Trên hành trình tìm đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa triệt để tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là vận dụng sáng tạo, bổ sung và làm phong phú thêm học thuyết Mác - Lênin “bằng dân tộc học phương Đông”. Từ trong bản chất của sự phát triển, tất cả các học thuyết chính trị nói chung mà học thuyết Mác - Lênin nói riêng đều rất cần đến sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Chính bản thân Hồ Chí Minh là người đã chứng kiến sự vận động không ngừng của cách mạng thế giới những năm đầu thế kỷ XX nên Người đã bổ sung vấn đề dân tộc thuộc địa - điều mà V.I.Lênin, đặc biệt là C.Mác và Ph.Ăngghen chưa thể hoặc chưa có điều kiện đề cập một cách sâu sắc.
Khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Hồ Chí
Minh nhận thấy: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất
định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa
phải là toàn thể nhân loại”(11). Và “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ
sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở
thời mình không thể có được”(12), “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử
của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(13). Việc bổ sung vấn đề dân
tộc của chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông - nơi mà có nhiều nước bị lệ
thuộc và trở thành thuộc địa của các nước tư bản phương Tây đã làm cho vấn đề
dân tộc trở nên phong phú hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn. Đó là biểu hiện rõ
ràng của tinh thần dân tộc vô sản, đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc
của các nước thuộc địa và lệ thuộc.
Tháng 7/1920, sau gần 10 năm bôn ba
tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã bắt gặp bản “Sơ thảo
Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin. Những tư tưởng về
dân tộc, thuộc địa của V.I.Lênin như một ngọn đuốc soi đường cho Nguyễn Ái Quốc
trên hành trình tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Từ đây, Nguyễn
Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hướng sự nghiệp giải phóng dân tộc
theo con đường cách mạng vô sản. Điều đó giúp cho Nguyễn Ái Quốc ngày càng mạnh
dạn nói lên tiếng nói của mình tại các diễn đàn quan trọng để lên tiếng ủng hộ
phong trào cách mạng ở các dân tộc thuộc địa.
Khi vận dụng nội dung Luận cương của
V.I.Lênin vào thực tiễn cách mạng ở thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy: “Cuộc
đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân
tộc bị áp bức tự giải phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim
của bọn áp bức;... Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc
địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản
trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô
lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm
thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở
các nước tư bản”(14). Đó là cơ sở để cách mạng vô sản ở các dân tộc thuộc địa
có tính độc lập, chủ động không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, nó
có thể nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, góp phần thúc
đẩy cách mạng chính quốc tiến lên. Đánh giá về sự bổ sung, vận dụng sáng tạo
của Hồ Chí Minh đối với quan điểm của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc, đồng chí
Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Luận điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mới mẻ
đến kỳ lạ,... Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống
hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại”(15).
Hơn ai hết và trước hết, Hồ Chí Minh
chính là người cộng sản chân chính. Chính Người cũng đã góp phần bổ sung, phát
triển, làm phong phú hơn quan điểm về dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng
những nội hàm mới. Do đó, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
chính là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.
Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc đã nhận
thấy rằng, cách mạng vô sản và độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là
con đường phát triển của dân tộc Việt Nam. Bởi lẽ, con đường này chẳng những
giải phóng hoàn toàn dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa đế quốc, mà
còn giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi mọi sự áp bức bóc lột, đi đến ấm no, hạnh
phúc thực sự. Sự lựa chọn này vừa đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc Việt
Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của nhân loại và thời đại mới -
thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đã được mở ra, bắt đầu
từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Với quan điểm độc lập dân tộc gắn với chủ
nghĩa xã hội, “Hồ Chí Minh là người tiên phong trong việc củng cố và bổ sung
chủ nghĩa Mác - Lênin”(16).
Người biết hy sinh vì dân tộc của mình đã làm lay động tất
cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới và là nguồn động viên, cổ vũ cho ho tự
tìm được con đường giải phóng cho các nước bị áp bức bóc lột,xoá bỏ sự xâm lược
và thống trị của chủ nghĩa thực dân , đế quốc trên thế giới. Đó là cách nhìn
nhận của bậc vĩ nhân:”Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng “”.K hông
có sự phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Chỉ có dân tộc bị áp bức và dân
tộc không bị áp bức mà thôi.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét