Thứ Tư, 4 tháng 5, 2022

Đừng nghĩ sai thế!

 

Ông Hùng là công nhân nông trường về hưu. Gần nhà ông, có công ty sản xuất linh kiện điện tử do nước ngoài đầu tư.

Nắm bắt cơ hội, ông xây dãy phòng trọ cho công nhân thuê. Dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động (1-5), đại diện công đoàn công ty đến tận phòng trọ thăm hỏi công nhân có hoàn cảnh khó khăn, ông thấy mừng.

Ấy thế mà sáng nay, hai vợ chồng trẻ cùng là công nhân ở cuối dãy trọ lại cãi nhau. Anh chồng kiên quyết bắt vợ đem túi quà đi trả lại cho công đoàn công ty. Ông hỏi nguyên nhân thì người vợ ấm ức mách:

- Ông ơi, chồng cháu nghe ở đâu về, không cho cháu nhận quà, bắt mang đi trả. Anh ấy còn bảo là mấy anh chị công đoàn chỉ làm hình thức để lợi dụng, tiếp tay cho công ty bóc lột sức lao động của công nhân chứ chẳng có ý tốt gì. Nghe vợ nói thế, anh chồng trong phòng nói vọng ra:

- Ông thấy cháu nói thế có đúng không? Đấy, lần trước cùng tổ cháu có anh bị công ty trừ lương chỉ vì đi muộn mấy phút. Anh ấy báo với công đoàn cũng không có tác dụng gì mà lại còn giáo huấn là mình sai này nọ. Họ chỉ làm bù nhìn thôi.

Nghe đến đây, ông Hùng hiểu nguyên nhân cuộc đấu khẩu của cặp vợ chồng công nhân trẻ. Ông ôn tồn nói:

- Cháu nghĩ như vậy là sai rồi! Công đoàn là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Vì vậy, công đoàn sẽ đứng bên cháu khi cháu làm đúng, thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ của người lao động. Làm sao người ta bảo vệ cho cái sai được!

Anh chồng chưa hài lòng, lý sự:

- Nhưng ông ơi, lương mấy ông bà công đoàn hưởng mà công ty trả cho họ cũng là từ mồ hôi nước mắt của người lao động. Thế mà họ có bảo vệ gì công nhân đâu, toàn bảo vệ cho ông chủ công ty thôi! Trên mạng xã hội, người ta đang kêu gọi tẩy chay công đoàn đấy ông ạ.

Ông Hùng giật mình bởi suy nghĩ của anh công nhân trẻ, nhưng vẫn kiên nhẫn giảng giải:

- Cháu phải hiểu đúng bản chất vấn đề. Công đoàn ngoài bảo vệ quyền, lợi chính đáng của người lao động, tổ chức vận động người lao động tham gia học tập, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp thì còn là tổ chức chính trị-xã hội trực tiếp tham gia giám sát, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Vì thế, việc doanh nghiệp trả lương cho họ cũng là bình thường. Hơn nữa, cháu thấy đấy, công đoàn công ty cháu đến tận phòng trọ thăm, tặng quà là thể hiện sự quan tâm của họ dành cho công nhân, giúp công nhân có động lực để phấn đấu lao động tốt hơn, đóng góp cho doanh nghiệp nhiều hơn để công nhân cũng được hưởng thành quả đó. Như vậy, họ vừa mang lại lợi ích cho cả công ty, vừa góp phần động viên, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Công đoàn mà bênh cả cái sai của công nhân thì công ty không thể phát triển được, thậm chí ngày càng làm ăn thua lỗ thì công nhân sẽ mất việc làm và giảm thu nhập. Cháu thấy có đúng không?

Nghe đến đây, anh chồng trẻ hiểu ra, thừa nhận là đã suy nghĩ sai về vai trò và nhiệm vụ của công đoàn.

Tính nhân văn cao cả của học thuyết Các Mác

 

Một trong những giá trị đặc trưng tạo nên sức sống trường tồn của học thuyết Mác chính là ở tinh thần nhân văn cao cả, tất cả vì sự nghiệp giải phóng con người thoát khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, bảo vệ những quyền cơ bản của con người, xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn cho con người.

Từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội không ngớt xuyên tạc, công kích học thuyết Mác. Sở dĩ các loại kẻ thù vào hùa với nhau chống đối rất quyết liệt học thuyết mang tính cách mạng và khoa học do Các Mác cùng với Ph.Ăngghen xây dựng nên bởi học thuyết đã công khai rõ mục đích chính trị cao cả của giai cấp vô sản thế giới là đấu tranh nhằm “xóa bỏ chế độ tư hữu”(1). Học thuyết Mác cũng đã vạch ra con đường, biện pháp đấu tranh cách mạng, vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân với bộ tham mưu chiến đấu của mình là Đảng Cộng sản lãnh đạo đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ áp bức giai cấp, áp bức dân tộc, áp bức con người, hướng tới mục đích nhân văn cao cả vì một xã hội trong đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(2).

Tính nhân văn cao cả của học thuyết Các Mác
 Các Mác. Ảnh tư liệu.

Nhìn lại lịch sử các học thuyết tư tưởng của nhân loại từ trước tới nay để thấy rằng, chỉ có học thuyết Mác sử dụng phương pháp tiếp cận vấn đề con người trên quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, phân tích làm rõ bản chất con người được biểu hiện trong cả 3 bộ phận hợp thành học thuyết Mác. Về kinh tế chính trị, học thuyết tập trung nghiên cứu giải phẫu xã hội đã làm tha hóa con người, gây bao thảm cảnh cho con người và vạch rõ quy luật tất yếu diệt vong của xã hội đó. Về chủ nghĩa xã hội, học thuyết đề cập những điều kiện và bản chất của sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại khỏi ách áp bức, bất công do chế độ tư bản chủ nghĩa gây ra. Trên lĩnh vực triết học, học thuyết phân tích về quy luật nhận thức thế giới, xã hội và con người; xác định mục đích cải tạo thế giới vì lợi ích của con người. Đó là 3 bộ phận hợp thành học thuyết cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác, hàm chứa tính nhân văn cao cả và tính hiện thực cách mạng.

Trong học thuyết Mác, tiền đề xuất phát không phải là con người trừu tượng, con người sinh học thuần túy, con người “xã hội” trống rỗng; hay chủ nghĩa nhân đạo kiểu tôn giáo, chủ nghĩa nhân bản của Feuerbach, mà là con người hiện thực. Các Mác nêu rõ: “... Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”(3).

Có những quan điểm phê phán học thuyết Mác chỉ nhấn mạnh đến “con người-giai cấp”, bỏ qua “con người tộc loại”. Nhưng chính Mác và Ăngghen đã nói rõ quan hệ giai cấp không phải là quan hệ vốn có từ khi hình thành cộng đồng loài người. Quan hệ đó chỉ xuất hiện trong những điều kiện nhất định của nền sản xuất vật chất xã hội và sẽ mất đi khi các điều kiện này không còn nữa. Vì thế, học thuyết Mác nghiên cứu về con người và sự nghiệp giải phóng con người không phải ở bất kỳ thời đại nào, mà được quy tụ trong thời đại phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp với chủ thể là những con người-giai cấp. Bản chất giai cấp là một phạm trù lịch sử. Học thuyết Mác thể hiện triệt để tính cách mạng trong mục đích xóa bỏ sự phân chia giai cấp mà nguyên nhân cốt yếu do chế độ tư hữu gây ra. Đây cũng chính là căn nguyên làm tha hóa bản chất tộc loại của con người. Trong thời đại này luôn tồn tại một quy luật xã hội: Có áp bức, bóc lột thì có đấu tranh nhằm xóa bỏ sự áp bức, bóc lột con người. Cho nên, học thuyết Mác đã chứng minh mục đích đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản là vì sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Mác khẳng định: Hãy xóa bỏ nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo.

Như vậy, học thuyết Mác đã phát triển tư tưởng nhân đạo của con người lên trình độ mới về chất. Đó là một học thuyết hàm chứa chủ nghĩa nhân văn cộng sản vì con người, do con người, là tiếng nói bênh vực quần chúng lao động bị áp bức, bóc lột trong chế độ xã hội cũ, hướng tới giải phóng triệt để con người khỏi mọi sự áp bức, bất công. Vì thế có thể khẳng định, học thuyết Mác là một học thuyết mang tinh thần nhân văn cao cả, có sức sống trường tồn, đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho con người đi đến tự do, hạnh phúc.

Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, để có được quyền tự do cá nhân và để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống giai cấp áp bức, bóc lột thì tất yếu phải trải qua một quá trình đấu tranh rất quyết liệt, lâu dài, bền bỉ với nhiều chiến lược, sách lược của các giai cấp, dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay trên thế giới vẫn đang diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gay go, phức tạp và chứa đựng những yếu tố khó lường. Vì vậy, việc tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin và khẳng định tinh thần nhân văn cao cả của học thuyết Mác có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng-lý luận của giai cấp vô sản trên toàn thế giới nói chung và của Đảng ta nói riêng trong tình hình hiện nay.

Xây đắp tình đoàn kết, thương yêu đồng chí, đồng đội

 

Một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/TW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) là: “Chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt”.

Tình đồng chí, đồng đội là nét phẩm chất cao quý, văn hóa truyền thống cần được vun đắp, phát huy để làm sáng mãi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới.

Tình đồng chí, đồng đội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh của quân đội. Đó là sự phản ánh các mối quan hệ trong nội bộ; là nét đặc thù của văn hóa quân sự, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta. Tình đồng chí, đồng đội là sự kết tinh những giá trị cao quý của truyền thống dân tộc, được vun đắp qua hàng nghìn năm lịch sử. Với những đặc trưng cơ bản, thương yêu gắn bó với nhau như anh em ruột thịt, tin cậy lẫn nhau, “đồng cam cộng khổ”, “chia ngọt sẻ bùi”, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, trưởng thành; cùng nhau khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, trong hòa bình cũng như trong chiến tranh, lúc thường cũng như lúc ra trận... Những tình cảm đó được hình thành một cách tự nhiên, chân thành giữa những người cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Quân đội ta do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục, rèn luyện. Tình thương yêu của Bác dành cho cán bộ, chiến sĩ quân đội như tình cảm của người cha dành cho những đứa con ruột thịt của mình. Sinh thời, Bác nhiều lần ra tận trận địa hỏi thăm bộ đội đang làm nhiệm vụ huấn luyện, trực chiến. Người căn dặn: “Cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không có quần chúng, thì không làm gì được. Bởi vậy, cần phải thương yêu đội viên. Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”. Ngay từ ngày đầu thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22-12-1944)- tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam-đã tuyên thệ 10 Lời thề danh dự của quân nhân, trong đó, lời thề thứ 7 ghi rõ: “Đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt trên tình thương yêu giai cấp; hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận; thực hiện toàn quân một ý chí”.

Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, tình đồng chí, đồng đội đã vun đắp vững chắc chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tô thắm truyền thống vẻ vang của Bộ đội Cụ Hồ. Những năm tháng chiến tranh, giữa mưa bom bão đạn, tình đồng chí, đồng đội là minh chứng sáng ngời cho phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Đó là: Hình ảnh những vị tướng cùng ra mặt trận, cùng ăn, cùng ở với bộ đội; trăn trở ngày đêm để làm sao đánh thắng giặc mà giảm tổn thất, thương vong đến mức thấp nhất; hay những chiến sĩ từ những miền quê khác nhau, nay cùng chung chiến hào, chung ý chí, chung lý tưởng: "Súng bên súng, đầu sát bên đầu/ Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ... Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới/ Đầu súng trăng treo” (trích bài thơ “Đồng chí” của tác giả Chính Hữu). Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng Tư lệnh, người Anh Cả của Quân đội ta đã đúc kết: “Vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng như giọt nước trong biển cả... Tôi hoàn thành nhiệm vụ cũng như những người lính hoàn thành nhiệm vụ. Trên bình diện nhiệm vụ thì tôi cũng là người lính bình đẳng, cho nên tôi rất tôn trọng người lính”.

Ngày nay, tình đồng chí, đồng đội càng tỏa sáng, tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ vì dân, vì nước trong những thời điểm nhân dân và Tổ quốc gặp khó khăn, hiểm nguy. Tiêu biểu như hình ảnh cán bộ, chiến sĩ toàn quân đoàn kết, khắc phục khó khăn, không quản ngại gian khổ, hy sinh, giúp dân, cứu dân trong lúc thiên tai, hoạn nạn, xông pha nơi tuyến đầu chống dịch Covid-19; năm 2020, hình ảnh Thượng tướng Phan Văn Giang, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (nay là Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) rơi nước mắt trong buổi gặp gỡ, động viên thân nhân 13 liệt sĩ hy sinh trong quá trình cứu hộ ở thủy điện Rào Trăng 3, đã khắc sâu và minh chứng cho tình yêu thương đồng chí, đồng đội. Hay như câu chuyện về cán bộ, chiến sĩ ngày đêm vượt nắng thắng mưa, tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, rồi đưa các anh trở về với quê hương, người thân, như tâm tư, tình cảm của Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư lệnh Quân khu 4: “Không một ngày nào, bản thân tôi không nghĩ về đồng chí, đồng đội, những người lính ưu tú của tôi đã ngã xuống cho độc lập, tự do của dân tộc, để cuộc sống hôm nay được bình yên, tươi đẹp”... Quân đội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình, góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng, tài sản của nhân dân, như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Đạt được những kết quả nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ yếu là các đồng chí đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng.

Tuy nhiên, trước những tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường; sự thâm nhập của nền văn hóa xấu độc thông qua internet, mạng xã hội; sự thoái hóa, biến chất, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân... của một số cán bộ, đảng viên, quần chúng đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình cảm đồng chí, đồng đội. Thêm vào đó, việc một số cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống đoàn kết, gắn bó của quân đội, niềm tin của nhân dân, của cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Những tồn tại, khuyết điểm đó là “những con sâu làm rầu nồi canh”, những mục ruỗng trong nội bộ ở một số cơ quan, đơn vị, đòi hỏi sớm phát hiện, giải quyết, xử lý dứt điểm.

Trong điều kiện mới, Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương được ban hành và tổ chức thực hiện nghiêm túc, kịp thời thể hiện ý chí, quyết tâm cao của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng nhằm xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh; là một tập thể đoàn kết, trong sạch, mẫu mực, tiêu biểu với tình thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt, luôn xứng đáng với danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ mà nhân dân trao tặng. Nghị quyết 847 đã nêu các giải pháp cụ thể, như: Phải tăng cường công tác tư tưởng, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ tiếp tục giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt. Đó không chỉ là văn hóa quân sự cao đẹp mà còn là nhân tố tạo nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín thực sự là tấm gương mẫu mực. Thực hiện tốt phương châm: “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”; cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Chú trọng rèn luyện đội ngũ cán bộ cơ sở có tác phong làm việc sâu sát, gần gũi, thương yêu bộ đội, gắn bó với đơn vị, thực hiện nghiêm lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ phải coi đội viên như chân tay, thì đội viên mới coi cán bộ như đầu, như óc”. Cùng với đó, cần chú trọng chăm lo xây dựng môi trường văn hóa quân sự tốt đẹp, lành mạnh; gắn với kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Môi trường văn hóa đó phải là nơi vun đắp, tô thắm tình cảm đồng chí, đồng đội, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ nhau khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ; thực hiện tốt cơ chế, chính sách; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội. Để mỗi cán bộ, chiến sĩ xem đơn vị là nhà, đồng chí, đồng đội là anh em ruột thịt, cần có sự động viên, hỗ trợ kịp thời đối với một ngành nghề mang tính chất đặc thù, hoạt động cường độ cao, vất vả, để mỗi quân nhân yên tâm công tác, cống hiến.

Hiện nay, các cơ quan, đơn vị toàn quân đang đồng bộ triển khai, thực hiện Nghị quyết 847 để xây dựng nội bộ đoàn kết, gắn bó như anh em ruột thịt; thực hiện tốt các giải pháp đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân (nhất là 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân được Nghị quyết 847 chỉ ra), để chủ nghĩa tập thể-“mình vì mọi người, mọi người vì mình” lan tỏa sâu rộng trong các cơ quan, đơn vị và tình đồng chí, đồng đội mãi mãi được giữ gìn và phát huy, tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

 

Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (THTK, CLP) là một nội dung trong 5 đặc trưng cơ bản được khái quát tại Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

Cụ thể là: Gương mẫu trong công tác, sinh hoạt; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, nâng cao ý thức tiết kiệm

 Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến THTK, CLP đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người cho rằng: “Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy 4 đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính. Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”. 

Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người cũng căn dặn: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”... Vậy là, dù viết những lời căn dặn sau khi mình đã từ trần, Bác vẫn không quên nhắc nhở chúng ta phải nghĩ đến dân, đừng gây ra sự lãng phí không cần thiết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu rõ: “Có tiết kiệm, không hoang phí, xa xỉ thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí, xa xỉ thì ắt phải tìm cách xoay tiền. Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối”.

Đồng thời, theo Người, lãng phí là tiêu dùng bừa bãi. Lãng phí tập trung vào 3 loại: Lãng phí lao động, lãng phí thời gian, lãng phí tiền của của nhân dân, đất nước. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãng phí không phải chỉ là tiêu tốn tiền của, mồ hôi nước mắt của nhân dân, mà nguy hiểm hơn, từ hoang phí, xa xỉ sẽ dẫn đến tham ô, nhũng nhiễu, đánh mất tư cách, đạo đức của người cán bộ, đảng viên.

Theo Bác, tiết kiệm là sử dụng có hiệu quả tiền của, thời gian, công sức lao động, tích trữ thêm vốn cho công cuộc phát triển đất nước, nhằm nâng cao đời sống của nhân dân. Nội hàm thực hành tiết kiệm trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng, bao gồm tiết kiệm của cải vật chất, tiết kiệm thì giờ, sức lao động chứ không đơn thuần là tiết kiệm vật chất theo kiểu “ăn dè hà tiện” trong quan niệm truyền thống.

Từ đó, Người yêu cầu đội ngũ cán bộ phải là lực lượng tiên phong trong cuộc thi đua THTK. Riêng đối với bộ đội, Bác yêu cầu phải tiết kiệm súng đạn, thuốc men, quân trang và lương thực, thực phẩm để chiến đấu, chiến thắng kẻ thù xâm lược.

Trong những năm qua, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả nội dung THTK, CLP. Lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì đã đẩy mạnh việc THTK.

Theo đó, ngoài việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về Luật THTK, CLP và chương trình hành động của cấp ủy các cấp về THTK, CLP, các đơn vị đã tiến hành lập dự trù, phân bổ kinh phí huấn luyện, kinh phí các ngành bảo đảm đúng thủ tục, nguyên tắc, tạo điều kiện cho đơn vị sử dụng kinh phí hiệu quả, đúng mục đích, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ được giao, bảo đảm phục vụ đời sống vật chất và tinh thần cho bộ đội, đồng thời THTK đúng quy định của cấp trên. Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị đã đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tự bảo đảm rau xanh, thịt, trứng, cá... nâng cao chất lượng bữa ăn cho bộ đội.

Ngoài ra, nhiều đơn vị đã lập Quỹ “Vì ngày mai lập nghiệp”, phát động cán bộ, chiến sĩ tiết kiệm lương, phụ cấp để lo tương lai, hạnh phúc gia đình. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, các đơn vị đã phát động cán bộ, chiến sĩ tích cực nghiên cứu sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tạo ra nhiều sáng kiến thiết thực ứng dụng vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả huấn luyện, công tác và giúp tiết kiệm thời gian, công sức lao động cùng các loại nguyên vật liệu tiêu hao.

Nhiều giải pháp thực hành tiết kiệm

Công tác THTK, CLP ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã được thực hiện tốt. Mặc dù vậy, ở một vài đơn vị cũng còn những bất cập, tồn tại. Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương đã chỉ rõ tình trạng “... cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực...”.

Trên thực tế, vẫn còn đơn vị quản lý kinh phí chưa chặt chẽ, công tác kiểm soát chi tiêu tuy đã được tăng cường nhưng tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản ở một số hạng mục vẫn xảy ra. Ý thức sử dụng tiết kiệm xăng, dầu, điện, nước của số ít cán bộ, đảng viên chưa cao, dẫn đến lãng phí, thất thoát.

Vì vậy, để THTK, CLP hiệu quả theo Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, toàn quân cần đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị phải giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền nắm chắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc THTK, CLP bằng những việc làm thiết thực hằng ngày, như: Phân tích và làm sâu sắc những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về ý thức THTK, CLP gắn với nhiệm vụ của đơn vị và từng cá nhân; các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, nhất là cán bộ chủ trì cần gương mẫu, đi đầu trong THTK, CLP; tăng cường trách nhiệm của người chỉ huy, vai trò lãnh đạo, kiểm tra, giám sát của cấp ủy và kiểm soát của cơ quan tài chính cả trước, trong và sau chi tiêu ngân sách, bảo đảm việc sử dụng tiền, tài sản của đơn vị đúng pháp luật, có hiệu quả, chi tiêu đúng nhiệm vụ, nội dung ngân sách được giao...

Để không có tình trạng lãng phí, các đơn vị cần thực hiện nghiêm việc quy trách nhiệm cá nhân chứ không chỉ “rút kinh nghiệm” đối với những khoản chi không đúng. Chi tiêu phải thực hiện công khai để giám sát trước tập thể, cấp ủy đảng.

Cùng với đó, các đơn vị chấp hành nghiêm Luật Ngân sách nhà nước; Luật THTK, CLP; Nghị quyết số 915-NQ/QUTW ngày 25-8-2018 của Quân ủy Trung ương và Đề án “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính Quân đội” ban hành theo Quyết định số 3500/QĐ-BQP ngày 26-8-2018 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Hiện nay, các cơ quan, đơn vị đều có thể khoán chi đối với một số nội dung nghiệp vụ hành chính nên khá thuận lợi trong THTK đối với nội dung này; cùng với đó, cần phấn đấu tiết kiệm chi phí hội họp, triệt để tiết kiệm điện, nước, xăng dầu, công tác phí.

Các biện pháp tiết kiệm chi tiêu trong mọi lĩnh vực cần được tăng cường. Kinh phí chi thường xuyên, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, nhà công vụ và mua sắm tài sản công cần quản lý chặt chẽ, khoa học. Các cấp quản lý sử dụng hiệu quả tài chính ngân sách và các nguồn kinh phí, tăng khả năng đáp ứng cho các nhiệm vụ; nắm chắc biến động của thị trường, giá cả để chủ động nguồn hàng, mua sắm cho phù hợp.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về THTK, CLP có ý nghĩa rất thiết thực để mỗi chúng ta học tập và noi theo. Việc THTK, CLP ở từng cơ quan, đơn vị là yêu cầu cấp thiết, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, đồng thời giúp tiết kiệm tiền bạc của Nhà nước và nhân dân.

