Thứ Tư, 18 tháng 5, 2022
VỀ QUAN ĐIỂM "ĐẢNG TA LÀ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN"!
VẬN ĐỘNG VIÊN ĐỔ MỒ HÔI MANG VINH QUANG VỀ CHO TỔ QUỐC CÒN CỔ ĐỘNG VIÊN THÌ BĨU MÔI “AO LÀNG”!
NHỮNG LÃNH TỤ VĨ ĐẠI CỦA PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ CỘNG SẢN QUỐC TẾ
1. V. I. Lênin (1870 - 1924)
Vladimir Ilyich Lenin là một lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Các Mác và Phriđơrich Ăngghen. Ông là người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng tháng Mười Nga, thành lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo (7/11/1917). Ông là trong 100 người có ảnh hưởng nhất đến toàn thế giới.
2. Hồ Chí Minh (1890 - 1969)
Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.
Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành Cách mạng tháng Tám (1945), thành lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945), nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Người được UNESCO vinh danh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam", góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập ra Đảng Mácxít - Lêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập ra các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Người sáng lập ra chế độ Dân chủ Nhân Dân Việt Nam (nay là chế độ Dân Chủ XHCN Việt Nam), góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Người là tấm gương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng.
3. Fidel Castro (1926 - 2016)
Fidel Castro – vị lãnh tụ huyền thoại của Cách mạng Cuba,Fidel Castro là biểu tượng của tinh thần chiến đấu ngoan cường, là lá cờ đầu của phong trào cách mạng Mỹ La-tinh.
Ông là người giải phóng nhân dân Cuba thoát khỏi ách thống trị độc tài của Đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Baxtia. Ông là người sáng lập nên Đảng CS Cuba, Người sáng lập nên chế độ Dân chủ XHCN và Nhà nước Công nông đầu tiên ở Châu Mỹ. Ông là người bạn thân thiết của nhân dân Việt Nam, Người đã luôn ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta, cũng như cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc chống Trung Quốc và chiến tranh biên giới Tây Nam chống Khmer đỏ Campuchia xâm lược.
Fidel không cho phép dựng tượng ông ở bất cứ đâu và đặt tên đường phố theo tên ông. Ông nói rằng không muốn có một sự tôn sùng cá nhân nào. Tuy nhiên, không ai bảo ai, hình ảnh và lời nói của ông ở khắp mọi nơi, trên đường phố, tên ông được hô vang ở bất cứ sự kiện lớn nào của đất nước. Hầu hết người dân Cuba, dù yêu mến ông hay không, gọi ông với cái tên thân thiết: “Fidel”.
Tạp chí Time năm 2012 gọi Castro là 1 trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất mọi thời đại. Lãnh tụ Cuba Fidel Castro luôn là một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn, một biểu tượng về một con người kiên cường đấu tranh cho tinh thần độc lập dân tộc và vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của con người.
Ông thuộc lớp các nhà cách mạng kiệt xuất của thế giới thứ ba từng cống hiến đời mình cho lý tưởng tự do và giải phóng dân tộc như Hồ Chí Minh, Nelson Mandela, Che Guevara… Fidel đã trở thành một người anh hùng, một nguồn cổ vũ tinh thần của những dân tộc nghèo đói và bị áp bức trên thế giới.
St
NHỮNG KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC SAO PHẢI KHỔ VẬY ?
Song song với sự kiện Thủ tướng chính phủ sang dự hội nghị thượng đỉnh Asean + Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống Hoa kỳ JBD , thì tại Việt Nam SEAGAME 31 đang được nước chủ nhà tổ chức chu đáo , người dân BẮC TRUNG NAM tưng bừng hoà trong không khí với tinh thần đoàn kết , vươn cao, vì hoà bình ổn định và phát triển. trên các sân vận động nơi tổ chức môn bóng đá cờ hoa rợp trời cho dù đó là các trận đấu không phải của đội U23 Việt Nam. Những trận bóng có U23 Việt Nam thi đấu thì khán đài không còn một chỗ chống . hàng ngàn lá cờ tổ quốc tung bay trên các khán đài . người dân nắm tay nhau san sẻ từng chỗ ngồi , từng trai nước , dành cho nhau những cử chỉ thân thương nhất .
trong nước thì vậy , còn ở Hoa kỳ thì vài ba trăm người, những kẻ bất trung với tổ quốc , những kẻ chưa bao giờ đóng góp 1 cắc , 1 xu nào để xây dựng đất nước, quê hương lại rủ nhau đi biểu tình phản đối lãnh đạo Việt Nam sang thăm Hoa kỳ với những lý do lãng xẹt.
