Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2022

“DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN” KIỂU MỸ VÀ PHONG TRÀO “99 CHỐNG LẠI 1”

 Hoa Kỳ luôn cho thế giới biết cái gọi là dân chủ và nhân quyền kiểu của nước mình, đồng thời nhận định các quốc gia khác là “độc tài”, “thiếu dân chủ”, “không có nhân quyền”. Vậy còn “dân chủ, nhân quyền” kiểu Mỹ  ra sao?

Hiện nay, chính quyền và cơ chế của Hoa Kỳ, và của thế giới tư bản nói chung là “của 1%, do 1 % và vì 1 %”.

“Phong trào 99 chống lại 1” vẫn đang tồn tại ngay trong lòng nước Mỹ. Khi chính những bất công, thiếu dân chủ vẫn còn đó thì sẽ luôn còn những phong trào mới diễn ra, vạch trần dân chủ nhân quyền giả dối của Hoa Kỳ - một quốc gia mà: “Hệ thống quyền lực đó vẫn thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội”. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào “99 chống lại 1” hay còn gọi là phong trào “Chiếm lấy phố Wall- OWS” diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản. Phong trào OWS bộc lộ bản chất bóc lột, bất công, bất bình đẳng,… không thay đổi của xã hội tư bản và của chính xã hội Hoa Kỳ.

Có thể thấy rõ điều đó qua các khẩu hiệu của phong trào OWS: “Hãy chấm dứt bóc lột tầng lớp thường dân để trả cho kẻ giàu!”; “Ngân hàng được cứu giúp, chúng tôi bị bán rẻ!”. Các khẩu hiệu mà chúng ta thường bắt gặp trong phong trào này đó là: “Chúng tôi là 99%” - họ coi mình là đại diện của 99% dân số Mỹ bị thiệt thòi phải đứng lên chống lại 1% là những kẻ giàu có, tham lam đang ngự trị trên phố Walls, khiến cho bất bình đẳng và bất công xã hội Mỹ ngày càng tăng cao. Những người tổ chức phong trào còn ra tờ báo “Chiếm phố Walls”. Trong đó, tố cáo “sự lộng hành của giai cấp thống trị”, “sự xa hoa của giới tài phiệt trong khi quần chúng đang bần hàn”, “sự ăn cướp không phải bằng súng đạn mà bằng các công cụ tài chính”. Trên trang web OccupyWallSt.org tuyên bố: “Điều duy nhất tương đồng của tất cả chúng ta là chúng Ta là 99% không còn chịu đựng nổi lòng tham và sự thối nát của 1% còn lại”. Xin trích từ chính phỏng vấn của đài BBC: Một thanh niên thuộc tổ chức “We are change” khi đó đã nói: “Chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ đã lấy đi hết của cải của xã hội, tàn phá môi trường sống, bóc lột người lao động, trong khi phần đông dân chúng còn lại phải gánh chịu hậu quả do nhóm 1% này gây ra”. Cũng theo hãng BBC, ngày 19/10/2011, giáo sư nổi tiếng Jefferey Sachs của trường Đại học Columbia ở New York nói rằng: “Chính quyền và cơ chế hiện nay của Hoa Kỳ và có thể là của thế giới tư bản nói chung là của 1%, do 1 % và vì 1 %,…”. Vậy là, trong khi có những người Việt Nam hoặc dùng danh nghĩa người Việt Nam, không ngớt lời ca ngợi hệ thống chính trị “tam quyền phân lập” ở Hoa Kỳ là độc lập, dân chủ, công bằng,… thì chính những người Mỹ lại thấy rõ và vạch trần thẳng thừng bản chất của xã hội Hoa Kỳ.

Làm sao có được “dân chủ, nhân quyền”, hay “bình đẳng, bác ái” thực sự khi mà người ta có thể dùng tiền “mua các chính trị gia”, khi mà hệ thống “tam quyền phân lập” đều bị chi phối bởi giới tài phiệt? Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự kiện Bạo loạn ngày 06/01/2021 với “cảnh tượng chưa từng có” đã diễn ra trong tòa nhà Quốc hội Mỹ. Các nghị sĩ Mỹ phải dùng từ “đảo chính” để mô tả về sự kiện này. Vụ việc tấn công vào Điện Capitol, một biểu tượng của chính quyền Mỹ đã chứng tỏ rằng: Một khi có thể dùng tiền để mua quyền lực, thì cũng dễ dàng dùng tiền để lật đổ một chế độ.

Làm sao có được “dân chủ, nhân quyền” thực sự khi mà những bất công, bất bình đẳng ở nước Mỹ lại cao như vậy? Không chỉ là sự phân biệt giai cấp, giàu nghèo, mà còn là sự bất công về chủng tộc. Làm gì có một xã hội nhân quyền và bình đẳng khi mạng sống của người da trắng lại được coi trọng hơn sinh mệnh của người da màu? Chúng ta nhắc lại sự kiện ngày 25/5/2020, ông George Floyd, 46 tuổi, bị đè chết dưới đầu gối của một cảnh sát da trắng đã tiếp nối một danh sách dài những người Mỹ gốc Phi bị thiệt mạng do cảnh sát lạm dụng bạo lực khi trấn áp. Cái chết của ông làm bùng lên Phong trào “black lives matter” để đòi hỏi xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc diễn ra đã hàng trăm năm nay tại Mỹ. Từ Mỹ, làn sóng biểu tình chống phân biệt chủng tộc nhanh chóng lan rộng tại châu Âu với những cuộc xuống đường quy mô lớn, nhiều cuộc thu hút hơn 10.000 người tham gia. Ấy vậy mà ở Việt Nam – một đất nước bị Mỹ cho rằng “thiếu bình đẳng” lại không hề thấy tình cảnh phân biệt màu da.

Các phong trào 99 chống lại 1, Black lives matter hay cuộc bạo loạn 06/01/2021 tại Tòa nhà quốc hội Mỹ đã bộc lộ những vấn đề thuộc bản chất không thể thay đổi, không thể khắc phục được. Từ đó, chúng ta có thể thấy rõ hơn bản chất của “dân chủ, nhân quyền” kiểu Mỹ là gì khi mà đất nước này luôn cứ cố tình áp đặt cho các quốc gia khác như Việt Nam./.

LOẠI GIẶC XÉT LẠI, VIẾT LẠI, XUYÊN TẠC VÀ PHỦ NHẬN LỊCH SỬ!

 Lịch sử được ví như dòng nước, mềm mại, chảy mãi không ngừng, thao thao bất tuyệt. Lịch sử là những gì đã từng xảy ra trong quá khứ, phải được chép lại, ghi lại, giáo dục cho muôn đời sau. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Dân ta phải biết sử ta/cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Để cho đồng bào tường gốc tích, hiểu rõ nguồn cội và những thăng trầm trong lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước thì bộ môn lịch sử chính là xương sống, là trụ cột để kết nối tiếng vọng của ngàn năm với hiện tại và là cơ sở để các thế hệ tiếp theo dựa vào đó để tiếp nối, kế thừa và phát huy, giữ gìn bản sắc và truyền thống hào hùng dân tộc ta. Không nghiễm nhiên mà khi xâm lược đất nước ta, các thế lực ngoại bang luôn đốt phá các công trình di tích, sử sách và những gì liên quan đến cội nguồn, văn hóa của dân tộc. Ngày nay, các thế lực thù địch càng tinh vi và xảo quyệt, cố tìm đủ mọi cách hòng xóa bỏ chế độ ta; trong đó xuyên tạc lịch sử là vấn đề được chúng quan tâm, đánh phá.

Những năm gần đây, mưu đồ xét lại lịch sử, phủ nhận thành quả to lớn của cách mạng, thậm chí xuyên tạc lịch sử đã xuất hiện. Đây là vấn đề tiềm ẩn những nguy hại khôn lường đến tương lai, sự tồn vong của chế độ, của chính quyền nhân dân và quốc gia, dân tộc; là âm mưu thâm độc nhất mà các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong ở hải ngoại đang “vận hết công lực” để đánh phá ta. Nguy hiểm hơn là chính một số “người Cộng sản viết sử” có trình độ và am tường về lịch sử, những người đang được tổ quốc, nhân dân tín nhiệm, giao phó chép sử, viết sử cho dân tộc để lại cho muôn đời sau lại đang có tư tưởng, hành động cổ súy cho việc “cạo lông, rửa mặt cho giặc”, bóp méo sự thật, hủy hoại những giá trị bất diệt của lịch sử dân tộc ta trong thời đại Hồ Chí Minh.

Tư tưởng đòi xét lại lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng có xu hướng gia tăng với nhiều vụ việc đáng lo ngại, như: Đòi bỏ cụm từ ngụy quân, ngụy quyền vốn đã Đảng, nhà nước, Bác Hồ và nhân dân ta dùng để gọi đám tay sai, bán nước, thờ ngoại bang để giày xéo đất nước, quê hương, chia đôi giang sơn của tổ tiên để lại. Đòi công nhận, tôn vinh một số tên việt gian phản quốc... Xét lại lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ; phỉ báng lịch sử, xúc phạm hình tượng Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, thậm chí xuyên tạc, hạ bệ cả Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Lê Đức Anh và một số lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Nguy hiểm hơn, họ còn xuyên tạc cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là nồi da xáo thịt, là nội chiến, là hy sinh hàng triệu nhân mạng vô ích; cho rằng chúng ta đánh Pháp và Mỹ là đánh đuổi hai nền văn minh nhân loại, Pháp đánh nước ta là để mượn đường chiếm Trung Quốc...

Mục đích cuối cùng của chúng là hạ bệ thần tượng, “chặn dòng nguồn nước”, “rút đá móng tường”, phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng ta trong việc dẫn dắt dân tộc đến bến bờ hành phúc như hôm nay, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa nhòa công lao to lớn, vĩ đại của Đảng, của Bác Hồ, của Quân đội ta hòng đòi lật đổ Đảng, chính quyền nhân dân để đưa đất nước theo chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Đất nước ta, trong những năm gần đây cũng có hiện tượng nở rộ “mùa xuân lật sử” của đám xét lại lịch sử, tuy chưa đến mức như ở Liên Xô cũ vào những năm của thập kỷ 80, song cũng đến lúc phải hết sức nâng cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh loại bỏ chúng./.

PHƯƠNG TÂY CÓ GIỚI HẠN TỰ DO NGÔN LUẬN KHÔNG?

 Việc các đối tượng lợi dụng quyền tự do ngôn luận để tuyên truyền chống Nhà nước, hay lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân và bị cơ quan chức năng Việt Nam xử lý theo quy định của pháp luật thường xuyên bị các tổ chức hải ngoại lợi dụng xuyên tạc. Họ cho đó là hành vi xâm phạm quyền tự do ngôn luận. Câu chuyện “tự do ngôn luận” là thứ mà phương Tây thường xuyên lợi dụng nhằm gây ảnh hưởng và can thiệp đến các nước, trong đó có Việt Nam.

Theo Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã tham gia ký kết thì các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn có “giới hạn” để đảm bảo tuân thủ pháp luật của mỗi quốc gia. Đây là lý do mà thời gian qua, một số kẻ quá khích đã bị cơ quan chức năng bắt giam vì các hành vi chống phá, lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân.Điều đó nói nên rằng, tự do ngôn luận không có nghĩa là vô pháp vô thiên, không có nghĩa là được sử dụng cái quyền đó để xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, tổ chức, cá nhân.

Vậy phương Tây có giới hạn tự do ngôn luận không? Hay là ở phương Tây người ta thích nói gì thì nói? Câu trả lời là có chứ, rõ ràng là tự do ngôn luận ở bất cứ quốc gia nào cũng đều giới hạn trong khuôn khổ pháp luật. Điều này nằm trong khuôn khổ việc thực thi quyền con người theo đúng các công pháp và công ước quốc tế mà cộng đồng quốc tế đã thoả thuận với nhau. Mỹ, Pháp, Đức hay Anh… đều có những giới hạn nhất định đối với tự do ngôn luận.

Nếu ai đó đang muốn áp đặt tiêu chuẩn tự do ngôn luận của phương Tây vào Việt Nam, thì cần phải biết ở phương Tây có thực sự có tự do ngôn luận hay không, hay là họ chỉ vin cớ để chọc ngoáy và can thiệp vào nội bộ quốc gia khác. Trong sự kiện Nga - Ukraine mới đây, phương Tây đã “cấm sóng” các hãng truyền thông Nga như là cách để phản đối Nga tiến hành chiến dịch quân sự tại Ukraine. Đó liệu có phải là đảm bảo quyền tự do ngôn luận không, khi mà truyền thông chỉ đưa tin và không liên quan gì đến quân sự, như vậy là đến truyền thông còn không được tự do một cách tuyệt đối. Rõ ràng ai cũng hiểu rằng động thái trên nhắm đến chặn các hãng tin Nga phát tán các quan điểm trái với ý đồ “tuyên truyền” của phương Tây.Hay khi Ukraine tố cáo Nga “thảm sát” ở Bucha, nước Nga triệu tập Hội nghị tại Liên Hợp Quốc để “thanh minh” nhưng bị từ chối, kết quả là Nga không được phép lên tiếng. Ngay lập tức Liên hợp quốc dưới sự dắt mũi của Mỹ và phương Tây đã hấp tấp triệu tập hội nghị bỏ phiếu loại Nga ra khỏi Hội đồng nhân quyền. Và lá phiếu chống của Việt Nam ở thời điểm đó là hoàn toàn dễ hiểu và phù hợp.

Tự do ngôn luận kiểu phương Tây là như vậy đó. Đừng nghĩ rằng khi đi chỉ trích người khác nghĩa là bản thân mình tốt đẹp. Vậy thì những kẻ đang muốn đòi hỏi thứ tự do ngôn luận kiểu phương Tây ở Việt Nam cần phải tự thức tỉnh mình. Về tự do ngôn luận ở Việt Nam ra sao, hơn ai hết những người dân sinh sống ở Việt nam hiểu rõ điều đó, chưa đến lượt các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, thậm chí chưa từng đến Việt Nam mà đã phán xét và lên tiếng phê phán. Đó chỉ có thể là bóp méo sự thật một cách trắng trợn mà thôi./.

TỔ CHỨC PHÓNG VIÊN KHÔNG BIÊN GIỚI NÓI LÁO VỀ TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

  Tự do báo chí ở Việt Nam luôn là đề tài của nhiều tổ chức phi Chính phủ không có thiện chí với Việt Nam nhắc tới với những thông tin sai lệch, không chính xác. Minh chứng rõ nét đó là Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) “lần thứ n” xếp Việt Nam ở vị trí 174/180 quốc gia và vùng lãnh thổ về Chỉ số tự do báo chí.

Tổ chức Phóng viên không biên giới là một tổ chức phi chính phủ hoạt động toàn cầu, hoạt động dựa trên Điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền với mục đích bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Tổ chức này có tôn chỉ mục đích mỹ miều và cao quý là vậy, thế nhưng những hoạt động của tổ chức này dường như đang đi ngược lại mục đích của tổ chức khi được thành lập. Thân sinh là một tổ chức phi chính phủ, tuy nhiên quỹ hoạt động của RSF lại đến phần lớn từ Chính phủ Pháp và Chính phủ Mỹ thông qua nhiều con đường khác nhau như thông qua Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ (NED). Tuy mục đích hoạt động là bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, nhưng RSF không đưa ra khái niệm về “tự do báo chí”, tức là tổ chức này đã không hình thành được một định nghĩa và cách hiểu cơ bản về tự do báo chí, những yếu tố được tổ chức này sử dụng để đánh giá tự do của một nền báo chí không cân nhắc đến các yếu tố văn hóa, xã hội, nhận thức của từng quốc gia riêng biệt mà những đánh giá và xếp hạng của tổ chức này luôn dựa vào “danh sách đen” của Bộ Ngoại giao Mỹ, mà trong “danh sách đen” này luôn có tên Việt Nam. Việc lấy tiêu chuẩn của “tự do báo chí” của Mỹ và phương Tây để đánh giá tự do báo chí toàn cầu đã khiến Việt Nam và những nước như Iran, Syria, Triều Tiên, Cuba, Trung Quốc đã nhiều lần “bức xúc” trước quy cách đánh giá “vô thiên vô pháp” và vô cùng phiến diện của tổ chức này.

Nghe đến việc Việt Nam xếp hạng gần áp chót bảng xếp hạng về chỉ số tự do báo chí, có lẽ những người “bức xúc” nhất phải kể đến là những người đã và đang hoạt động trong ngành báo chí, truyền thông. Bởi đánh giá như vậy không khác gì “xóa sổ” những bài viết trích dịch thông tin trên báo chí phương Tây mà giờ đây lại bị cho là hoạt động trong môi trường “không có tự do báo chí”. Tiếp theo là 816 cơ quan báo chí, 17.161 nhà báo và hơn 40.000 cộng tác viên báo chí là những đối tượng bị “tổn thương sâu sắc” bởi cách xếp hạng chủ quan này.

