Mười quan hệ lớn được nêu trong bản
“Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng” gồm: (i) Quan hệ giữa đổi
mới, ổn định và phát triển; (ii) giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị;
(iii) giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; (iv)
giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ
sản xuất XHCN; (v) giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; (vi) giữa tăng trưởng
kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ
môi trường; (vii) giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; (viii) giữa
độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; (ix) giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ; (x) giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ
cương xã hội.
Mười quan hệ nêu trên là một bước
tiến về nhận thức so với chín quan hệ lớn được nêu trong Văn kiện Đại hội XII
(năm 2016) của Đảng(1); chẳng hạn thêm hàm nghĩa “bảo vệ môi trường” vào quan
hệ (vi) và thêm quan hệ (x) gồm hàm nghĩa dân chủ và pháp chế, bảo đảm kỷ
cương xã hội.
Các quan hệ lớn, theo Văn kiện Đại
hội XII, “phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở nước ta”(2). Nhưng các quan
hệ nêu trên có số lượng nhiều (mười), nhưng lại bao quát chưa rõ, chưa trực
tiếp các nội dung: pháp quyền, đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất là con người,
bảo đảm quyền con người và phát triển con nguời toàn diện với tư cách là
chủ thể của tất cả các quan hệ lớn. Về mặt diễn đạt, không nên chia nhỏ ra
nhiều mối quan hệ (mang tầm quy luật), nhất là lại có những yếu tố chồng lấn
nhau về nội hàm ở một số quan hệ, sẽ gây khó khăn cho việc nhận thức, ghi nhớ
và thực hiện chúng trong thực tế, trong khi còn những nội hàm quan hệ của công
cuộc đổi mới và phát triển đất nước nhất thiết phải được bổ sung, thực hiện phù
hợp với vận động của thực tiễn.
Xem xét 10 quan hệ trên, có thể
thấy, một số quan hệ “chồng lấn” về hàm nghĩa hay có chung nội hàm, cụ thể là:
- 2 quan hệ “chồng lấn”về hàm nghĩa;
trong đó quan hệ sau là hàm nghĩa cốt lõi của quan hệ trước: Đó là
(i) giữa đổi mới, ổn định và phát triển; và (ii) giữa đổi mới kinh tế và đổi
mới chính trị. Vì lẽ, quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là hàm
nghĩa cốt lõi của nội hàm quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Quan hệ
giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị giữ vai trò có tính quyết định đối
với tiến trình, hình thức, tính chất, mức độ hay “tầm” quan hệ giữa đổi mới, ổn
định và phát triển. Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, tuy là
hàm nghĩa cốt lõi nhưng không thể bao trùm được nội hàm mối quan hệ giữa
đổi mới, ổn định và phát triển. Cho nên việc nêu quan hệ này có lẽ là không cần
thiết, vì sẽ làm sao nhãng quan hệ lớn hơn, bao quát hơn là quan hệ: giữa ổn
định, đổi mới và phát triển.
Do đó có thể diễn đạt mới và chung
cho hai mối quan hệ (i) và (ii) nêu ở trên là: quan hệ giữa đổi mới kinh tế,
chính trị và ổn định, phát triển.
- 3 quan hệ “chồng lấn” về hàm
nghĩa; trong đó 2 quan hệ sau là hàm nghĩa cốt lõi của quan hệ đầu: Đó
là: (iii) giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN;
(iv) giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan
hệ sản xuất XHCN; (v) giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Hàm nghĩa hai mối
quan hệ (iv) và (v) chồng lấn nội hàm của mối quan hệ (iii).
Bởi vì, quy luật thị trường là vận
động có tính bản chất của nền kinh tế thị trường; quy luật thị trường nói riêng
và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nói chung vận động, biến đổi và được
xem xét trong mối quan hệ với định hướng XHCN - cần phải được xem xét là một
chỉnh thể các hàm nghĩa: (i) Định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường; (ii)
Định hướng XHCN của cả mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây
dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất (chứ không chỉ mỗi quan hệ sản
xuất là có tính chất XHCN như cách tư duy phiến diện hiện nay); (iii) Nhà nước
pháp quyền XHCN; (iv) Định hướng XHCN của xã hội công dân - khái niệm “xã
hội công dân” được C.Mác và Ph.Ănghen dùng nhiều và không giống với khái niệm
“xã hội dân sự” như cách hiểu hiện nay.
Định hướng XHCN phải bao gồm, bao
quát ít ra là những hàm nghĩa có tính kết nối như vậy. Và quy luật kinh tế thị
trường là hàm nghĩa bản chất nhưng không thể bao quát được nội hàm của nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN, gồm: quy luật, thể chế, sự điều tiết và quản lý
nền kinh tế thị trường. Vì thế, quan hệ của quy luật kinh tế thị
trường không thể tách riêng, mà phải được xem xét trong nội hàm quan hệ
của nền kinh tế thị trường nói chung; cũng như định hướng XHCN của nền kinh tế
thị trường, Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân phải được xem xét thống nhất
trong nội hàm định hướng XHCN. Thành thử việc tách bạch 3 quan hệ này có lẽ là
không cần thiết.
Yêu cầu đặt ra là phải tích hợp,
thống nhất các hàm nghĩa của 3 quan hệ này theo quan hệ (iii) nêu ở trên và
diễn đạt lại quan hệ (iii) là: “quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường và
bảo đảm định hướng XHCN”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét