng hóa, năng lượng, công nghệ thông tin, nông nghiệp, phát triển bền vững, tài chính, thống kê, đổi mới sáng tạo… Trong đó, nổi bật là sáng kiến xây dựng Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN sau năm 2025, được các nước thành viên ASEAN đánh giá cao bởi ý nghĩa và tầm quan trọng của việc kịp thời triển khai các định hướng phát triển cho ASEAN trong tương lai. Bên cạnh đó, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, với vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020, Việt Nam đã lựa chọn chủ đề “Gắn kết và chủ động thích ứng”; thúc đẩy nhiều sáng kiến quan trọng như Quỹ ASEAN ứng phó COVID-19 để tiếp nhận những nguồn hỗ trợ cho hoạt động phòng, chống dịch của cả khu vực và tổ chức nhiều hội nghị cấp cao nhằm đưa ASEAN vượt qua đại dịch. Trước những thách thức của đại dịch COVID-19, Việt Nam chủ động dẫn dắt các hoạt động của ASEAN theo phương thức hoạt động mới - “ngoại giao số” và đã đạt được nhiều thành công. Có thể thấy, những sáng kiến được đưa ra trong giai đoạn khó khăn này đã làm nổi bật vai trò tích cực, nòng cốt, những nỗ lực của Việt Nam trong việc củng cố, tăng cường đoàn kết và giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN, góp phần nâng cao vị thế của ASEAN trong khu vực và trên thế giới.

Trong quá trình tham gia Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), những sáng kiến nổi bật mà Việt Nam đề xuất có thể kể đến, như sáng kiến “Hội thảo ASEM về tuyến đường sắt tơ lụa Á - Âu” (thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Á - Âu lần thứ 6 vào tháng 4-2004) mà Việt Nam đồng sáng kiến với Hàn Quốc và một số nước ASEM khác. Tại ASEM 7, Việt Nam đưa ra sáng kiến về “Phối hợp các hoạt động văn hóa nhằm tăng cường quảng bá hình ảnh ASEM”. Việt Nam cũng là nước đầu tiên đưa ra sáng kiến hợp tác y tế trong ASEM vào năm 1999 về “Kết hợp y dược học cổ truyền với y dược học hiện đại trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng”. Bên cạnh đó, Việt Nam còn đưa ra sáng kiến về “Xử lý bệnh dịch bùng phát trong cộng đồng” (đồng sáng kiến với Trung Quốc năm 2003).

Giai đoạn đảm nhiệm vai trò chủ nhà Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC, năm 2017), Việt Nam là một trong những thành viên chủ động đề xuất và tham gia triển khai thành công trên 80 sáng kiến ở hầu hết các lĩnh vực thương mại, đầu tư, hợp tác kỹ thuật, y tế, đối phó với chủ nghĩa khủng bố.

Góp phần giải quyết các vấn đề khu vực và thế giới

Trong  nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2008 - 2009, Việt Nam đóng vai trò tích cực và xây dựng tại các cuộc họp, tham vấn và xem xét các quyết định trên nhiều vấn đề liên quan đến xung đột tại các khu vực, tái thiết hậu xung đột, khủng bố quốc tế, kiểm điểm các biện pháp trừng phạt, các hoạt động gìn giữ hòa bình và nâng cao tính minh bạch của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Khi đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, Việt Nam đã chủ trì phiên thảo luận mở cấp cao với chủ đề “Tăng cường hợp tác giữa Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực trong thúc đẩy lòng tin và đối thoại trong ngăn ngừa và giải quyết xung đột” để đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hợp tác giữa Liên hợp quốc với các tổ chức khu vực trong xử lý các thách thức toàn cầu nói chung và ngăn ngừa, giải quyết xung đột nói riêng ở các khu vực; tổ chức phiên họp cấp Bộ trưởng với chủ đề “Khắc phục hậu quả bom mìn và duy trì hòa bình bền vững: Tăng cường gắn kết để hành động hiệu quả hơn”. Chủ đề này đã thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế bởi nhấn mạnh đến những hậu quả nặng nề do bom mìn và vật liệu nổ sót lại sau chiến tranh gây ra và góp phần nâng cao nhận thức của các quốc gia về khía cạnh nhân đạo, nhân văn và sự cần thiết phải tăng cường hợp tác quốc tế trong các hoạt động khắc phục hậu quả bom mìn; tổ chức phiên thảo luận mở cấp bộ trưởng về chủ đề “Bảo vệ cơ sở thiết yếu đối với sự sống của người dân trong xung đột vũ trang”.

Từ năm 2014, Việt Nam đã cử sĩ quan tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi. Tính đến tháng 11-2019, Việt Nam cử 2 bệnh viện dã chiến cấp hai tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại hai quốc gia này. Cuối năm 2018, Việt Nam được Liên hợp quốc lựa chọn làm địa điểm huấn luyện lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế. Ngày 13-11-2020, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, có hiệu lực từ ngày 1-7-2021. Đây là bước đi thể hiện sự đóng góp ngày càng có trách nhiệm của Việt Nam trong các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Là một trong những nước thành viên sáng lập ASEM, Việt Nam tích cực đóng góp vào những nỗ lực chung nhằm bảo vệ hòa bình, chống nguy cơ chiến tranh và chạy đua vũ trang dựa trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế, chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, vì hợp tác bình đẳng và cùng có lợi, vì hòa bình, ổn định, thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới, xây dựng trật tự chính trị, kinh tế quốc tế dân chủ, công bằng. Bên cạnh đó, trong các vấn đề khác như môi trường, nhân quyền, phát triển nguồn nhân lực, cải thiện hệ thống y tế, an ninh lương thực..., Việt Nam cũng đóng góp tiếng nói tích cực để giải quyết những vấn đề phức tạp này.

Kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát trên toàn thế giới, tất cả các quốc gia đều phải “gồng mình” ứng phó với dịch bệnh, trong đó có Việt Nam. Ngay từ những giai đoạn đầu bùng phát dịch bệnh, bên cạnh việc chia sẻ các kinh nghiệm trong phòng, chống dịch bệnh, Việt Nam đã triển khai thực hiện những hoạt động viện trợ tích cực về vật tư, thiết bị y tế cho các hoạt động chống dịch của các quốc gia khác trong khu vực cũng như trên thế giới, trong đó có cả các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc… Đặc biệt, với một số nước ASEAN như Lào và Campuchia, ngoài sự viện trợ về vật tư, thiết bị y tế, như máy thở, quần áo bảo hộ, khẩu trang y tế, hệ thống xét nghiệm và bộ xét nghiệm, Việt Nam còn cử các đoàn chuyên gia y tế sang hỗ trợ các nước chống dịch. Trong giai đoạn đại dịch COVID-19 vẫn tiếp tục hoành hành với sự xuất hiện của biến thể mới, những hoạt động này càng cho thấy tinh thần trách nhiệm của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế, gửi đi thông điệp về tình đoàn kết và tương trợ lẫn nhau khi sẵn sàng chia sẻ, đồng hành cùng các nước chống dịch.

Phát huy hơn nữa vai trò thành viên có trách nhiệm trong các tổ chức khu vực và quốc tế

Kể từ khi tham gia hội nhập sâu, rộng vào các tổ chức quốc tế và khu vực, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong triển khai phương châm đối ngoại là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế,  góp phần nâng cao vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Hình ảnh một Việt Nam có trách nhiệm, nỗ lực phấn đấu vì hòa bình, phát triển ngày càng được thế giới ghi nhận.

Tuy nhiên, trong quá trình tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, vẫn còn một số hạn chế ảnh hưởng tới việc phát huy vai trò thành viên có trách nhiệm của Việt Nam:

Một là, tình hình quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, nhanh chóng, sự thay đổi trong chính sách và quan hệ của các nước lớn, nhất là quan hệ Mỹ - Trung Quốc. Điều này đã tạo ra thách thức lớn đối với Việt Nam trong nỗ lực duy trì quan hệ cân bằng và tốt đẹp với các nước lớn.

Hai là, việc triển khai thực thi chính sách đối ngoại trong thực tiễn đôi khi vẫn chưa mạnh mẽ, đồng bộ và toàn diện. Việc xây dựng các khuôn khổ quan hệ thực chất và hiệu quả, triển khai các thỏa thuận đã ký kết thực chất, tham gia và tận dụng các thể chế đa phương để bảo vệ tốt hơn lợi ích của Việt Nam vẫn chưa được như mong muốn. Sự tham gia của các bộ, ngành và địa phương vào công tác đối ngoại còn chưa đồng đều.

Ba là, trên thực tế, các khuôn khổ hợp tác quốc tế hiện nay không chỉ đơn thuần là hợp tác mà còn tồn tại sự cạnh tranh quyết liệt. Hiện nay, trình độ phát triển khoa học - công nghệ, kinh tế của Việt Nam còn chưa cao, sức cạnh tranh còn hạn chế, vì vậy chưa thực sự thích ứng cao với tập quán thương mại quốc tế. Hơn nữa, trong khối ASEAN, cơ cấu kinh tế và thương mại của hầu hết các nước tương đối giống nhau, đều coi trọng việc đẩy mạnh xuất khẩu và cạnh tranh các thị trường ở nước ngoài, nên Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn trong việc củng cố và phát triển thị trường cả ở trong và ngoài nước.