Ơ sao lại khổ thế các vị. thủ tướng nước tôi được đích Thân ông tổng thống Hợp Chủng quốc Hoa kỳ JOE BIDEN trân trọng gửi lời mời nhé và đó là khách quý của chính phủ Hoa Kỳ . còn các vị cũng chỉ là những kẻ sống nhờ, sống vả , ở Việt Nam gọi là những kẻ lang thang vô gia cư, các vị làm gì có tiếng nói . các vị làm gì có tổ quốc để mà phụng sự. Chúng tôi chào đón, mở cửa ,và tha thứ cho các vị , tạo ĐK để các vị trở về xd quê hương, nhưng chúng tôi không bao giờ chấp nhận kiểu làm của các vị ,kiểu làm của các vị giống như mấy thằng phát xít hành hung ngài đại sứ LB Nga khi họ đến đặt Hoa tại tượng đài chiến sĩ Hồng Quân .
các vị cần phải nhớ một chính trị gia của Hoa kỳ đã từng nói về những người lưu vong chống lại đất nước (( người Việt lưu vong như họ đên Tổ quốc nước họ còn phản bội thì sao có thể tin được)) các vị phải biết đó là nỗi nhục mà không bao giờ có thể rửa sạch được.
Sao mà phải khổ thế . ở nhà mà xem ti vi , vui vầy bên con cháu , gia đình , sao phải rủ nhau đi biểu tình chống phá nước nhà, chống phá tổ quốc một cách mù quáng , tuyệt vọng như vậy thì khổ lắm.
cũng nên nhắc lại cho các vị nhớ , người mỹ có lúc đã đem tới Việt Nam trên 500.000 quân, cộng cả chư hầu 100-200 ngàn nữa cũng ngót nghét cả triệu quân. với Vũ khí hiện đại bậc nhất nhì thế giới . USD (đô la) thì cả mớ mà còn phải hạ cờ rút về nước. tuy nhiên họ hơn các vị là họ chấp nhận họ là người thua cuộc trong cuộc chiến phi nghĩa đó . họ nể phục cách sống quân tử của người Việt Nam và họ đã bỏ cấm vận khi thấy đó là việc làm phi nghĩa và vô nhân đạo. còn các vị 47 năm qua các vị vẫn sống ảo giác mong có ngày ( Phục Quốc) mà không biết rằng các vị làm gì có tổ quốc mà PHỤC. hãy quay đầu và hãy chấp nhận sự thực!
GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT!
NOI GƯƠNG BÁC, TỰ SOI, TỰ SỬA
Vì sao cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự rèn, tự tu dưỡng, tự điều chỉnh, tu thân, tự vượt lên chính mình? Vì đảng viên, cán bộ trong sạch, vững mạnh thì Đảng trong sạch, vững mạnh.
💖💖💖💖💖💖💖💖
Ý NGHĨA “TỰ MÌNH”
Năm 1927, trong sách Đường cách mệnh, khi bàn về tư cách một người cách mệnh, Hồ Chí Minh đề cập 3 mối quan hệ: Tự mình phải, đối người phải, làm việc phải.
Tháng 2/1947, trong Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, Người đề cập cán bộ phải có 5 mối quan hệ: Mình đối với mình, mình đối với đồng chí mình, mình đối với công việc, đối với nhân dân, đối với đoàn thể.
Năm 1948, khi viết về Tư cách người Công an cách mệnh, Người đề cập 6 mối quan hệ: Đối với tự mình, đối với đồng sự, đối với Chính phủ, đối với nhân dân, đối với công việc, đối với địch.