 

Vì cách đánh giá phiến diện đó, Tổ chức Phóng viên không biên giới chắc chắn không biết Việt Nam là quốc gia thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, sớm tham gia vào các điều ước quốc tế về bảo đảm các quyền cơ bản của con người và quyền công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Trên phương diện pháp lý, tổ chức này ắt hẳn không nắm được tất cả các bản Hiến pháp của nước ta (các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013) đều có những quy định về tự do ngôn luận, tự do báo chí và khẳng định đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, của mọi công dân. Ở mỗi bản Hiến pháp, nội dung này được kế thừa, phát triển phù hợp từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Từ ngay Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã quy định một cách khái quát quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Những quyền cơ bản này đã được phát triển xuyên suốt trong các bản Hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được khẳng định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Như vậy, qua các lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, Việt Nam luôn khẳng định, tôn trọng và có quy định bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính của nhân dân.

Nội hàm của quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân tiếp tục được thể hiện trong các Điều 10 và Điều 11 Luật Báo chí năm 2016, theo đó công dân đầy đủ có các quyền tự do báo chí: Sáng tạo tác phẩm báo chí; Cung cấp thông tin cho báo chí; Phản hồi thông tin trên báo chí; Tiếp cận thông tin báo chí; Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; In, phát hành báo in. Còn nếu RSF vẫn còn “ngoan cố” đánh giá sai về tình hình tự do báo chí thì Điều 13, Luật Báo chí năm 2016 sẽ vạch trần sự “lếu láo” của bảng xếp hạng kia, theo đó đã ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Sức mạnh và tính tự do báo chí tại Việt Nam là điều không thể chối cãi, việc đưa thông tin chính xác, nhanh nhạy, làm tốt vai trò phản biện xã hội của báo chí đã đưa nhiều vụ việc ra ánh sáng và đến hồi kết như Dự án khách sạn trong khuôn viên Công viên Thống nhất, Trung tâm thương mại 19-12, thành phố hai bên bờ sông Hồng, đường sắt cao tốc, bô xít Tây Nguyên, sự cố thủy điện Sông Tranh 2 (Quảng Nam), được – mất khi xây dựng thủy điện Đông Nai 6 và 6A, vụ thu hồi đất đai tại Tiên Lãng (Hải Phòng), Văn Giang (Hưng Yên)…

Tóm lại, việc quy chụp, xuyên tạc, bóp méo để “bẻ cong” tình hình báo chí Việt Nam là một trong nhiều chiêu bài nhằm chống phá của những kẻ luôn nuôi tham vọng thay đổi chế độ ở Việt Nam. Điều này đã càng trở nên “lạc lõng” khi tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được tôn trọng và bảo vệ trên cơ sở từng người dân, từng nhà báo thực hiện đúng pháp luật, nêu cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ của công dân./.

NÂNG CAO CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THÔNG TIN SAI TRÁI TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Cục An ninh mạng và Phòng chống công nghệ cao của Bộ Công an cho biết hiện đang tiến hành điều tra, xác minh đối tượng “chế ảnh” áp phích của SEA Games 31 và đăng lên mạng xã hội.

Cụ thể, các đối tượng này đã lấy hình ảnh tấm áp phích cổ động cho SEA Games 31 và sử dụng các phần mềm chỉnh sửa ảnh, cố tình viết sai chính tả, từ “Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 31” thành “Đại hội Thể thao Đông Lam Á lần thứ 31” và dòng chữ “Welcome to” được sửa thành “Welcom to”. Sau đó, đối tượng đăng các bức ảnh chế này lên một số diễn đàn mạng xã hội, làm nhiều người hiểu nhầm công tác chuẩn bị của nước chủ nhà Việt Nam kém, viết sai chính tả áp phích…





Ảnh gốc và ảnh bị sửa lại lan truyền trên mạng xã hội.

Cục An ninh mạng và phòng chống công nghệ cao cho biết: “Bước đầu, chúng tôi đang điều tra, xác minh nguồn thông tin nào tung ra những bức ảnh này. Qua rà soát ban đầu thấy được những bức ảnh này đăng trên nhiều diễn đàn trên mạng xã hội, trong đó có những trang thường xuyên chống phá”.

Qua sự việc, Cục An ninh mạng và phòng chống công nghệ cao cũng khuyến cáo người dân tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin từ mạng xã hội, không lan truyền những thông tin, hình ảnh không được kiểm chứng./.


 



NGUYỄN ĐÌNH BIN BỊ SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA

 Nguyễn Đình Bin được Đảng, Nhà nước và Nhân dân nuôi dưỡng, giáo dục, đào tạo, giao cho nhiều trọng trách lớn như: Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về người nước ngoài... Vậy mà, kể từ sau khi nghỉ hưu, Nguyễn Đình Bin ngày càng sa vào suy thoái về tư tưởng chính trị, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Ông Bin đã từng tham gia vào nhóm 72 kẻ đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp, đòi đa nguyên đa đảng; từng cả gan đòi “hỏa táng thi hài Bác Hồ”...

Nghiêm trọng hơn, ngày 30/4 vừa qua, trong khi toàn Đảng, toàn dân ta vui mừng, tự hào và biết ơn các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống vì hòa bình, độc lập dân tộc trong dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước - Nguyễn Đình Bin đã viết bài và đăng công khai trên mạng xã hội với nhiều nội dung phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, phê phán Chủ nghĩa Mác-Lênin là “lạc hậu, lỗi thời”; xuyên tạc ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; đánh đồng công lao của các anh hùng liệt sỹ bảo vệ Tổ quốc với những kẻ tay sai bán nước; cố tình đánh tráo khái niệm hòng âm mưu phá hoại Đảng, phá hoại thành quả cách mạng...

Sự suy thoái của ông Nguyễn Đình Bin là vô cùng nghiêm trọng, không thể dung thứ được nữa! Xét theo Điều lệ Đảng, các nghị quyết, quy định của Đảng, hành vi của Nguyễn đình Bin đã vi phạm:

1. Điều lệ Đảng.

2. Mắc vào các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

3. Quy định những điều đảng viên không được làm.

Với cái mác là “nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao” ông Nguyễn Đình Bin đã làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, ngành Ngoại giao; để các thế lực thù địch lợi dụng các phát ngôn, kiến nghị của mình (Nguyễn Đình Bin) xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Vì vậy, nhằm làm trong sạch Đảng; giữ gìn kỷ luật nghiêm minh, thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng chỉnh đốn Đảng; xử lý làm gương các cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là những kẻ từng giữ chức vụ cao trong Đảng, Nhà nước. Cấp ủy, UBKT có thẩm quyền nhanh chóng xác minh, vào cuộc điều tra các dấu hiệu vi phạm, suy thoái của ông Nguyễn Đình Bin, họp xét và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương quyết định khai trừ Nguyễn Đình Bin khỏi Đảng.

Qua đây, Cơ quan tư tưởng của Đảng, các lực lượng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân cần tiếp tục nâng cao trách nhiệm đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là đối với những kẻ suy thoái, từng giữ chức vụ cao như Nguyễn Đình Bin./.

CA SĨ PROPISNOV ALEXANDER ĐÃ BỊ CHÍNH TRỊ HÓA

 Khi niềm tin trở nên mù quáng thì bất cứ điều gì trong tâm trí họ cũng trở nên méo mó, lệch lạc. Điều này đúng với linh mục Đinh Hữu Thoại khi ông đặt toàn bộ niềm tin của mình vào những trang báo thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, RFA, RFI, VOA Tiếng Việt... Vì vậy, không ít lần cha Thoại bị các trang báo trên dắt mũi bởi những thông tin sai trái, đã bị thổi phồng, bóp méo. Theo một số nguồn tin từ phía cơ quan chức năng, các trang báo điện tử nêu trên được lập ra để nhằm phát tán, tuyên truyền thông bài viết, thông tin xấu, độc hại nhằm chống phá nhà nước Việt Nam. Và không ít lần dư luận xã hội đã vạch trần thông tin sai sự thật được các trang báo trên chia sẻ trên mạng xã hội và mạng Internet.

Chẳng hạn, liên quan đến thông tin trang báo RFA chia sẻ về việc Công an Đà Lạt bắt người đàn ông có tên Propisnov Alexander, một ca sĩ đường phố người Nga vì biểu ngữ phản đối chiến tranh và phản đối Putin. Ngay lập tức, cha Đinh Hữu Thoại đã thể hiện rõ sự hiềm khích với Công an Việt Nam khi phán xét rằng: Hèn quá! Bắt người mà không dám nhận, còn bịa ra lý do hết hạn thị thực…Thông tin trên được khởi nguồn từ trang tin của tổ chức khủng bố Việt Tân, rồi lan truyền khá nhanh trên mạng xã hội. Thế nhưng, tất cả những gì mà Việt Tân và các “anh hùng bàn phím” có được là một bức ảnh chụp anh ca sĩ đường phố này từ rất lâu rồi mà không có nổi một hình ảnh minh chứng cho hành động phản đối chiến tranh của anh ta.

Trong khi đó,  theo Công an TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng cho biết ngày 1-5, đơn vị này đã phối hợp với lực lượng chức năng mời một người nước ngoài quốc tịch Nga tên Propisnov Alexander (SN 1981) lên làm việc để yêu cầu chấp hành đúng các quy định liên quan việc gia hạn hộ chiếu, thị thực. Nguyên nhân là do thị thực và hộ chiếu của ông Propisnov Alexander đã hết hạn nhưng ông vẫn tới lưu trú tại các cơ sở trên địa bàn TP Đà Lạt. Theo Công an TP Đà Lạt, hành vi của ông Propisnov Alexander đã vi phạm quy định về xuất nhập cảnh, quá cảnh, cư trú và đi lại được quy định tại Nghị định 144/2021. Sau khi làm việc, ông Propisnov Alexander đã nhận thức được hành vi sai phạm của mình và đã xuống TP HCM để hoàn tất các thủ tục gia hạn hộ chiếu, thị thực.

Như vậy từ một câu chuyện rất bình thường của người nước ngoài tại Việt Nam đã bị chính trị hóa, quốc tế hóa thành vấn đề méo mó, lệch lạc nhằm bôi nhọ lực lượng Công an Việt Nam và chia rẽ mỗi quan hệ quốc tế giữa Việt Nam và Nga cũng như Ukraine. Qua đây, mong linh mục Đinh Hữu Thoại cần nghiêm túc trong việc chia sẻ các thông tin từ các trang báo thiếu thiện chí với Việt Nam. Vì việc làm này không những tiếp tay cho các đối tượng xấu chống Nhà nước mà dưới góc độ tôn giáo thì đó là hành động làm “Chứng dối” đó thưa linh mục!./.

TRÒ “NHAI LẠI” CỦA VIỆT TÂN VÀ CÁC TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG.


Thủ tướng Phạm Mình Chính đang có chuyến thăm tới Mỹ nhằm thúc đẩy và nâng cao quan hệ hợp tác Việt-Mỹ.

QUAN HỆ VIỆT - MỸ TIẾP ĐÀ PHÁT TRIỂN TÍCH CỰC


Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam thăm, làm việc tại Mỹ và Liên Hợp Quốc từ ngày 11-17/5 nhân dự Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN - Mỹ, theo lời mời của Tổng thống Mỹ Joe Biden.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải biết loại bỏ cái “tôi”


Con người từ khi ra đời đều tồn tại cái “tôi” riêng, là sự tự nhận thức về tư cách, nhân phẩm hoặc giá trị của chính mình. Cái tôi là cá tính, bản chất vốn có của mỗi con người để phân biệt với người khác. Theo đúng nghĩa, cái tôi giúp chúng ta định vị được bản

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC


Trên hành trình tìm đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa triệt để tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là vận dụng sáng tạo, bổ sung và làm phong phú thêm học thuyết Mác - Lênin “bằng dân tộc học phương Đông”. Từ trong bản chất

CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CHÂN CHÍNH TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc chân chính, mang bản chất của giai cấp vô sản. Từ năm 1924 , trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, tại mục D “Chủ nghĩa dân tộc”, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đề

NHẬN DIỆN “CHỦ NGHĨA DÂN TỘC” VÀ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”(1). Theo đó, chủ nghĩa dân tộc

NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG NÓI CHUNG VÀ TÌNH TRẠNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CÔNG

 

Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó chủ yếu là:

Đất nước trong quá trình phát triển, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi phải khai thác, phát huy mọi nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nhưng nhận thức và năng lực của một bộ phận cán bộ, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý tài sản công còn hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong khi đó cơ chế, chính sách chưa hoàn thiện, dẫn đến sai phạm hoặc lợi dụng bối cảnh đó để tham nhũng, tiêu cực;

Tài sản công có phạm vi rộng, được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau và do nhiều cơ quan cùng quản lý nên có nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc cập nhật, tra cứu; thực tiễn cho thấy, các vụ việc vi phạm về tài sản công thời gian vừa qua chủ yếu là vi phạm các pháp luật có liên quan (đất đai, đấu thầu, doanh nghiệp, thẩm định giá…);

Công tác quản lý ở một số nơi còn buông lỏng, chưa quan tâm đúng mức đến việc kiểm tra, giám sát cả từ bên trong nội bộ và của các cơ quan chức năng bên ngoài, dẫn đến tùy tiện, lạm quyền, sai phạm, tham nhũng;

Công tác kiểm soát quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn trong quản lý, sử dụng tài sản công hiệu quả chưa cao;

Ý thức tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức yếu kém, dẫn đến thoái hóa, biến chất, vi phạm nghiêm trọng.

     Thời gian tới, để thực hiện mục tiêu xây dựng nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI, Đảng ta xác định phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt; Đại hội XIII của Đảng xác định “tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh PCTN, lãng phí, tiêu cực”; “quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai, tài nguyên” là các nhiệm vụ trọng tâm. Vì vậy, phải huy động, khai thác mọi nguồn lực, trong đó có nguồn lực tài sản công để phục vụ phát triển đất nước; đồng thời, đẩy mạnh PCTN, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài sản công. Từ thực tiễn công tác đấu tranh PCTN, tiêu cực thời gian qua gợi mở nhiều vấn đề cần triển khai thực hiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công gắn với PCTN, tiêu cực:

    Thứ nhất, cần tiếp tục quán triệt và nâng cao nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quản lý, sử dụng tài sản công. Mọi tài sản công đều được Nhà nước giao quyền cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật, do vậy chỉ khi nào nhận thức rõ “Công quỹ là của công cho nên một xu, một hào cũng không được chi dùng bừa bãi” như Tổng Bí thư yêu cầu thì lúc đó mới có ý thức trách nhiệm, coi tài sản công như tài sản của chính mình và quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, khắc phục tình trạng “cha chung không ai khóc”. Cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định về PCTN, tiêu cực; thường xuyên đánh giá việc quản lý, sử dụng tài sản công; nhất là chủ động phòng ngừa và kịp thời chỉ đạo xử lý nghiêm sai phạm, tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Phải xác định rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu nếu để xảy ra vi phạm trong quá trình quản lý, sử dụng tài sản công.

    Thứ hai, chú trọng hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật liên quan đến tài sản công, đặc biệt là pháp luật về đất đai, đầu tư, xây dựng, đấu thầu, quản lý vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh; bịt kín những sơ hở, bất cập để không thể lợi dụng việc quản lý, sử dụng tài sản công để tham nhũng, trục lợi. Nhất là xác định rõ nội dung, chủ thể và cách thức thực hiện quyền tài sản công (quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng) bảo đảm phát huy hiệu quả của tài sản công trong quá trình cải cách thể chế kinh tế thị trường. Rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy định cụ thể việc quản lý, sử dụng và khai thác đối với một số loại kết cấu hạ tầng, như hạ tầng cấp nước sạch, hạ tầng đô thị, hạ tầng thương mại, hạ tầng thông tin, hạ tầng y tế, hạ tầng thể thao, du lịch, văn hóa… Tổ chức sơ kết, đánh giá việc thực hiện Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản quy định chi tiết thi hành để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Sửa đổi, bổ sung pháp luật có liên quan đến tài sản công, như pháp luật về đất đai, định giá, xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa, thoái vốn, đấu giá tài sản; trong đó, tập trung sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 để sớm khắc phục những bất cập, hạn chế (về phương pháp xác định giá đất để thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất, thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai; việc đấu thầu khi sử dụng đất đai vào mục đích liên doanh, liên kết, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất…), nhằm khơi thông nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế, ổn định xã hội, ngăn ngừa những sai phạm nghiêm trọng về đất đai như đã xảy ra trong thời gian vừa qua.

    Thứ ba, đổi mới công tác quản lý, sử dụng tài sản công theo hướng chặt chẽ, chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch, rõ trách nhiệm, khắc phục triệt để cơ chế “xin - cho” để phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Quán triệt nguyên tắc thị trường trong quản lý, sử dụng tài sản công theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Các nguồn lực kinh tế của Nhà nước được sử dụng phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đất nước và cơ bản được phân bổ theo cơ chế thị trường”; “quản lý chặt chẽ và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài nguyên, nhất là đất, nước, khoáng sản theo nguyên tắc thị trường”. Tăng cường phân cấp công tác quản lý tài sản công cho đơn vị được giao quản lý, sử dụng từ khâu mua sắm, thuê, khoán kinh phí đến sử dụng, khai thác, bán, chuyển nhượng, thanh lý. Cơ quan quản lý nhà nước về tài sản công tập trung vào khâu xây dựng thể chế, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, hướng dẫn, kiểm tra, xử lý vi phạm; quyết định các vấn đề về tài sản công có giá trị đặc biệt lớn, có liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia. Ban hành tiêu chí đánh giá và tổ chức đánh giá định kỳ đối với công tác quản lý tài sản công để kịp thời phát hiện những hạn chế, bất cập, không để xảy ra tình trạng vi phạm kéo dài, tham nhũng, tiêu cực nhưng không kịp thời phát hiện, xử lý như thời gian vừa qua. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý tài sản công, nhất là xây dựng và đưa vào vận hành Hệ thống giao dịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công nhằm tăng cường công khai, minh bạch, tạo điều kiện tối đa cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu được tiếp nhận thông tin và tham gia các giao dịch về tài sản công, hạn chế tối đa sự can thiệp, tác động không trong sáng vào quá trình quản lý.

    Thứ tư, tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán và kiểm soát quyền lực của người được giao quản lý, sử dụng tài sản công. Đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực nhiều lần nhấn mạnh phải tập trung kiểm soát quyền lực, kiểm tra, giám sát, thanh tra các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, trong đó có lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công. Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII cũng đặt ra yêu cầu: “Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, như công tác cán bộ, tài chính, ngân sách, tài sản công, đất đai, tài nguyên… Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực…”. Qua kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán kịp thời phát hiện những sơ hở, bất cập để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài sản công; đồng thời, chuyển thông tin, hồ sơ các vụ việc sai phạm có dấu hiệu tội phạm đến cơ quan điều tra có thẩm quyền để điều tra, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Chú trọng tự kiểm tra, tự giám sát, kịp thời phát hiện từ nội bộ những vi phạm về quản lý, sử dụng tài sản công để chấn chỉnh ngay từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn. Phát huy vai trò, nâng cao hiệu quả giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý, sử dụng tài sản công, nhất là vai trò giám sát của nhân dân với tư cách là chủ sở hữu tài sản công.

    Thứ năm, xử lý nghiêm minh, công bằng, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng, Nhà nước, đoàn thể và xử lý hình sự đối với những cán bộ, đảng viên sai phạm, tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài sản công, với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”, nhằm cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa chung. Thời gian qua, nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng được phát hiện, xử lý, nhất là Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực đã trực tiếp chỉ đạo xử lý nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm có liên quan đến quá trình quản lý, sử dụng tài sản công; khẳng định quyết tâm chống tham nhũng “không dừng, không nghỉ” của Đảng, Nhà nước. Thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh PCTN, tiêu cực, xử lý nghiêm minh các cán bộ, đảng viên sai phạm với “quyết tâm cao hơn, hành động mạnh mẽ và hiệu quả hơn” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư. Quá trình xử lý các vụ án, vụ việc cần tập trung xác minh, điều tra làm rõ hành vi tham nhũng, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước; quan tâm, nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt ngay từ giai đoạn điều tra và trong suốt quá trình tố tụng.

    Bên cạnh việc phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh vi phạm cần chú trọng phát hiện những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật về tài sản công để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, trong đó có cơ chế xử lý kịp thời các tài sản công bị kê biên, phong tỏa trong các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực để đưa vào sản xuất, kinh doanh, tránh lãng phí. Thực tế thời gian qua cho thấy, các vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế thường rất phức tạp, quá trình xử lý kéo dài, thậm chí nhiều năm; trong khi đó các quy định về xử lý sớm đối với tài sản bị kê biên, phong tỏa còn bất cập, dẫn đến giảm giá trị của tài sản, gây lãng phí, nhất là đối với đất đai, máy móc, nhà xưởng, cổ phần, cổ phiếu. Điển hình như vụ án Hứa Thị Phấn (giai đoạn 2), đến nay chưa thể xử lý được 56 tài sản kê biên là quyền sử dụng đất nông nghiệp hết thời hạn sử dụng, do vướng mắc quy định của Luật Đất đai; trong vụ án Trần Phương Bình, cơ quan Thi hành án dân sự chưa thể xử lý được 123 triệu cổ phiếu đã kê biên của Ngân hàng Đông Á do Ngân hàng này đang trong thời gian kiểm soát đặc biệt, phương án cơ cấu lại chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt; vụ án xảy ra tại Bình Dương, cơ quan điều tra đã tạm giữ và ngăn chặn giao dịch liên quan đến khu đất 43 ha dẫn đến dự án bị đình trệ trong một khoảng thời gian dài…

     Tài sản công là nền tảng, là nguồn vốn liếng quan trọng xây dựng và phát triển nền kinh tế, làm cho dân giàu, nước mạnh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Do vậy, việc quản lý, sử dụng hiệu quả tài sản công gắn với PCTN, tiêu cực có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong những năm tới theo mục tiêu, định hướng mà Đảng ta đã xác định. Đây không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước mà còn là nhận thức, trách nhiệm mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân./.

Đài Á Châu tự do liên tục đăng bài tiếp tay bêu riếu tình hình tự do báo chí của Việt Nam


Sức mạnh và tính tự do báo chí tại Việt Nam là điều không thể chối cãi, việc đưa thông tin chính xác, nhanh nhạy, làm tốt vai trò phản biện xã hội của báo chí đã đưa nhiều vụ việc ra ánh sáng và đến hồi kết như Dự án khách sạn trong khuôn viên Công viên Thống nhất,

ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG GẮN VỚI ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

    Ở Việt Nam, tài sản công được Hiến pháp ghi nhận và được quy định cụ thể trong các luật chuyên ngành. Theo đó, “Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên khác, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật”(1). Tài sản công bao gồm: “Tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác”.

    Tài sản công chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của mỗi quốc gia (theo ước tính của các chuyên gia, tổng giá trị tài sản công của mỗi quốc gia thông thường bằng 4 lần GDP của quốc gia đó). Đây là nguồn lực quan trọng để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, nâng cao vị thế quốc gia trong quan hệ quốc tế. Thông lệ quốc tế cho thấy, khai thác tốt hơn một đồng từ tài sản công sẽ giúp giảm vay nợ, hạn chế đánh thuế một đồng tương ứng. Do vậy, quan điểm chỉ đạo và yêu cầu nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là phải quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước, trong đó có tài sản công; “bảo đảm mọi tư liệu sản xuất đều có người làm chủ…; các nguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”(4) với mục tiêu “Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, tiến tới trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN. Tuy nhiên, quá trình quản lý, khai thác, sử dụng tài sản công luôn tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng, tiêu cực, bởi: Bản chất tài sản công là sở hữu chung, vì là của chung nên thường nảy sinh quan niệm “không phải của mình”, “cha chung không ai khóc”; nếu không nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể được giao quyền quản lý, sử dụng, không hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật, không gắn với kiểm tra, giám sát thường xuyên, chặt chẽ tất yếu nảy sinh tham nhũng, tiêu cực, “biến của công thành của tư”, biến tài sản nhà nước thành tài sản của cá nhân hoặc của một nhóm người. Mặt khác, chủ thể của tài sản công là chủ thể đặc biệt - Nhà nước; Nhà nước vừa là chủ sở hữu hoặc đại diện sở hữu, vừa là chủ thể quản lý về các mặt hoạt động kinh tế - xã hội nên thường dẫn đến tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, tạo kẽ hở trong quản lý, từ đó có thể dẫn đến hành vi tham nhũng, tiêu cực của những người thực thi công vụ. Hơn nữa, trong chế độ sở hữu toàn dân đối với tài sản công có sự tách rời giữa chủ sở hữu với người thực thi các quyền năng của chủ sở hữu. Toàn dân là một tập hợp nhiều người, cũng có nghĩa là bất kỳ công dân Việt Nam nào, nhưng một cá nhân đơn lẻ không thể tự mình yêu cầu thực thi quyền sở hữu này với tư cách chủ sở hữu thành phần của sở hữu toàn dân, bởi việc thực thi đó có thể sẽ không đúng với ý chí của các thành viên còn lại. Chính vì vậy, tài sản thuộc sở hữu toàn dân phải do “Nhà nước đại diện và thống nhất quản lý”. Tuy nhiên, Nhà nước là một hệ thống tổ chức quyền lực với số lượng lớn đội ngũ cán bộ, công chức, nên người đại diện cao nhất (Nhà nước) phải tiếp tục trao quyền cho các cơ quan, tổ  chức, đơn vị và đối tượng khác quản lý, sử dụng tài sản công. Sự tách rời này làm phát sinh nguy cơ chủ sở hữu có thể không có điều kiện để thực thi hiệu quả quyền quản lý, sử dụng nhằm phát huy tối đa giá trị và bảo vệ tài sản khỏi các hành vi xâm phạm; người thực thi quyền năng của chủ sở hữu có thể hành động ngược với lợi ích của chủ sở hữu hoặc không phát huy hết vai trò, trách nhiệm, không tìm cách tối ưu hóa giá trị, dẫn đến tài sản bị lãng phí, thất thoát, thậm chí tham nhũng.

     Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, thời gian qua công tác quản lý, sử dụng tài sản công có nhiều đổi mới, từng bước đi vào nền nếp, kỷ luật kỷ cương được tăng cường, góp phần tích cực phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực và phục vụ hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhất là, đã hình thành được hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công tương đối đầy đủ, đồng bộ theo hướng xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ của tập thể, cá nhân, người đứng đầu cơ quan, đơn vị; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công; thiết lập cơ chế phân cấp quản lý, sử dụng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và năng lực quản lý của các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị gắn với chế độ thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình…; qua đó, góp phần thực hiện mục tiêu “không thể tham nhũng, tiêu cực” trong quản lý, sử dụng tài sản công. Việc đầu tư mua sắm tài sản theo tiêu chuẩn định mức, lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu, từng bước triển khai thực hiện mua sắm tài sản công theo phương thức tập trung nhằm phòng, chống thất thoát, lãng phí; rà soát, sắp xếp, bố trí lại hệ thống trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp phù hợp với tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất; rà soát, kiểm kê, phân loại tài sản công là cơ sở hạ tầng để đánh giá chất lượng, xác định giá trị, thiết lập hồ sơ quản lý và phân cấp, bàn giao quản lý, vận hành, khai thác; việc triển khai thí điểm khoán kinh phí sử dụng xe ô tô công được nhân rộng tại các bộ, cơ quan ở Trung ương và các địa phương… Đã hình thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công, gồm 4 loại tài sản công thuộc khu vực hành chính sự nghiệp và 02 loại tài sản là cơ sở hạ tầng, với tổng nguyên giá đang theo dõi đến 30/9/2021 là 6.060.497 tỷ đồng, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, khai thác, sử dụng theo hướng công khai, minh bạch, chặt chẽ và PCTN, tiêu cực hiệu quả. Cùng với đó, đã chú trọng, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý, đề nghị xử lý nghiêm các trường hợp tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài sản công. Từ năm 2017 đến 2020, ngành Thanh tra đã triển khai 27.505 cuộc thanh tra hành chính và 865.693 cuộc thanh tra chuyên ngành (trong đó có thanh tra về lĩnh vực tài sản công), phát hiện vi phạm về kinh tế 361,37 nghìn tỷ đồng, 80.472 ha đất; kiến nghị thu hồi ngân sách nhà nước 181 nghìn tỷ đồng, 7.675 ha đất; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính đối với 8.744 tập thể và cá nhân, chuyển cơ quan điều tra 401 vụ việc có dấu hiệu tội phạm để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Kiểm toán Nhà nước đã thực hiện 896 cuộc kiểm toán, kiến nghị xử lý tài chính 353.733 tỷ đồng (tăng 3,5 lần so với giai đoạn 2011-2015).

     Tuy nhiên, so với yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước và đẩy mạnh đấu tranh PCTN, tiêu cực hiện nay, việc đổi mới công tác quản lý, sử dụng tài sản công vẫn chưa đủ mạnh, chưa toàn diện, còn những tồn tại, hạn chế cần khắc phục. Hệ thống văn bản pháp luật về tài sản công chưa đầy đủ, đồng bộ, một số loại tài sản hoặc lĩnh vực còn thiếu văn bản điều chỉnh làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện; cơ chế phân cấp quản lý còn có điểm chưa hợp lý, dồn nhiều thẩm quyền cho cơ quan quản lý cấp trên, chưa thực sự đảm bảo nguyên tắc tự quyết định, tự chịu trách nhiệm; ở một số nơi, người đứng đầu chưa quan tâm đến công tác quản lý, sử dụng tài sản công, không ban hành quy chế quản lý, sử dụng tài sản công để tổ chức thực hiện, dẫn đến không xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể đối với tài sản được giao quản lý; tiến độ sắp xếp, xử lý nhà đất, xe ô tô và kiểm kê, phân loại, giao quản lý các loại tài sản hạ tầng còn chậm; cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công chưa bao quát, tổng hợp đầy đủ các loại tài sản công theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công. Đặc biệt, vẫn còn xảy ra những vụ việc lãng phí, tiêu cực, thậm chí vi phạm pháp luật, tham nhũng nghiêm trọng trong quản lý, sử dụng tài sản công. Thực tiễn công tác PCTN, tiêu cực nói chung và phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nói riêng thời gian qua cho thấy, lãng phí trong quản lý, sử dụng tài sản công phổ biến là: Sử dụng vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định, sử dụng không hiệu quả, không đạt mục tiêu đề ra; tham nhũng, tiêu cực chủ yếu là lợi dụng chức vụ, quyền hạn, tham ô tài sản, cố ý làm trái, thiếu trách nhiệm, vi phạm pháp luật về đấu thầu, đấu giá, thẩm định giá, chuyển nhượng vốn góp, cố phần… Riêng lĩnh vực đất đai (chiếm tỷ trọng chủ yếu trong các loại tài sản công với gần 70%), các sai phạm chủ yếu là: Giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá; xác định giá khởi điểm không đúng quy định; xác định giá thu tiền sử dụng đất không đúng phương pháp, không sát với giá thị trường; sử dụng đất sai mục đích; chậm đưa đất vào sử dụng đối với các dự án; đưa quyền sử dụng đất vào góp vốn thành lập doanh nghiệp nhưng không định giá quyền sử dụng đất.    

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢN CHẤT CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN

     Pháp nhân chỉ là chủ thể của trách nhiệm hình sự (TNHS) hay là chủ thể của tội phạm? Đây là vấn đề bản chất của việc quy định TNHS pháp nhân và là nội dung còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Việc trả lời được câu hỏi này là vấn đề then chốt để xây dựng hay không xây dựng hệ thống lý luận đặc thù trong khoa học pháp lý hình sự cho pháp nhân; cũng như có xây dựng các quy định pháp luật hình sự đặc thù cho pháp nhân không, hay chỉ sử dụng các quy định pháp luật hình sự hiện hành đang áp dụng cho thể nhân (cá nhân) để áp dụng cho pháp nhân.        

 1. Quan điểm xác định pháp nhân chỉ là chủ thể của trách nhiệm hình sự

    Quan điểm xác định pháp nhân chỉ là chủ thể của trách nhiệm hình sự dựa trên cơ sở thực tế “không có” hay “không thể nói đến” hành vi phạm tội của pháp nhân và khi đã không có hành vi phạm tội của pháp nhân, thì cũng không thể nói đến lỗi của pháp nhân. Không có lỗi, cũng không có hành vi, và như vậy, pháp nhân không thể (bị coi) là chủ thể của tội phạm. Một cách ngắn gọn hơn, pháp nhân không phải chủ thể tội phạm vì pháp nhân không thực hiện hành vi phạm tội và không có lỗi. GS. TS. Nguyễn Ngọc Hòa trong bài viết “Khái niệm tội phạm và việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015” khẳng định pháp nhân thương mại chỉ là chủ thể của TNHS về tội phạm (do cá nhân thực hiện) mà không phải là chủ thể tội phạm như cá nhân và tội phạm chỉ có một nhưng chủ thể phải chịu TNHS về tội phạm đó có thể là hai - cá nhân thực hiện và pháp nhân của cá nhân thực hiện.  

    Việc pháp nhân bị chịu TNHS là xuất phát từ việc pháp nhân đó có mối quan hệ với cá nhân người phạm tội và với tội phạm mà người này thực hiện; khác với cơ sở TNHS của cá nhân chính là việc người này thực hiện hành vi được quy định là tội phạm trong Bộ luật hình sự (BLHS). Tác giả kết luận việc BLHS năm 2015 ghi nhận “pháp nhân thương mại phạm tội” chỉ có nghĩa là pháp nhân thương mại (PNTM) phải chịu TNHS về tội phạm do cá nhân thực hiện khi thỏa mãn các điều kiện nêu tại Điều 75 và Điều 76 của BLHS thì bị coi là “phạm tội”.

    Đồng nhất với quan điểm nêu trên, tác giả Nguyễn Văn Hương trong bài viết “Trách nhiệm hình sự của PNTM theo BLHS năm 2015” khẳng định PNTM không phải là chủ thể của tội phạm và chủ thể của tội phạm chỉ có thể là con người. Tác giả cho rằng hành vi phạm tội “nhân danh pháp nhân”, “vì lợi ích của pháp nhân”, “có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân” chỉ có thể là hành vi của cá nhân. PNTM phải chịu TNHS là vì đã chỉ đạo, điều hành, cho phép,... và được lợi từ hành vi phạm tội của cá nhân. Cơ sở buộc pháp nhân thương mại chịu TNHS chính là mối quan hệ đặc biệt giữa pháp nhân với cá nhân và tội phạm mà người này thực hiện khi có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận và vì lợi ích của pháp nhân. Tức là PNTM “được coi”, “bị quy kết” là phạm tội khi có hành vi của con người được PNTM ủy quyền, giao nhiệm vụ (đã thực hiện hành vi phạm tội). Quy định có tính chất bắc cầu này cho thấy, PNTM chỉ là đối tượng bị “coi”, bị “quy kết”, bị “áp đặt” là phạm tội và phải chịu TNHS do hành vi phạm tội của cá nhân trong pháp nhân thực hiện.

    2. Quan điểm xác định pháp nhân là chủ thể của tội phạm

Pháp nhân là một thực thể có ý chí, có mong muốn riêng của mình, được xử sự tự do và hưởng quyền tự chủ của cá nhân con người cụ thể và chính vì thế nó có năng lực thực hiện tội phạm một cách có lỗi. Trong bài viết khác, tác giả Trịnh Quốc Toản cho rằng, về bản chất các pháp nhân hoàn toàn có khả năng phạm tội thông qua các hoạt động và ý chí tập thể của các thành viên. Đó là những người lãnh đạo, đại diện của pháp nhân, người vạch ra, người chỉ đạo hoặc người thực hiện chính sách của pháp nhân, thì tội phạm được coi là do chính pháp nhân thực hiện.

     3. Một số kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam

     Vấn đề bản chất của việc quy định TNHS pháp nhân hay trả lời câu hỏi pháp nhân là chủ thể của tội phạm hay chỉ là chủ thể của TNHS cũng là vấn đề cơ bản được các học giả nước ngoài quan tâm, tranh luận từ lâu. Luận án tiến sỹ “Corporate Criminal Liability: An Analytical Study with Special Reference to Penal Laws in India” của Abhinandan Bassi đã đưa ra các câu hỏi nghiên cứu cơ bản: Pháp nhân có năng lực thực hiện tội phạm không? Các nguyên tắc nào để quy lỗi nhằm xác định TNHS của pháp nhân? Có cần xây dựng các tội phạm của pháp nhân (corporate crimes) một cách riêng rẽ (với các tội phạm của cá nhân)? Về mặt lý luận cơ bản, có hợp lý hay không khi sử dụng hệ thống tư pháp hình sự của cá nhân để áp dụng cho pháp nhân?. Tác giả Markus Wagner trong bài viết “Corporate Criminal Liability: National and International Responses” nêu lên nội dung cơ bản về TNHS của tổ chức tại Anh. Ghi nhận TNHS của pháp nhân bắt đầu vào năm 1842 bởi các tòa án của Anh. Ban đầu, pháp nhân chỉ chịu TNHS đối với các tội phạm không đòi hỏi yếu tố ý chí (mens rea).

    Theo án lệ của Anh, có ba loại tội phạm này là các tội gây mất an toàn cho cộng đồng, tội phỉ báng và tội xúc phạm tòa án. Tiếp theo, xác lập TNHS của pháp nhân đối với các tội phạm đòi hỏi yếu tố ý chí (mens rea): Năm 1915, từ phán quyết một vụ án dân sự, Thượng nghị viện đã đề ra một nguyên tắc chung để quy yếu tố ý chí cho pháp nhân, đó là nguyên tắc “ý chí điều hành”. Phán quyết của vụ án đó cho rằng, một công ty là một thực thể trừu tượng và không có ý thức. Người ta chỉ có thể nhận thức được về hoạt động và ý chí chỉ đạo của công ty thông qua hành vi và ý chí của một người cụ thể được xem là người thực sự có khả năng thể  hiện tư tưởng chỉ đạo và ý chí của công ty, yếu tố thể hiện bản ngã và đặc tính của công ty. Theo nguyên tắc ý chí điều hành, các hành vi và ý chí một số vị trí lãnh đạo cấp cao trong pháp nhân (những người thực hiện các chức năng chỉ đạo, điều hành) bị xem như hành vi và ý chí của pháp nhân. Trong một án lệ khác, Thượng nghị viện đã nhận định rằng một công ty không thể có các nhận thức và ý chí để kiểm soát nhận thức như con người, công ty đó chỉ có thể hành động thông qua con người, con người đó nói và làm không phải với tư cách cá nhân mà với tư cách của công ty và tư tưởng chỉ đạo hoạt động của người đó là ý chí của công ty.

     Ngược lại, đồng tác giả Fisse và Braithwaite trong bài viết “The Allocation of Responsibility for Corporate Crime: Individualism, Collectivism and Accountability” đã đưa ra các quan điểm, lập luận dựa trên cơ sở phương pháp toàn thể luận (methodological holism hay collectivism) để trả lời, phản bác lại giả thuyết dựa trên nền tảng phương pháp cá thể luận (methodological individualism). Phương pháp cá thể luận cho rằng, chỉ có các cá nhân thực hiện hành vi và chỉ có các cá nhân chịu trách nhiệm; hành vi hoặc trách nhiệm của pháp nhân chỉ là sự tập hợp các hành vi hoặc trách nhiệm của các cá nhân; nói cách khác, phương pháp này tin rằng “các pháp nhân không thực hiện tội phạm; chỉ con người thực hiện”.

    Ngược lại, phương pháp toàn thể luận cho rằng, các pháp nhân được xem như cấu trúc đưa ra quyết định (decision-making structure). Các pháp nhân phải chịu trách nhiệm đối với một quyết định khi và bởi vì quyết định này thể hiện chính sách của pháp nhân (corporate policy) và thể hiện một tiến trình đưa ra quyết định của pháp nhân mà tự thân pháp nhân lựa chọn. Đồng thời, chỉ có thể nói pháp nhân không sở hữu một ý chí giống như ý chí của bộ não con người, nhưng pháp nhân thể hiện một loại ý chí đặc biệt “chính sách của pháp nhân”. Chính sách này không phản ánh đơn giản ý chí của các lãnh đạo, giám đốc hoặc cán bộ quản lý của pháp nhân mà nó thể hiện ý tưởng về một chiến lược đặc thù của pháp nhân.   

    Pháp nhân giống như con người cá nhân có thể đưa ra các lý do hợp lý cho các quyết định của nó; cũng như có năng lực để thay đổi các mục tiêu, chính sách và thay đổi các tiến trình ra quyết định trực tiếp liên quan đến các mục tiêu, chính sách này. Tác giả John Braithwaite nhận định “Khoa học hình sự và tội phạm học vẫn trong khuôn khổ các lý thuyết cá thể hóa [TNHS] đã tồn tại trong thời kỳ dài”. Brent Fisse xem việc không đủ năng lực để giải quyết vấn đề lỗi của pháp nhân là “lỗ hổng lớn nhất trong lý thuyết luật hình sự về TNHS của pháp nhân”. Do vậy, đã đề xuất một lý thuyết/ tiêu chuẩn về TNHS của pháp nhân sử dụng một mô hình nhận thức mới để xác định và chứng minh ý chí của pháp nhân. Lý thuyết này cho rằng, mỗi một pháp nhân có một đặc tính xác định và khác biệt (ethos). Nhà nước có thể buộc tội một pháp nhân theo lý thuyết này nếu chứng minh được rằng “ethos” của pháp nhân đã khuyến khích các nhân viên của pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội. Cốt lõi của cách tiếp cận này là việc cho rằng pháp nhân sở hữu một đặc tính có tính độc lập với các cá nhân cụ thể - người lãnh đạo, quản lý hay làm việc cho pháp nhân đó.

 

    Từ các phân tích trên, có thể nói, nếu dựa trên cở sở các lý thuyết truyền thống thì pháp nhân chịu TNHS bởi “được coi”, “bị quy kết” từ hành vi phạm tội và lỗi của cá nhân; pháp nhân không thực hiện hành vi phạm tội và không có ý chí phạm tội (không có lỗi); do vậy, pháp nhân chỉ là chủ thể chịu TNHS. Ngược lại, nếu xây dựng TNHS của pháp nhân trên cơ sở các lý thuyết mới thì pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội thông qua cấu trúc [tự] đưa ra quyết định (decision-making structure) và pháp nhân có ý chí bởi pháp nhân có có một đặc tính xác định và khác biệt (ethos) đã khuyến khích các nhân viên của pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội; do vậy, pháp nhân là chủ thể của tội phạm    Quay trở lại pháp luật hình sự của Việt Nam, khi nghiên cứu, rà soát các quy định của BLHS năm 2015 về TNHS của pháp nhân, chúng ta thấy rằng, chưa có sự rõ ràng trong việc xác định bản chất của việc quy định TNHS của pháp nhân hay xác định pháp nhân là chủ thể tội phạm hay chỉ là chủ thể TNHS. Trên cơ sở so sánh giữa luật hình sự Anh và Việt Nam, tác giả Đào Lệ Thu cho rằng “luật hình sự Việt Nam chưa thể hiện bản chất TNHS của pháp nhân thương mại trong một cách rõ ràng”. Cụ thể, một số quy định cho thấy, đó là loại hình TNHS phát sinh trên cơ sở hành vi phạm tội của thể nhân; một số quy định khác lại khiến pháp nhân thương mại bị biến thành một chủ thể của tội phạm độc lập, tách biệt khỏi người phạm tội và chịu TNHS trên cơ sở tội phạm do chính mình thực hiện(19). Điều này cũng được PGS. TS Nguyễn Ngọc Chí chia sẻ: Trên cơ sở tiếp cận PNTM là chủ thể tội phạm, các quy định của BLHS năm 2015 tạo ra “cảm giác” có hai bộ luật ở cùng một bộ luật, trong đó một bộ luật quy định về cá nhân phạm tội và một bộ luật quy định về pháp nhân phạm tội,... Ngược lại, nếu quan niệm pháp nhân là chủ thể của TNHS chứ không phải là chủ thể tội phạm sẽ khắc phục được “cảm giác” hai trong một nêu trên và những mẫu thuẫn của BLHS năm 2015 như gán các khách thể tội phạm cho pháp nhân không thể xâm hại hoặc phải xác định dấu hiệu lỗi của pháp nhân khi phạm tội./.

Phản bác luận điệu xuyên tạc tự do báo chí ở Việt Nam


Tự do báo chí ở Việt Nam luôn là đề tài để những tổ chức phi Chính phủ không có thiện chí với Việt Nam nhắc tới với những thông tin không chính xác. Minh chứng rõ nét đó là Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) “lần thứ n” xếp Việt Nam ở vị trí 174/180 quốc gia và vùng lãnh thổ về Chỉ số tự do báo chí.

BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ QUÂN ĐỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay. Mọi cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ thường xuyên nâng cao cảnh giác, nhận thức đúng đắn và thấy rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch để không bị mơ hồ, mất cảnh giác, vô tình tiếp tay cho chúng, luôn vững vàng trước sự chống phá của địch. Nội dung giáo dục nâng cao tập trung vào âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”  của các thế lực thù địch hiện nay; hoạt động chống phá trên không gian mạng; lợi dụng “phản biện” xã hội để phủ nhận chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Tổ chức học tập, nghiên cứu các tài liệu, chuyên đề liên quan đến âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch nhằm nâng cao cho mọi cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ ý thức cảnh giác cách mạng, nhận thức đúng bản chất hoạt động chống phá này, chủ động phòng ngừa, đấu tranh.

    Quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, quy định về quan hệ, tiếp xúc với cá nhân, tổ chức nước ngoài của quân nhân như: Thông tư số 202/2016/TTBQP, ngày 12/12/2016 của Bộ Quốc phòng quy định về bảo đảm an toàn thông tin trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Công văn số 630/BVAN-P9, ngày 22/02/2019 của Cục Bảo vệ an ninh Quân đội về việc hướng dẫn thực hiện công tác Bảo vệ an ninh cá nhân, tổ chức nước ngoài của quân nhân; Quy chế tổ chức, quản lý và phối hợp các hoạt động đối ngoại quân sự ban hành kèm theo Thông tư số 88/2010/7TBQP, ngày 02/7/2010 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).

    Thứ hai, tăng cường vai trò cấp ủy Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp các tổ chức, các lực lượng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần thường xuyên quan tâm làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, xây dựng động cơ, thái độ đúng đắn trong bồi dưỡng; xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát đúng, phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay. Ban Chỉ đạo 35 cần tiếp tục kiện toàn cơ cấu, tổ chức bảo đảm sự đồng bộ và hoạt động thường xuyên có hiệu quả. Thường xuyên bám sát tình hình thực tiễn tham mưu, đề xuất  với cấp ủy, tổ chức đảng chủ trương, biện pháp lãnh đạo tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Chủ động dự báo, nắm bắt, theo dõi, phát hiện những quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng để tổng hợp, phân tích, cung cấp những thông tin cần thiết, kịp thời, làm tư liệu, tài liệu đấu tranh có hiệu quả; định hướng dư luận nhân dân và cán bộ, đảng viên, quân nhân nhận thức đúng đắn về chức năng, nhiệm vụ của quân đội, bảo vệ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.  

    Thứ ba, thường xuyên rà soát, nắm và quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nhất là về chính trị tư tưởng của mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Từng cơ quan, đơn vị phải tích cực, chủ động, bổ sung kiện toàn kế hoạch bảo vệ chính trị nội bộ, phòng chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ của đơn vị mình; đồng thời, thường xuyên đánh giá quá trình tổ chức thực hiện một cách chặt chẽ, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những tư tưởng lệch lạc, sai trái, không để các thế lực thù địch móc nối, lôi kéo quân nhân tham gia vào hoạt động chống phá. Thực hiện phòng chống cả hai phía, phía địch tiến công ta bằng các thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ và phía ta “tự diễn biến”. Phát huy vai trò, nâng cao hiệu quả Ban chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa. Thứ tư, tổ chức lực lượng nòng cốt đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

     Tích cực chia sẻ, lan tỏa các bài viết, hình ảnh tốt đẹp của các đơn vị quân đội; các cơ quan, đơn vị chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng của địa phương theo dõi nắm chắc tình hình, phát hiện các hoạt động tụ tập biểu tình trái pháp luật, kịp thời định hướng tư tưởng bộ đội và nhân dân; xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống có thể xảy ra; thường xuyên “bám mạng”, nắm, báo cáo kịp thời thông tin tình hình trên internet, mạng xã hội, chủ động báo cáo, cung cấp các thông tin về hoạt động của các thế lực thù địch để phối hợp, triển khai các biện pháp đấu tranh kịp thời; tập trung chia sẻ các tin bài, video clip theo chỉ đạo, định hướng của Trung ương, Ban Chỉ đạo 35 và cơ quan báo chí quân đội. Thứ năm, đẩy mạnh xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật và chấp hành pháp luật để tăng cường sức mạnh chính trị, tinh thần cho bộ đội. Coi trọng xây dựng ý thức tự giác của mỗi quân nhân trong chấp hành nền nếp chế độ; xây dựng mối đoàn kết tốt trong nội bộ, đoàn kết quân - dân, làm tốt công tác vận động nhân dân trong tình hình mới. Kiên quyết đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, hành vi sai trái trong đơn vị, thái độ thiếu trách nhiệm, ngại khó khăn gian khổ. Bằng nhiều hình thức, biện pháp, chủ động phối hợp, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn không để cho các “cơ sở xã hội” của các tổ chức “xã hội dân sự” tiến hành các hoạt động tuyên truyền, lôi kéo, tác động tới cán bộ, chiến sĩ, quần chúng nhân dần để thực hiện ý đồ của chúng. Mặt khác, tích cực phối hợp giữa các ngành, các cấp trong tham gia xây dựng, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở; kết hợp chặt chẽ với công tác xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng đơn vị an toàn gắn với địa bàn an toàn đủ sức ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay là một dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, là công việc tự giác, thường xuyên của các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức quần chúng và của từng cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong quân đội. Sự quyết tâm thực hiện một số giải pháp nêu trên sẽ góp phần tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng, chỉ rõ vấn đề, giúp nâng cao nhạn thức, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội; xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại./.

NHỮNG KẺ KHÔNG CHỊU HOÀN LƯƠNG VỀ VỚI TỔ QUỐC



Trong lúc Tổng thống Joe Biden tiếp đón long trọng Thủ tướng Phạm Minh Chính thì một nhúm người ở "tụ nghĩa đường" Cali (đây là trung tâm vận động quyên góp tiền chống cộng) lại tụ tập tổ chức biểu tình chống Nhà nước Việt Nam, kêu gọi Chính phủ Mỹ ngừng quan hệ hợp tác với Việt Nam.