Bốn là, quá trình tham gia và thực hiện những cam kết quốc tế cho thấy Việt Nam còn thiếu nguồn nhân lực thông thạo ngoại ngữ, có trình độ chuyên môn, am hiểu luật pháp quốc tế… tương xứng với trình độ chung của khu vực, do đó phần nào hạn chế cơ hội thuận lợi khi tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực.

Năm là, trong các tổ chức quốc tế mà Việt Nam tham gia tồn tại sự khác biệt về mặt thể chế chính trị, định hướng phát triển, nhìn nhận trong các vấn đề phát triển (mô hình, giá trị…), điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc tăng cường lòng tin, thắt chặt quan hệ với một số đối tác. Những vấn đề toàn cầu và an ninh phi truyền thống, như an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh tài chính, an ninh mạng, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh… diễn biến phức tạp. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng và lợi ích quyết liệt không chỉ ảnh hưởng đến tự do hóa thương mại và bảo hộ mậu dịch, mà còn ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò, thậm chí là sự tồn tại của những tổ chức thương mại đa phương. Kinh tế thế giới khó khăn hơn do các rủi ro nội tại cũng như tác động của đại dịch COVID-19.

Sáu là, nền kinh tế Việt Nam cũng đang phải đối mặt với không ít thách thức trong bối cảnh diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19. Nguy cơ bùng phát làn sóng lây nhiễm COVID-19 với nhiều biến thể mới kèm theo các rủi ro về đứt gãy chuỗi cung ứng vẫn đang hiện hữu ở nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới, trong đó có những đối tác thương mại, đầu tư lớn của Việt Nam. Tất cả những điều này đã và đang đặt ra thách thức lớn đối với Việt Nam trong phát huy vai trò của mình trong cộng đồng quốc tế.

Trong thời gian tới, để phát huy hơn nữa vai trò thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế của Việt Nam, cần tiếp tục thực hiện một số vấn đề mang tính định hướng sau:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức hơn vai trò, trách nhiệm của quốc gia khi tham gia các tổ chức khu vực và quốc tế. Nâng cao hiểu biết và sự đồng thuận của cả xã hội đối với việc tuân thủ và thực hiện các cam kết và thỏa thuận quốc tế, nhất là nhận thức về những cơ hội, thách thức và những yêu cầu đặt ra. Sau gần ba thập niên gia nhập ASEAN, Việt Nam ngày càng nâng cao được nhận thức và vai trò trách nhiệm trong hợp tác quốc tế. Lòng tin giữa Việt Nam với các nước được nâng lên rõ rệt. Mỗi cá nhân, đoàn thể, các bộ, ban, ngành từ Trung ương tới địa phương cần nhận thức việc thực hiện các cam kết, trước hết và trên hết là bảo đảm lợi ích của quốc gia - dân tộc. Hơn nữa chỉ có thể nâng cao trách nhiệm, bảo đảm các cam kết, đem lại lợi ích cho đối tác mới là cơ sở bền vững cho bảo đảm lợi ích của mình.

Hai là, tổ chức thực hiện các cam kết, thỏa thuận quốc tế một cách hiệu quả. Việt Nam đã trải qua giai đoạn thực hiện các cam kết bước đầu, đến nay, quá trình này đang ngày càng đi vào chiều sâu, nên việc thực hiện các cam kết trong giai đoạn mới càng cần đầy đủ, nghiêm túc và hiệu quả, góp phần tạo dựng, nâng cao mức độ tin cậy, đẩy mạnh và chủ động làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác trong khu vực và trên thế giới; mặt khác, điều này giúp Việt Nam tận dụng tối đa các cơ hội nhằm mở rộng thị trường, thúc đẩy thương mại, đầu tư, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.

Ba là, triển khai chiến lược tổng thể liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực. Việt Nam cần tập trung đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao để đón đầu những cơ hội, học tập những kinh nghiệm do hội nhập quốc tế mang lại. Công nghệ và nhân tài sẽ quyết định thành công trong cạnh tranh ở thế kỷ XXI. Cần tập trung nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, đẩy mạnh tiếp thu thành tựu khoa học - công nghệ của thế giới và có cơ chế khuyến khích tìm kiếm, đào tạo nhân tài để từng bước chuyển từ nhập khẩu công nghệ sang phát kiến, tạo lập công nghệ nguồn.

Bốn là, tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo những thay đổi trong tình hình quốc tế. Việc hội nhập khu vực và thế giới mang lại những cơ hội phát triển, song cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với sự ổn định chính trị, an ninh quốc gia, thậm chí sự phụ thuộc về kinh tế nếu không có chính sách phù hợp. Vì vậy, cần nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo tình hình kinh tế, chính trị thế giới và khu vực có tác động đến Việt Nam, các xu thế phát triển, các sáng kiến mới và kinh nghiệm của các nước đã thực thi hiệu quả cam kết hội nhập, là cơ sở để hoạch định đường lối, chiến lược, chính sách đúng đắn trong hội nhập quốc tế.

Việc tuân thủ các tiêu chuẩn, chuẩn mực và thể chế quốc tế, xử lý hài hòa giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, đóng góp sáng kiến trong khuôn khổ hợp tác, tham gia giải quyết các vấn đề trong khu vực và trên toàn cầu là những cách thức hữu hiệu để Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế và nâng cao uy tín quốc gia, thể hiện ngày càng tốt hơn vai trò là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế./.

Đồng phạm đánh trẻ

Bé mới một tuổi, bị bảo mẫu nhét giẻ vào miệng vì khóc. Sự việc xảy ra tháng 6/2021 ở Thái Bình. Xem video về sự việc, tôi không cầm được nước mắt, quyết định gửi thông tin cho lãnh đạo Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Thái Bình. Một tuần sau, vụ án được khởi tố. Một năm chín tháng tù giam là hình phạt mà Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình tuyên phạt người bạo hành cháu bé. Đầu tháng 11/2020, bố của một cháu bé ở huyện Hoa Lư, Ninh Bình gọi cho tôi nhờ tư vấn. Con anh 15 tháng tuổi, đi học tại trường mầm non công lập địa phương đã bị cô giáo dùng tay ấn đầu xuống nền bệ bồn cầu, đánh vào lưng cháu nhiều lần gây tổn hại sức khỏe 8% do rối loạn stress sau sang chấn. Tôi cảm giác nhói trong lồng ngực khi đọc kết luận giám định của bé. Tháng 11/2021, vụ án được Tòa án Nhân dân huyện Hoa Lư đưa ra xét xử. Mười hai tháng tù treo là hình phạt Tòa áp dụng cho bị cáo, dù năm 2018 người này từng đánh một học sinh khác, bị nhà trường kiểm điểm. Sau khi đọc bản kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, tôi hướng dẫn gia đình cháu kháng cáo lên cấp phúc thẩm. Cả hai vụ án trên đều bị khởi tố và truy tố về tội "hành hạ người khác" theo khoản 2, Điều 140, Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung là "phạm tội với trẻ em", khung hình phạt tù từ một đến ba năm. Trong khi tòa ở Thái Bình áp dụng án giam thì tòa ở Ninh Bình cho hưởng án treo dù tổn hại sức khỏe của cháu bé ở Ninh Bình nghiêm trọng hơn, nhân thân bị cáo cũng xấu hơn. Bố mẹ cháu hỏi tôi rằng "xử treo" như vậy có đúng pháp luật không. Câu trả lời của tôi là không sai nhưng chưa phù hợp. Không sai, vì theo Nghị quyết 02/2018 của Hội đồng Thẩm phán: Người bị phạt tù không quá ba năm, có hai tình tiết giảm nhẹ trở lên, về cơ bản có thể được hội đồng xét xử xem xét cho hưởng án treo nếu xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù". Hai trong ba bảo mẫu hành hạ trẻ ở cơ sở Mầm Xanh năm 2018 được hưởng án treo trên căn cứ này. Án treo với tội xâm hại trẻ em được coi là thiếu nghiêm minh và đi ngược lại luật quốc tế. Nhiều nước xử phạt rất nghiêm hành vi xâm hại trẻ em với hầu hết hình phạt là tù giam. Ở Mỹ hay châu Âu, nếu bố hoặc mẹ có hành vi tát con, tòa có thể áp dụng hình phạt lao động công ích hay cọ rửa nhà vệ sinh nơi bố, mẹ làm việc và cấm đảm nhiệm việc nuôi con một thời gian. Không chỉ ở phương Tây, gần đây các nước có văn hóa dạy con "thương cho roi cho vọt" như Hàn Quốc, Trung Quốc cũng đã sửa luật theo hướng tăng nặng hình phạt đối với các tội xâm hại trẻ em. Điều 3, Công ước về Quyền trẻ em nêu rõ: "Trong tất cả hành động liên quan đến trẻ em, dù do các cơ quan phúc lợi xã hội công cộng hay tư nhân, tòa án, nhà chức trách hay cơ quan lập pháp tiến hành, lợi ích tốt nhất của trẻ phải là quan tâm hàng đầu". Trẻ em là đối tượng yếu thế nhất trong xã hội cả về thể chất, tâm sinh lý nên cần chế tài bảo vệ ở mức cao nhất. Việt Nam tham gia Công ước về Quyền trẻ em năm 1990 và ban hành Luật Trẻ em năm 2016 với nguyên tắc cốt lõi "trẻ em được bảo vệ tối đa". Nhưng công cụ bảo vệ trẻ em hữu hiệu nhất là Luật Hình sự trong thực tế lại đang bất cập. Thứ nhất, về khung hình phạt. Hành vi "hành hạ trẻ em" quy định tại Điều 140, Bộ luật Hình sự chỉ từ một đến ba năm tù, thậm chí cả trong trường hợp gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên (mức tổn thương nghiêm trọng). Hình phạt đã nhẹ, nhưng người phạm tội vẫn có thể được hưởng án treo theo cách mà Tòa án huyện Hoa Lư đã áp dụng. Thứ hai, luật hiện hành không quy trách nhiệm cho người thân trong gia đình khi phát hiện ra hành vi bạo hành. Điều 19 và 390, Bộ luật Hình sự quy định tội "không tố giác tội phạm" nhưng loại trừ trách nhiệm của: ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội nếu họ không tố giác hành vi của người đó, ngoại trừ một số tội danh. Đây là thiếu sót lớn, hành vi xâm hại trẻ em diễn ra kín nên người phát hiện hay chứng kiến thường là các thành viên gia đình. Nếu họ biết nhưng để mặc hoặc vì nể nang, phụ thuộc mà không tố cáo thì sẽ rất khó khăn để cơ quan chức năng ngăn chặn, bảo vệ trẻ kịp thời. Nó không khác gì "dung dưỡng" cho bạo hành tiếp diễn trong tương lai. Việc em bé 8 tuổi bị vợ chưa cưới của cha mình hành hạ đến tử vong mà không được ai thông báo với cơ quan chức năng là một ví dụ. Do đó, cần phải quy trách nhiệm đối với cả những người trong gia đình. Luật hình sự Mỹ, châu Âu thể chế hóa nguyên tắc cốt lõi của Điều 3 Công ước Quyền trẻ em tối đa đến mức quy định một số trường hợp người phát hiện ra hành vi bạo hành trẻ em phải có nghĩa vụ thông báo ngay cho chính quyền, nếu không sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm. Tức, nghiêm trọng hơn không tố giác rất nhiều. Cục Cảnh sát hình sự, Bộ Công an cho biết, năm 2020 có 2.008 trẻ em bị xâm hại tại Việt Nam. Khi mâu thuẫn xã hội và gia đình gia tăng, trẻ em có nguy cơ là đối tượng dễ bị "trút giận" nhất. Vì vậy, pháp luật hình sự đã đến lúc rất cần sửa theo hướng không cho hưởng án treo, tăng hình phạt với các tội liên quan đến trẻ em cũng như quy trách nhiệm cho người lớn xung quanh. Sớm sửa luật để bảo vệ trẻ tốt hơn; và cũng để mỗi chúng ta kịp dừng lại khi thiếu kiềm chế, định giơ tay lên với một đứa trẻ.

