Thứ Ba, 17 tháng 5, 2022

Dâng hương tưởng nhớ 64 chiến sĩ hy sinh ở Gạc Ma

Các thành viên trong đoàn công tác kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các anh hùng liệt sĩ, tỏ lòng thành kính, biết ơn vô hạn công lao to lớn của các chiến sỹ đã chiến đấu, hy sinh vì sự toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững chủ quyền vùng biển, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc.

Sáng 17/4, tại Khu tưởng niệm các chiến sĩ Gạc Ma (xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa), Đoàn công tác số 8 năm 2022 đi thăm, tặng quà, động viên quân, dân huyện đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1 đã đến dâng hương, dâng hoa tưởng niệm các chiến sĩ Gạc Ma hy sinh anh dũng tại vùng biển, đảo Trường Sa.

Tham gia Lễ dâng hương có các đồng chí: Chuẩn đô đốc Phạm Như Xuân, Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Trưởng đoàn công tác; Lại Xuân Lâm, Phó Bí thư Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương; Ngô Hướng Nam, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài; Trần Thanh Lâm, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương cùng hơn 200 đại biểu thuộc các bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương; kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, văn nghệ sĩ, trí thức, phóng viên báo, đài Trung ương và địa phương.

Cách đây hơn 34 năm, ngày 14/3/1988, trong trận hải chiến bảo vệ chủ quyền tại các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa, 64 anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ quyền chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Tại đảo Gạc Ma, những người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã đứng thành vòng tròn bảo vệ lá cờ Tổ quốc cắm trên đảo đá, khẳng định chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Sự hy sinh anh dũng của các anh đã được khắc họa thành cụm tượng đài “Những người nằm lại phía chân trời” kiêu hãnh ở khu tưởng niệm các chiến sĩ Gạc Ma được xây dựng tại xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.

Đây là một trong những địa chỉ đỏ giáo dục về truyền thống cách mạng, bản lĩnh, ý chí của người chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam kiên trung, thà hy sinh tất cả để bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tại Đài Liệt sĩ, thành kính tưởng nhớ sự hy sinh anh dũng của các Anh hùng liệt sĩ hơn 34 năm về trước, các thành viên trong Đoàn công tác số 8 kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các anh hùng liệt sĩ, tỏ lòng thành kính, biết ơn vô hạn công lao to lớn của các chiến sỹ đã chiến đấu, hy sinh vì sự toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững chủ quyền vùng biển, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc.

Trong niềm xúc động sâu sắc và biết ơn vô hạn, các đại biểu trong Đoàn đã dành một phút mặc niệm các anh hùng liệt sĩ an nghỉ ngàn thu trên vùng biển Trường Sa của Tổ quốc; đồng thời thể hiện quyết tâm bảo vệ quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc và xây dựng huyện đảo Trường Sa trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội trên biển của cả nước ngang tầm với vị trí chiến lược ở Biển Đông./.

Hà Nội có 6.625 đảng viên được nhận Huy hiệu của Đảng

 Nhân dịp kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng bộ thành phố (TP) Hà Nội có 6.625 đảng viên được vinh dự đón nhận Huy hiệu của Đảng đợt 19/5.

Phản bác luận điệu đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác - Lênin

 

Phản bác luận điệu đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác - Lênin

Một trong những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Mục đích của chúng nhằm phá hoại, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh từ gốc rễ, qua đó tiến công trực diện vào một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã xác định “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(1). Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) và được bổ sung tại Đại hội XII của Đảng: “Tư tưởng của Người, cùng với Chủ  nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”(2). Việc khẳng định này cho thấy tầm quan trọng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và đối với nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó chúng tìm mọi cách để đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng quy kết Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuân thủ đúng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc, không theo Chủ nghĩa Mác-Lênin”; “Con đường Bác Hồ đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải chủ nghĩa xã hội” (!). Chúng còn cố ý minh họa bằng những những sự kiện lịch sử, như: Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, giải quyết vấn đề dân tộc trước vấn đề giai cấp... nhằm củng cố những luận điệu xuyên tạc này.

Phản bác luận điệu đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác - Lênin
Ảnh minh họa / Tuyengiao.vn 

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp

Luận điệu xuyên tạc trên là vô căn cứ. Bởi lẽ, lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”, vì thế, “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc(3). Cho nên, mấu chốt của cách mạng vô sản vẫn là giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, dù cho quốc gia đó đã trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay chưa trải qua giai đoạn này. Ở các nước thuộc địa, nhiệm vụ trước mắt và quan trọng bậc nhất là thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc giành lấy độc lập, quyền tự quyết dân tộc để làm cơ sở hiện thực làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cách mạng vô sản suy cho cùng cũng là vì quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc; việc giải quyết vấn đề giai cấp không đứng trên lập trường lợi ích quốc gia, dân tộc sẽ không thể giải quyết triệt để các vấn đề đặt ra của cuộc cách mạng, đôi khi còn dẫn đến thất bại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức, tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản. Người đã tích cực chuẩn bị tư tưởng chính trị, tổ chức, cán bộ cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành lấy độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới. Thắng lợi đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn giải quyết vấn đề dân tộc trước, sau đó giải quyết vấn đề giai cấp trên lập trường giai cấp vô sản, điều này đã thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng thực tiễn khách quan và bảo đảm tính lịch sử cụ thể của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc lựa chọn này không phải là sự ngẫu nhiên, “ăn may” mà là sự tìm tòi, phân tích thực tiễn cách mạng thấu đáo. Điều đó xuất phát từ tài năng, trí tuệ, sự nhạy bén chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi phân tích thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ, Việt Nam xuất phát từ một nước phương Đông truyền thống, nền nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, sự phân hóa giai cấp chưa sâu sắc, khi thực dân Pháp xâm lược thì nhiệm vụ nổi lên hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập dân tộc, tự do cho người dân, nên Người đã phê phán thẳng thắn quan điểm phiến diện, giáo điều, rập khuôn máy móc của một số người về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” (4).

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là “cái cẩm nang” thần kỳ, “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam. Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(5). Người đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp cách mạng vô sản của Chủ nghĩa Mác-Lênin để nghiên cứu thực tiễn, tìm ra quy luật vận động và phát triển cách mạng Việt Nam bằng con đường cách mạng vô sản, qua đó khắc phục được khủng hoảng về con đường cứu nước, cứu dân tộc.

Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam đạt được đã cho thấy những điều Người khẳng định là hoàn toàn đúng đắn, “Đảng ta nhờ kết hợp được Chủ nghĩa Mác-Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác”(6), và sự thật là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành lại độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và đưa nước ta bước vào giai đoạn độc lập, tư do và phát triển.