Muốn THTK, CLP thực sự hiệu quả, trước hết là cần sự gương mẫu đi đầu và kiên quyết chỉ đạo của cấp ủy, người chỉ huy mỗi cơ quan, đơn vị.

Ý NGHĨA LỊCH SỬ ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975

 Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với trận mở màn Buôn Ma Thuột và Chiến dịch Tây Nguyên, tiếp đó là Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã hoàn toàn thắng lợi trong gần hai tháng liên tục và kiên cường chiến đấu (từ 18/3/1975 đến 2/5/1975). Đó là chiến thắng vẻ vang nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đánh dấu thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, là sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, một sự kiện có tác động lớn đến tình hình thế giới. Trải qua 21 năm tiến hành chiến tranh, 5 đời Tổng thống Mỹ điều hành 4 kế hoạch chiến lược thực dân mới và tiến hành chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ từng bước leo thang biến cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thành cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất trên thế giới kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Quân dân miền Nam với quyết tâm, ý chí thắng Mỹ với thế trận chiến tranh nhân dân đã lần lượt đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của chúng mà Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là chiến thắng vĩ đại nhất quyết định số phận của cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 đã đập tan hơn 1 triệu quân Ngụy, lật đổ hoàn toàn chế độ Ngụy quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam, cố vấn Mỹ phải rời khỏi miền Nam, Tổng thống Ngụy quyền Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Chiến thắng đó đã giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và tay sai.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đánh dấu kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ, đồng thời kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của đế quốc Pháp - Mỹ và chế độ phong kiến, rửa sạch nỗi nhục và nỗi đau mất nước hơn 1 thế kỷ của dân tộc Việt Nam.

Chủ nghĩa thực dân cũ, chủ nghĩa thực dân mới và thế lực phản động tay sai là nguyên nhân chia cắt đất nước. Thực dân Pháp chia nước ta thành 3 kỳ trong xứ Đông Dương 5 kỳ thuộc Pháp, xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới. Đế quốc Mỹ và Ngụy quyền Ngô Đình Diệm chia cắt đất nước thành 2 miền Nam - Bắc với vĩ tuyến 17. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã xóa bỏ mọi ranh giới chia cắt đất nước, đất nước đã được thống nhất về mặt lãnh thổ, đó là điều kiện thuận lợi để hai miền Nam - Bắc thống nhất đất nước về mặt nhà nước và thống nhất trên các lĩnh vực khác.

Đường lối cách mạng dân chủ nhân dân của Đảng là mục tiêu của cách mạng, là niềm tin của dân tộc, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp tạo điều kiện cho miền Bắc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đại thắng mùa Xuân năm 1975 lật đổ chế độ đế quốc và tay sai, mở đường cho sự hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp cách mạng dân chủ nhân dân, xóa bỏ giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản ở miền Nam.   

Đất nước không còn bóng giặc ngoại xâm, chế độ Ngụy quyền tay sai đã bị lật đổ, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước độc lập, thống nhất trong cả nước và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, một trong những chiến công hiển hách nhất của lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, Chiến dịch Hồ Chí Minh - trận kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước- cùng với trận Bạch Đằng (1288), Chi Lăng (1427), Đống Đa ( 1789), Điện Biên Phủ (1954) đã cắm một cột mốc vinh quang chói lọi trong quá trình đi lên của lịch sử nước ta, tô đậm truyền thống kiên cường bất khuất của dân tộc ta trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc.

Tình đoàn kết gắn bó keo sơn của ba dân tộc Đông Dương được thể hiện sâu sắc trong quá trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên một chiến trường thống nhất nhằm chống một kẻ thù chung với cùng một mục tiêu là giải phóng dân tộc. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 không những mở ra bước ngoặt mới của lịch sử dân tộc và còn tạo thời cơ lớn cho nhân dân Campuchia giải phóng đất nước ngày 17/4/1975, cho nhân dân Lào giành độc lập ngày 2/12/1975.

Đối với đế quốc Mỹ, thất bại ở miền Nam năm 1975 là thất bại của một cuộc chiến tranh hao người tốn của nhất, là thất bại to lớn và nặng nề nhất trong lịch sử 200 năm của đế quốc Mỹ, thất bại đó đã tác động sâu sắc tới nội tình nước Mỹ, làm suy giảm uy tín và vị trí của Mỹ trên trường quốc tế.

Đối với thế giới, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã đập tan cuộc phản kích lớn nhất vào các lực lượng cách mạng của tên đế quốc đầu sỏ, phá vỡ phòng tuyến ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc và sự mở rộng của chủ nghĩa xã hội ở khu vực Đông Nam Á, góp phần làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ.

Thắng lợi mùa Xuân năm 1975 đã quyết định sự giải thể của khối quân sự SEATO do Mỹ cầm đầu tháng 9 năm 1975, góp phần đem lại hòa bình, an ninh và sự hòa hợp của khu vực Đông Nam Á.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nói riêng và cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung không chỉ là thắng lợi riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Thắng lợi đó đã góp phần tăng cường sức mạnh của chủ nghĩa xã hội, thu hẹp trận địa của chủ nghĩa đế quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là nguồn cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ tiến bộ trên thế giới, tiếp tục chứng minh một chân lý của thời đại ngày nay là: Một dân tộc kiên quyết chống chủ nghĩa đế quốc có đường lối lãnh đạo đúng đắn, có sự đồng tình giúp đỡ của quốc tế thì nhất định sẽ giành được thắng lợi dù phải đương đầu với tên đế quốc đầu sỏ.

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân ta đã thực hiện được ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nhân dân hai miền Nam - Bắc đã sum họp một nhà. Trong cuộc đọ sức giữa ý chí Việt Nam và sức mạnh quân sự Mỹ, mặc dù phải chiến đấu gian khổ, hi sinh nhiều người, nhiều của, nhưng tinh thần và ý chí của nhân dân Việt Nam quyết tâm giành độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà đã toàn thắng. Chiến thắng oanh liệt đó mãi là niềm tự hào của mỗi thế hệ người dân Việt Nam, là động lực tinh thần to lớn để chúng ta kiên định, vững bước trên con đường mà Đảng, Bác Hồ kính yêu và nhân dân ta đã chọn: Độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; tiếp tục công cuộc đổi mới, CNH-HĐH, xây dựng và phát triển đất nước, sánh vai với bạn bè thế giới như Bác Hồ kính yêu vẫn hằng mong muốn./.                             TK-ST

BẮN MỘT VIÊN ĐẠN VỀ QUÁ KHỨ, UKRAINE NHẬN LẠI TÊN LỬA HÀNH TRÌNH


Tình hình chiến sự tại Ukraine vẫn đang tiếp tục diễn ra chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, một số người dân Ukraine đã đẩy tình hình chiến sự tại đây trở nên căng thẳng hơn khi xuyên tạc lịch sử, thể hiện bằng những hành động phá bỏ Đài tưởng niệm hồng quân Liên Xô ở Chernivtsi hoặc tháo dỡ tượng đài hữu nghị Nga – Ukraine ở Kiev.

Những công trình này có ý nghĩa lịch sử to lớn, thể hiện sự thành kính đối với sự hy sinh xương máu của các thế hệ đi trước trong cuộc chiến tranh chống phát xít Đức trong Thế chiến thứ II. Hành động phá bỏ các tượng đài này đồng nghĩa với việc xóa bỏ mọi quan hệ giữa Ukraine và Nga, đồng thời xóa bỏ lịch sử, chối bỏ những gì ông cha đã hy sinh xương máu để giành lại cho con cháu ngày nay, chối bỏ ý nghĩa chiến thắng của Hồng quân Liên Xô trước phát xít Đức.