Thanh tra việc mua kit xét nghiệm tại Bộ Y tế, Hà Nội, TP.HCM ngay quý I-2022

Tổng Thanh tra Chính phủ cho biết đã phê duyệt ba cuộc thanh tra việc mua sắm trang thiết bị y tế, sinh phẩm, kit test phục vụ phòng, chống dịch COVID-19 tại Bộ Y tế, Hà Nội, TP.HCM và triển khai ngay trong quý 1-2022. Sự kiện: Móc ngoặc, "thổi giá" kit test COVID-19 Thanh tra Chính phủ vừa có báo cáo gửi Thủ tướng, Chính phủ về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng năm 2021. Hướng dẫn các địa phương thanh tra việc mua sắm trang thiết bị y tế Đáng chú ý, liên quan đến việc thực hiện các nghị quyết của Chính phủ, Thanh tra Chính phủ cho hay đối với nhiệm vụ “Có kế hoạch thanh tra việc mua sắm trang thiết bị y tế, sinh phẩm, kit xét nghiệm phục vụ phòng, chống dịch vừa qua để chống lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm”, cơ quan này đã tham mưu Thủ tướng phê duyệt định hướng chương trình thanh tra năm 2022. Trong đó, giao Thanh tra Chính phủ thanh tra việc mua sắm trang thiết bị y tế, sinh phẩm, kit xét nghiệm phục vụ phòng, chống dịch COVID-19 tại Bộ Y tế và UBND TP Hà Nội, TP.HCM. Tổng Thanh tra Chính phủ đã xây dựng, phê duyệt ba cuộc thanh tra việc mua sắm trang thiết bị y tế, sinh phẩm, kit xét nghiệm phục vụ phòng, chống dịch COVID-19 tại Bộ Y tế và UBND TP Hà Nội, UBND TP.HCM. Thanh tra Chính phủ cũng có văn bản hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thanh tra năm 2022, trong đó có nội dung thanh tra việc quản lý, sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ, việc mua sắm trang thiết bị y tế phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19. “Thanh tra Chính phủ sẽ triển khai các cuộc thanh tra nói trên ngay trong Quý I-2022”- báo cáo nêu rõ và khẳng định cơ quan này cũng sẽ theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn, tổng hợp kết quả thanh tra, báo cáo Thủ tướng. Lập bốn đoàn công tác liên ngành kiểm tra bốn địa phương Đối với nhiệm vụ “Chủ trì, phối hợp với Bộ TN&MT, cơ quan liên quan thành lập đoàn công tác đến làm việc, kiểm tra tình hình giải quyết, khắc phục tồn tại theo các kết luận thanh tra đối với các dự án đầu tư ở địa phương mà việc xử lý gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, gây lãng phí, thất thoát tài sản nhà nước, doanh nghiệp, nhất là nguồn lực đất đai, tài nguyên; báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ”, Tổng Thanh tra Chính phủ đã phân công các đơn vị chức năng của Thanh tra Chính phủ tham mưu thành lập bốn đoàn công tác liên ngành. Các đoàn này sẽ do Thanh tra Chính phủ chủ trì để kiểm tra tình hình giải quyết, khắc phục tồn tại theo kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ tại bốn tỉnh, thành phố là Hà Nội, Đà Nẵng, Khánh Hòa và TP.HCM. Đến nay, cơ quan này đã ban hành Quyết định thành lập hai đoàn công tác liên ngành để thực hiện việc kiểm tra tại Khánh Hòa, Đà Nẵng. Phần nhiệm vụ còn lại đang trong quá trình phối hợp, đề nghị cử cán bộ tham gia đoàn và nghiên cứu hồ sơ, tài liệu, trao đổi nội dung liên quan. Dự kiến các Đoàn công tác sẽ triển khai thực hiện nhiệm vụ trong tháng 1-2022. Thanh tra Chính phủ khẳng định trong năm 2022, cơ quan này sẽ tăng cường thanh tra công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực quan trọng của các ngành, các cấp và thanh tra việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao của cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhất là các ngành, lĩnh vực, địa phương có dấu hiệu vi phạm, dư luận xã hội phản ánh tiêu cực, tham nhũng, phát sinh nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo. Hoạt động thanh tra chuyên ngành tập trung vào những nội dung, vấn đề gây bức xúc trong đời sống xã hội, các vi phạm pháp luật và chấn chỉnh hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành, thực thi pháp luật chuyên ngành.

Bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế dưới góc nhìn bảo vệ chính trị nội bộ

Bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế dưới góc nhìn bảo vệ chính trị nội bộ


TCCS - Bối cảnh hội nhập quốc tế mang lại nhiều thời cơ, thuận lợi để phát triển đất nước nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức khó lường, nhất là đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và xây dựng, bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng. Dưới góc nhìn của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, đây là vấn đề cần được nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng, để tham mưu giúp Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp kịp thời ban hành các cơ chế, chính sách thiết thực nhằm bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của Đảng, của chế độ trong tình hình hiện nay.

Vai trò, ý nghĩa của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tổng hợp để giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm. Về bản chất, hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó(1). Sau khi thống nhất đất nước, qua các kỳ đại hội Đảng, vấn đề hội nhập quốc tế ngày càng được chú trọng, giúp đất nước tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời, thể hiện trách nhiệm quốc tế, nâng cao vị thế và tiềm lực của đất nước, dân tộc ta trên thế giới. Hiện nay, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa diễn ra trên nhiều lĩnh vực cùng với sự bùng nổ của khoa học - công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức, điển hình là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang là cơ hội, là thời cơ để nước ta đón bắt, tranh thủ tận dụng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế là một quá trình gắn kết chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đầy phức tạp giữa các quốc gia, giữa các khu vực; vì vậy, những thuận lợi, thời cơ và những khó khăn, thách thức luôn đan xen nhau trong từng bối cảnh lịch sử của thế giới, trong đó có cả những tác động bất lợi đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đến đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những năm gần đây, đại dịch COVID-19 diễn biến rất phức tạp trên phạm vi toàn cầu, chưa từng có tiền lệ; kinh tế thế giới suy thoái cùng với xu hướng tập hợp, liên kết giữa một số quốc gia để gia tăng cạnh tranh địa chính trị, bảo vệ lợi ích quốc gia cùng với các thách thức an ninh phi truyền thống khác nổi lên gay gắt, trong đó có vấn đề an ninh nguồn nước, thiên tai, lũ lụt đã và đang ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi quốc gia, khu vực và toàn cầu, Việt Nam cũng không là ngoại lệ.

Trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị không ngừng lợi dụng điều kiện, bối cảnh hội nhập quốc tế để ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, lợi dụng tối đa các phương tiện truyền thông hiện đại để truyền bá các luận điệu xuyên tạc, thù địch, đòi phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những thành tựu cách mạng, thành quả phát triển đất nước và các chủ trương, đường lối lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Chúng lan truyền các thông tin sai sự thật, gieo rắc hoài nghi, mưu toan kích động chính trị, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ; truyền bá, thúc đẩy các hình thức “xã hội dân chủ” kiểu phương Tây, đồng thời xoáy sâu hơn vào những mặt trái của nền kinh tế thị trường; đẩy mạnh móc nối, mua chuộc, lôi kéo những cán bộ, đảng viên không vững vàng về tư tưởng, lập trường, bản lĩnh chính trị, thoái hóa, biến chất, bất mãn, cơ hội chính trị. Bối cảnh tình hình thế giới và khu vực như vậy đã và đang tác động đến tình hình chính trị nội bộ trong nước, nhất là về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Cùng với đó, tình hình chính trị nội bộ trong những năm qua, nhất là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng có những diễn biến phức tạp, khó lường. Mặt trái của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đã góp phần làm gia tăng lối sống thực dụng, lệch chuẩn, trái với thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước..., sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”(2). Hệ lụy là “làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(3).

Vì vậy, với sứ mệnh bảo vệ sự tồn vong của Đảng, của chế độ, trong đó có bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng của Đảng, đáp ứng những đòi hỏi, yêu cầu của thực tiễn, các cấp ủy, tổ chức đảng cần nhận thức sâu sắc hơn nữa về vị trí, ý nghĩa của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là trách nhiệm chăm lo, xây dựng phải đi cùng với việc bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay.


Một số kết quả của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong bối cảnh hội nhập quốc tế thời gian qua

Trên cơ sở Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, tổ chức đảng, các địa phương, cơ quan, đơn vị các cấp đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới bằng các chỉ thị, nghị quyết, quy định, kết luận; điển hình là Quy định số 126-QĐ/TW, ngày 28-2-2018, của Bộ Chính trị, về “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”. Đây là cơ sở quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức, tự soi, thúc đẩy tự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức cách mạng, đặc biệt là ý thức cảnh giác trước những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, những cám dỗ, âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc, hết sức nguy hiểm của các thế lực thù địch; đồng thời, giúp các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, địa phương tăng cường giáo dục, quán triệt và ngăn ngừa, giám sát cán bộ, đảng viên để họ không vi phạm, nhất là những vấn đề chính trị hiện nay. Kết luận số 72-KL/TW, ngày 19-5-2020, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay” được ban hành đồng bộ cùng các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo khác về công tác cán bộ và quản lý cán bộ đã góp phần nâng cao một bước trách nhiệm bảo vệ chính trị nội bộ của cả hệ thống chính trị và của mỗi cán bộ, đảng viên trước các tác động tiêu cực của hội nhập quốc tế và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Trên cơ sở đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã quán triệt nghiêm túc, triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp để cụ thể hóa chỉ đạo của Trung ương; tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng chính trị gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII). Việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc Quy định số 126-QĐ/TW của Bộ Chính trị, Quy định số 228-QĐ/TW của Ban Bí thư(4), quy định về bảo vệ bí mật nhà nước và các quy định liên quan khác đã nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc cán bộ, đảng viên ra nước ngoài hoặc khi có quan hệ công tác với các cá nhân, tổ chức nước ngoài; phòng ngừa từ sớm, từ xa các dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn chính trị, kịp thời nhắc nhở, giáo dục các trường hợp có biểu hiện suy thoái, tiêu cực. Thời gian qua, cán bộ, đảng viên làm việc ở các vị trí, bộ phận có quan hệ công tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài được tuyển chọn kỹ lưỡng về tiêu chuẩn chính trị, tư tưởng, đạo đức, trình độ chuyên môn, được thẩm định hồ sơ lý lịch trước khi tuyển dụng, cử đi công tác nước ngoài đột xuất hoặc theo nhiệm kỳ. Những cán bộ công tác ngoại giao lâu năm đã được rèn luyện, thử thách trong các môi trường đấu tranh ngoại giao song phương và đa phương, ở trong nước và nước ngoài, luôn tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, với Tổ quốc và với nhân dân.

Công tác thẩm định, thẩm tra, xác minh, kết luận tiêu chuẩn chính trị đã được cấp ủy các cấp thực hiện nghiêm túc, kỹ lưỡng, bài bản, đúng quy định đối với hàng nghìn cán bộ, đảng viên, phục vụ công tác cán bộ thường xuyên, nhất là đối với công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội XIII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Tính từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, riêng ở Trung ương đã rà soát, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị cho gần 10.000 lượt hồ sơ cán bộ; đối với các địa phương, đã tiến hành thẩm định tiêu chuẩn chính trị đối với gần 4.000 trường hợp giới thiệu tham gia cấp ủy, bố trí các chức danh lãnh đạo chủ chốt nhiệm kỳ 2020 - 2025, phát hiện nhiều nhân sự có vấn đề về tiêu chuẩn chính trị cần được xem xét kỹ, cân nhắc khi bố trí, sử dụng..., có nhiều trường hợp đã không được phê duyệt quy hoạch, bổ nhiệm do không bảo đảm tiêu chuẩn chính trị. Những kết quả đó đã góp phần làm trong sạch nội bộ, nâng cao sức chiến đấu, bản lĩnh cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng đã đấu tranh, ngăn chặn hàng trăm đối tượng có hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước, hàng nghìn trang mạng có nội dung xấu, độc; vô hiệu hóa, gỡ bỏ hàng trăm vi-đê-ô, bài viết, tin bài có nội dung xấu; cảnh báo vi phạm đối với nhiều trang mạng xã hội...; qua đó, đã góp phần chặn đứng, đẩy lùi các hoạt động phá hoại chính trị của các thế lực thù địch, những phần tử chống phá Đảng, Nhà nước, xây dựng môi trường thông tin lành mạnh, chính thống; bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, tư tưởng, bản lĩnh chính trị cũng như góp phần ngăn chặn hiệu quả những biểu hiện, tư tưởng lệch lạc, thoái hóa, biến chất tiềm tàng, manh nha trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Công tác phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong nắm vững tình hình và giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ thời gian qua được tăng cường, chú trọng. Ngày 8-8-2018, Ban Bí thư đã ban hành Quyết định số 140-QĐ/TW, về “Quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ giữa Ban Tổ chức Trung ương với Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao, Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ”, góp phần nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phục vụ hiệu quả công tác quản lý cán bộ, đảng viên, nhất là những trường hợp được cử đi dịch thuật, đi học tập, công tác nước ngoài đột xuất hoặc thường xuyên, theo nhiệm kỳ hoặc có mối quan hệ tiếp xúc, làm việc lâu dài với các tổ chức, cá nhân nước ngoài; kịp thời nắm bắt tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên để kịp thời giải quyết, ngăn chặn, xử lý hiệu quả những cán bộ, đảng viên có quan điểm, hành động, phát ngôn đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, hợp tác và hội nhập quốc tế vẫn luôn là xu thế lớn, lâu dài của các quốc gia, khu vực trên thế giới. Bên cạnh những mặt tích cực, tình hình thế giới tiếp tục có những biến động phức tạp và đa chiều, tác động sâu sắc đến môi trường hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước ta. Một mặt, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng với mức độ ngày càng tinh vi hơn, nguy hiểm hơn; trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là mục tiêu quan trọng đầu tiên mà chúng nhắm tới; mặt khác, hiện nay vẫn còn tồn tại những vấn đề trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra nguy cơ đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp, nhất là người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với công tác quản lý cán bộ trong tình hình mới. Xác định rõ trách nhiệm, nâng cao ý thức cảnh giác, đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ để kịp thời phát hiện, khắc phục những vướng mắc, hạn chế nảy sinh trong thực tiễn; trong đó, cần tập trung vào việc nắm vững và giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với những trường hợp làm nhiệm vụ dịch thuật, cử đi học ở nước ngoài, đi công tác nước ngoài đột xuất hoặc thường xuyên, theo nhiệm kỳ hoặc có mối quan hệ tiếp xúc, làm việc lâu dài với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, cho phù hợp với những yêu cầu, diễn biến của tình hình mới.

Thứ ba, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trên cơ sở quán triệt sâu sắc, nghiêm túc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII), Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, trong đó cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ chính trị nội bộ và ý thức cảnh giác, tinh thần kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn phá hoại tinh vi của các thế lực thù địch. Tăng cường kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Thứ tư, chủ động ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Tăng cường đấu tranh, sớm phát hiện, đập tan các hoạt động phá hoại tư tưởng chính trị; phản bác, bóc gỡ, vạch trần các thông tin xấu, độc, luận điệu xuyên tạc, thù địch, kích động; đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, khắc phục những hạn chế trong quản lý báo chí, mạng xã hội và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Tăng cường các thông tin chính thống chính xác, kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm, coi trọng nắm bắt và định hướng dư luận trong thời gian diễn ra các sự kiện lớn, trọng đại của đất nước.

Thứ năm, rà soát, thẩm tra, thẩm định chặt chẽ, kỹ lưỡng và kết luận rõ tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên, không để lọt những người không đủ tiêu chuẩn chính trị vào cấp ủy các cấp. Chuyển trọng tâm từ nắm vững và giải quyết vấn đề lịch sử chính trị sang vấn đề chính trị hiện nay. Các mặt công tác quản lý cán bộ cần bám sát tình hình thực tế của đội ngũ cán bộ để có biện pháp phòng ngừa, răn đe kịp thời, hữu hiệu.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế phối hợp và đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ với các cơ quan chức năng liên quan trong việc nắm vững tình hình và giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ. Tùy tình hình cụ thể, chủ động tham mưu, đề xuất các chủ trương, biện pháp hiệu quả trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tập hợp, vận động nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, đặc biệt là trong giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên; cảnh giác và tham gia đấu tranh với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động.

Thứ bảy, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại các địa phương, cơ quan, đơn vị. Qua đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm, chấn chỉnh những thiếu sót, hướng dẫn đồng bộ và nhất quán việc thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ cho các cơ quan, đơn vị, đội ngũ chuyên trách bảo vệ chính trị nội bộ đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.

... GẦN ĐÈN THÌ RẠNG!

     Nếu chơi với 5 người tự tin, bạn sẽ là người thứ 6.

Nếu chơi với 5 người thông minh, bạn sẽ là người thứ 6.

Nếu chơi với 5 triệu phú, bạn sẽ là người thứ 6.

Nếu chơi với 5 kẻ ngốc, bạn sẽ là người thứ 6.

Nếu chơi với 5 kẻ cháy túi, bạn cũng sẽ là người thứ 6.

Điều này khó mà tránh được…


LÀ AI KHÔNG QUAN TRỌNG, QUAN TRỌNG LÀ Ở CẠNH AI?


Đi cùng ruồi thì tìm được nhà vệ sinh.

Đi cùng ong thì tìm được hoa thơm.

Đi cùng người giàu học cách kiếm nhiều tiền.

Đi cùng ăn mày học được cách xin cơm.


Trong thực tế cuộc sống, bạn quen biết ai thực chất rất quan trọng, thậm chí điều đó có thể thay đổi vận mệnh cuộc đời bạn, quyết định mọi thắng bại trong cuộc sống của bạn.

Sống cùng với một người nào đó quá lâu, bạn cũng dần trở thành giống họ. Ở cùng với người chăm chỉ, bạn sẽ không lười biếng. Ở với người tích cực bạn sẽ không tiêu cực. Cùng với người thông minh, bạn cũng nhận được những ảnh hưởng tốt…

Các nhà nghiên cứu khoa học cho rằng: “Con người là động vật duy nhất tiếp nhận các gợi ý”. Gợi ý tích cực, ảnh hưởng rất tốt tới tinh thần và trạng thái sinh lý của con người, kích thích mọi tiềm năng nội tại, phát huy khả năng tiềm ẩn của mỗi người, khiến họ trở nên tiến bộ, hưng phấn và vui vẻ.

Hãy tránh xa những người tiêu cực, nếu không trong vô thức họ sẽ lấy đi ước mơ của bạn, khiến bạn dần dần mất đi bản thân, trở thành một con người tầm thường.

Người tích cực giống như ánh mặt trời vậy, chiếu đến nơi đâu nơi ấy liền sáng bừng lên. Người tiêu cực giống như mặt trăng, mùng một, mười lăm không giống nhau, thay đổi thất thường.

Thái độ thay đổi tất cả, tính cách quyết định vận mệnh. Thái độ thay đổi, tương lai thay đổi, tính cách khác nhau sẽ sinh ra những con người khác nhau.

Có người nói, đời người có điều may mắn:

Đi học gặp được người thầy tốt.

Đi làm gặp được sư phụ giỏi.

Lấy vợ tìm được người hợp và giúp mình thành công.

Có khi chỉ cần một nụ cười ngọt ngào, một lời hỏi thăm quan tâm của họ cũng đủ khiến bạn trở thành một người đặc biệt, hạnh phúc hơn người.

Bất hạnh nhất trong cuộc sống chính là: Bên cạnh bạn không có những người sống tích cực. Cuộc sống của bạn sẽ trở nên nhạt nhẽo, tầm thường.

“Bạn là ai không quan trọng, quan trọng là ai ở bên cạnh bạn”

“Bạn muốn giao thiệp với người bạn ước ao trở thành như vậy”. Chính vì thế, hãy đầu tư vào tình bạn giống như khi đầu tư tiền vậy, cần phải KHÔN NGOAN./.
Yêu nước ST.

Vạch trần những thủ đoạn xuyên tạc sai sự thật về công cuộc phòng, chống đại dịch COVID-19 của Việt Nam

 

Vạch trần những thủ đoạn xuyên tạc sai sự thật về công cuộc phòng, chống đại dịch COVID-19 của Việt Nam


TCCS - Từ cuối năm 2019 đến nay, đại dịch COVID-19 diễn ra phức tạp, khó lường, tác động tiêu cực đến kinh tế thế giới, khu vực, trong đó có Việt Nam. Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực thực hiện toàn diện các biện pháp phòng, chống đại dịch, bước đầu đạt được kết quả quan trọng thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đẩy mạnh tung tin giả mạo, xuyên tạc tình hình, phủ nhận cách thức phòng, chống dịch bệnh COVID-19 ở Việt Nam, mưu toan gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây bất ổn an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần phải vạch trần bản chất những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, góp phần củng cố sự đoàn kết, đồng lòng và quyết tâm đẩy lùi đại dịch COVID-19 của cả hệ thống chính trị và của toàn dân.

“Vi-rút tin giả” và cách nhìn sai lệch, xuyên tạc sự thật về tình hình phòng, chống dịch bệnh COVID-19 ở Việt Nam

Thời gian qua, đợt dịch COVID-19 thứ tư bùng phát ở Việt Nam, với sự xuất hiện biến chủng Delta của vi-rút SARS-CoV-2 có tốc độ lây nhiễm nhanh, diễn biến vô cùng phức tạp, khó kiểm soát. Trong bối cảnh đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh cuộc chiến phòng, chống dịch, vừa thực hiện giãn cách, cách ly, liên tục cải tiến phác đồ điều trị để giành giật từng mạng sống cho người bệnh, vừa bảo đảm sản xuất, cung ứng lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm đến từng người dân...

Lợi dụng thời điểm khó khăn này của chúng ta, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước lại ra sức đăng tải, phát tán tràn lan trên các phương tiện truyền thông xã hội, như blog, zalo, facebook... những thông tin có nội dung sai lệch, bịa đặt về tình hình dịch bệnh COVID-19 ở Việt Nam. Những kiểu thông tin này giống như một “biến chủng mới” của vi-rút độc hại - “vi-rút tin giả”. Tần suất, lưu lượng, cường độ những thông tin xấu, độc trên ngày càng gia tăng, kèm theo là những hình ảnh, clip không rõ nguồn gốc, được lắp ghép từ những sự kiện rời rạc, chỉnh sửa có chủ ý, mưu toan dựng lên bức tranh đen tối về một Việt Nam tang thương trong dịch bệnh COVID-19; trong đó, nổi lên một số thủ đoạn chủ yếu là:

Một là, tung tin giả mạo nhằm tạo ra những hỗn loạn trong cộng đồng, gây đảo lộn đời sống sinh hoạt của người dân. Vào thời điểm mà Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương trên cả nước triển khai thực hiện giãn cách xã hội theo các chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về phòng, chống dịch bệnh COVID-19, ngay lập tức xuất hiện các tin giả lan truyền về việc thị trường sẽ khan hiếm hàng hóa, giá cả sẽ tăng đột biến. Nhằm dẫn dụ niềm tin của công chúng, các đối tượng tung tin rằng đây là nguồn tin từ “nội bộ cơ quan nhà nước”. Thông tin thất thiệt này nhanh chóng được một số đối tượng khác chia sẻ, bình luận, lây lan trong cộng đồng nhằm gieo rắc tâm lý hoài nghi, tiêu cực, bức xúc, làm bất an lòng dân, bất ổn xã hội, nhất là tại các “điểm nóng” của dịch bệnh. Không chỉ xuyên tạc rằng “Việt Nam - cơn ác mộng mới chỉ bắt đầu”, các đối tượng này còn bịa đặt rằng “chính quyền sẽ bỏ mặc người dân”, “mạnh ai người ấy sống”(?!); từ đó kích động người dân không tin chính quyền, không chấp hành các quy định về giãn cách, cách ly, gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm soát tình hình, truy vết nguồn dịch. Đối với họ, tình hình càng rối thì càng dễ giở các chiêu trò chống phá. Tuy nhiên, thực tiễn đời sống xã hội, sự quyết tâm vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị nhằm bảo đảm sự vận hành của thị trường và hệ thống chuỗi cung ứng, bảo đảm hàng hóa, nhu yếu phẩm liên tục đến tận tay người tiêu dùng chính là những bằng chứng sinh động, thuyết phục, hoàn toàn khác với những gì mà các thế lực phản động tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá.

Hai là, chỉ trích, xuyên tạc công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 của Đảng, Nhà nước ta là sai lầm, vi phạm quyền con người. Chỉ trong tháng 7 và tháng 8-2021, trên nhiều chuyên mục của đài, báo nước ngoài không có thiện chí với Việt Nam đã có hàng trăm bài viết; còn trên các trang mạng xã hội, số lượng này lớn hơn nhiều với nội dung cố tình bóp méo sự thật, khích bác về công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 của Việt Nam. Đó là những luận điệu như “mùa dịch COVID-19 mà ngăn sông cấm chợ”, “chỉ biết ra lệnh phong tỏa, cách ly để mặc dân sống cơ hàn, vật lộn với khó khăn tận cùng” hoặc chỉ trích “chống dịch kiểu Việt Nam khiến dịch bệnh lây lan ngày càng nhiều” (?!). Thậm chí, họ còn đưa ra luận điệu vu vạ rằng “chính quyền bỏ mặc người dân”, “chỉ giỏi tuyên truyền sáo rỗng”, “cố tình che giấu sự thật” về dịch bệnh COVID-19. Họ còn quy chụp Chính phủ “bỏ rơi công dân Việt Nam ở nước ngoài”, “đóng cửa biên giới”, “bế quan tỏa cảng”, “ngăn cản công dân Việt Nam trở về Tổ quốc, quê hương”. Họ còn xuyên tạc và ra vẻ quan ngại rằng “đang có sự bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội và hỗ trợ của chính quyền” nhằm hạ bệ uy tín của Đảng, Nhà nước, phủ định quyết tâm của cả hệ thống chính trị trong việc vừa bảo vệ an toàn tuyệt đối tính mạng của nhân dân, vừa tập trung phát triển kinh tế; vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền, đẩy người dân vào cảnh thiếu đói cùng cực” trong điều hành chống dịch bệnh COVID-19 (?!). Từ đó, họ kích động nhân dân “bất tuân dân sự”, đi ngược lại các biện pháp phòng, chống dịch bệnh mà rộng hơn là chống lại các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Ba là, đưa tin giả với mưu đồ chia rẽ vùng, miền, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đẩy mạnh thủ đoạn kích động, mưu toan gây mâu thuẫn, chia rẽ vùng, miền, nhằm làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Gần đây, các đối tượng này dựng chuyện, lấy cớ kêu gọi tẩy chay việc các bộ, ngành, địa phương trong cả nước huy động sức người, sức của, các y bác sĩ, tình nguyện viên vào giúp Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Nam chống dịch bệnh COVID-19. Họ cố tình gợi lại nỗi đau chia cắt hai miền của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh để phụ họa cho giọng điệu “hai miền không thể hòa một trong cuộc chiến chống dịch”. Nhiều đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã mượn cớ này để hùa theo, cho rằng Đảng, Nhà nước “phân chia” và “ưu tiên” vùng, miền trong chống dịch. Thậm chí, họ cố tình suy diễn một cách vô căn cứ rằng, dịch bệnh ở Thành phố Hồ Chí Minh bùng phát mạnh là do khởi phát từ Bắc Ninh, Bắc Giang (nói chung là từ miền Bắc), nên họ kêu gọi “hãy tẩy chay Bắc kỳ”... Những luận điệu xuyên tạc đó không chỉ nhằm gây tâm lý chia rẽ vùng, miền mà còn khoét sâu thêm vào nỗi khó khăn, vất vả mà người dân Thành phố Hồ Chí Minh và đồng bào miền Nam đang phải dốc sức vượt qua trong cuộc chiến với dịch bệnh.

Bốn là, xuyên tạc chiến lược vắc-xin, chiến dịch tiêm chủng phòng, chống COVID-19 của Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng phản động, cơ hội tung tin sai sự thật rằng “chính quyền lừa dối nhân dân trong chiến dịch vắc-xin”, “Chính phủ lấy vắc-xin viện trợ của quốc tế để bán cho dân”, “Quốc hội đề nghị sớm ban hành luật tiêm vắc-xin để thu tiền” (?!)... Họ xuyên tạc trắng trợn chính sách phân bổ, cung cấp vắc-xin của Đảng, Nhà nước ta rằng Chính phủ chỉ ưu tiên tiêm vắc-xin ngừa COVID-19 cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đảng viên và các đối tượng là “con ông, cháu cha” chứ không quan tâm đến sức khỏe người dân, nhất là người dân nghèo, người yếu thế trong xã hội (?!). Thậm chí, họ còn bịa đặt, vu cáo Chính phủ Việt Nam sử dụng quỹ vắc-xin không đúng mục đích; từ đó kêu gọi người dân, cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước rút tiền, ngừng việc quyên góp, ủng hộ vào Quỹ vắc-xin phòng, chống dịch bệnh COVID-19.

Như vậy, bản chất của âm mưu, thủ đoạn và chiêu trò chống phá tinh vi, xảo quyệt trên của các thế lực thù địch với mưu đồ gây nhiễu loạn thông tin, gieo rắc tâm lý lo âu, hoang mang, gây xáo trộn đời sống kinh tế - xã hội, nhằm làm suy giảm quyết tâm chính trị và sự đồng thuận chống dịch trong cộng đồng. Họ không chỉ dừng lại ở việc xuyên tạc tình hình, phủ nhận một cách vô căn cứ những biện pháp, kết quả của Việt Nam trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 mà còn mưu toan tác động vào niềm tin của nhân dân, gây mất ổn định tình hình chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Không thể bóp méo sự thật, phủ nhận những biện pháp và kết quả phòng, chống đại dịch COVID-19 của Việt Nam

Bước vào cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, Việt Nam không phải là quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh hay có trình độ y học phát triển cao, nhưng cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các địa phương đã đoàn kết, đồng lòng, quyết tâm vào cuộc. Các biện pháp, cách làm để phòng, chống dịch bệnh COVID-19 được Việt Nam thực hiện là chưa có tiền lệ, trên cơ sở tiếp thu những bài học của thế giới và đúc rút từ những lần chống dịch trước, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, bổ sung phù hợp với diễn biến thực tế để đạt hiệu quả cao nhất.
Cụ thể là:

Thứ nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc với sự đoàn kết và quyết tâm chính trị cao nhất “chống dịch như chống giặc”. Đây được xác định là “nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”, là trọng tâm cấp bách hàng đầu, cả trước mắt và lâu dài, được triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả, không chủ quan, lơi là, mất cảnh giác hay bằng lòng với kết quả đã đạt được. Trên cơ sở đó, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, mọi lực lượng, khơi dậy mọi nguồn lực trong xã hội, đúng với phương châm “3 trước”, “4 tại chỗ”(1). Trung ương Đảng, Bộ Chính trị thường xuyên nắm chắc tình hình, kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội; ban hành các chỉ thị, thông báo, kết luận(2). Đây là định hướng chiến lược quan trọng, thể hiện tư duy sắc bén và tầm nhìn sáng suốt, toàn diện trước một nhiệm vụ mới nảy sinh với tính chất vô cùng khó khăn, phức tạp. Thực hiện chỉ đạo đó, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 30/2021/QH15, ngày 28-7-2021, đề ra một số giải pháp cấp bách phòng, chống đại dịch COVID-19. Chính phủ luôn bám sát thực tiễn, nắm chắc diễn biến, bất kể ngày đêm và trong nhiều tình huống khẩn cấp, kịp thời ban hành chỉ thị, nghị quyết, công điện(3), “thực hiện quyết liệt, đồng bộ, linh hoạt các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống dịch bệnh COVID-19 để thích ứng với tình hình; huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân cả nước... từng bước kiểm soát tình hình dịch bệnh COVID-19, sớm đưa cuộc sống trở lại trạng thái “bình thường mới””(4). Chủ động phân công các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ trực tiếp theo dõi, chỉ đạo, sâu sát cơ sở và chịu trách nhiệm về kết quả phòng, chống dịch ở những địa bàn trọng điểm. Các thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống COVID-19 luôn có mặt chỉ đạo địa phương liên tục 24/24 giờ cho đến khi mọi việc được kiểm soát an toàn. Tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội đã vào cuộc đồng bộ, quyết tâm cao nhất, đoàn kết, đồng lòng và hành động quyết liệt vì mục tiêu tối thượng là bảo vệ tính mạng, sự bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Bất chấp mọi gian nguy, vất vả, hàng vạn y, bác sĩ, tình nguyện viên, cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an, dân quân tự vệ luôn có mặt trên tuyến đầu chống dịch, ở tâm điểm của những nơi khó khăn nhất cùng chính quyền cơ sở trực tiếp tiến hành và hướng dẫn, động viên quần chúng phòng, chống dịch bệnh COVID-19, trở thành điểm tựa niềm tin, gắn kết chặt chẽ tình cảm quân - dân, khắc sâu hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, người chiến sĩ công an từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ. Với lẽ đó nên đại bộ phận người dân Việt Nam, dù ở trong nước hay học tập, lao động, công tác ở nước ngoài luôn một lòng ủng hộ và tuân thủ theo chủ trương, đường lối của Đảng, hành động theo sự điều hành và sự kêu gọi của Chính phủ vì sự bình yên, hạnh phúc của chính mình và mọi người. Thực tế đó đã củng cố vững chắc niềm tin cho dù trong bất kỳ tình huống nào, Đảng, Nhà nước luôn hành động vì lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt dẫu có tinh vi đến đâu cũng đều bị chính những kết quả thực tiễn sinh động bác bỏ.

