Thứ Ba, 3 tháng 5, 2022

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước

 

Trong huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18 đăng trên Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 4-5-1951, Người khẳng định: “Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”.

Chuyên mục Ngày này năm xưa số ra ngày 4-5-2022 còn được Báo Quân đội nhân dân Điện tử thực hiện dưới hình thức các tác phẩm phát thanh podcast và video clip trên Chuyên trang Media Báo Quân đội nhân dân Điện tử, trân trọng mời bạn đọc xem thêm. 

Một số sự kiện trong nước và quốc tế ngày 4-5

Sự kiện trong nước

- Ngày 4-5-1954: Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Phạm Văn Đồng, Phó thủ tướng làm Trưởng phái đoàn đã đến Geneve (Thụy Sĩ) tham dự Hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương theo lời mời của hai Chính phủ Liên Xô và Trung Quốc.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh treo tại trụ sở Đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Geneve. Ảnh: Baotanghochiminh.vn 
Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
Ngày 4-5-1954, Phái đoàn ngoại giao Việt Nam Dân chủ cộng hòa, do Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn, đã đến Geneve tham dự Hội nghị Geneve về Đông Dương. Ảnh: TTXVN 

- Ngày 4-5-1962: Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ III diễn ra tại Hà Nội từ ngày 4 đến 6-5-1962. Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự và phát biểu tại đại hội. 

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
Quang cảnh Đại hội liên hoan Anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III (Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ III). Ảnh: Tư liệu TTXVN 

Đại hội tuyên dương 45 Anh hùng Lao động, 985 Chiến sĩ thi đua toàn quốc, 267 đơn vị tiên tiến, tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa, đề nghị Nhà nước tặng thưởng 594 Huân chương Lao động, 27 Huân chương Chiến công các hạng. Đây là đại hội đánh dấu những thắng lợi quan trọng, góp phần hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, tạo sức mạnh chi viện cho chiến trường miền Nam, đánh thắng giặc Mỹ, thống nhất đất nước.

Sự kiện quốc tế

- Ngày 4-5-1814: Hoàng đế Pháp Napoleon Bonaparte sau khi thoái vị bị đày ra đảo Elba. Napoleon ở đây cho đến ngày 26-2-1815, sau đó đổ bộ lên đất Pháp, bắt đầu thời kỳ trị vì ngắn ngủi trong 100 ngày, cho đến khi ông và quân đội thất bại trong trận Waterloo vào tháng 6 năm đó.

- Ngày 4-5-1869: Thomas Fitch Rowland (người Mỹ) nhận được bằng sáng chế cho “thiết bị khoan dưới biển” để tìm dầu khí và khí đốt đầu tiên trên thế giới.

Theo dấu chân người

- Ngày 4-5-1945, Lãnh tụ Hồ Chí Minh bắt đầu cuộc hành trình từ Pác Bó về Tân Trào. Cùng hành quân với Tiểu đội tự vệ theo Bác còn có hai báo vụ viên Mc Shin và F. Tan đều gốc Hoa, biên chế của đơn vị Tình báo chiến lược Mỹ (OSS) từ Côn Minh theo Bác về Việt Nam. Đoàn bắt đầu từ Khuổi Nậm, dọc theo suối Lênin qua các bản thuộc địa phận Cao Bằng rồi về Tân Trào (Tuyên Quang), tức là xa dần vùng biên giới Việt-Trung để mở rộng khu căn cứ địa Việt Bắc.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
 Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi bộ đến thăm Pác Bó và Hà Quảng (20-2-1961). Ảnh: Hochiminh.vn

- Ngày 4-5-1946, Bác viết thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ thể hiện rõ quan điểm của chế độ mới: “Chương trình của Chính phủ ta là làm thế nào cho toàn quốc đồng bào ai cũng có ăn, có mặc, có học. Vậy nên khẩu hiệu của chúng ta là: 1. Tăng gia sản xuất. 2. Chống nạn mù chữ.

Anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp số 2 đó. Anh chị em chịu cực khổ, khó nhọc, hy sinh phấn đấu, để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hóa sơ bộ cho dân tộc.

Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em... Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng”.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
Hồ Chủ tịch thăm lớp bổ túc văn hóa khu lao động Lương Yên, Hà Nội (1956). Ảnh: TTXVN 

- Ngày 4-5-1953, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí MinhDân chủ tập trung, ký bút danh Đ.X, đăng Báo Cứu quốc, số 2329. Tác giả giải thích về dân chủ tập trung: Ở nước ta, chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ. Nhân dân bầu ra các đại biểu thay mặt mình vào các hội đồng nhân dân, ủy ban kháng chiến hành chính địa phương, Quốc hội cùng Chính phủ trung ương để thi hành chính quyền. Thế là dân chủ. Mặt khác, các cơ quan chính quyền là thống nhất tập trung. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung.

- Ngày 4-5-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Bộ Chính trị bàn về công tác tổ chức Đảng năm 1959. Phát biểu tại hội nghị, Người lưu ý phải đẩy mạnh sửa đổi về tổ chức, đẩy mạnh đào tạo cán bộ cho 5, 10, 15 năm sau này và phải chú ý giúp cho sự phát triển của thanh niên.

Cùng ngày, Người dự họp Bộ Chính trị thảo luận việc giúp đỡ cách mạng Lào.

- Ngày 4-5-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) để kiểm điểm sự lãnh đạo của Trung ương trong ba năm qua. Người nêu nhận xét: “Cán bộ quản lý tốt thì tư tưởng tốt. Không phải tư tưởng bay ở trên trời”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 24-LCT, tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho ông Cố Bân Hoa, kỹ sư trong đoàn chuyên gia Trung Quốc sang giúp Bộ Kiến trúc.

- Ngày 4-5-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng huy hiệu của Người cho 4 cá nhân có thành tích trong lao động, học tập và tặng lụa cho 3 cháu gái sinh 3 ở Nam Định.

- Ngày 4-5-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 19-LCT, tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đoàn cán bộ đo đạc của Trung Quốc vì những đóng góp trong thời gian công tác tại Việt Nam.

- Ngày 4-5-1965, Bác tiếp tục tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về chuyển hướng sản xuất công nghiệp trong bối cảnh chiến tranh phá hoại của Mỹ đã lan ra miền Bắc. Phát biểu tại hội nghị (theo biên bản của phiên họp), Bác chỉ rõ một mặt phải chuẩn bị những khả năng xấu nhất nhưng cũng phải chuẩn bị khả năng để xây dựng tương lai. Khẩu hiệu trước mắt là tất cả để thắng Mỹ. Chúng ta quyết tâm không sợ tổn thất. Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Thắng được Mỹ sẽ làm được tất cả. Bác phê bình tác phong làm việc luộm thuộm, thưởng phạt thiếu nghiêm minh và đề nghị phải chú trọng vấn đề con người, nhất là thanh niên. Phải thấy hết khó khăn và dự báo mùa mưa tới, địch có thể phá đê...

(Theo Sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh - Ngày này năm xưa”, “Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử” và “Hồ Chí Minh toàn tập-2011”, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật) 

Lời Bác dạy ngày này năm xưa

Trang nhất Báo Quân đội nhân dân số 15 ra ngày 4-5-1951 đăng trang trọng huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18. Trong bài Người khẳng định: “Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
 Trang nhất Báo Quân đội nhân dân số 15 ra ngày 4-5-1951. 