Nếu không học lịch sử hoặc không tìm hiểu lịch sử, không ai có thể biết rằng Ukraine là một quốc gia Đông Âu, là một phần của Liên bang Xô Viết từ năm 1922. Những năm 1941-1942, phát xít Đức tấn công Liên Xô, Hồng quân Liên Xô (bao gồm cả Ukraine) đã chiến đấu chống cuộc sát hại người Do Thái và người dân Ukraine mạnh mẽ, kết quả cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại đã toàn thắng vào năm 1945. Đến năm 1991, Liên Xô sụp đổ, Ukraine trở thành một quốc gia độc lập.

Việc xét lại lịch sử đã dẫn đến cuộc “cách mạng màu” ở Ukraine năm 2014 với sự kiện Euromaidan, đây là sự kiện mà người dân Ukraine lật đổ Tổng thống Viktor Fedorovych Yanukovych, lựa chọn rũ bỏ nước Nga, bắt tay với phương Tây. Chính quyền mới do Tổng thống Petro Poroshenko nắm quyền đã ban hành đạo luật “phi Xô viết hóa” và “phi cộng sản hóa” Ukraine, đặt chủ nghĩa cộng sản ngang hàng với chủ nghĩa phát xít, nghiêm cấm việc sản xuất, phân phối và sử dụng ở nơi công cộng các biểu tượng gắn với chế độ Xô viết như cờ, hình ảnh, huy hiệu búa liềm, sao 5 cánh; cấm sử dụng quốc ca Liên Xô và quốc ca các nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa khác thuộc Liên Xô trước đây. Đồng thời tôn vinh các phần tử dân tộc cực đoan đã hợp tác với Đức Quốc xã để chiến đấu chống lại Liên Xô, coi các phần tử này là “anh hùng giải phóng dân tộc” của Ukraine. Những hành động đó là sự chối bỏ lịch sử trắng trợn, thể hiện tinh thần “vô nhân đạo” trước sự hy sinh của những người lính Hồng quân Liên Xô, nếu ở Việt Nam thì đó là hành động trái với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

Đó thực sự là bài học đắt giá đối với Việt Nam nếu xem nhẹ lịch sử, tương tự như Ukraine nếu sự kiện Euromaidan xảy ra ở Việt Nam sẽ là chối bỏ sự hy sinh của các thế hệ cha ông trong các cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc, chối bỏ công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không chỉ vậy, nguy cơ xúc phạm thành quả cách mạng, tẩy trắng ý nghĩa, sự hy sinh, gian khổ trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

Việc đưa lịch sử trở thành môn học tự chọn vẫn đang là vấn đề được bàn luận sôi nổi, không thể phủ nhận cái lợi về việc học sinh THPT được giảm tải, được tự do lựa chọn môn học yêu thích, giúp định hướng nghề nghiệp rõ ràng hơn, thuận lợi hơn cho quá trình lập thân lập nghiệp sau này.

Thế nhưng, “lợi bất cập hại” là điều có thể dễ nhận ra hơn. Một điều hiện hữu ngay trước mắt đó là học sinh dễ dàng tiếp cận thông tin xuyên tạc lịch sử, bởi thời đại công nghệ, mạng xã hội cực kỳ phát triển, thông tin chưa được kiểm duyệt xuất hiện tràn lan ảnh hưởng trực tiếp đến giới trẻ. Nếu không có kiến thức lịch sử mà lại tiếp cận thông tin xuyên tạc thì làm gì có khả năng phản biện, càng không thể biết thông tin đó đúng hay sai, hệ quả của nó sẽ làm thay đổi nhận thức một thế hệ. Trong khi đó, hầu hết những trang mạng xã hội lớn nhất, những công cụ tìm kiếm lớn nhất đều do Mỹ và các nước phương Tây làm chủ, đó đều là những quốc gia luôn có ý đồ “nhồi sọ” người Việt Nam, để đưa Việt Nam đến bờ vực của “cách mạng màu”. Adolf Hitler từng nói: “Lời nói dối lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành sự thực”, và quả thực với tần suất thông tin sai sự thật do những thành phần “thiếu thiện cảm” với Việt Nam tuyên truyền hiện nay thì việc lịch sử Việt Nam đổi trắng thay đen chỉ là vấn đề thời gian.

Đưa lịch sử trở thành một môn học tự chọn chính là xem nhẹ lịch sử, đó là là mầm mống của việc suy giảm lòng yêu nước, bởi vì không học lịch sử thì làm sao biết các cuộc khàng chiến của dân tộc như thế nào? Ông cha ta đã hy sinh bao nhiêu xương máu? Và càng không thể lý giải vì sao ở nước ta có người bị ảnh hưởng chất độc màu da cam. Không hiểu biết những điều trên thì làm sao có thể yêu nước, quý trọng hòa bình, nếu ai đó cho rằng không cần học lịch sử mà vẫn yêu nước thì đó chỉ là yêu nước “mù quáng”.

Xóa bỏ lịch sử chính là việc làm nhằm mục đích “đồng hóa” của các nước thù địch. Nhà cách mạng yêu nước Nam Phi Nelson Madela đã nhận định: “Muốn phá hủy một dân tộc, không cần đến vũ khí hạt nhân mà chỉ cần phá hủy lịch sử của nó”. Thật vậy, giặc Minh (Trung Quốc) khi đô hộ nước ta đã đốt phá hầu hết các sách sử và văn chỉ của Việt Nam ta, trong đó có cuốn Đại Việt Sử ký của sử gia Lê Văn Hưu (đời nhà Trần) đã có thời điểm tưởng chừng như bị thất truyền.

Không chỉ có bài học từ Ukraine, chúng ta còn có một bài học khác của Hàn Quốc cũng rất cần suy ngẫm. Từ năm 2005, Hàn Quốc cho phép các môn khoa học xã hội trong khối phổ thông là môn tự chọn và tỷ lệ đăng ký học Lịch sử giảm dần đều theo thời gian. Kết quả là một thế hệ trẻ không biết chiến tranh Triều Tiên diễn ra vào thời gian nào, không biết gì về tướng Lý Thuấn Thuần – vị tướng nổi danh nhất lịch sử dân tộc Triều Tiên. Năm 2013, Bộ An ninh và Nội vụ Hàn Quốc công bố số liệu khảo sát giật mình rằng, có tới 52% học sinh Hàn Quốc không biết ngày nổ ra và kết thúc chiến tranh Triều Tiên, 31% không biết về việc lính Nhật đã từng hành hạ phụ nữ Triều Tiên, 86% không rõ về chủ quyền Hàn Quốc tại đảo Dokdo. Đó là những con số cay đắng sau khi Hàn Quốc đã biến Lịch sử trở thành môn “tự chọn”. Cuối cùng, Hàn Quốc đưa lịch sử trở lại giáo dục bắt buộc vào năm 2017.

Bài học của Ukraine và Hàn Quốc là vô cùng thực tế, hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam, hậu quả của việc xóa bỏ hoặc xem nhẹ lịch sử là điều hiện hữu trước mắt. Nhà thơ Gamzatov từng nói: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”, thực tiễn đã cho thấy Ukraine đã bắn một viên súng lục vào quá khứ và nhận lại “súng đại bác” theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

Mai Anh

CÁCH MẠNG MÀU VÀ NHỮNG NGUY CƠ TIỀM ẨN ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY


Cách mạng màu với nhiều tên gọi khác nhau như: cách mạng nhung, đường phố, cam, hoa hồng, hoa tulip, hạt dẻ… diễn ra ở một số nước Đông Âu và Trung Đông, Bắc Phi trong thời gian qua và những diễn biến chính trị tại Thái Lan, Campuchia, Mianma, Inđônêxia, Vênêxuêla đã cho thấy bản chất nguy hiểm từ sự can dự của các thế lực nước ngoài vào tình hình nội bộ các nước có chủ quyền, gây ra bất ổn chính trị kéo dài, ly khai dân tộc nhằm tìm mọi cách thay thế chính quyền hiện tại, xây dựng chính quyền thân Mỹ và phương Tây. Câu hỏi đặt ra là: Việt Nam chúng ta có phải đối diện với nguy cơ xảy ra “cách mạng màu” hay không? Đâu là giải pháp để ngăn ngừa âm mưu, thủ đoạn thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam?