Thứ hai, triển khai thực hiện đồng bộ, nghiêm túc, triệt để các quy trình, biện pháp phòng, chống đại dịch COVID-19. Đó là các quy định, thông điệp 5K, sau đó phát triển thành 9K và vắc-xin(5). Để hạn chế thấp nhất sự lây nhiễm, các địa phương, cơ quan, đơn vị chủ động thực hiện tốt các biện pháp giãn cách, cách ly, phong tỏa nguồn dịch theo đúng nguyên tắc “ai ở đâu thì ở đó” và tinh thần “chủ trương một, tổ chức thực hiện mười” bảo đảm chặt chẽ, thực chất, không để xảy ra tình trạng giãn cách hình thức hoặc “chặt ngoài, lỏng trong”. Chỉ đạo thực hiện nghiêm phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người”, phát hiện, quản lý chắc, cách ly ngay những người có liên quan đến dịch tễ, phong tỏa ngay những nơi là “ổ dịch”. Tiến hành khoanh vùng, bảo vệ vững chắc “vùng xanh” (khu vực an toàn), có biện pháp từng bước chuyển “vùng cam” (khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao) thành “vùng xanh” và khoanh chặt, thu hẹp “vùng đỏ” (khu vực phong tỏa, cách ly, có dịch). Nhanh chóng tổ chức xét nghiệm trên diện rộng, sàng lọc các đối tượng có nguy cơ lây nhiễm cao, truy vết và tách các ca bệnh ra khỏi cộng đồng; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ không để lọt người có nguy cơ nhiễm vi-rút COVID-19 tiếp tục tiếp xúc, di chuyển làm lây lan dịch bệnh ra cộng đồng. Tổ chức các khu cách ly, khu phong tỏa chặt chẽ, khoa học, hợp lý, không để xảy ra lây nhiễm chéo. Trước những diễn biến mới của dịch bệnh COVID-19, tổ chức thực hiện quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, đồng bộ hơn các giải pháp: Giãn cách xã hội là yếu tố quyết định; thần tốc xét nghiệm trên diện rộng là khâu then chốt; điều trị giảm tử vong là ưu tiên hàng đầu; bảo đảm an sinh xã hội là trọng yếu; vắc-xin, thuốc điều trị là chiến lược; giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội là quan trọng; lấy xã, phường, thị trấn là pháo đài, toàn dân là chiến sĩ chống dịch(6).

Với những biện pháp, cách làm đó, đã qua ba lần dịch bùng phát trước đây nhưng Việt Nam vẫn thực hiện được “mục tiêu kép” là vừa duy trì tăng trưởng kinh tế, vừa đẩy mạnh phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh COVID-19, bảo vệ sức khỏe và bảo đảm cuộc sống của người dân. Với công dân Việt Nam ở nước ngoài, Chính phủ đã chủ động liên hệ, sắp xếp và tổ chức hàng trăm chuyến bay trợ giúp kiều bào rời khỏi vùng dịch về nước an toàn. Đánh giá về kết quả này, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam, Tiến sĩ Ki-đông Pắc khẳng định: “Việt Nam đang đi đúng hướng trong việc quản lý các đợt dịch bùng phát hiện nay, đã xây dựng kế hoạch ứng phó quốc gia với đại dịch COVID-19 từ giai đoạn đầu, trong đó có các kịch bản khác nhau”(7). Còn cựu Đại sứ Pháp tại Việt Nam, ông Giăng Nô-en Poa-ri-ê, đề cao hiệu quả phòng, chống dịch bệnh COVID-19 của Việt Nam: “Có hai lý do, thứ nhất, chính sách phòng, chống dịch bệnh COVID-19 của Việt Nam rất xuất sắc và rất đúng; thứ hai, người dân Việt Nam đã thực hiện và đồng tình với các quy định của Nhà nước, của Chính phủ”(8).

Thứ ba, xây dựng chiến lược vắc-xin, thành lập Quỹ vắc-xin phòng COVID-19. Kết luận của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm tăng cường công tác phòng, chống đại dịch COVID-19 và phát triển kinh tế - xã hội đã khẳng định: “Đẩy nhanh việc mua và tổ chức tốt việc tiêm vắc-xin cho người dân, trong đó, tập trung cho các đối tượng ở tuyến đầu phòng, chống dịch, vùng có nguy cơ cao, người lao động trực tiếp sản xuất ở các khu công nghiệp; nghiên cứu, xem xét việc tiêm vắc-xin cho trẻ em. Sớm xây dựng, công khai chương trình, kế hoạch tiêm vắc-xin cho người dân nhằm đạt miễn dịch cộng đồng với lộ trình thời gian cụ thể”(9). Xác định vắc-xin là giải pháp chiến lược, căn bản, lâu dài nên dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh “chiến lược ngoại giao vắc-xin”, bằng mọi biện pháp thúc đẩy viện trợ, mua, nhập khẩu vắc-xin để đáp ứng yêu cầu tiêm chủng nhanh nhất, nhiều nhất có thể, tăng cường khả năng miễn dịch trong cộng đồng. Thực hiện chiến dịch tiêm vắc-xin COVID-19 miễn phí cho người dân cả nước theo quan điểm “vắc-xin tốt nhất là vắc-xin được tiêm sớm nhất”; phấn đấu đạt 75% dân số từ 18 đến 65 tuổi được tiêm vào đầu năm 2022. Việc phân bổ vắc-xin được Bộ Y tế tính toán hợp lý trên nguyên tắc công bằng, minh bạch giữa các địa phương, ưu tiên cho lực lượng chống dịch trên tuyến đầu và các địa phương có số lượng nhiều người nhiễm bệnh COVID-19, nhiều ca tử vong, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, lây lan nhanh, các đô thị lớn, đông dân cư, tập trung nhiều khu công nghiệp. Tất cả vắc-xin nhập khẩu về Việt Nam đều là các loại vắc-xin đã được WHO đưa vào danh sách được phép sử dụng, được Bộ Y tế kiểm duyệt, phê duyệt, cấp phép. Không chỉ vậy, Chính phủ Việt Nam tạo mọi điều kiện thuận lợi đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, thử nghiệm lâm sàng, sản xuất vắc-xin, thuốc điều trị COVID-19 và trang thiết bị, vật tư y tế đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch bệnh nhanh nhất, sớm nhất, hiệu quả nhất. Tham khảo kinh nghiệm các nước, tham vấn chuyên môn với WHO, sáng tạo trong huy động tổng hợp, hiệu quả các nguồn lực để mua, nhận hỗ trợ vắc-xin nhằm sớm thực hiện mục tiêu miễn dịch cộng đồng.

Thứ tư, phòng, chống dịch bệnh COVID-19 với tinh thần bảo đảm tính mạng, sức khỏe của người dân là trên hết, trước hết. Trước những diễn biến vô cùng phức tạp của đợt bùng phát dịch bệnh COVID-19 lần thứ tư với số lượng ca nhiễm, ca tử vong tăng cao, Đảng, Chính phủ nhất quán tinh thần “lấy tính mạng, sức khỏe của người dân là trên hết, trước hết”(10), bằng mọi biện pháp không để đứt gãy chuỗi cung ứng lao động, lưu thông, vận chuyển hàng hóa, bảo đảm phân phối lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, ổn định đời sống của người dân, đặc biệt là người dân ở những khu vực phong tỏa, cách ly, giãn cách. Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ, bảo đảm an sinh xã hội; thường xuyên rà soát, cập nhật, không bỏ sót đối tượng cần cứu trợ, không để ai bị thiếu đói, rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất” hoặc tính mạng bị đe dọa. Chăm lo đời sống nhân dân, đặc biệt là người có công, gia đình chính sách, hộ nghèo, phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn, người mất việc làm do dịch bệnh COVID-19 và lực lượng trên tuyến đầu chống dịch.

Ngày 1-7-2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NĐ-CP “Về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch  COVID-19” với tổng số tiền hỗ trợ lên đến 26.000 tỷ đồng. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã ban hành hai gói cứu trợ với giá trị gần 1.800 tỷ đồng. Trên thực tế các gói hỗ trợ này đã nhanh chóng đến tận tay người lao động, người yếu thế trong xã hội, giúp họ vượt qua khó khăn, thiếu thốn trong dịch bệnh. Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hàng trăm nghìn túi hàng an sinh, gói thực phẩm cứu trợ được trao trực tiếp đến từng hộ gia đình; hàng chục nghìn tỷ đồng mà doanh nghiệp, người dân cả nước quyên góp đã được chuyển đến đúng người, đúng nơi. Hơn ai hết, nhân dân trong vùng dịch hiểu rằng chính quyền và cả hệ thống chính trị đang sát cánh, đồng hành và nỗ lực cùng với mình. Đồng bào, chiến sĩ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài đang hướng về Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam với tất cả tình cảm chân thành, tinh thần tương thân, tương ái và sự góp sức, sẻ chia sâu sắc nhất để cùng chiến thắng dịch bệnh. Mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau” là xuyên suốt, nhất quán, được Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị thực hiện triệt để, hiệu quả ngay từ khi đại dịch COVID-19 xuất hiện. Hơn thế, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, “lấy người dân là trung tâm phục vụ, là chủ thể phòng, chống dịch”, “chiến thắng dịch bệnh là chiến thắng của nhân dân”(11). Không chỉ trong thiên tai, thảm họa, dịch bệnh mà bất luận trong hoàn cảnh nào, người dân luôn được cấp ủy, chính quyền và các lực lượng chức năng bảo vệ, bảo đảm cả về tính mạng, tài sản và điều kiện sống.