Là người trực tiếp tổ chức sáng lập, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng Quân đội ta tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Người đặc biệt quan tâm, thường xuyên nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trong việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đoàn kết quân dân.      

Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Thực hiện lời dạy của Người, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn giữ vững và phát huy tốt mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân như cá với nước.

Quân đội ta luôn được nhân dân tin yêu. Tình đoàn kết quân dân là nguồn sức mạnh to lớn của quân đội ta. Nguồn sức mạnh đó thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi. Trong mọi giai đoạn lịch sử của dân tộc, nhân dân không chỉ là nguồn cung cấp nhân tài, vật lực cho bộ đội, mà còn là lực lượng luôn che chở, đùm bọc, giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ, giúp quân đội ta chiến thắng mọi kẻ thù.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước

Thắm tình quân dân. Ảnh: qdnd.vn

Vì vậy, dù ở bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đều phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu, hoàn thiện bản thân, tăng cường mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt giữa quân đội và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, của nhân dân.

Dấu ấn Bác Hồ trên Báo Quân đội nhân dân

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
Trang 3 Báo Quân đội nhân dân số 2132 ra ngày 4-5-1967. 

Trang 3 Báo Quân đội nhân dân số 2132 ra ngày 4-5-1967 trích đăng một số bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một tập thơ được Nhà xuất bản Văn học xuất bản nhân dịp mừng thọ Người 77 tuổi.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
Trang nhất Báo Quân đội nhân dân số 3126 ra ngày 4-5-1970. 

Trang nhất Báo Quân đội nhân dân số 3126 ra ngày 4-5-1970 đăng trang trọng bức ảnh “Hồ Chủ tịch trong buổi mít tinh kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động (1-5-1968)” cùng dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!”.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
 
Nguồn: QĐND.
GIÁ TRỊ THẬT SỰ CỦA CHIẾN THẮNG 30/4/1975 Như thường lệ, cứ gần đến dịp kỷ niệm ngày chiến thắng 30/4/1975, các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị, những kẻ suy thoái tư tưởng chính trị lại tung ra những thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc phủ nhận giá trị, bản chất của Chiến thắng 30/4/1975 trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Họ cho rằng, ngày 30/4/1975 là “ngày kết thúc của một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn”, “ngày quốc hận”... Vậy sự thật, bản chất của Chiến thắng 30-4-1975 là như thế nào? Cần khẳng định rằng, cuộc chiến tranh Việt Nam (1954 -1975) không phải là nội chiến “nồi da nấu thịt” như bọn phản động rêu rao. Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, theo nội dung Hiệp định Geneva được ký kết năm 1954, vĩ tuyến 17 được coi là ranh giới tạm thời chia đôi đất nước ta, sau đó tiến hành cuộc Tổng tuyển cử trên cả 2 miền để thống nhất đất nước (Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Geneva ghi rõ, cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7-1956). Nhưng chính âm mưu của đế quốc Mỹ đã phá hỏng cơ hội thống nhất hai miền Việt Nam. Chính quyền Ngô Đình Diệm-tay sai của đế quốc Mỹ biết không thể có cơ hội chiến thắng một cách đàng hoàng, hợp pháp qua cuộc Tổng tuyển cử trên cả nước trước Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nên, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, Ngô Đình Diệm đã phớt lờ Tổng tuyển cử, giành quyền thống trị miền Nam bằng vũ lực, súng đạn, máy chém, sát hại dã man hàng vạn đồng bào, đảng viên Đảng Cộng sản và những người bị nghi ngờ ủng hộ Đảng Cộng sản, tạo ra những cuộc bắt bớ, giết hại tín đồ Phật giáo, gây mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo. Với việc dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, Mỹ đã thi hành ở Việt Nam chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Khi nhận thấy Ngô Đình Diệm không còn phù hợp với chính sách của mình, Mỹ lập tức dàn xếp một cuộc đảo chính, tiêu diệt cả hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, dựng lên tại miền Nam Việt Nam một chính thể khác phục vụ trung thành hơn cho lợi ích của Mỹ tại Việt Nam. Như vậy, cần khẳng định rằng, cuộc chiến tranh ở Việt Nam (1954 – 1975) là cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam, trong đó, Mỹ tiến hành chiến tranh thông qua chính quyền Việt Nam cộng hòa hoàn toàn làm tay sai. Mặc dù chiến tranh súng đạn đã lùi xa nhưng cuộc chiến tranh thông tin vẫn dai dẳng do bọn phản động, tay sai, bọn bất mãn, cơ hội… không chịu chấp nhận sự thật về thắng lợi của cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Chúng ta cần tiếp tục đấu tranh không khoan nhượng để bảo vệ giá trị của Chiến thắng 30/4/1975, để máu của những người con thân yêu của dân tộc đổ xuống vì cuộc chiến phi nghĩa của bọn đế quốc, tay sai không bị uổng phí, đồng thời góp phần bảo vệ nền hòa bình mà toàn dân ta đã phải mất nhiều xương máu và của cải mới giành lại được.

BẢO VỆ ĐỘC LẬP CHỦ QUYỀN DÂN TỘC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

    Đấu tranh giành độc lập và bảo vệ chủ quyền của dân tộc là một bộ phận cốt lõi, xuyên xuốt trong toàn bộ cuộc đời sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng cuộc đời đấu tranh gian khổ, bền bỉ trải qua biết bao năm dài bôn ba ở nước ngoài cũng như quá trình tổ chức cách mạng ở trong nước, Người đã thể hiện một tấm gương chiến đấu không mệt mỏi vì sự nghiệp đấu tranh giành và giữ độc lập chủ quyền của dân tộc Việt Nam và các dân tộc khác. Vì thế Người đã để lại cho chúng ta một di sản to lớn và phong phú về tư tưởng giữ vững độc lập, chủ quyền dân tộc trong thời đại ngày nay.

Ra đi tìm đường cứu nước từ thân phận một người dân mất nước, bị nô lệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mang trong mình ngọn lửa yêu nước và ý chí khát khao giành đọc lập cho dân tộc, Người đã từng thốt lên: Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho nhân dân tôi, đó là những gì tôi muốn, đó là những gì tôi hiểu. Cuộc đời hơn 30 năm (1910 - 1941) nơi đất khách quê người đã làm cho Hồ Chí Minh đồng cảm sâu xa với nỗi nhục của người dân bị áp bức, đồng thời cũng cho Người một nhãn quan chính trị ban đầu nhưng cực kỳ chính xác: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: Giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái thật mà thôi: Tình hữu ái vô sản” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Sự Thật, Hà Nội 1981, t1, tr 212). Nhận thức này làm sơ sở cho sự nhận thức về quyền độc lập và tự quyết dân tộc sau này.