Cách mạng màu (tiếng Anh là colour revolution) là thuật ngữ chỉ các cuộc bạo lực chính trị có tổ chức, chính biến phi vũ trang ở quốc gia có chủ quyền nhằm lật đổ nhà nước đương nhiệm, gây ra khủng hoảng chính trị, đồng thời lập ra bộ máy cầm quyền mới của lực lượng đối lập được Mỹ và phương Tây hậu thuẫn. Đó là chiến lược toàn cầu của Mỹ sử dụng những phương thức, thủ đoạn điển hình là sự phản đối quy mô lớn bằng biện pháp phi bạo lực nhằm mục đích thay đổi chế độ đang tồn tại để thiết lập một chính phủ thân Mỹ và phương Tây kể từ thời kỳ hậu chiến tranh lạnh đến nay.

Các đối tượng của cách mạng màu là đảng phái, lực lượng chính trị đối lập trong nước hình thành từ các trào lưu “dân chủ hóa xã hội” hoặc nảy sinh, phát triển từ sự mâu thuẫn, phân hóa, phân lập của nội bộ đảng, chính phủ cầm quyền. Lãnh tụ phe đối lập thường là những người bất mãn, cơ hội chính trị, bất đồng với đảng, chính phủ cầm quyền được các thế lực nước ngoài hậu thuẫn, thậm chí nuôi dưỡng để thực hiện chính biến khi có thời cơ thuận lợi. Các thế lực bên ngoài là kẻ khởi xướng, định hướng, kích động, thúc đẩy, vạch kế hoạch, huấn luyện, tài trợ vật chất, ủng hộ tinh thần và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong nước tổ chức và tiến hành hoạt động cách mạng màu. Thế lực bên ngoài đóng vai trò “đạo diễn”, lực lượng trong nước giữ vai trò” thực thi”. Đây là một hiện tượng chính trị diễn ra thông qua nghị trường, đấu tranh chính trị (mít tinh, biểu tình, tuần hành), dựa trên cơ sở những tiền đề trong một quốc gia, dân tộc có quan điểm, chủ trương trái với lợi ích của Mỹ và phương Tây; được hậu thuẫn bởi lực lượng bên ngoài nước can thiệp một cách thô bạo, trắng trợn vào công việc nội bộ của nước đó nhằm lật đổ chính quyền hay sự cầm quyền của các đảng phái chính trị để thay thế bằng đảng phái đối lập phù hợp với lợi ích Mỹ và phương 

Xác định được những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng và Nhà nước ban hành các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp lý nhằm tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý đối với công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn nguy cơ cách mạng màu ở Việt Nam. Đặc biệt là chủ trương, chính sách về công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, phòng và chống “diễn biến hòa bình”; công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản; hoàn thiện hệ thống pháp lý trong đấu tranh với hoạt động thù địch, tăng cường quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và tổ chức phi chính phủ Việt Nam. Đẩy mạnh các biện pháp ngăn ngừa hoạt động thù địch bên ngoài tạo dựng tổ chức chính trị đối lập gây nguy cơ cách mạng màu ở Việt Nam. Nâng cao chất lượng các tổ chức, cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ vô hiệu hóa những kế hoạch, phương thức tổ chức huấn luyện, đào tạo lực lượng hậu thuẫn, tài trợ vật chất, móc nối các đối tượng trong nước, tạo ảnh hưởng chính trị của các đối tượng thù địch đối với quần chúng nhân dân và với dư luận xã hội. Phối hợp chặt chẽ các cấp chính quyền, lực lượng vũ trang cơ sở, mạng lưới nhân dân triển khai các biện pháp nghiệp vụ, giám sát chặt chẽ các đối tượng cầm đầu, bao vây, phong tỏa, tước bỏ điều kiện hoạt động của đối tượng thù địch.

Đồng thời, ngăn chặn, bóc gỡ, triệt phá mọi hoạt động hình thành tổ chức đối lập ở trong nước dưới danh nghĩa hợp tác, chương trình, dự án, tài trợ,… nhằm thúc đẩy cho ra đời ồ ạt các tổ chức xã hội dân sự, đảng phái chính trị phản động, tranh giành ảnh hưởng, thu hút quần chúng, gây mất niềm tin của nhân dân với chính quyền, tạo ra mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo và đòi độc lập. Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề chính trị, xã hội phức tạp để kích động thành những làn sóng chống đối cục bộ, biểu tình, bạo loạn, gây áp lực với Đảng và Nhà nước. Tùy từng đối tượng, vụ việc để có các biện pháp kịp thời, hợp lý để tổ chức phòng ngừa, răn đe, đấu tranh, trấn áp và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm pháp luật, không để bị động, bất ngờ. Nâng cao nhận thức, cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về thủ đoạn, âm mưu cách mạng màu, nắm bắt tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, kịp thời định hướng, uốn nắn tư tưởng đúng đắn, phê phán những biểu hiện mơ hồ, lệch lạc, a dua, bị lôi kéo, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tiếp tục quản lý có hiệu quả Luật An ninh mạng, kiểm soát mạng xã hội và định hướng các kênh thông tin đại chúng.

Thực tiễn các cuộc cách mạng màu đã diễn ra trên thế giới và cuộc đấu tranh phòng ngừa nguy cơ ở Việt Nam, vấn đề đặt ra là tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, bảo đảm sự ổn định chính trị vững mạnh từ Trung ương đến địa phương; giữ gìn nền quốc phòng toàn dân, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; nâng cao tinh thần đoàn kết toàn dân; các lực lượng vũ trang luôn chủ động trước những nguy cơ và thách thức; tăng cường vai trò quản lý báo chí, truyền thông, đặc biệt là mạng xã hội trong việc phát tán thông tin, định hướng dư luận…

Có thể khẳng định một điều, không có liều thuốc nào hữu hiệu bằng việc tự đề kháng và ngăn ngừa dịch bệnh từ xa. Loại bỏ tham nhũng tiêu cực, xử lý các cá nhân cán bộ biến chất, suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa là điều chúng ta bắt buộc phải làm. Làm tốt việc này, không những đất nước phát triển giàu mạnh mà niềm tin của nhân dân dành cho Đảng, chính quyền sẽ tăng lên. Khi nhân dân có niềm tin, họ sẽ không dễ bị lôi kéo, kích động. Bài học ở nhiều quốc gia trên thế giới cho chúng ta thấy rõ ràng rằng phải cảnh giác với chúng và cũng cần phải chấn chỉnh lại chính mình./.

ƯỚC MƠ LÀM CƠN GIÓ NHẸ


Đã bao lần con ước đến thủ đô

Viếng lăng Bác, nắng Ba Đình lịch sử

Đến bên Người, khi Người yên giấc ngủ

Con gọi Người, khe khẽ ở trong tim....


Cây trước lăng, trong nắng đứng lặng yên

Như cũng sợ Bác của mình tỉnh giấc

Tổ quốc Việt Nam cùng non sông gấm vóc

Kết vòng tay nâng giấc ngủ cho Người


Trăng tháng 5 rực sáng ở trên trời

Nhưng không sáng bằng vầng trăng mặt đất

Bác nằm đấy cùng non sông yên giấc

Ánh sáng Người soi rọi khắp Việt Nam


Con trở về bao giấc ngủ bình an

Tim nghèn nghẹn nhớ thương Người ở đó

Con chợt ước mình trở thành cơn gió

Đến bên Người nhè nhẹ thổi trong lăng....