Ngoài ra, Đảng, Nhà nước ta kiên quyết xử lý nghiêm những trường hợp đưa thông tin xuyên tạc, sai sự thật; trang bị “vắc-xin phòng ngừa vi-rút tin giả - 5K” cho công chúng (không tin - không bấm like - không cổ xúy bình luận - không kích động - không chia sẻ thông tin sai lệch). Ưu tiên ngân sách và các nguồn lực hợp pháp, bảo đảm kinh phí hợp lý, nhanh chóng thành lập hệ thống trung tâm chỉ huy ở các cấp để chỉ đạo tập trung, thống nhất, xây dựng cơ chế đặc thù, thuận lợi trong việc mua sắm vắc-xin, thuốc điều trị, hóa chất, trang thiết bị y tế phòng, chống dịch bệnh COVID-19.

Trong bối cảnh thế giới chưa có tiền lệ và không một quốc gia nào có thể khẳng định đã chiến thắng hoàn toàn đại dịch COVID-19; với Việt Nam, tiến hành đồng bộ, quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo các giải pháp bằng sự đoàn kết, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và của toàn dân là vũ khí mạnh nhất, hữu hiệu nhất để chiến thắng dịch bệnh COVID-19. Với những kết quả đã đạt được trong những lần chống dịch trước đây và những giải pháp quyết liệt, đồng bộ trong lần bùng phát dịch lần thứ tư này, chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào chiến thắng đại dịch COVID-19, như lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Chúng ta đã cố gắng càng cố gắng hơn nữa; đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa; đã quyết tâm càng quyết tâm cao hơn nữa; toàn dân tộc muôn người như một, đồng lòng cùng Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành tìm mọi cách quyết ngăn chặn, đẩy lùi bằng được, không để dịch lan rộng, bùng phát trong cộng đồng... nhất định chúng ta sẽ chiến thắng đại dịch COVID-19 và phải chiến thắng cho bằng được”(12). Do vậy, cho dù những chiêu trò chống phá cuộc chiến phòng, chống đại dịch COVID-19 của Việt Nam có thâm độc và tinh vi đến đâu thì sự thật vẫn luôn là ánh sáng phơi bày tường tận mọi ý đồ đen tối của các thế lực thù địch và tự nó phản bác đanh thép, đập tan mọi luận điệu xuyên tạc, sai trái, đồng thời xua tan những nghi ngờ, băn khoăn trong cộng đồng, củng cố vững chắc niềm tin và quyết tâm chiến thắng đại dịch./.

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VỚI CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG HIỆN NAY!

      Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”, “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn”. Trên thực tế, hiện có rất nhiều tổ chức, đảng phái, hội nhóm phản động người Việt lưu vong và hàng chục cơ quan đặc biệt, các tổ chức nước ngoài, các kênh “truyền thông đen”, các trang web, blog, youtube và các trang mạng xã hội khác.vv có hoạt động chống phá Việt Nam. Chúng triệt để lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội nhằm tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc, bịa đặt, thật giả lẫn lộn, hòng gây nhiễu loạn thông tin; gieo rắc tư tưởng hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trung bình mỗi ngày, chúng đăng tải hàng nghìn tin, bài có nội dung chống phá, tập trung vào những vấn đề nhạy cảm, quan trọng như: phủ nhận thành quả cách mạng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH); xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng, khơi gợi vấn đề lịch sử, quan hệ quốc tế phức tạp; thổi phồng những yếu kém, sai phạm trong điều hành, quản lý của Nhà nước…; tán phát, tung tin bịa đặt về “bí mật nội bộ”, “bí mật đời tư” của lãnh tụ, của lãnh đạo cao cấp để “bôi đen”, hạ uy tín, gieo rắc tâm lý hoài nghi, chán nản, bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là một số đảng viên lão thành và thanh niên, sinh viên. Nguy hiểm hơn, chúng còn cấu kết với các đối tượng cơ hội chính trị, phần tử thoái hóa, biến chất trong nội bộ để tạo thành thế “nội công, ngoại kích”, người tung, kẻ hứng với những chiêu bài hết sức tinh vi, làm cho một số người thiếu hiểu biết về tình hình, không được cung cấp đầy đủ thông tin, thiếu tinh thần cảnh giác, bản lĩnh chính trị kém vững vàng rất dễ tin, nghe và hùa theo.

 Trong cuộc đấu tranh này, cán bộ đảng viên luôn là đối tượng đầu tiên kẻ thù nhằm tới bởi chúng hiểu rằng vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ, đảng viên là rất quan trọng. Đảng viên là hạt nhân lãnh đạo, còn cán bộ là người tổ chức, quản lý và điều hành. Với những cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp thì vai trò, vị trí càng quan trọng hơn. Cán bộ đảng viên chính là đối tượng chủ yếu mà các thế lực thù địch, phản động muốn tha hóa, lôi kéo. Cán bộ đảng viên còn đang công tác, cán bộ đảng viên có chức vụ càng cao, với chúng càng có sức hấp dẫn, bởi đơn giản, nếu lôi kéo được, chuyển hóa được, dụ dỗ, móc nối, kích động được những đối tượng này, biến họ thành bất mãn, trở cờ, thành cái loa chuyên phát ngôn những lời lệch lạc, sai trái theo đúng kịch bản của chúng thì coi như âm mưu thủ đoạn chống phá của chúng đã hoàn thành. Nhận thức rõ được vấn đề này, trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng hiện nay, Đảng ta luôn đặt ra những yêu cầu rất cao đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” xác định “nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên là phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh với âm mưu, hoạt động thâm độc của các thế lực thù địch, đối tượng xấu; quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là những quan điểm, luận điểm chỉ đạo mới về trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong công tác đấu tranh phòng, chống, phản bác các luận điểm sai trái, thù địch, để bảo đảm thực hiện thành công những mục tiêu đặt ra trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII cũng đã chỉ rõ “phải phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng, của mọi cán bộ, đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch”.

Thực tế hiện nay, như kết luận của Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, vẫn còn “một số cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu chưa nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình; chưa quyết tâm và có biện pháp chỉ đạo đủ mạnh, còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân”

Để cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng được thực hiện tốt, giành được thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên:

Thứ Nhất, cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong trong việc nghiên cứu, quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Phải là người “hiểu trước, đi trước, làm trước”, nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng, nhận rõ được sự cần thiết phải đấu tranh phòng, chống và nắm vững quan điểm lấy phòng là chính.


Thứ Hai, cán bộ, đảng viên phải là người gương mẫu, đầu tàu trong việc phòng, chống, cụ thể là gương mẫu trong tự giáo dục, tự quản, tự rèn và gương mẫu trong tự phê bình. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ mình, quản lý được mình, tự kiểm tra, giám sát chặt chẽ để mình luôn trong sạch, không tham nhũng, không tiêu cực, thực hiện tốt quy định 37 về 19 điều đảng viên không được làm; đồng thời phải vận động gia đình, người thân làm tốt, không tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá, không “tự nạp thêm đạn cho chúng bắn”.


Thứ Ba, là người lãnh đạo, người quản lý, điều hành, trước những thông tin sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, bản thân anh phải nhận thức được, phải bản lĩnh, vững vàng, bình tĩnh suy xét, xem thông tin đang tán phát ấy có đúng không, tán phát nhằm mục đích gì?. Việc hiểu đúng bản chất của vấn đề, luôn kiên định, vững vàng của cán bộ đảng viên sẽ tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân; nó sẽ là điểm tựa, là liều thuốc hóa giải sự hoang mang cho quần chúng, tạo sự miễn nhiễm cho quần chúng trước bất kỳ một luận điệu xuyên tạc, chống phá nào.


Thứ Tư, với các cấp ủy viên, các cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp, phải chủ động xác định chủ trương, biện pháp, xây dựng chương trình hành động và quyết liệt triển khai tổ chức thực hiện các nội dung về phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.


Thứ Năm, phải quy tụ, phát huy được sức mạnh tổng hợp, có thái độ nhất quán, triển khai quyết liệt, tổ chức thực hiện chặt chẽ, cụ thể, thiết thực và phải làm tốt từ cơ sở. Chống phá là bản chất, là thuộc tính vốn có của các thế lực thù địch, phản động. Tuy nhiên, chúng có chống phá được hay không phụ thuộc vào nhận thức, ý chí, bản lĩnh, tư cách, phẩm chất và năng lực của toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta, trước hết là của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nếu mỗi chúng ta đều quán triệt sâu sắc, thực hiện được đúng những lời căn dặn “nhận thức phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn, phương pháp phải đúng” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, chắc chắn phần chiến thắng trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng sẽ thuộc về chúng ta ./.

Yêu nước ST.