Thực tế đó cho thấy, con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đường, dẫn lối là phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đó là: Người đã đề ra nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước giải phóng giai cấp nhưng không đối lập giữa nhiệm vụ giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc mà kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp để tiến tới giải phóng con người; Người chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vì nhiệm vụ cách mạng của mỗi nước Đông Dương khác nhau, điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, dân tộc, con người mỗi nước có sự khác nhau.

Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú kho tàng lý luận Mác-Lê nin

Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lèo lái dư luận rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam”; “bây giờ Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin”(!).

Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin vô hình trung đã phủ định nguồn gốc hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ IX năm 2001 và Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” (7).

Sự khẳng định đó đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phẩm chất, nhân cách của Người, cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là Chủ nghĩa Mác-Lênin mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa này vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên lập trường của cách mạng vô sản. Cho nên “không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin”(8).

Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Ngại phê bình, góp ý - không chỉ là suy thoái...

 

Ngại phê bình, góp ý - không chỉ là suy thoái...

Thời gian qua, khá nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật và pháp luật, phải xử lý nghiêm khắc. Điều rất đáng báo động là, đa số những người này có vi phạm kéo dài, thậm chí suốt vài năm và với nhiều hành vi, thế nhưng cấp ủy, chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác lại “không biết”, hoặc biết rõ nhưng...“mũ ni che tai”!

1. “Ông ấy bây giờ mới bị xử lý là quá muộn”; “Vi phạm lâu rồi, bây giờ cấp trên mới biết thôi”; “Nhiều người trong cơ quan biết sếp vi phạm nhưng sợ “đấu tranh, tránh đâu”...

Không ít lần tôi được nghe như thế khi hỏi chuyện những người quen ở cơ quan, đơn vị, địa phương có cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, pháp luật.

Ví dụ thì rất nhiều và có lẽ cũng chẳng cần nêu ra. Chỉ riêng những kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay đã cho thấy, nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm nghiêm trọng từ lâu, chủ yếu là: Thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát dẫn đến gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước; suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; mất đoàn kết nội bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; vi phạm các quy định trong công tác cán bộ, quản lý đầu tư, xây dựng, sử dụng đất đai, tài chính, tài sản; tham nhũng... Những vi phạm này, không thể nói là các đồng chí trong cấp ủy, ban lãnh đạo và chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác với cán bộ, đảng viên đó đều... không biết!

Bên cạnh những vi phạm nghiêm trọng, khá nhiều cán bộ, đảng viên có những khuyết điểm, như: Độc đoán, gia trưởng, tham gia tệ nạn xã hội, vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương đối với cán bộ, đảng viên, người đứng đầu... Đồng chí, đồng đội, nhân viên là những người trực tiếp chịu tác động hoặc được chứng kiến, nhưng vẫn không mạnh dạn góp ý, phê bình!

Chính vì không được thẳng thắn góp ý, phê phán nên những cán bộ, đảng viên đó càng “tự tung tự tác”, “cái sảy nảy cái ung”, vi phạm tăng thêm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

Ngoài những nguyên nhân dẫn đến tình trạng không phê bình, ngại góp ý với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp, nhất là với cấp trên, như: Sợ mất lòng, sợ bị trù dập, quy chụp là gây mất đoàn kết; vì cùng có chung lợi ích; hoặc đơn giản là tâm lý “an phận thủ thường”, sợ bị hiểu sai... thì lâu nay, không ít cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có quan điểm “việc ai nấy làm”, không tham gia vào công việc và cuộc sống của người khác. Sự thờ ơ, vô cảm trước những việc sai trái, biết rõ những sai phạm, khuyết điểm của đồng nghiệp, đồng chí, đồng đội mà không thẳng thắn góp ý, phê bình đã dẫn đến nhiều hệ lụy: Cán bộ, đảng viên tiếp tục vi phạm, làm suy yếu tổ chức, ảnh hưởng sự trong sạch vững mạnh và uy tín của Đảng.  

2. “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau...” và “đoàn kết xuôi chiều” là một trong những biểu hiện của sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ.

Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) của Đảng thẳng thắn đánh giá: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm...

Để thực hiện mục tiêu kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã xác định nhiệm vụ và giải pháp đầu tiên là: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; trong đó nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị-xã hội, nhất là cấp ủy, thường vụ cấp ủy, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, "dĩ hòa vi quý". Kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Bên cạnh đó, chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn.


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng với rất nhiều giải pháp, nhưng quan trọng nhất, theo Người, trước hết là phải “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (bài báo Người viết nhân dịp kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng). Muốn thực hiện được điều này, Người chỉ rõ: “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Ðảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”...
 

Bác Hồ nhấn mạnh “Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc” vì tất cả hoạt động của chi bộ chủ yếu được thông qua sinh hoạt với 3 hình thức: Sinh hoạt lãnh đạo; sinh hoạt học tập; sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Mỗi hình thức sinh hoạt có yêu cầu riêng, nhưng đều phải có tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu, trên cơ sở thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, đó là: Tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình.

Thế nhưng, tình trạng ngại phê bình, “ngại nói thật” trong sinh hoạt chi bộ và cả sinh hoạt cấp ủy, đảng bộ vẫn khá phổ biến. Đây là nguyên nhân cơ bản làm mất tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng, dẫn đến không kịp thời ngăn ngừa những vi phạm của cán bộ, đảng viên, để xảy ra sai phạm kéo dài và nghiêm trọng. Thậm chí, không ít cán bộ, đảng viên có sai phạm mà vẫn được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ và đề nghị khen thưởng, bổ nhiệm.

Thật đáng buồn khi hầu hết các vụ việc cán bộ, đảng viên vi phạm về đạo đức, lối sống, kỷ luật, pháp luật, nhất là tham nhũng... đều do quần chúng nhân dân, báo chí hoặc cơ quan chức năng cấp trên phát hiện. Trong khi đó, chi bộ, cấp ủy là nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện và tiến hành kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ, đảng viên; người cùng chi bộ, cùng cơ quan thường xuyên gần gũi, công tác, hiểu hết tính cách cũng như những việc làm của nhau-như “cùng nằm trong chăn mà lại... không biết chăn có rận”!?