TK-ST

XÂY DỰNG TIỀM LỰC CHÍNH TRỊ - TINH THẦN TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG HIỆN NAY

 


Giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm xây dựng tiềm lực chính trị-tinh thần cho nhân dân, lực lượng vũ trang và cả hệ thống chính trị là giải pháp hàng đầu có vai trò quan trọng góp phần xây dựng tiềm lực chính trị-tinh thần của nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Thực hiện giải pháp này nhằm tạo sự nhất trí về chính trị và tinh thần cho cán bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang; phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong xây dựng tiềm lực chính trị-tinh thần của nền quốc phòng toàn dân.

Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới đòi hỏi rất cao ý thức, trách nhiệm của mọi công dân. Mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới không chỉ bao gồm bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ mà còn phải gắn với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, bảo vệ nền văn hóa, lợi ích quốc gia, dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế.

Các thế lực thù địch đẩy mạnh "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", đẩy mạnh các hoạt động chống phá nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, làm mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó, nhận thức của một bộ phận cán bộ các cấp, các ngành và nhân dân về nhiệm vụ tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc còn hạn chế; chất lượng giáo dục chính trị, pháp luật, quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.

khucvu5

 

NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LOẠN

 


Nguyên nhân dẫn đến biểu tình, bạo loạn đòi tự trị, ly khai trên những địa bàn chiến lược là do hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, một số địa bàn diễn ra biểu tình, bạo loạn với cả quy mô lớn và nhiều vụ việc phức tạp khác như. Tuy nhiên, do hoạt động tuyên truyền, kích động, lừa bịp của các thế lực thù địch, một bộ phận quần chúng, đồng bào dân tộc không an tâm sản xuất, nuôi hy vọng ảo tưởng, đây chính là những nhân tố có thể bị lợi dụng, dẫn đến biểu tình bạo loạn.

Trường hợp dẫn đến biểu tình, bạo loạn đòi tự trị, ly khai trên các địa bàn chiến lược quan trọng là do sự kích động, chống phá của các thế lực thù địch; trên địa bàn xẩy ra các vụ việc liên quan đến vấn đề mâu thuẫn giữa các dân tộc, khi ta giải quyết không khéo léo, địch lợi dụng kích động quần chúng tạo ra biểu tình, bạo loạn chính trị. Do vậy, cần thực hiện tốt những giải pháp cơ bản sau.

Một là, cp ủy các cp phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong cấp ủy, ch huy chính uỷ, chinh trị viên và cán bộ, đảng viên v vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng ca công tác dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới, coi đó là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của Quân đội.

Hai là, khi tiến hành công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo phải thực hiện tốt cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành; phát huy sức manh tổng hợp cả hệ thống chính trị, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước.

Ba là, thường xuyên đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lựa chọn nội dung, hình thức, biện pháp phù hợp; biết dựa vào nhân dân và phát huy hiệu quả vai trò của già làng, trưởng bản,chức sắc, chức việc tôn giáo và người có uy tín trong các dân tộc, tôn giáo.

khucvu4

 

NHẬN DIỆN NGUYÊN NHÂN BẠO LOẠN LY KHAI

 


Hiện nay, trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, vấn đề bạo loạn ly khai được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng thực hiện mưu đồ chính trị; việc phòng chống bạo loạn ly khai đòi hỏi phải nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch; quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về phòng chống bạo loạn ly khai .Trên cơ sở đó xác định các giải pháp phòng chống phù hợp, hiệu quả, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định phát triển kinh tế, xã hội.

Nguyên nhân khách quan: Do các thế lực thù địch kích động, hậu thuẫn các hoạt động bạo loạn ly khai. Đây là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bạo loạn ly khai. Sự tài trợ, hậu thuẫn có thể về phương diện kinh tế như cung cấp tiền bạc, trang bị các phương tiện phục vụ xung đột, ly khai; ủng hộ về tinh thần bằng cách lên tiếng giúp đỡ các “dân tộc bị áp bức”, hứa sẽ bảo hộ, công nhận vị trí pháp lý sau ly khai. Mặt khác, chính các khu vực có mầm mống xảy ra bạo loạn ly khai cũng mong được sự tài trợ, hậu thuẫn của các thế lực nước ngoài nhằm nhanh chóng thực hiện được mục tiêu độc lập của mình.

Nguyên nhân chủ quan: Nước ta là quốc gia đa dân tộc, tôn giáo, các dân tộc thiểu số thường sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, địa hình phức tạp, dễ bị chia cắt, đời sống kinh tế khó khăn, dân trí thấp, lạc hậu, trọng luật tục hơn là luật pháp, rất dễ bị các thế lực thù địch mua chuộc, lôi kéo kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi. Do hoạch định chính sách dân tộc, tôn giáo có điểm chưa đồng bộ cùng với quá trình thực hiện có nhiều sai sót, nhất là phát triển kinh tế, bố trí sắp xếp cán bộ; một số nơi tổ chức đảng và chính quyền cấp cơ sở yếu kém, không phát hiện kịp thời những mâu thuẫn nảy sinh, không gần dân, lắng nghe ý kiến của dân; các tổ chức phản động lợi dụng kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, thành lập lực lượng đối lập công khai chống đối chính quyền.

khucvu

 

Chủ động đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam

 

Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo, với chủ trương “tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo” của Đảng và Nhà nước ta, thời gian qua, tình hình tôn giáo ở nước ta tương đối ổn định, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được tôn trọng, bảo đảm. Các tổ chức tôn giáo và đại bộ phận chức sắc, chức việc, nhà tu hành hoạt động tôn giáo đúng quy định của pháp luật, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, với âm mưu “chính trị hóa tôn giáo” của các thế lực thù địch đã làm cho đời sống tôn giáo bị tác động và không ngừng biến đổi, tiềm ẩn nhiều “nguy cơ”, nổi lên các vấn đề như: Lợi dụng hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật, thậm chí mang “màu sắc chính trị”; lợi dụng một số bất cập trong quản lý tôn giáo để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; mâu thuẫn nội bộ, tranh giành chức quyền, hoạt động tôn giáo xa rời chuẩn mực đạo đức và văn hóa truyền thống dân tộc, trục lợi, sa sút đạo hạnh... trong một số tổ chức tôn giáo; xuất hiện một số loại hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ. Gây khó khăn cho công tác tôn giáo, đồng thời là nguyên nhân và điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng tiến hành các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội.

Chúng đẩy mạnh xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn giáo”. Chúng cho rằng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay là sự “đàn áp tôn giáo” bằng pháp luật của Nhà nước Việt Nam, không tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển; từ đó, khoét sâu mâu thuẫn giữa các tôn giáo với chính quyền các cấp. Đồng thời, móc nối, câu kết với một số tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài thành lập hoặc tích cực tham gia các hội, nhóm trái pháp luật, mang danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, phát triển lực lượng chống đối. Một số chức sắc cực đoan lợi dụng các vấn đề chính trị - xã hội phức tạp để kích động tín đồ xuống đường biểu tình, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Đáng chú ý, với lý do “bảo vệ tự do tôn giáo”, một số thế lực nước ngoài đã ban hành báo cáo, phúc trình, thậm chí là đạo luật, nghị quyết “lên án” tình hình bảo đảm quyền con người của Việt Nam, nhất là trên lĩnh vực tôn giáo, từ đó gây sức ép về ngoại giao, đồng thời gắn các vấn đề dân chủ và nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo với các vấn đề về viện trợ kinh tế, đầu tư phát triển, nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Lợi dụng vấn đề tôn giáo trong vùng đồng bào một số dân tộc thiểu số; sự sa sút tính chân truyền trong các tôn giáo đã được Nhà nước công nhận; điều kiện khó khăn về kinh tế, xã hội..., một số đối tượng đã thành lập các hội, nhóm mang danh nghĩa tôn giáo, hoạt động vi phạm pháp luật, gây mất đoàn kết dân tộc. Chẳng hạn, một số thế lực nước ngoài câu kết với số đối tượng xấu trong nước lập ra các tổ chức dưới danh nghĩa tôn giáo nhưng mang màu sắc chính trị, như cái gọi là “Tin Lành Đêga”, Hà Mòn ở khu vực Tây Nguyên, các tổ chức Tin Lành riêng của người Mông ở khu vực Tây Bắc và tổ chức “Liên đoàn Khmers Kampuchea Krom” (KKF) ở khu vực Tây Nam Bộ, để kích động các hoạt động ly khai, tự trị ở các vùng trọng điểm, chiến lược, ảnh hưởng nghiêm trọng tới khối đoàn kết toàn dân tộc và sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước. 

Hoạt động lợi dụng tôn giáo và vấn đề tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội là hoạt động hết sức nguy hiểm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây chia rẽ giữa các tôn giáo, giữa tôn giáo với chính quyền, giữa quần chúng giáo dân và những người không theo tôn giáo, tạo ra những yếu tố phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ thành xung đột xã hội. Thực tế, đã xảy ra một số vụ mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ nhân dân có liên quan tới tôn giáo. Sự ổn định chính trị - xã hội ở một số nơi, một số lúc đã bị ảnh hưởng. Do đó, nhận diện, chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động này có vai trò quan trọng trong toàn bộ công tác tôn giáo cũng như bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội ở Việt Nam.

Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng, mọi cán bộ đảng viên cần nêu cao cảnh giác, tích cực tuyên truyền, nâng cao nhận thức của xã hội về tôn giáo và công tác tôn giáo. Cấp ủy, chính quyền các địa phương cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tôn giáo, nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm đối với công tác tôn giáo. Tăng cường công tác tuyên truyền về hoạt động tôn giáo và đường lối, chính sách đúng đắn về tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Đẩy mạnh công tác đối ngoại về tôn giáo, chủ động tham gia các diễn đàn tôn giáo quốc tế và khu vực. Thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế, các cuộc đối thoại song phương và đa phương, các diễn đàn quốc tế, ngoại giao nhân dân để cộng đồng quốc tế hiểu đúng đường lối, chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, lên tiếng ủng hộ Việt Nam trên các diễn đàn song phương và đa phương; cung cấp thông tin chính thống phục vụ đấu tranh nhân quyền với các thế lực thù địch vu cáo Việt Nam về vấn đề “tự do tôn giáo”. Tạo điều kiện và tổ chức tốt việc đón tiếp các cá nhân, tổ chức quốc tế vào tìm hiểu tình hình, chính sách tôn giáo ở Việt  Nam. Thông qua các hoạt động này để thông tin kịp thời về thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tôn giáo tham gia các hội nghị, diễn đàn quốc tế liên quan đến tôn giáo.

Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về tôn giáo. Các bộ, ngành tiếp tục rà soát, kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cũng như các chính sách, pháp luật khác có liên quan tương thích với Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Bảo đảm bình đẳng về trách nhiệm, quyền lợi giữa các tổ chức tôn giáo, giữa tổ chức tôn giáo và các tổ chức xã hội khác. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, đẩy mạnh hướng dẫn các tổ chức tôn giáo hoạt động theo hiến chương, điều lệ đã được Nhà nước công nhận và theo quy định của pháp luật. Xem xét, giải quyết thấu đáo các nhu cầu sinh hoạt tôn giáo thuần túy của người dân trên địa bàn, phân biệt sinh hoạt tôn giáo thuần túy và việc lợi dụng tôn giáo trong giải quyết các vụ, việc phức tạp để loại bỏ yếu tố chính trị cực đoan ra khỏi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Siết chặt kỷ cương, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Lồng ghép nội dung, nhiệm vụ công tác tôn giáo với các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào tôn giáo ở địa phương. 

Kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Các lực lượng chức năng triển khai các phương tiện, biện pháp, nhất là đẩy mạnh công tác vận động quần chúng tín đồ, tranh thủ chức sắc, cũng như vận dụng có hiệu quả biện pháp ngoại giao để kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng và Nhà nước ta của các thế lực thù địch. Kịp thời định hướng dư luận trước các vấn đề “nổi cộm”, nhất là các vấn đề liên quan đến tôn giáo, thu hút sự quan tâm sâu sắc của chức sắc, tín đồ tôn giáo. Đẩy mạnh đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nêu gương điển hình tiên tiến đối với các cá nhân, tổ chức tôn giáo thực hiện tốt phương hướng hoạt động “sống tốt đời, đẹp đạo”; tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước ở các địa phương./.



KẾT HỢP ĐẤU TRANH LỢI DỤNG DÂN TỘC, TÔN GIÁO VỚI ĐỐI PHÓ CÁC TÌNH HUỐNG

 


Các thế lực thù địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá có thể gây ra nhiều tình huống khác, như: bạo loạn, xung đột vũ trang, lấn chiếm biên giới. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới xác định: Chủ động ngăn ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; khắc phục tình trạng sơ hở, mất cảnh giác. Phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả các nguy cơ xung đột, chiến tranh biên giới, biển đảo.

Quan điểm chỉ đạo phải ưu tiên nguồn lực nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, nhất là đường giao thông, công trình thủy lợi, trường học, trạm y tế. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; chủ động nắm chắc tình hình, giải quyết những mâu thẫn ngay từ cơ sở, kiên quyết không để xảy ra các “điểm nóng”, “điểm phức tạp” về an ninh trật tự, đặc biệt ở các địa bàn chiến lược

 Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, đội ngũ cán bộ cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo; tăng cường công tác đối ngoại, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đập tan âm mưu lợi dụng dân tộc, tôn giáo gây biểu tình, bạo loạn của các thế lực thù địch, sẵn sàng đánh thắng quân địch phát động chiến tranh xâm lược.

Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, hệ thống cơ quan và đội ngũ cán bộ dân vận theo quy chế lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ Quân đội. lựa chọn cán bộ có năng lực, tâm huyết, kinh nghiệm là người dân tộc thiểu số tại địa phương làm công tác dân vận. Đồng thời, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ dân vận công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, các địa bàn trọng yếu.

khucvu

 

VAI TRÒ CỦA CƠ SỞ TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC

 


Các cấp ủy, tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần phải thường xuyên nâng cao cảnh giác với những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch. Đồng thời, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tổ chức thực hiện tốt Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020; chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2017 - 2020; Đề án hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số rất ít người giai đoạn 2016 - 2025 và các chính sách khác đang còn hiệu lực, trong đó đặc biệt quan tâm tới việc giải quyết các khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số rất ít người; bảo đảm mức sống của các dân tộc này tương đương với các dân tộc khác trong vùng theo mục tiêu Đề án đề ra đến năm 2025.

Đồng thời, tập trung chỉ đạo, giải quyết những khó khăn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hiện nay như: tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt để đồng bào ổn định cuộc sống; tập trung chỉ đạo các địa phương thực hiện các giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế ổn định cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số, miền núi như: Hỗ trợ trồng rừng, bảo vệ rừng; hỗ trợ phát triển sản xuất, xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi chủ lực để sản xuất hàng hóa tập trung, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao; kết nối tiêu thụ hàng hóa giữa vùng dân tộc thiểu số, miền núi với thị trường trong nước và quốc tế; đồng thời chú trọng xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần cho đồng bào.

Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, lãnh đạo các cấp, các ngành và đồng bào dân tộc thiểu số về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với công tác giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, miền núi; đổi mới hơn nữa nội dung thông tin, tuyên truyền, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, để đồng bào hiểu rõ mục đích, ý nghĩa và tin tưởng thực hiện chính sách giảm nghèo; nhân rộng điển hình tiên tiến, đồng thời khơi dậy truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực vươn lên thoát nghèo. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch./.