Từ nhận thức và tình cảm đối với những người dân bị bóc lột, bị áp bức và nô dịch, Hồ Chí Minh đặc biệt tâm đắc và tiếp nhận “Luận cương về những vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin. Bởi vì đó là lời giải đáp đúng đắn nhất cho khát vọng giành độc lập, chủ quyền và quyền bình đẳng dân tộc trong trời đại đế quốc chủ nghĩa. Xác định con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đặc mục tiêu độc lập dân tộc là một nguyên tắc căn bản của đường lối chiến lướ, sạc lược của cách mạng Việt Nam. Người luôn luôn kiên định mục tiêu độc lập hoàn tàon và triệt để gắn liền với bảo vệ chủ quyền về nội trị và ngoại giao, sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Quan điểm này được Người thể hiện trong thực tiễn đấu tranh cách mạng thời kỳ xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng (1945 - 1946). Vào thời điểm cam go nhất của lịch sử Người chủ trương một mặt sử dụng sách lược “thêm bạn bớt thù”, nhân nhượng những gì có thể chấp nhận được trong hoàn cảnh lúc đó, nhưng mặt khác lại hết sức kiên quyết đấu tranh đến cùng trước mưu toan trao trả độc lập giả hiệu và âm mưu can thiệp chia cắt đất nước của các loại kẻ thù bên ngoài. Là người cộng sản Mác xít chân chính, Người trung thành và vận dụng sáng tạo “Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mác - Lênin trong đó đặc biệt chú trọng quyền bình đẳng và quyền dân tộc tự quyết. Người chỉ đây là quyền cơ bản, thiêng liêng và bất khả xâm phạm của các dân tộc. Người lên tiếng đồng tình ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc chống lại sự can thiệp áp đặt từ bên ngoài dưới bất kỳ hình thức nào. Có thể nói, Hồ Chí Minh là người bạn thân thiết của các dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Bởi vậy, Người hiểu hơn ai hết độc lập, chủ quyền của mỗi dân tộc là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ với nhiều hy sinh, mất mát của các dân tộc bị áp bức. Nguyện vọng chính đáng của các dân tộc cần được cộng đồng thứ giới thừa nhận. Trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc tại quảng trường Ba Đình lịch sử sáng ngày 2/9/1945 Người mở đầu bằng câu nói bất hủ “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ái có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”... “Suy rộng ra câu nói ấy có nghĩa là, tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Một nhà văn hoá nước ngoài đã nhận xét “Cống hiến nổi tiếng của Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của các dân tộc. Như vậy mọi dân tộc đều có quyền tư quyết định lấy vận mệnh của mình” (Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới, Nxb Sự Thật, Hà Nội 1979, tr 96). Quyền độc lập và quyền tự quyết của các dân tộc không chỉ dừng lại bằng sự thừa nhận trên lời nói, hoặc bằng lời kêu gọi của các dân tộc. Nhận thức được điều đó Hồ Chủ Tịch kêu gọi các nước phải có điều kiện pháp lý quốc tế bảo đảm cho các quyền đó. Người viết “trong cuộc chiến tranh thế giới các nước đã hy sinh bao tiền của xương máu để giữ gìn quyền dân chủ và quyền tự quyết định của các dân tộc, các nước đã trịnh trọng bảo đảm quyền dân chủ và tự quyết đó trong Hiến chương Đại Tây Dương và Cựu Kim Sơn”.

Độc lập chủ quyền là tài sản vô giá của mỗi dân tộc, để bảo vệ nó không thể không thực hiện bằng hành động đấu tranh chống các thế lực gây chiến, xâm lược. Thế kỷ XX là thế kỷ nhân loại phải chịu đựng nỗi đau của hai cuộc đại chiến thế giới, Hồ Chí Minh là người tận mắt chứng kiến tội ác dã man của chủ nghĩa đế quốc đối với chủ quyền và độc lập của các dân tộc. Người kịch liệt lên án những cuộc chiến tranh đó. Tuy nhiên Người cũng phân biệt rõ cuộc chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa. Kẻ gây ra cuộc chiến tranh phi nghĩa ấy là chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc là nguồn gốc chiến tranh, quan điểm này hoàn toàn phù hợp với lịch sử thế giới cuối thế kỷ XIX đến nay. Kết luận đó cũng thống nhất với luận điểm của Lênin rằng chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, nó bộc lộ bản chất thối nát, phản động, hiếu chiến và xâm lược các dân tộc nhỏ yếu khác. Và tất nhiên muốn bảo vệ hoà bình, giữ vững chủ quyền độc lập của các dân tộc thì không còn con đường nào khác là: “Phải ra sức chống chủ nghĩa đế quốc” (Hồ Chí Minh, sđd tr 457). Điều đặc biệt là chính trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa đế quốc bảo vệ nền hoà bình thế giới Hồ Chí Minh thấy được sức mạnh to lớn và vĩ đại của ý thưc độc lập chủ quyền của các dân tộc. Người cho rằng lực lượng nhân dân tiến bộ trên thế giới, các Đảng Cộng sản và công nhân cần đoàn kết lại và làm chỗ dựa cho cuộc đấu tranh vì hoà bình. Hoà bình, độc lập, chủ quyền nằm trong tay các dân tộc. Các lực lượng dân tộc đấu tranh bảo vệ hoà bình, giành độc lập dân tộc của mình, đồng thời phải có trách nhiệm ủng hộ cuộc đấu tranh cho độc lập tự do của các dân tộc khác, Người nói “giúp bạn tức là giúp mình”. Đấu tranh bảo vệ hoà bình gắn với giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia thể hiện mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nền hoà bình thế giới, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân các nước, là một xu thế chủ đạo trong đời sống chính trị thế giới hiện nay. Hoà bình và độc lập chủ quyền dân tộc là hai mục tiêu không thể tách rời nhau. Đạt được nền hoà bình chân chính “hoà bình thực sự, hoà bình trong độc lập tự do chứ không phải là thứ hoà bình giả hiệu” (Hồ Chí Minh về nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước, Nxb Sự Thật, Hà Nội 1967, tr 57). Đó là mục tiêu cao cả của các dân tộc đang hướng đến trong thời đại ngày nay.

Lên án chiến tranh, Hồ Chí Minh có quan điểm rõ ràng và dứt khoát về cuộc chiến tranh xâm lược với cuộc chiến tranh chính nghĩa của các dân tộc bảo vệ chủ quyền quốc gia. Khi chiến tranh thế giới lần thứ II 1939 nổ ra, Người coi đây là cơ hội tốt để các dân tộc đứng lên giành độc lập, biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. Người nói: “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập” hay câu nói bất hủ trở thành chân lý của dân tộc bị áp bức “Không có gì quý hơn độc lập tự do” không chỉ là một khẩu hiệu chiến đấu mà là tiếng gọi thiêng liêng thôi thúc dân tộc Việt Nam và các dân tộc trên thế giới chiến đấu vì một thế giới hoà bình, ổn định và phát triển.

Ngày nay khi nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của phát triển, nhưng tư tưởng trên đây của Hồ Chí Minh còn ý nghĩa thời sự nóng bỏng. Nguyện vọng chung của các dân tộc là được sống hoà bình, độc lập dân tộc. Chủ quyền an ninh và sự ổn định của quốc gia được coi là vấn đề ưu tiên hàng đầu và cần được tôn trọng, song còn đó những thế lực mưu toan chà đạp lên nguyện vọng chính đáng đó của các dân tộc. Chủ nghĩa “cường quyền” mới dựa trên sự áp đặt “giá trị” và “sự răn đe” bằng quân sự và bao vây cấm vận kinh tế trở thành một thứ công cụ nguy hiểm do các thế lực hiếu chiến, đế quốc đe doạ sự bình yên, hạnh phúc của các dân tộc. Điều nguy hiểm hơn là chủ nghĩa cường quyền, thái độ bạo ngược của các thế lực gây chiến được che dấu bằng nhiều chiêu bài, nhiều học thuyết như “nhân quyền cao hơn chủ nghĩa”, “cuộc chiến chống khổng bố”... Vì vậy nhân loại cần vạch trần bản chất xâm lược áp bức của chủ nghĩa đế quốc, cần sớm loại bỏ “mầm ác” đang gây tai hoạ cho các dân tộc. Đó là đòi hỏi bức thiết trong đời sống chính trị thế giới hiện nay. Điều quan trọng nhất là các dân tộc phải đề cao cảnh giác, đề cao ý thức tự chủ, khẳng định quyền tự quyết dân tộc, đồng thời đoàn kết chặt chẽ cùng chung mặt trận đấu tranh chống đế quốc, bảo vệ hoà bình. Trong bối cảnh ấy, tư tưởng bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị thời đại to lớn.

NHẬN THỨC VỀ TƯ TƯỞNG LẤY DÂN LÀM GỐC

 

Cán bộ, đảng viên từ nhân dân mà ra. Dân là gốc của nước, của cách mạng. Với Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể tích cực của lịch sử, để phục vụ sự nghiệp cách mạng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải "hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng", phải hiểu dân, phải học từ nhân dân. Còn nếu "cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại".

          Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng để dân tin, dân yêu. Cán bộ, đảng viên "Ðặt lợi ích của Ðảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Ðảng vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc".

          Cán bộ, đảng viên chịu sự giám sát, phê bình của nhân dân. Tai mắt của nhân dân ở khắp nơi, chính vì vậy, họ là lực lượng giám sát, phê bình cán bộ, đảng viên sát sao nhất. Cán bộ nào xấu, cán bộ nào tốt, ai làm việc gì hay, việc gì dở, nhân dân đều biết rõ ràng. Vì thế trong công tác cán bộ phải đặc biệt quan tâm tới ý kiến của nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến của nhân dân như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: "Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi".

 

NHẬN THỨC VỀ NỘI HÀM CÁC QUAN HỆ LỚN

 


Mười quan hệ lớn được nêu trong bản “Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng” gồm: (i) Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; (ii) giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; (iii) giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; (iv) giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; (v) giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; (vi) giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; (vii) giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; (viii) giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; (ix) giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; (x) giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Mười quan hệ nêu trên là một bước tiến về nhận thức so với chín quan hệ lớn được nêu trong Văn kiện Đại hội XII (năm 2016) của Đảng(1); chẳng hạn thêm hàm nghĩa “bảo vệ môi trường” vào quan hệ (vi) và thêm quan hệ (x) gồm hàm nghĩa dân chủ và  pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Các quan hệ lớn, theo Văn kiện Đại hội XII, “phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở nước ta”(2). Nhưng các quan hệ nêu trên có số lượng nhiều (mười), nhưng lại bao quát chưa rõ, chưa trực tiếp các nội dung: pháp quyền, đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất là con người, bảo đảm quyền con người và phát triển con nguời toàn diện với tư cách là  chủ thể của tất cả các quan hệ lớn. Về mặt diễn đạt, không nên chia nhỏ ra nhiều mối quan hệ (mang tầm quy luật), nhất là lại có những yếu tố chồng lấn nhau về nội hàm ở một số quan hệ, sẽ gây khó khăn cho việc nhận thức, ghi nhớ và thực hiện chúng trong thực tế, trong khi còn những nội hàm quan hệ của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước nhất thiết phải được bổ sung, thực hiện phù hợp với vận động của thực tiễn.

Xem xét 10 quan hệ trên, có thể thấy, một số quan hệ “chồng lấn” về hàm nghĩa hay có chung nội hàm, cụ thể là:

- 2 quan hệ “chồng lấn”về hàm nghĩa; trong đó  quan hệ sau là hàm nghĩa cốt lõi của  quan hệ trước: Đó là (i) giữa đổi mới, ổn định và phát triển; và (ii) giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Vì lẽ, quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là hàm nghĩa cốt lõi của nội hàm quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị giữ vai trò có tính quyết định đối với tiến trình, hình thức, tính chất, mức độ hay “tầm” quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, tuy là hàm nghĩa cốt lõi nhưng không thể bao trùm  được nội hàm mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Cho nên việc nêu quan hệ này có lẽ là không cần thiết, vì sẽ làm sao nhãng quan hệ lớn hơn, bao quát hơn là quan hệ: giữa ổn định, đổi mới và phát triển.

Do đó có thể diễn đạt mới và chung cho hai mối quan hệ (i) và (ii) nêu ở trên là: quan hệ giữa đổi mới kinh tế, chính trị và ổn định, phát triển.

- 3 quan hệ “chồng lấn” về hàm nghĩa; trong đó 2 quan hệ sau là hàm nghĩa cốt lõi của  quan hệ đầu: Đó là: (iii) giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; (iv) giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; (v) giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Hàm nghĩa hai mối quan hệ (iv) và (v) chồng lấn nội hàm của mối quan hệ  (iii).

Bởi vì, quy luật thị trường là vận động có tính bản chất của nền kinh tế thị trường; quy luật thị trường nói riêng và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nói chung vận động, biến đổi và được xem xét trong mối quan hệ với định hướng XHCN - cần phải được xem xét là một chỉnh thể các hàm nghĩa: (i) Định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường; (ii) Định hướng XHCN của cả mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất (chứ không  chỉ mỗi quan hệ sản xuất là có tính chất XHCN như cách tư duy phiến diện hiện nay); (iii) Nhà nước pháp quyền XHCN; (iv) Định hướng XHCN của xã hội công dân  - khái niệm “xã hội công dân” được C.Mác và Ph.Ănghen dùng nhiều và không giống với khái niệm “xã hội dân sự” như cách hiểu hiện nay.

Định hướng XHCN phải bao gồm, bao quát ít ra là những hàm nghĩa có tính kết nối như vậy. Và quy luật kinh tế thị trường là hàm nghĩa bản chất nhưng không thể bao quát được nội hàm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, gồm: quy luật, thể chế, sự điều tiết và quản lý nền kinh tế thị trường.  Vì thế, quan hệ của quy luật kinh tế thị trường  không thể tách riêng, mà phải được xem xét trong nội hàm quan hệ của nền kinh tế thị trường nói chung; cũng như định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân phải được xem xét thống nhất trong nội hàm định hướng XHCN. Thành thử việc tách bạch 3 quan hệ này có lẽ là không cần thiết.

Yêu cầu đặt ra là phải tích hợp, thống nhất các hàm nghĩa của 3 quan hệ này theo quan hệ (iii) nêu ở trên và diễn đạt lại quan hệ (iii) là: “quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường và bảo đảm định hướng XHCN”.

 

NHẬN THỨC VỀ CÁC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIIII

 


(1) Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính, hợp tác công - tư; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật.

(2) Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

(3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu; chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số.

 

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN CHIA RẼ MỐI ĐOÀN KẾT GIỮA DÂN VỚI ĐẢNG

 


Lợi dụng việc Đảng ta chủ trương cùng với nhân dân ta đồng lòng quyết liệt đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu và tình trạng suy thoái trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, khắc phục "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, các thế lực thù địch ra sức công kích, xuyên tạc, nói xấu Đảng ta. Có những cuốn sách, tờ báo, tờ rơi, "tâm thư", "giác thư", "thư ngỏ", "tuyên cáo",... cố tình thổi phồng khuyết điểm, sai lầm của một số cá nhân đảng viên, rồi vu cáo làm giảm uy tín của Đảng ta.

Những giọng điệu trên thực chất là nhằm chia rẽ, phá hủy mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân, làm mất lòng tin của dân vào Đảng, làm cho dân xa Đảng, đối lập dân với Đảng; nhằm thủ tiêu nguồn sức mạnh vô địch và sức sống của Đảng ta, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội.

Lịch sử và nhân dân ta đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc trên con đường đi tới độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc từ những năm 30 của thế kỷ trước. Đảng đã vì dân mà ra đời, lãnh đạo cách mạng, đưa nhân dân thoát khỏi "kiếp ngựa trâu", vươn lên làm chủ, xây dựng cuộc đời ấm no, hạnh phúc.

Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và trao cho Đảng Cộng sản Việt Nam quyền duy nhất lãnh đạo, duy nhất cầm quyền và đã theo Đảng, đoàn kết dưới ngọn cờ của Đảng, làm nên những kỳ tích vĩ đại và những thành tựu to lớn. Đó là bản chất và nội dung cốt lõi mối quan hệ mật thiết giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Mối quan hệ mật thiết đó đã, đang và vẫn thể hiện sinh động trong thực tiễn, là nguồn sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam, không có thế lực nào dù có nham hiểm đến đâu có thể chia rẽ, phá hủy được.

Không thể vì sự hạn chế, khuyết điểm nào đó mà nói bừa rằng quan hệ mật thiết giữa Đảng và dân không còn nữa; để từ đó tìm cớ kích động, lôi kéo nhân dân chống đối lại Đảng và chế độ! Không thể vì sự suy thoái trong một bộ phận cán bộ, đảng viên mà cho rằng Đảng đã "xa dân", "đứng trên nhân dân", với đủ thói tệ, bệnh hoạn. Những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta trong quá trình xây dựng đất nước là có thực, nhưng đó là những hạn chế và khuyết điểm trên con đường đi lên, là sự đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu...

Để đến đích cái tiến bộ, đúng đắn sẽ chiến thắng với sự đổi mới phát triển mọi mặt kinh tế-xã hội đất nước. Lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm để nói xấu, công kích, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là hành động của những kẻ chống lại Đảng và nhân dân, của những kẻ "đục nước béo cò". Hành động đó chỉ có thể làm hại đến sự ổn định chính trị - xã hội và nguyện vọng, lợi ích của chính nhân dân.

Thực tiễn cho thấy, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng mọi người dân Việt Nam đều cảm nhận được rất rõ ràng, được thụ hưởng thực sự trong cuộc sống hằng ngày, được cả thế giới ngưỡng mộ và lạc quan tin tưởng vào sự phát triển của Việt Nam. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân. Mọi người dân đều trực tiếp hay gián tiếp đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến cho các cơ quan công quyền.

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG

 

Một là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII. Đưa việc học tập và làm theo Bác về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phòng và chống các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ trở thành nhu cầu tự thân tại mỗi cấp ủy, trong mỗi cán bộ, đảng viên. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm và phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng theo nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu gương đạo đức cách mạng trong công việc lẫn đời tư, tại nơi công tác cũng như địa bàn cư trú.

Hai là, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 28-CT/TW về “Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng”, kỷ luật đảng, Điều lệ Đảng, quy định về những điều đảng viên không được làm và các quy định về nêu gương gắn với đẩy mạnh thực hiện tự phê bình và phê bình, kết hợp chặt chẽ giữa “xây và chống, lấy xây là chính”, theo phương châm “trên trước, dưới sau”, “từ trong ra, từ ngoài vào”, “từ trên xuống, từ dưới lên. Tăng cường giám sát và kiểm tra, bảo đảm thực chất, dân chủ, khách quan, trung thực, đầy đủ, chất lượng, có trọng tâm, trọng điểm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ nhằm tăng cường đoàn kết nội bộ. Thông qua đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong mỗi cán bộ, đảng viên và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, miễn nhiệm, thay thế, buộc từ chức và đưa ra khỏi Đảng đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái, bất liêm, bất chính, tham ô, tham nhũng, bất kể là ai, ở vị trí công tác nào, đương chức hay đã nghỉ hưu.

Ba là, tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” và Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao càng phải xây dựng và thực hiện việc rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo chương trình của cấp ủy và kế hoạch đăng ký của cá nhân nghiêm túc, thực chất. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những người được lựa chọn vào quy hoạch, vào nhân sự cấp ủy khóa mới càng phải nâng cao tinh thần nỗ lực rèn luyện và phấn đấu về mọi mặt. Kiên quyết không để lọt vào danh sách cán bộ quy hoạch các cấp, nhất là cấp chiến lược và các cấp uỷ nói chung, của Đại hội Đảng lần thứ XIII nói riêng những cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, cơ hội, vi phạm kỷ luật đảng, Điều lệ Đảng. Đồng thời, nhân rộng những tấm gương người tốt, việc tốt trong cán bộ, đảng viên để lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực, tạo sự lan tỏa trong đời sống xã hội.

 

NHẬN THỨC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH SOI SÁNG CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DÂN TỘC

 


Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam; là sản phẩm của dân tộc và thời đại, trường tồn, bất diệt, là tài sản vô giá của dân tộc ta. Tư tưởng của Người không chỉ tiếp thu, kế thừa những giá trị, tinh hoa văn hóa của loài người, trong đó chủ yếu là chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn giải đáp nhiều vấn đề của thời đại, của sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới. Trong suốt chặng đường hơn một nửa thế kỷ, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trong bối cảnh của thế giới ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh giúp chúng ta nhận thức đúng những vấn đề lớn có liên quan đến việc bảo vệ nền độc lập dân tộc, phát triển xã hội và bảo đảm quyền con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vì lợi ích con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng vững chắc để Đảng ta vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn, là sợi chỉ đỏ dẫn đường cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ đối với mỗi thời kỳ cách mạng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam. Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ trung thành với những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng những nguyên lý đó vào điều kiện cụ thể của nước ta, đề xuất những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra và giải quyết một cách linh hoạt, khoa học, hiệu quả, theo nguyên tắc "lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động"(1).

Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh ở chỗ đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn. Ngày nay, tư tưởng đó, bao gồm một hệ thống những quan điểm lý luận, tư tưởng về chiến lược, sách lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, về sự cải biến cách mạng đối với thế giới, về đạo đức, phong cách, phương pháp Hồ Chí Minh, về việc hiện thực hóa các tư tưởng ấy trong đời sống xã hội... vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp đấu tranh giải phóng trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi sống với chúng ta, vì đã thấm sâu vào quần chúng nhân dân, được kiểm nghiệm qua thực tiễn cách mạng, ngày càng tỏa sáng, chiếm lĩnh trái tim, khối óc của hàng triệu, hàng triệu con người.

 

NHẬN THỨC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THẾ GIỚI

 

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh khát vọng thời đại. C. Mác đã khái quát: "Mỗi thời đại xã hội đều cần có những con người vĩ đại"(2).

Ngay trong thập niên 1920, với quá trình hình thành về cơ bản tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh đã có những cống hiến xuất sắc về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó là: giành độc lập dân tộc để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người đã có những nhận thức sâu sắc và độc đáo về mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Đồng thời, Người chỉ rõ tầm quan trọng đặc biệt của độc lập dân tộc trong tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội, về tính tự thân vận động của công cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc và về khả năng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.

Từ nghiên cứu lý luận, áp dụng vào những điều kiện cụ thể, Hồ Chí Minh đã hình thành một hệ thống các luận điểm chính xác và đúng đắn về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Việc xác định đúng đắn những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có cả các vấn đề về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội, về hòa bình, hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc... có giá trị to lớn về mặt lý luận và đang trở thành hiện thực trong giải quyết nhiều vấn đề quốc tế ngày nay.

Tìm ra các giải pháp đấu tranh giải phóng loài người. Đóng góp lớn nhất của Hồ Chí Minh đối với thời đại là từ việc xác định con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc mình, đã chỉ ra một con đường cách mạng, một hướng đi và tiếp theo đó là phương pháp "đại đoàn kết", "đại hòa hợp" để thức tỉnh hàng trăm triệu người bị áp bức trong các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thế giới còn thể hiện ở chỗ, ngay từ rất sớm, Người đã nhận thức đúng sự biến chuyển của thời đại, đặt cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa vào phạm trù cách mạng vô sản và hoạt động không mệt mỏi cho phong trào cách mạng thế giới. Người kiên quyết bảo vệ và phát triển quan điểm của V.I. Lênin về khả năng to lớn và vai trò chiến lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa đối với cách mạng vô sản; khẳng định bài học chung của các dân tộc. Người nhấn mạnh, trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi.

Những tư tưởng trên đây của Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi mãi là chân lý sáng ngời, góp phần vào sự kiến tạo và phát triển của nhân loại.

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh cổ vũ các dân tộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả. Tư tưởng và cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của Người đã là một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Năm 1987, Khóa họp Đại hội đồng UNESCO về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công nhận Người là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất.

 

Nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái về chính sách hòa hợp dân tộc của Việt Nam

  Hòa hợp dân tộc ở Việt Nam là một trong những truyền thống nhân văn, thể hiện ý nghĩa về sự đoàn kết và không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Thời gian qua, tiếp tục giữ vững và phát huy truyền thống dân tộc, Đảng và Nhà nước đã triển khai, áp dụng một cách khoa học, hiệu quả giá trị này; xem đây là một trong những yếu tố cấu thành khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp đất nước ngày càng phát triển. Tuy nhiên, với cái nhìn hạn hẹp, định kiến cùng những âm mưu phá hoại, các thế lực chống đối và thù địch vẫn thường xuyên tạc, phủ nhận chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.


NHẬN DIỆN CÁC QUAN ĐIỂM, LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN VỀ HÒA HỢP DÂN TỘC

Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch thường xuyên đưa ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc và phủ nhận về chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Bên cạnh các tài liệu, văn bản phát tán trái phép, họ đã tận dụng triệt để sự phát triển của công nghệ số mà điển hình là dùng Internet để chống phá. Thông qua một số website, các mạng xã hội, các ứng dụng (app) chạy trên nền tảng điện thoại thông minh…, các thế lực thù địch đã tăng cường xuyên tạc, bóp méo về chính sách hòa hợp dân tộc của Việt Nam.

Có thể nhận diện các quan điểm, luận điệu sai trái xuyên tạc và phủ nhận về hòa hợp dân tộc qua các nhóm vấn đề sau:

Vận dụng tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc


Nên đưa ra khỏi các tổ chức của Đảng những đảng viên không giữ gìn “con ngươi của mắt mình”.

 Trước khi từ biệt thế giới này, Bác Hồ vô cùng kính yêu của chúng ta vẫn còn phải căn dặn "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch…” và “phải giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(1). Tôi nhớ, năm 1945, khi Đảng ta mới 15 tuổi, chỉ với số lượng chừng 5.000 đảng viên thực sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, tuyệt đối trung với nước, hiếu với dân, một lòng một dạ đoàn kết thống nhất, gắn bó máu thịt với mọi tầng lớp nhân dân nên đã tạo được sức mạnh "dời non lấp biển", giành chính quyền, thành lập Nước, giữ vững độc lập dân tộc và phát triển đất nước từng bước lớn mạnh vững chắc như ngày nay. Điều đáng buồn là, hiện nay có nhiều đảng viên không còn tự giác tu dưỡng đạo đức, nâng cao giác ngộ cách mạng và rèn luyện lối sống nên bị suy thoái tư tưởng chính trị, tha hoá đạo đức, biến chất, chạy chức, chạy quyền, tham nhũng v.v... Tại phiên bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 10 (khoá X) tại Hà Nội, đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam có đề cập vấn đề khắc phục "tình trạng cán bộ càng gần đến đại hội đảng càng có biểu hiện né tránh, ngại va chạm"(2). Theo tôi, những người đảng viên như vậy thường là người cơ hội, vô ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ đảng viên và chức trách cán bộ; hành vi né tránh, ngại va chạm của những đảng viên mà Tổng Bí thư đã nêu là tiền đề của thói thờ ơ, vô cảm, có mắt giả mù, có tai giả điếc, chỉ biết sống thực dụng, kiếm lợi cho riêng mình. Chính vì lẽ đó mà tiêu cực xã hội không được ngăn chặn, đẩy lùi và trở thành "nguy cơ đối với chế độ". Cán bộ, đảng viên có biểu hiện né tránh, ngại va chạm tức là chưa thật sự trung thực, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhân dân và Tổ quốc Việt Nam ta. Là đảng viên mà né tránh, ngại va chạm, không dám biểu lộ chính kiến trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, chỉ lo giữ ghế, giữ quyền và lợi riêng thì chính họ đang làm chậm sự phát triển, phải đưa họ ra khỏi các tổ chức của Đảng.

Mọi đảng viên trung hiếu và quần chúng nhân dân yêu nước, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư đang luôn luôn chắt chiu đóng góp xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn không thể chấp nhận tình trạng trong hệ thống chính trị của Đảng và Nhà nước ta lại tồn tại những người cán bộ, đảng viên cơ hội, suy nhược bản lĩnh ý chí chiến đấu như thế. Chúng tôi kiến nghị với Đảng cần phải có quy định cấp thiết yêu cầu các cấp uỷ đảng soát xét thật kỹ đội ngũ cán bộ, đảng viên của mình để sớm loại bỏ ra khỏi đội ngũ tất cả những cán bộ, đảng viên nào càng gần đến đại hội đảng càng có biểu hiện né tránh, ngại va chạm trái ngược với tiêu chuẩn chất lượng, phẩm chất đạo đức và yêu cầu nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên. Có làm được như vậy thì đến khi tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, bọn họ mới không thể nào còn cơ hội chui vào cấp uỷ bằng những lá phiếu không trung thực, không trong sáng, minh bạch. Nếu Đảng ta không kiên quyết sớm loại bỏ những người như vậy ra khỏi đội ngũ đảng viên của Đảng thì nguy cơ "giặc nội xâm vẫn còn, nó sẽ ngày một tăng lên gây hiểm hoạ khôn lường cho chế độ ta". Chúng tôi tha thiết mong muốn trong nghị quyết đại hội đảng tới đây sẽ không còn dòng đánh giá đau lòng "một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng, tha hoá đạo đức, tham ô, tham nhũng, lãng phí lớn tài sản của Nhà nước và nhân dân" để sự nghiệp đổi mới, phát triển CNH, HĐH đất nước của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta được thành công như Bác Hồ muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam chúng ta hằng mong ước.

Đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, không còn phù hợp.

 Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, hiện nay là thời đại của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ hiện đại..., nên những tư tưởng hay những quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh đã bộc lộ những “sự lỗi thời”, “lạc hậu”, “khắc kỷ”, “không còn phù hợp” với thời đại (?!)...

Sự thật là, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên sức sống và giá trị thời đại, bởi bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chính những tư tưởng, đạo đức đó và bởi sự vận dụng sáng tạo những tư tưởng vượt trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt Nam, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược cách mạng trong toàn bộ tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trải qua hơn 91 năm từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh;... là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.

Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện tấm gương ngời sáng của người cộng sản mẫu mực, người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Người đã thâu thái những giá trị văn hóa đạo đức của nhân loại để làm giàu trí tuệ của mình, định hướng giá trị đạo đức trong thời đại mới về tinh thần quốc tế trong sáng, chống chia rẽ, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc. Bạn bè năm châu khâm phục và coi Người là biểu tượng cao đẹp của những giá trị về tư tưởng, lương tri và phẩm giá làm người, hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Giá trị thời đại trong tư tưởng, đạo đức của Người còn được đánh giá cao bởi sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích dân tộc và lợi ích cộng đồng quốc tế, giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, phù hợp với xu thế vận động, phát triển của quan hệ quốc tế hiện đại. Đạo đức và tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, trước sau như một của Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam và nhân loại.

Sinh thời, Người từng nói: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”. Đúng như nhà nghiên cứu Hélène Tourmaire đã khẳng định: “Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lê-nin và tình cảm của người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”. Giá trị đạo đức Hồ Chí Minh không phải là con số cộng cơ học của những giá trị trên, mà là sự tổng hòa, hội tụ, hòa hợp tự nhiên tất cả lại để làm giàu trí tuệ và phẩm chất của mình. Đó là một giá trị đạo đức phổ quát mà nhân loại đang nỗ lực xây dựng, phát huy, tôn vinh và học hỏi để nâng tầm thời đại và tiến bộ trong xã hội văn minh hiện đại ngày nay.

Những chuẩn mực “trung, hiếu, cần, kiệm, liêm, chính”... là những khái niệm thuộc hệ đạo đức Nho giáo, chứa đựng nội dung hạn hẹp, nhưng được Người đưa vào nội dung mới, có ý nghĩa khoa học, cách mạng và nhân văn. “Trung với nước, hiếu với dân” là mối quan hệ thể hiện trách nhiệm hành động, quyết tâm, suốt đời, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; Người đấu tranh với mọi cái ác, cái xấu, tham ô, lãng phí, quan liêu, để hướng đến xây dựng “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, “thanh khiết từ to đến nhỏ”. Vì vậy, Tổng thống Chile đã trả lời nhà báo về ba phẩm chất của nhà hoạt động chính trị mà ông muốn có là “Nhất quán, nhân đạo, khiêm tốn cao cả của Hồ Chí Minh”.

Người luôn căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ cần phải rèn luyện đạo đức hằng ngày, tu dưỡng suốt đời, để tránh sa vào chủ nghĩa cá nhân. Dù với cuộc đời nào và sống như thế nào, đạo đức và lối sống của Người vẫn giữ đúng nguyên tắc: lấy khiêm tốn giản dị làm nền, lấy chừng mực điều độ làm chuẩn, lấy trong sạch, thanh cao làm vui, lấy yêu thương con người làm trọng, lấy gắn bó giữa con người với thiên nhiên làm niềm say mê vô tận. Đúng như một nhận xét sâu sắc, tinh tế về Người “là một cuộc đời thanh tao, không gợn chút riêng tư, luôn tôn trọng nguyên tắc, có niềm tin vào sự thật và chính nghĩa”.

Đảng ta khẳng định, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi; hơn thế còn dẫn đường cho nhân loại đi đến hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới, ông Romesh Chandra viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”.

Để đưa dân tộc ta vững bước tới tương lai, một nhiệm vụ quan trọng đặt ra là phải đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng tất cả sức mạnh của vũ khí phê phán, làm cho học thuyết khoa học và cách mạng của chúng ta luôn tỏa sáng.

HAIVAN

Phản bác luận điệu cho rằng không có nghị quyết của UNESCO tôn vinh Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất.

 Luận điệu xuyên tạc trên không chỉ nhằm bôi nhọ, hạ thấp hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh, mà còn tấn công vào những giá trị của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở hệ giá trị tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, mà ở Người chính là sự hội tụ và phát huy đến mức cao nhất những tinh hoa văn hóa đó.

Sự thực là, Quyển 1 của Nghị quyết trong “Tập biên bản của Đại hội đồng UNESCO Khóa họp 24 tại Pari, ngày 20-10 - 20-11-1987” có đầy đủ nội dung liên quan đến việc tổ chức kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam”. Quyển 1 Nghị quyết được xuất bản bằng 6 thứ tiếng, có kích thước khổ giấy A4 (20cm x 30cm), bìa màu xanh lá cây đậm, dày 220 trang. Ngoài trang mở đầu và mục lục (từ trang I đến trang IX), tập Nghị quyết gồm 13 mục và phần Phụ lục. Trong mục III: Chương trình hành động giai đoạn 1988 - 1989 có ghi: A: Các chương trình hành động lớn; và B: Các hoạt động tổng thể của chương trình, trong đó có hoạt động các ngày kỷ niệm (mục 18.6). Mục 18.6.5. Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghị quyết 24C/18.65 về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam là một văn kiện quan trọng của UNESCO ghi nhận những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Năm 2010, liên quan đến sự kiện Nghị quyết của UNESCO, ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO đã phát biểu tại lễ mít-tinh tại Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp: “Năm 2010 là dịp kỷ niệm lần thứ 120 Ngày sinh của Người, và đây cũng là dịp để chúng ta ôn lại sự kiện cách đây hơn 20 năm, vào năm 1987, tổ chức UNESCO đã quyết định kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 1990) như một trong những nhân vật quan trọng và kiệt xuất của lịch sử”. Cũng nhân dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát biểu tại Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”, bà Katherine Muller Marin, Trưởng Đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội nhấn mạnh: “Tôi có mặt tại đây hôm nay để hoàn thành sứ mệnh của Nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pari năm 1987, về việc kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Anh hùng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất”.

HAIVAN

Đấu tranh phản bác luận điệu khẳng định không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

 Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc rằng, Hồ Chí Minh có quan điểm sâu sắc về giải phóng dân tộc, nhưng hoàn toàn không có tư tưởng về chủ nghĩa xã hội (?!). Họ xảo biện rằng, toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Hồ Chí Minh lãnh đạo tập trung cho giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước... Những luận điệu xuyên tạc trên không chỉ bài bác tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn nham hiểm tách biệt tư tưởng Hồ Chí Minh với bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. 

Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, để đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột tàn bạo, vô nhân đạo, đấu tranh xóa bỏ nghèo nàn, “giặc dốt” và lạc hậu, nhằm tạo ra một xã hội mới theo mục tiêu, lý tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề hiện hữu trên thế giới, có ý nghĩa thời đại cấp bách cần phải giải quyết. Cống hiến lớn của Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt Nam là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn duy nhất đúng, một đột phá lý luận rất cơ bản về con đường, mục tiêu và phương thức phát triển của cách mạng. Từ cách mạng giải phóng dân tộc phải đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiến hành giải phóng dân tộc theo phương thức thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng. Theo Người, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa thì trước hết phải giành cho kỳ được độc lập dân tộc. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Muốn có độc lập, tự do thực sự thì phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người chỉ rõ: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lê-nin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Về lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội trong di sản Hồ Chí Minh, Giáo sư Shingo Shibata viết: “Một trong những cống hiến quan trọng của Cụ Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam là đã đề ra lý luận về chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân. Theo tôi được biết, Đảng Lao động Việt Nam là đảng đầu tiên trong các đảng mác xít trên thế giới áp dụng lý luận này”.

Chỉ riêng trong bản Di chúc của Người có tới ba lần viết về cụm từ “chủ nghĩa xã hội”: Đảng cần chăm lo đào tạo thanh niên “thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”; Đảng và Chính phủ chọn một số chiến sĩ trẻ tuổi trong lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong ưu tú nhất cho đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc, “là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”; Người có ý định “thay mặt nhân dân đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa và các nước bầu bạn khắp năm châu”... Điều quan trọng hơn, toàn bộ Di chúc chứa đựng tinh thần, tầm nhìn đổi mới, hội nhập, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Và, cái đích của chủ nghĩa xã hội được khẳng định trong Di chúc là “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Người mong muốn xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu; nói đến “thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Khát vọng của Người là xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội.

HAIVAN

Đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch liên quan đến việc phủ nhận Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng.

 Nhằm tấn công trực diện vào những vấn đề cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta, nhất là xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch. Do đó, việc xây dựng những luận chứng khoa học để kịp thời phản bác, bẻ gãy những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch và bảo vệ tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận của Đảng ta hiện nay.

Các đối tượng tung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch về hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các tổ chức phản động lưu vong, nhất là những phần tử trong chế độ cũ; một số chính phủ, tổ chức phi chính phủ phương Tây, chính trị gia, nhà tài phiệt có tư tưởng cực hữu chính trị, chống cộng, đi đầu trong âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội; những phần tử cơ hội, cực đoan, bất mãn chính trị trong nước; những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất, “trở cờ”,… Phương thức và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là khoác áo “khách quan khoa học”, đội lốt “phản biện xã hội” để ngụy tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh; triệt để lợi dụng những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội của các phương tiện truyền thông xã hội biến thành công cụ đắc lực chống phá con đường và sự nghiệp cách mạng Việt Nam… Việc nhận diện bản chất, bóc trần các thủ đoạn, từ đó xây dựng hệ luận cứ căn bản để phản bác những luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng. 

Để thực hiện âm mưu xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, “hạ bệ thần tượng”, các thế lực thù địch và các phần tử phản động, cơ hội chính trị dùng nhiều chiêu trò, cách thức khác nhau. Họ xuất phát từ quan niệm học thuật phương Tây, cường điệu hóa, tán dương những nhà tư tưởng, triết học tư sản, từ đó cho rằng “Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng” (?!).

Khi định nghĩa về nhà tư tưởng, V.I. Lê-nin lưu ý: “Một người xứng đáng là nhà tư tưởng khi nào biết giải quyết trước người khác tất cả những vấn đề chính trị - sách lược, các vấn đề về tổ chức, về những yếu tố vật chất của phong trào không phải một cách tự phát”. Từ chỉ dẫn của V.I. Lê-nin, để nhận thức Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, phải hiểu thấu cả trước tác, hoạt động thực tiễn, phẩm chất cá nhân và sự nghiệp mà Người để lại cho dân tộc và nhân loại.

Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng thiên tài, nhà lý luận kiệt xuất. Tư tưởng của Người không chỉ ở những câu chữ hoặc trước tác mà nằm ở chiều sâu nội dung và ý nghĩa cao cả của nó, vừa kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chứa đựng khát vọng cháy bỏng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm đẫm triết lý nhân sinh, thân dân... Ở Hồ Chí Minh thể hiện sự thống nhất, hòa quyện giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách; giữa lý luận và thực tiễn; giữa tri và hành; giữa lời nói và việc làm. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, xuất phát từ thực tiễn và nguyện vọng của quần chúng bị áp bức, Hồ Chí Minh đã thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc mình và góp phần giải phóng các dân tộc thuộc địa. Do đó, có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với ý nghĩa là “học thuyết”, là một hệ thống những luận điểm, quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam được xây dựng trên một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, được hình thành theo đúng quy luật phát triển và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

Các thế lực thù địch công kích, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, coi tư tưởng của Người chỉ là sự sao chép nguyên bản, áp dụng khiên cưỡng chủ nghĩa Mác - Lê-nin hoặc “đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin” (?!). Luận điệu này không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc sự thật về tính thống nhất, vận dụng sáng tạo và bổ sung phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với kho tàng lý luận kinh điển. Mác - Ăng-ghen bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, Lê-nin bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Xuất phát từ yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn cách mạng châu Âu, các nhà lý luận Mác - Lê-nin tập trung vào giải quyết vấn đề giai cấp. Còn tư tưởng Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân ở thuộc địa, giải quyết mâu thuẫn dân tộc, làm cách mạng dân tộc giải phóng. Hồ Chí Minh là một trong số ít các tác giả trong lịch sử có được một công trình đồ sộ nghiên cứu về chủ nghĩa thực dân. Trong tác phẩm: “Hồ Chủ tịch - Nhà lý luận xuất sắc về chủ nghĩa thực dân và phong trào giải phóng dân tộc”, ông Handache Gilbert viết: “Sự phân tích về chủ nghĩa thực dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến lúc đó vượt hẳn tất cả những gì mà những nhà lý luận mác-xít đề cập đến. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nên một tổng hợp những lý thuyết về sự giải phóng khỏi sự áp bức thực dân, có sức mạnh không thể chối cãi được”. Giáo sư Nhật Bản Shingo Shibata khẳng định Hồ Chí Minh đã góp phần đào sâu và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đối với các vấn đề dân tộc thuộc địa và “cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình”. Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thắng lợi cuộc cách mạng ở Việt Nam, mở đường cho các dân tộc và thuộc địa vùng lên thực hiện sự nghiệp giải phóng.

Những học giả chân chính trên thế giới đều khẳng định “Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng” và nhấn mạnh: “Những quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh và khả năng của Người trong việc sử dụng sáng tạo phương pháp lịch sử và duy vật để giải quyết các hiện tượng xã hội là nguồn gốc của những tư tưởng lỗi lạc của Người. Những tư tưởng của Người đã được kiểm nghiệm trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, mở ra những tiềm năng chưa từng có cho các phong trào giải phóng dân tộc”.

HAIVAN