Rõ ràng, việc cần làm ngay là phải quy trách nhiệm, xử lý kỷ luật nghiêm đối với những cán bộ, đảng viên cùng sinh hoạt trong cấp ủy, chi bộ mà không phê bình, góp ý, để đồng chí, đồng đội vi phạm pháp luật, kỷ luật, nhất là với những vi phạm nghiêm trọng, kéo dài (như Bộ luật Hình sự đã quy định tội danh “không tố giác tội phạm” và “che giấu tội phạm”). Bên cạnh đó, cần ban hành quy định bình xét cán bộ, đảng viên theo thang điểm 10 trên từng nội dung, trong đó có tinh thần tự phê bình và phê bình...; đồng thời xếp loại cán bộ, đảng viên trong từng chi bộ theo số thứ tự (từ tốt nhất đến yếu nhất) để tăng tính đấu tranh phê bình trong sinh hoạt đảng, bảo đảm kết quả bình xét thực chất hơn, tránh tình trạng "tạo điều kiện cho nhau cùng ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ”. Có như vậy mới khắc phục được tình trạng “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né tránh, thấy sai không đấu tranh.

3. “Tôi vô cùng cảm ơn anh đã rất kiên trì, dũng cảm, chân thành góp ý, giúp tôi sửa được tính nóng nảy, gia trưởng, đồng thời biết tôn trọng, lắng nghe cấp dưới. Nếu không, sai lầm của tôi không chỉ dẫn tới hậu quả nghiêm trọng mà tôi còn mất hết tình cảm đồng đội, bạn bè”.

Hầu như lần nào làm nhiệm vụ lái xe “tháp tùng” bố đi dự gặp mặt hội truyền thống của đơn vị cũ, tôi cũng được nghe một bác nguyên là trung đoàn trưởng nói với bố tôi như vậy.

Chuyện là, thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, bố tôi là trợ lý tác chiến trung đoàn. Thấy đồng chí trung đoàn trưởng nóng tính, “quân phiệt miệng”, thường xuyên quát mắng cấp dưới khiến anh em vừa sợ vừa không hài lòng nên trong các cuộc họp chẳng ai ý kiến gì, nhưng khi ra ngoài thì xì xào với nhau; sau hai lần chân thành góp ý nhưng bị trung đoàn trưởng gạt phăng, bố tôi đã định “mặc kệ”. Nhưng một hôm, nghe các tiểu đoàn trưởng và sĩ quan tham mưu bàn tán rằng phương án tác chiến do trung đoàn trưởng quyết định không hợp lý, dễ bị thất bại, bố tôi cũng thấy như vậy nên quyết định phải ý kiến với thủ trưởng.

“Được nhận” những lời khó nghe, bố tôi ức chảy nước mắt, chạy về hầm. Không thể để một quyết định nặng tính chủ quan, sai lầm có thể dẫn đến “nướng quân”, bố tôi quyết tâm viết thư gửi trung đoàn trưởng. Lá thư đó rất dài, ngoài nêu những bất hợp lý của phương án tác chiến còn góp ý riêng với thủ trưởng cần bỏ tính gia trưởng, “quân phiệt miệng” khiến cấp dưới ức chế và không thể phát huy dân chủ trong đơn vị, thậm chí cán bộ, chiến sĩ chán nản... Cuối thư, bố tôi mạnh dạn viết: Nếu trung đoàn trưởng không tiếp thu phê bình và chỉnh sửa thì tôi sẽ viết thư gửi chỉ huy sư đoàn. Còn nếu tôi sai thì tôi xin hoàn toàn chịu kỷ luật!

Thật may, lá thư này đã khiến đồng chí trung đoàn trưởng thay đổi. Ông gọi bố tôi lên nói lời cảm ơn...

“Phê bình cho đúng để trị bệnh cứu người” là tư tưởng có tính nhân văn rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người chỉ rõ: Khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình giống như uống thuốc. Nếu sợ phê bình thì cũng khác nào có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. Như vậy thì bệnh tình lại càng nặng thêm. Do vậy, đối với đảng viên, cán bộ mà nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc thì khác nào thấy đồng chí mình ốm mà không chữa cho họ... Biết người ta sai mà không nói cho người ta sửa tức là hại người. Tự phê bình và phê bình phải xuất phát từ tình đồng chí, thương yêu lẫn nhau. Càng yêu thương thì càng phải thẳng thắn phê bình, có như vậy mới thực sự giúp nhau tiến bộ.

Cổ nhân cũng đã đúc rút: Những người chân thành, mạnh dạn phê bình bạn chính là người bạn tốt và điều gì xuất phát từ trái tim sẽ đi tới được trái tim. Ngược lại, những ai biết rõ bạn đang làm sai mà không khuyên can thì đó chính là người xấu.

Có thể khẳng định, việc chân thành, thẳng thắn phê bình, góp ý không chỉ là yêu cầu có tính nguyên tắc trong sinh hoạt đảng và các tổ chức thuộc hệ thống chính trị mà còn thể hiện tình người sâu sắc, nhân văn. Việc biết đồng chí, đồng đội đang mắc khuyết điểm, lầm đường lạc lối mà vẫn “mũ ni che tai” chính là làm hại tổ chức và đồng chí, đồng đội. “Tội” này cần phải kiên quyết đấu tranh, phê phán, cả trong công tác và trong cuộc sống đời thường.

Trân quý sự đùm bọc của nhân dân và tình yêu thương đồng đội

 

Trân quý sự đùm bọc của nhân dân và tình yêu thương đồng đội

Tình yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ, che chở của nhân dân và sự sẻ chia, đồng cam, cộng khổ, sẵn sàng hy sinh tính mạng vì đồng chí, đồng đội là hai trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cả trong chiến đấu và giữa thời bình. Trung tướng Phùng Khắc Đăng, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nguyên Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã chia sẻ về những ký ức xoay quanh hai đặc trưng trên.

“Chúng con sống được là nhờ nhân dân che chở...”

Cuối tháng 12-1965, sau những ngày băng rừng, vượt suối, đơn vị chúng tôi trú quân ở khu vực rừng phía Tây Quảng Nam-Đà Nẵng. Anh em chia nhau làm lán trại và bắt đầu làm quen với cuộc sống chiến trường. Một tuần sau, chỉ huy đơn vị cử tôi cùng một số đồng chí xuống vùng Đại Lộc (Quảng Nam) nắm tình hình và lấy gạo. Đây là lần đầu tiên những anh bộ đội miền Bắc của đơn vị tiếp xúc trực tiếp với đồng bào miền Nam Trung Bộ.

Buổi sáng tháng cuối năm, trời se lạnh, nghe tin bộ đội miền Bắc về làng, bà con ùa đến xem. Người thì đứng từ xa nhìn, người cầm tay sờ nắn. Có má phấn khởi nói với chúng tôi: “Kẻ địch tuyên truyền 8 thằng Việt Cộng đu một cọng đu đủ không gãy. Nay má nhìn đứa nào cũng cao to, đẹp trai thế này, vậy là bọn nó tuyên truyền sai”. Nói rồi má rưng rưng: “Má thương các con! Vì kẻ thù phá hoại hiệp định nên các con còn trẻ phải vào Nam đánh giặc”.

Cả ngày hôm ấy, bà con hỏi chuyện gia đình, chuyện quê hương ngoài Bắc. Cuối chiều, khi chia tay về đơn vị, nhân dân cho gạo, có mẹ còn gói vào lá chuối cho chúng tôi một bát đường đen để về đơn vị ăn cùng anh em. Khi ấy, chị Minh (chừng ngoài 40 tuổi) là cán bộ địa phương mới luận mấy vần thơ: “Các con ăn miếng đường đen/ Đường tình, đường nghĩa, đường quen buổi đầu”.

Buổi gặp ấy khiến chúng tôi vô cùng xúc động, lần đầu tiên gặp mặt nhưng nhân dân rất quý mến, yêu thương bộ đội như những người thân trong gia đình.

Một lần khác xuống địa bàn, nếu như không có nhân dân báo tin, che chở thì chúng tôi không còn sống để tiếp tục chiến đấu và trở về. Đó là lần tổ chúng tôi gồm 4 anh em được giao nhiệm vụ xuống một xã thuộc huyện Hòa Vang (Đà Nẵng ngày nay) để trinh sát trận địa và xác định nơi cất giấu vũ khí. Khi chúng tôi vừa đến làng thì địch càn vào. Nhân dân khẩn trương chia 4 anh em xuống hầm bí mật. Tôi và một đồng chí du kích địa phương ở hầm gần sông. Trong hầm, nước ngập đến ngang hông. Ngày thứ nhất trôi qua, chúng tôi đứng ngâm mình trong nước, chân tay lạnh cóng, co rúm lại. Sang ngày thứ hai thì chân tay tôi gần như mất cảm giác. May thay, cuối ngày nghe bà con nói vọng đến: Trâu về chuồng rồi!

Biết là địch đã rút quân, tôi muốn đẩy nắp hầm để vươn lên nhưng tay không thể nào cử động được. Bà con biết, vội kéo hai anh em lên. Lúc này, có một em gái đưa cho chúng tôi lọ dầu nhỏ và hai bộ quần áo khô, nói: “Ba em dặn các anh bôi dầu vào người cho cơ thể ấm lại, rồi ra sông tắm, thay quần áo cho đỡ lạnh. Xong về nhà em ăn bát cháo nóng, ba đã chuẩn bị sẵn”.

Chao ôi! Chúng tôi không ai kìm được xúc động trước sự giúp đỡ và chăm sóc ân tình của nhân dân. Ngày chia tay về đơn vị, tôi nói: “Chúng con sống được là nhờ nhân dân che chở. Ân nghĩa này chưa biết khi nào các con mới báo đáp được”.

Sẵn sàng hy sinh tính mạng vì đồng đội 

Vào cuối năm 1969, đầu năm 1970, đơn vị chúng tôi chứng kiến một trận đói kéo dài, khi địch tiến hành cô lập, kiểm soát chặt mọi nẻo đường liên hệ giữa bộ đội với nhân dân. Đơn vị tôi ở trong rừng, hết lương thực, anh em phải chia nhau từng tổ 3 người đi vào rừng, ra bờ suối kiếm ăn. Thời gian đầu, những cây môn thục, môn rác (như cây khoai nước ngoài miền Bắc), cây lá mắt nai (có lá giống mắt con nai) còn nhiều nhưng chỉ thời gian sau, việc tìm kiếm chúng trở nên khan hiếm vô cùng. Nhiều anh em hy sinh vì đói!

Trong hoàn cảnh ấy, lúc đó tôi là Chính trị viên Đại đội 11, Tiểu đoàn 575, Quân khu 5 bàn với đồng chí Nguyễn Duy Chiến, Đại đội trưởng Đại đội 11: "Chúng ta phải cử người xuyên rừng, xuống dân để lấy gạo, cứu đói cho anh em, không thì nguy cấp!".

Chúng tôi gọi đồng chí Nga là chiến sĩ liên lạc của đơn vị (vốn là người rất nhanh nhẹn và thông thạo địa hình), hỏi: "Đồng chí có dám xuyên rừng về dưới dân lấy gạo không?". Nga nói không một chút đắn đo: "Để em đi! Không thì anh em chết đói hết".

Đại đội còn vài bơ gạo, anh em quyết định nấu cho Nga một bơ mang theo, cùng một khẩu AK báng gấp. Nga rời đơn vị đi về hướng đồng bằng.

Thường thì anh em đi xuống dân một ngày là về. Thế nhưng, một ngày lặng lẽ trôi qua, không thấy Nga về. Ngày thứ hai cũng lặng lẽ trôi qua. Anh em đơn vị không còn hy vọng chờ đợi và xác định: Nga hy sinh rồi!

Nhưng một phép màu nhiệm đã xảy ra. Ngày thứ ba, cả đơn vị như vỡ òa trong niềm vui khôn xiết khi thấy Nga trở về, trên lưng gùi theo một bao thóc. Ai cũng xúm lại hỏi chuyện, nghỉ ngơi một chút, Nga nói: "Em bắt được liên lạc với dân. Bà con cho một bao thóc. Lúc về, dân làng nấu cho em hai nắm cơm to. Em ăn hết một nắm, còn một để dành cho các anh em đây!".

Nga bỏ nắm cơm ra thì đã lên mùi chua do băng rừng hơn một ngày trời trong nắng nóng. Thế nhưng, ai cũng không cầm được nước mắt! Thương đồng đội, cảm phục đồng đội!

Ngày hôm đó, đơn vị tổ chức giã thóc, gạo thì để dành. Phần cám gạo và cả nắm cơm chua Nga đem về, anh em bỏ hết vào nấu với rau môn (như cám lợn)! Anh em mỗi người một bát, húp hì hụp, bữa “cháo cám lợn” giữa những ngày đói quay đói quắt, hạnh phúc biết nhường nào!

Gìn giữ và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

Tôi kể một vài câu chuyện trong kháng chiến đã minh chứng cho một điều, dù trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ thế nào, truyền thống quý báu gắn bó với nhân dân, tình thương yêu đồng chí, đồng đội vẫn luôn được bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam gìn giữ, phát huy.

Ngày nay, nhiều người cho rằng: Trong thời bình, tình cảm ấy không còn thiêng liêng như những năm trong kháng chiến nữa. Đó là cái nhìn lệch chuẩn!

Trước hết, phải khẳng định rằng: Bản chất, truyền thống quý báu của Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân ngày nay giữ vững và phát huy tốt. Điều đó được biểu hiện qua những hành động cụ thể, đó là: Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ dầm mình trong mưa lũ, thậm chí hy sinh cả tính mạng để cứu giúp nhân dân; bộ đội hóa học tham gia làm sạch môi trường; bộ đội nhận đỡ đầu các em nhỏ hoàn cảnh khó khăn; hàng vạn cán bộ, chiến sĩ ra rừng làm lán trại nghỉ, nhường nơi ở để nhân dân đến cách ly; tham gia cứu chữa, vận chuyển lương thực, thực phẩm giúp nhân dân các địa phương trong phòng, chống dịch Covid-19... Trên thế giới, hình ảnh những chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc với nhiều hoạt động ý nghĩa như: Khám bệnh cho nhân dân, hướng dẫn người dân nơi phái bộ đóng quân tăng gia, sản xuất; mỗi khi có phái bộ nào đi qua, thấy trên xe gắn cờ Việt Nam nhân dân chào đón rất nồng nhiệt.... Hình ảnh ấy đẹp quá! Cao quý quá!

Trong thời bình, cán bộ, chiến sĩ trên dưới một lòng, cùng nhau ra sức học tập, luyện rèn thành thục các phương án sẵn sàng chiến đấu, không để Tổ quốc bất ngờ trong mọi hoàn cảnh; đồng cam, cộng khổ, sẻ chia khó khăn để cùng nhau canh giữ từng tấc đất biên cương của Tổ quốc; chắc tay súng giữ vững vùng biển, vùng trời của đất nước.

Tất cả đã nói lên sự kế tục xứng đáng của thế hệ hôm nay với truyền thống và những phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ.

Để những phẩm chất tiếp tục được bồi đắp, phát huy hơn nữa, ở mỗi thời kỳ, dù có những hoàn cảnh và yêu cầu khác nhau nhưng có những điều mà chúng ta không được phép bỏ qua, đó là:

Việc giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ phải được chú trọng. Trong đó, cần nghiên cứu đổi mới hình thức giáo dục sao cho hấp dẫn, để bộ đội nắm được và tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc, của Đảng ta, Quân đội ta và nhân dân ta; về truyền thống gắn bó mật thiết với nhân dân; về tinh thần đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau như ruột thịt, cùng sẻ chia gian khó, thậm chí hy sinh cả mạng sống để bảo vệ nhau của những quân nhân cách mạng...

Trong giáo dục, chú trọng giáo dục về kỷ luật và pháp luật cho mọi cán bộ, chiến sĩ. “Kỷ luật là sức mạnh của quân đội” trong bất luận hoàn cảnh nào. Từ đó, đặt ra yêu cầu cho đội ngũ cán bộ các cấp vừa phải gương mẫu chấp hành điều lệnh, điều lệ, các quy định của pháp luật, vừa phải nêu cao tình thương, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Quân đội là một xã hội thu nhỏ, cũng chịu nhiều tác động của mặt trái xã hội, nhưng Quân đội ta là một tổ chức chặt chẽ. Vì vậy, chúng ta có điều kiện để hạn chế thấp nhất những tiêu cực, vi phạm kỷ luật, pháp luật. Ở đâu duy trì nghiêm túc các chế độ, nền nếp thì ở đó sẽ hạn chế mức thấp nhất tình hình vi phạm kỷ luật và ngược lại, nơi nào, cấp nào buông lỏng quản lý thì số vụ việc vi phạm sẽ tăng lên.

Mặt khác, cần chú trọng giải quyết hài hòa giữa chính trị, tư tưởng, tổ chức và chính sách, đặc biệt là chính sách. Đây là một vấn đề lớn, cần nghiên cứu thấu đáo nhưng tựu trung: Việc giải quyết chính sách làm sao chú trọng cả vật chất lẫn tinh thần, để chính sách thực sự tạo động lực, niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ cống hiến, yên tâm gắn bó với đơn vị.

Làm tốt những điều trên thì nhân dân càng thêm yêu mến, gắn bó mật thiết với quân đội; tình đoàn kết, yêu thương đồng chí, đồng đội ngày càng thêm bền chặt. Qua đó, tiếp tục giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp, danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

Nêu cao trách nhiệm, không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng

Nêu cao trách nhiệm, không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng

Một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được nêu trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (sau đây gọi là Nghị quyết 847) đó là “có đạo đức cách mạng trong sáng”.

Đây vừa là phẩm chất, vừa là nền tảng cơ bản của người quân nhân cách mạng. 

Đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực về cách ứng xử của con người trong các quan hệ xã hội; là giá trị cốt lõi tạo nên phẩm chất của nhân cách con người. Theo nghĩa đó, giá trị cốt lõi tạo nên phẩm chất của nhân cách một người quân nhân cách mạng là phải có đạo đức cách mạng trong sáng. 

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên là gốc của mọi công việc và đạo đức là “gốc của người cách mạng”. Người chỉ rõ: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Theo Người, có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Khi cần thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Có đạo đức cách mạng thì gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác khiêm tốn; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa...

Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đạo đức cách mạng được biểu hiện cụ thể là trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân. Đây là biểu hiện cao nhất ý thức đạo đức của người đảng viên nói chung, nhất là với cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam nói riêng. Đó còn là cơ sở để định hướng nhận thức và hành động, tạo thành niềm tin vững chắc và sức mạnh to lớn để mỗi đảng viên, mỗi người quân nhân cách mạng luôn hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Sinh thời, Bác thường căn dặn bộ đội không bao giờ được tơ hào từ cái kim, sợi chỉ của nhân dân và phải kính yêu dân, tôn trọng dân, bảo vệ dân. Đối với cán bộ, tướng lĩnh cấp cao, Người nhắc nhở: “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là: Phải: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”, đây vừa là mục tiêu để rèn luyện, tu dưỡng, vừa là phẩm chất đặc trưng nhất của người đảng viên là lãnh đạo trong quân đội...


Trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, Quân đội ta và lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam luôn gìn giữ, phát huy, không ngừng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng để luôn xứng đáng với lời khen tặng của Bác Hồ và danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ. Đúng như lời khẳng định của đồng chí Phan Văn Mãi, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh: “Bộ đội đánh giặc, bộ đội giúp dân chống thiên tai, bão lũ và vừa qua là bộ đội giúp dân phòng, chống, vượt qua đại dịch. Trong đại dịch, bộ đội không chỉ chiến đấu bằng mệnh lệnh của người chỉ huy mà còn bằng mệnh lệnh của trái tim, lúc người dân khó, người dân khổ, người dân đau bệnh, người dân đối diện với sống chết và lo cho người dân khi không may mất đi. Lịch sử quân đội có thêm những trang mới rất đáng tự hào về bộ đội giúp dân chống dịch, một hình ảnh sáng đẹp của anh Bộ đội Cụ Hồ”... 
Nghiên cứu Nghị quyết 847, chúng ta thấy rằng ngay phần đầu, nghị quyết đã khẳng định: “...trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, quân đội ta cũng tuyệt đối trung thành với Đảng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” và danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ mà nhân dân tin tưởng, yêu mến dành tặng”.

Mặc dù vậy, cần thẳng thắn nhìn nhận, trong những năm gần đây, tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường ngày càng gay gắt, sự chống phá của các thế lực thù địch, sự cám dỗ của lợi ích vật chất khiến cho một bộ phận cán bộ, đảng viên trong quân đội sa vào chủ nghĩa cá nhân, bị thoái hóa, biến chất. Không ít người, dù khó khăn, gian khổ, hy sinh xương máu cũng không sờn lòng, nhưng lại bị gục ngã trước những “viên đạn bọc đường”. Một số khác vì thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng mà dẫn tới hủ hóa, chỉ lo mưu cầu, vun vén cho lợi ích cá nhân. Đau xót hơn, “có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ” như Nghị quyết 847 đã chỉ rõ.

Có thể khẳng định sâu sắc, lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ chính là biểu hiện cao nhất, rõ nét nhất đạo đức cách mạng của người quân nhân. Với những ý nghĩa sâu sắc đó, việc không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ QĐND Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm xây dựng đội ngũ đảng viên trong quân đội thật sự mẫu mực, tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, năng lực; góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. 

Trong thời gian tới, nhiệm vụ xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu ngày càng cao. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tăng cường chống phá, xuyên tạc truyền thống quân đội và hình ảnh, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Để xây dựng Đảng bộ Quân đội, các cấp ủy, tổ chức đảng thực sự trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị thì mỗi người quân nhân cách mạng cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần nhận thức sâu sắc rằng “cần, kiệm, liêm, chính” là đạo đức của người quân nhân cách mạng; mỗi người phải tự mình rèn luyện toàn diện các phẩm chất đạo đức của người quân nhân cách mạng, xứng đáng với niềm tin yêu, sự kỳ vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Quân đội ta...

Từ nhận thức đúng đắn đó, cán bộ, chiến sĩ toàn quân cần ra sức thi đua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh từ trong công việc đến sinh hoạt hằng ngày. Cần đặc biệt coi trọng hoạt động tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức cách mạng cho bản thân vì đây là biện pháp có ý nghĩa quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành, phát triển đạo đức cách mạng. Thực tiễn cho thấy, đơn vị nào đề cao vai trò tiền phong gương mẫu, tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thì ở đó chất lượng tư tưởng chính trị của người đảng viên được giữ vững, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh và đơn vị vững mạnh toàn diện.

Công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội là yêu cầu khách quan, cấp thiết, là nhiệm vụ chính trị quan trọng của các cấp ủy đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên nhằm tiếp tục tô thắm phẩm chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới.

Hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

 

Hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Một trong những đặc trưng cơ bản về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được nêu trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương là: “Có đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy”.

Qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, phẩm chất cao đẹp ấy vẫn luôn được các cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta gìn giữ, phát huy, dù thời chiến hay thời bình.

1. Hơn 50 năm trước, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang bước vào giai đoạn ác liệt, có một tấm gương tiêu biểu, được ví như “Pavel Corsaghin” (nhân vật trong tiểu thuyết "Thép đã tôi thế đấy") của thanh niên miền Bắc. Đó là tấm gương liệt sĩ Vương Đình Cung, “cậu ấm” duy nhất của Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên Lê Quý Quỳnh (tức Vương Văn Thành).


Có một điểm chung trong mỗi câu chuyện kể từ các đồng đội của liệt sĩ Vương Đình Cung, đó là chuyện về những lần Vương Đình Cung thiết tha trình bày nguyện vọng được ở lại đơn vị chiến đấu mỗi khi cấp trên gợi ý cử anh đi học; rồi những hôm anh lo tới mất ăn mất ngủ khi biết cấp trên muốn điều động anh về tuyến sau, bởi ngay từ khi nhập ngũ, Vương Đình Cung đã luôn xác định: “Vào Nam để ra trận”. Trong một lá thư viết cho em gái, Vương Đình Cung đã trích câu nói của nhân vật Pavel Corsaghin trong tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy”: “Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí”; rồi căn dặn em: “Đời bộ đội quá gian nan, nhưng gian nan bao nhiêu anh cũng chịu đựng và vượt qua được. Em còn bé nhưng rèn luyện cho mình là vừa, có thế ta mới sống một cách có ích...”. Ngày 7-5-1970, trong một trận chiến đấu quyết liệt với quân địch, Vương Đình Cung đã anh dũng hy sinh.
Những người thân trong gia đình liệt sĩ Vương Đình Cung kể rằng: Trong lúc quân đội chưa có chủ trương huy động sinh viên ra trận, năm 1965, khi đang học năm thứ nhất Trường Đại học Nông nghiệp (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam), Vương Đình Cung đã viết thư, tha thiết nhờ bố cho mình về quê để nhập ngũ: “Bố ạ, con sẽ đi bộ đội vì nguyện vọng của con là trở thành một chiến sĩ cách mạng. Con biết đi là gian khổ, nhưng chắc bố chẳng bao giờ ngăn con. Ở đây họ chưa tuyển bộ đội, bố cho con về dưới ấy để con đi. Bây giờ chỉ có bố là cho con đi được thôi. Bố nói với các chú Tỉnh đội tuyển con vào nhé! Con thích đi lắm rồi, con thiết tha mong bố cho con vào quân đội...”. Trước nguyện vọng tha thiết ấy, Bí thư Tỉnh ủy Lê Quý Quỳnh đã đồng ý cho cậu con trai duy nhất nhập ngũ vào Tiểu đoàn Bãi Sậy, một đơn vị của Tỉnh đội Hưng Yên, khi đó đang chuẩn bị hành quân vào chiến trường miền Nam. Được biết, ngay từ nhỏ, dù bố là Bí thư Tỉnh ủy, nhưng không bao giờ Vương Đình Cung ỷ thế bố. Lá thư đề đạt nguyện vọng “cho con về dưới ấy để nhập ngũ” chính là lần duy nhất Vương Đình Cung phải nhờ vào “uy” bố...

Ngay sau ngày Vương Đình Cung hy sinh, Trung ương Đoàn đã phát động một phong trào học tập, noi theo liệt sĩ Vương Đình Cung cùng câu nói nổi tiếng: “Vào Nam để ra trận” của anh. Năm 2014, liệt sĩ Vương Đình Cung được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. 

Anh hùng, liệt sĩ Vương Đình Cung là một trong số rất nhiều sinh viên đã rời ghế giảng đường đại học để thực hiện ước muốn nhập ngũ, lên đường vào Nam chiến đấu. Khi mang trên mình màu xanh áo lính, họ luôn phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, giữ gìn đạo đức trong sáng, đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy, sẵn sàng “vì nhân dân quên mình”. Đó cũng là một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mà nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội đã và đang gìn giữ, phát huy.

2. Trong thế kỷ 21, thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với các quốc gia. Hậu quả do những thách thức an ninh phi truyền thống gây ra có khi còn thiệt hại nặng nề, nghiêm trọng hơn những thách thức an ninh truyền thống. Tác động trực tiếp nhất đối với nước ta thời gian gần đây là đại dịch Covid-19. 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ cùng sự nỗ lực, đồng thuận của toàn dân, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân, chúng ta đã phòng, chống, khắc phục kịp thời, hiệu quả thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội. Trong thành quả chung đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân đánh giá cao những nỗ lực to lớn của các cán bộ, chiến sĩ quân đội. Cùng với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, quân đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đã phát huy tốt vai trò xung kích, nòng cốt, kịp thời có mặt ở những nơi xung yếu, khó khăn, không quản ngại gian khổ, hy sinh, phối hợp xử lý có hiệu quả các tình huống, khẳng định vai trò, chức năng của “đội quân chiến đấu”, “đội quân công tác”, “đội quân lao động sản xuất”. 

Đã từng có câu hỏi đặt ra: “Bộ đội thời bình sướng hay khổ?”. Tìm đáp án cho câu hỏi ấy, chúng tôi không vội gặp những người lính trong quân ngũ mà tới hỏi chuyện những người vợ của các sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đang công tác xa nhà. Các chị bộc bạch rằng, có dịp đến thăm chồng ở đơn vị mới thấy công việc của chồng còn bận hơn cả công nhân ở các công ty da giày, may mặc... Bởi theo chức trách, nhiệm vụ, họ phải làm việc liên tục từ sáng sớm đến tối muộn, nếu là cán bộ trung đội thì phải quản lý trực tiếp chiến sĩ, “cùng ăn, cùng ở, cùng học tập, huấn luyện” với chiến sĩ. Vì thế mà dù nhà gần hay xa đơn vị thì họ cũng không dễ có điều kiện về nhà ăn cơm, ngủ nghỉ cùng vợ con... Bố mẹ công tác xa, những đứa trẻ cũng chịu không ít thiệt thòi so với các bạn cùng trang lứa. Một anh bạn sĩ quan công tác xa nhà tâm sự, lâu lâu có dịp về thăm gia đình, khi đưa các con đi chơi ở siêu thị, khu mua sắm, thấy các con xem cái gì cũng rụt rè, lạ lẫm, không hào hứng như các bạn cùng tuổi. Thì ra ở nhà, vắng chồng nên vợ anh luôn đầu tắt mặt tối, không có thời gian dứt ra khỏi công việc nội trợ, chăm sóc con cái để đưa chúng đi “giải ngố” ở những khu vui chơi sầm uất, hiện đại, cho dù nhà không quá xa trung tâm thành phố. “Mỗi lần về, dẫn các con đi chơi, đi ăn những đồ ngon vật lạ để bù đắp cho những tháng ngày xa bố, vợ tôi lại trách: Bố cứ chiều thế dễ làm các con hư”, anh bạn sĩ quan kể chuyện, cười vui mà khóe mắt rưng rưng...

Những câu chuyện trên cho thấy, có bao điều giản dị, đời thường như việc sinh hoạt, sum vầy vẫn hằng ngày diễn ra trong mỗi gia đình, nhưng với không ít quân nhân thì sự bình dị ấy lại có phần trở nên “xa xỉ”. Chuyện sum họp đối với nhiều gia đình quân nhân càng khó khăn hơn trong những năm qua, khi đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các cán bộ, chiến sĩ quân đội đã không ngại hiểm nguy, gác lại nỗi niềm riêng tư để thực hiện trách nhiệm phụng sự nhân dân, mang sứ mệnh màu xanh áo lính đi giữa màu đỏ của tâm dịch để cùng đồng bào vượt qua khó khăn, thử thách...

Trong phòng, chống đại dịch Covid-19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, người dân đã gặp hình ảnh các cán bộ, sĩ quan quân đội luôn tiên phong, đồng hành, sẻ chia gian khổ với chiến sĩ và nhân dân ở những nơi nguy hiểm, khó khăn nhất; người dân cũng chứng kiến hình ảnh một sĩ quan ở Ban CHQS TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh) nhận đỡ đầu 3 trẻ mồ côi, bởi tim anh đã nhói đau và nhòe nước mắt khi nghe các bé bày tỏ mong muốn được gọi anh là ba; hình ảnh buổi lễ tôn vinh các lực lượng chi viện TP Hồ Chí Minh chống dịch, nơi mà nước mắt đã rơi trên gương mặt các đại biểu dự lễ, thấm ướt cả khẩu trang... 

Phát biểu trong Chương trình "Nghĩa tình quân dân" (tháng 12-2021), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh: “Những người con của nhân dân mang sứ mệnh màu xanh áo lính đã đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người, cần mẫn hướng dẫn nhân dân phòng, chống dịch; đi chợ; thu hoạch nông sản; phục vụ trong khu cách ly; canh gác các chốt kiểm dịch; cứu chữa người bệnh; chăm sóc em bé mồ côi; mai táng đồng bào tử vong do dịch bệnh bằng tất cả tấm lòng và trái tim chan chứa tình người. Kể sao hết được những người cha, người mẹ suốt mấy tháng trời chỉ nghe thấy tiếng, chỉ nhìn thấy mặt con yêu thương qua điện thoại; không ít cán bộ, chiến sĩ đã không thể về đưa tiễn người thân đến nơi an nghỉ cuối cùng. Họ cũng sẵn sàng hoãn cưới vợ, cưới chồng, cưới con; không thể ở nhà lúc vợ trở dạ, sinh con... để hoàn thành mọi trọng trách mà nhân dân giao phó". 

Đó chính là sự ghi nhận xứng đáng, sự đánh giá khách quan của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đúng với bản chất, truyền thống của Quân đội ta. 

Trải qua các cuộc kháng chiến, nhiều người con đã hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; đã dũng cảm chiến đấu, xả thân, sẵn sàng “vì nhân dân quên mình”. Tiếp nối trách nhiệm, nghĩa vụ cao cả ấy, trong thời bình, Bộ đội Cụ Hồ đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vùng biển, vùng trời, vùng đất thiêng liêng của Tổ quốc, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... và làm nghĩa vụ quốc tế. Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, mỗi cán bộ, chiến sĩ đã và đang tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, để trong gian khó, nguy nan, quân đội tiếp tục là chỗ dựa tin cậy của nhân dân, góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. 

Thiêng liêng như tình đồng đội

Trên chiến hào cùng nhau “chia lửa”, lúc khó khăn cùng giúp đỡ sẻ chia, trong hoạn nạn quên mình cứu đồng đội, trong vinh quang cùng chia ngọt sẻ bùi, chiến đấu vì dân, quên mình vì Tổ quốc. Đó là những phẩm chất cao đẹp nhất của Bộ đội Cụ Hồ - những người lính thời đại Hồ Chí Minh chiến đấu quên mình trong thời chiến, lặng lẽ hy sinh trong thời bình.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự cưu mang, đùm bọc của nhân dân, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã chung sức đồng lòng dựng xây nên những giá trị văn hóa quân sự tốt đẹp trong đời sống tinh thần của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiêu biểu trong đó là tình cảm đồng chí, đồng đội thiêng liêng, gắn bó, đây cũng là thành tố cơ bản trong các phẩm chất tạo thành giá trị văn hóa của danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ.

Về bản chất, tình cảm đồng chí, đồng đội phản ánh mối quan hệ của những người cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Yêu thương đồng chí, đồng đội phản ánh các mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa những người đồng cấp, giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa chiến sĩ với chiến sĩ, thể hiện sâu sắc tình đồng chí, đồng đội giữa các quân nhân trong quân đội cách mạng, quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh mối quan hệ gắn bó giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa cán bộ với đội viên. Bác căn dặn: “Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”. Theo Người: “Cán bộ phải thương yêu săn sóc đội viên. Cán bộ phải chăm lo đội viên đủ ăn đủ mặc. Cán bộ có coi đội viên như chân như tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”. Khắc sâu lời dạy của Người, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, tình thương yêu đồng chí, đồng đội đã là cơ sở để cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta thực sự gắn bó với nhau như anh em ruột thịt. Đó là tấm lòng sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho nhau, nhường viên thuốc lúc đau ốm, sẵn sàng nhận về mình những hy sinh mất mát thay cho đồng đội... Trải qua hai cuộc kháng chiến, từ khi quân đội còn thiếu thốn, ăn còn đói, mặc còn thiếu cho đến thời bình, tình cảm đồng chí, đồng đội thiêng liêng luôn là nét đẹp riêng có ở những người lính Bộ đội Cụ Hồ.
Tình cảm thiêng liêng đó được thể hiện ở tinh thần thương yêu giai cấp, cùng chung hệ tư tưởng cách mạng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Những người lính Cụ Hồ luôn gắn bó với nhau như anh em ruột thịt, “đồng cam, cộng khổ”, “chia ngọt, sẻ bùi”, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, trưởng thành. Phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội trong Quân đội ta được thể hiện ở tinh thần cùng nhau khắc phục khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trong điều kiện hòa bình xây dựng cũng như trong điều kiện chiến tranh, lúc thường cũng như lúc ra trận.

Trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước phồn vinh, giàu mạnh hôm nay, trước âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch đang hòng lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam là một trọng điểm, trước diễn biến phức tạp của Biển Đông liên tục có những động thái khó lường, trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, nhiệm vụ của người lính Cụ Hồ trên mọi miền Tổ quốc càng trọng trách, nặng nề.Chúng ta có quyền tự hào bởi trong lịch sử quân sự nhân loại, hiếm có quân đội của quốc gia nào như Quân đội nhân dân Việt Nam lại được nhân dân mến yêu tặng cho danh hiệu bình dị mà cao quý: Bộ đội Cụ Hồ. Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ đã hội tụ những phẩm chất đạo đức, văn hóa tốt đẹp của con người Việt Nam thời đại mới. Đây cũng là một nét văn hóa quân sự đặc trưng, tiêu biểu, góp phần làm giàu thêm những giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam trong gần 78 năm qua. Danh hiệu đó không những là tài sản văn hóa tinh thần vô giá do nhân dân yêu mến, trao tặng, gửi gắm niềm tin yêu đối với lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta mà còn là chuẩn mực đạo đức nhân cách người quân nhân cách mạng, là hình mẫu để các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trẻ và thanh niên cả nước hôm nay và mai sau học tập, noi theo.


Đứng trước sự “tàn khốc” của Covid-19 hiện nay, qua “cuộc chiến chống giặc Covid-19”, có thể khẳng định rằng, trên khắp nẻo đường của Tổ quốc Việt Nam, ở đâu có nhân dân, ở đó có dấu chân bộ đội. Càng những nơi khó khăn gian khổ như biên cương, đảo xa, biển vắng, tình đồng chí đồng đội càng bền vững, gắn kết, keo sơn.
Để đất liền yên bình, những người lính nơi biên cương hải đảo đang ngày đêm đối mặt với bão tố cuồng phong để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc và ngăn chặn những người nhập cư trái phép, hàng ngàn chiến sĩ biên phòng trắng đêm luồn rừng, xuyên núi, lội suối, vượt đèo. Chân các anh rớm máu vì núi đá tai bèo; tóc các anh thêm bạc vì mưa rừng gió núi. Bát cơm giữa mưa rừng chưa đủ no, chiếc áo bông giữa khe núi chưa đủ ấm, thế nhưng các anh vẫn kiên cường bám bản, dũng cảm chốt rừng, ngăn chặn dịch Covid-19 xâm nhập từ bên kia biên giới.

Trong chiến lược kiến thiết nước Việt qua giai đoạn mới này, Bộ đội Cụ Hồ là lực lượng chủ lực bảo vệ Tổ quốc yên bình, tình đồng đội của người lính càng thiêng liêng chưa bao giờ vơi cạn. Thế hệ cha anh đã qua thời binh đao hoa lửa, thế hệ cán bộ chiến sĩ hôm nay và mai sau, sẽ mãi giữ vững phẩm chất cao quý danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ, sẽ mãi lưu giữ, kế truyền tình đồng đội thiêng liêng vốn có của nó.