Đúc kết lại, mỗi người phải xử sự, xử thế các mối quan hệ: tự mình, đối với người, đối với việc. Đáng lưu ý là trong tất cả các mối quan hệ trên dù bất cứ ở thời kỳ nào, Hồ Chí Minh đều đặt “đối với tự mình” lên trên hết. Vì sao như vậy?
Có nhiều cách cắt nghĩa, lý giải khác nhau, nhưng chắc chắn có mấy lý do cơ bản: một là, tự mình là rất khó. Tự “mổ xẻ” mình đâu có dễ. Kẻ thù ở trong mình không thể dùng lựu đạn, gươm giáo để tiêu diệt. Hai là, con người - nhất là cán bộ, đảng viên - thường mắc các chứng bệnh như tự cao tự đại, ưa người ta nịnh mình, do lòng yêu ghét của mình mà đối với người, đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Ba là, “đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái ở người ta thì trước phải biết đúng sự phải trái ở mình. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu”(1).
Khi bàn về các đức tính Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Hồ Chí Minh chỉ bảo rằng mình không Cần mà bảo người khác Cần là vô lý. Mình không Kiệm mà bảo người khác Kiệm là vô lý. Mình không Liêm mà bảo người khác Liêm là vô lý. Mình không Chính mà bảo người khác Chính là vô lý.
Về lý luận và thực tiễn, “đối với tự mình” là nói đến yếu tố chủ quan, yếu tố bên trong, còn “đối với người” là nói đến yếu tố khách quan, yếu tố bên ngoài. Triết học mácxít chỉ rõ rằng yếu tố chủ quan, yếu tố bên trong bao giờ cũng là yếu tố đóng vai trò quyết định.
Tục ngữ có câu: “Việc đời không gì khó, chỉ sợ chí không bền”. Vì vậy, đối với mọi việc, nói dễ thì dễ, nói khó thì khó. Hồ Chí Minh đúc kết: Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên.
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: Ngày 18/5
“Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng xuất lao động và không ngừng cải tiến đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi”.
Câu nói trên của Hồ Chí Minh trích trong “Bài nói tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội nghị phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam” ngày 18 tháng 5 năm 1963, bàn về mối quan hệ giữa khoa học và sản xuất.
Đây chính là phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tổ chức nghiên cứu khoa học; khoa học phải gắn với nhiệm vụ, với đời sống xã hội; khoa học phải gắn với thực tiễn, phải từ thực tiến và quay lại phục vụ chính thực tiễn và phải đáp ứng nhu cầu của sản xuất, phục vụ sản xuất, nhằm nâng cao năng suất lao động và nâng cao đời sống vật chất của nhân dân. Năng suất lao động cao thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo điều kiện xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Do vậy, trong các thời kỳ thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, Người chú trọng đề ra các chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển khoa học và kỹ thuật.
Hiện nay, đất nước ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế sâu rộng dưới sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức dần dần giữ vai trò chủ đạo, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu các thành phần kinh tế; quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của khoa học và kỹ thuật trong xây dựng chủ nghĩa xã hội càng có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc đã được Đảng ta cụ thể hóa thành các nghị quyết, đề án, chương trình; trong đó, xác định cùng với giáo dục đào tạo, thì khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu.
Thấm nhuần quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của khoa học đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, có nhiều giải pháp trong nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, khoa học quân sự. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học trong quân đội ngày càng được phát triển cả về số lượng và chất lượng, được đào tạo cơ bản ở trong nước và nước ngoài, tâm huyết, yêu nghề. Các phong trào: “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật”, “Tuổi trẻ Quân đội tiến quân vào khoa học công nghệ”… được đông đảo cán bộ, chiến sĩ toàn quân hưởng ứng thực hiện, ngày càng xuất hiện nhiều công trình, đề tài khoa học, sáng kiến có giá trị cao, được ứng dụng có hiệu quả trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và đóng góp góp vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, được dư luận ghi nhận, đánh giá cao, thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng quân đội từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH THẤM ĐẬM TÌNH QUÊ
Quê hương, hai tiếng thiêng liêng ấy mỗi khi nhắc đến đều để lại những tình cảm không nguôi, xao xuyến lòng người.
“Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”
Hơn 60 năm đã trôi qua kể từ ngày Bác Hồ về thăm quê lần thứ nhất (1957), nhưng hai câu thơ trên của Người vẫn còn in đậm trong tâm trí của mỗi chúng ta, nói lên tình cảm thiêng liêng mà gần gũi, mộc mạc mà sâu nặng nghĩa tình Bác giành cho quê hương Nghệ An.
Lúc sinh thời, mặc dù bận trăm công, nghìn việc, nhưng từ trong sâu thẳm trái tim mình, Bác Hồ vẫn dành tình cảm sâu nặng đối với quê hương, nơi có núi Hồng, sông Lam hiền hòa thơ mộng, với làng Trù quê mẹ và làng Sen quê cha. Mặc dù xa quê hơn nửa thế kỷ, đi nhiều nước trên thế giới, thông thạo nhiều thứ tiếng, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau, Bác vẫn giữ nguyên những thói quen sinh hoạt, giữ gìn và phát huy những phẩm chất tốt đẹp đã được hun đúc từ quê hương. Bác vẫn thích dùng tương Nam Đàn, cà pháo Nghi Lộc và thường đem thết đãi khách quý những món ăn dân dã của quê hương. Bác đã sống một cuộc sống giản dị, thanh đạm, tiết kiệm từ thời niên thiếu cho đến cuối đời. Chính vì vậy, Người đã đem những tinh hoa của văn hóa quê hương mình hòa lẫn với tinh hoa của các nước trên thế giới để “tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu Châu mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”.
Tuổi thơ của Người gắn bó với quê hương chỉ trong 9 năm. Năm 1911, Người ra đi tìm đường cứu nước với hành trình bôn ba hải ngoại suốt 30 năm. Trở về nước năm 1941, cùng Đảng lãnh đạo nhân dân ta làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đất nước lại bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược nên mãi tới năm 1957, Người mới có dịp về thăm quê lần thứ nhất. Đến cuối năm 1961, trở về thăm quê lần thứ hai và cũng là lần cuối cùng quê hương được đón Người.
Sinh ra trong một gia đình Nho học yêu nước, chứng kiến sự thất bại của phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa diễn ra trên chính quê hương mình và sự “bất lực” của các bậc tiền nhân… tất cả đã nung nấu, thôi thúc Người ra đi và tìm kiếm một con đường cứu nước mới. Và như thế, chính mạch nguồn truyền thống yêu nước của vùng đất “địa linh nhân kiệt” này như một lẽ tự nhiên không chỉ đã sản sinh ra Hồ Chí Minh mà còn góp phần tạo nên nền móng để hình thành hoài bão ra đi tìm đường cứu nước của Người.
Trong 30 năm sống xa Tổ quốc, tâm trí Nguyễn Ái Quốc vẫn luôn hướng về quê hương vẫn đang bị giày xéo dưới gót giày của đế quốc, thực dân. Người đã mạnh mẽ tố cáo sự áp bức bóc lột dã man của đế quốc Pháp đối với người dân “bản xứ’ trên các tờ báo như: Le paria, Nhân đạo, Đời sống công nhân và trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”…
Những hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trên đất Pháp đã tác động mạnh mẽ đến nhân dân trong nước, đặc biệt là thanh niên yêu nước Nghệ Tĩnh. Thế hệ thanh niên trong nước nói chung và Nghệ Tĩnh nói riêng lúc bấy giờ xem Nguyễn Ái Quốc như một người dẫn đường, là động lực thôi thúc họ xuất dương.
Thông qua những hoạt động tích cực của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài từ năm 1924 đến trước năm 1930, lớp thanh niên Nghệ Tĩnh xuất dương lúc bấy giờ đã được Người quan tâm, trực tiếp giáo dục, đào tạo, dìu dắt, thử thách và trở thành những người tuyên truyền, những người tổ chức cho cách mạng Việt Nam như: Trần Phú, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Phùng Chí Kiên, Trương Vân Lĩnh, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duy Điếm, Lê Thiết Hùng… Họ là những người đầu tiên gieo hạt giống cách mạng trên quê hương Nghệ Tĩnh và cả nước bằng việc giáo dục lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào quần chúng đang sục sôi cách mạng. Lực lượng trẻ tuổi ấy là những cán bộ chủ chốt, là bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong bộ khung quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930.
Khi phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh nổ ra, Người vẫn theo sát và cùng với Trung ương Đảng chỉ đạo cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Nghệ Tĩnh. Trong bài “Nghệ Tĩnh Đỏ” viết ngày 19/2/1931 gửi Đông Phương Bộ của Quốc tế Cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện sự am hiểu sâu sắc về thiên nhiên, con người và phong trào yêu nước của quê hương Nghệ Tĩnh, đồng thời cổ vũ động viên, khích lệ phong trào đấu tranh của nhân dân tiến lên: “Địa thế hai tỉnh nhiều rừng núi, đất đai cằn cỗi, nông giang chẳng có, ở đây thường xẩy ra lụt, bão. Do đó nhân dân đói khát và nơi ăn chốn ở rất khổ sở, sưu thuế nặng nề và nạn áp bức chính trị làm cho cảnh ngộ của họ càng cùng cực hơn.
Nhân dân Nghệ Tĩnh nổi tiếng cứng đầu. Trong thời kỳ Pháp xâm lược cũng như trong các phong trào cách mạng quốc gia (1905-1925) Nghệ Tĩnh đã nổi tiếng. Trong cuộc đấu tranh hiện nay, công nhân và nông dân Nghệ Tĩnh vẫn giữ vững truyền thống cách mạng của mình…”([1])
Người cũng khẳng định: “Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh (28 đồn mới được dựng lên ở Nghệ An), tuyên truyền của chính phủ, báo chí… đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ Tĩnh…”([2])
Trong nước, Người yêu cầu Trung ương Đảng phát động phong trào toàn quốc “chia lửa” với Nghệ Tĩnh. Một làn sóng đấu tranh đã tràn khắp ba miền Bắc – Trung – Nam từ Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế, Sài Gòn…
Ở nước ngoài, Người yêu cầu Quốc tế Cộng sản và các Đảng anh em hãy quan tâm đến phong trào như kịp thời viết thư động viên phong trào, góp ý kiến và trao đổi rút kinh nghiệm đấu tranh, giúp đỡ về tinh thần, vật chất, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Đông Dương nói chung và nhân dân Nghệ Tĩnh nói riêng. Trong thư gửi Quốc tế Cộng sản tháng 2/1931, Người viết: “ Quốc tế Cộng sản và Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản cần gấp rút ra lời hiệu triệu của Đảng Cộng sản, trước hết là Đảng Cộng sản Pháp, giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới hãy ra sức ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Đông Dương mở chiến dịch chống nạn khủng bố trắng của đế quốc Pháp ở Đông Dương”( [3]). Đề nghị thiết thực này của Người đã được Quốc tế Cộng sản chấp nhận và ủng hộ. Ngày 27/2/1932, Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản đã gửi thư cho các Đảng Cộng sản Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ phải huy động công nhân và nhân dân lao động nước mình đấu tranh ủng hộ phong trào Cộng sản ở Đông Dương (tiêu biểu là Xô Viết Nghệ Tĩnh) về mọi phương diện. Trong thời gian này, nhân dân Pháp, Ấn Độ, hội Việt kiều yêu nước ở Xiêm đã mít tinh, biểu tình, quyên tiền ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Trong bài viết cho tạp chí “Những vấn đề hòa bình và CNXH”, Người cũng đã ca ngợi và đánh giá phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh là một phong trào xưa nay chưa từng có và để lại những bài học quý báu về vấn đề xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng cách mạng, về phương pháp và thời cơ giành chính quyền… Người viết: “ Tuy đế quốc Pháp đã dập tắt phong trào trong biển máu nhưng Xô – Viết Nghệ Tĩnh chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam. Phong trào tuy thất bại nhưng nó rèn luyện cho cuộc cách mạng tháng Tám sau này…”([4])
Tình thương, nỗi nhớ quê, nỗi lo lắng đến đời sống của đồng bào vẫn ngày đêm canh cánh, thường trực trong lòng Bác. Do bận công việc nước nhà, chưa về thăm quê được, nhưng Người luôn viết thư thăm hỏi động viên tỉnh nhà, xã nhà. Khi các đồng chí lãnh đạo tỉnh, cán bộ ở quê ra Hà Nội công tác, nếu có điều kiện Bác đều gặp gỡ, ân cần hỏi thăm về quê hương.
Chỉ nửa tháng sau ngày đọc Tuyên Ngôn độc lập, Người viết “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” vào ngày 17/9/1945. Trong thư Người viết: “Thơ này, tôi không dùng danh nghĩa Chủ tịch của Chính phủ, nhưng chỉ lấy danh nghĩa của một đồng chí già mà viết để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm với các đồng chí…”([5])
Hàng chục bức thư, các bài viết, bài nói chuyện hay những bức điện của Bác gửi về cho quê nhà Nghệ An đã nói lên sự quan tâm, thương yêu và tấm lòng của Người đối với quê hương như: “Lời cảm ơn đồng bào công giáo” (ngày 14/10/1945), “Thư gửi toàn thể bộ đội và dân quân tỉnh Nghệ An” (tháng 5/1948), “Thư cám ơn đồng bào trại sản xuất Nghệ An” (ngày 15/9/1948), “Thư gửi bộ đội lão quân huyện Nam Đàn” (ngày 17/2/1949), “Thư gửi các hội mẹ chiến sĩ Liên khu IV” (ngày 1/5/1949, “Thư gửi đồng bào tỉnh Nghệ An” (tháng 8/1949), “Điện gửi họ Nguyễn Sinh” (ngày 9/11/1950), “Thư gửi cụ Hà Văn Quận” (ngày 5/12/1953)…
Ngày 14/6/1957, Bác về thăm quê hương lần thứ nhất trong niềm náo nức, mong chờ của nhân dân huyện Nam Đàn nói riêng, tỉnh Nghệ An nói chung. Đối với Bác, ngày hôm ấy đã dánh dấu một mốc lịch sử trong đời, là ngày khép kín vòng tròn 50 năm tạm biệt quê hương, đi về phương Nam, bôn ba hải ngoại và trở về từ phương Bắc. Gặp lại đồng bào quê hương, nét mặt Bác rất xúc động, Người bắt tay, vẫy chào bà con. Vẫn giữ cho mình giọng Nghệ nằng nặng, trầm ấm, vang vọng, Bác trải lòng với nhân dân quê nhà: “Đã lâu về đến quê hương thì thường tình người ta tủi tủi, mừng mừng. Tôi không thấy tủi tủi mà chỉ thấy mừng mừng. Mừng mừng là vì sao? Từ lúc tôi ra đi và bây giờ trở lại thấy nước ta nói chung, tỉnh ta nói riêng có thay đổi rất nhiều. Thay đổi quan trọng nhất là lúc tôi ra đi, nước ta đang còn bị thực dân cai trị, đồng bào ta đều là những người nô lệ, bây giờ trở về thì đồng bào miền Bắc nước ta nói chung, Nghệ An nói riêng, là những công dân tự do làm chủ nước nhà. Đó là thay đổi to nhất…” ([6])
Về thăm quê, Bác không quên lối đi nhỏ vào nhà ngày xưa, cây bưởi trước nhà, cây mít, hàng cau phía sau, chiếc võng tuổi thơ, chiếc rương gỗ nhỏ, khung cửi của mẹ, chiếc phản gỗ và mấy pho sách của cha, những câu chuyện kể của bà… Ở những nơi Bác đến thăm, Bác khen ngợi những thành tích mà nhân dân quê nhà đã đạt được và nhắc nhở đồng bào và cán bộ phải ra sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, các ngành nghề khác.
Nói chuyện với Hội nghị cán bộ toàn tỉnh Nghệ An, Người lưu ý, tỉnh nhà phải “cần, kiệm, liêm, chính”, thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm; phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa. Người nêu rõ: Tiền đồ của mỗi người, nhất là người cách mạng, là nằm trong tiền đồ của dân tộc, nằm trong tiền đồ của giai cấp, không thể tách riêng được. Nhiệm vụ chúng ta phải ra sức củng cố chính quyền nhân dân và củng cố những tổ chức của nhân dân ở các địa phương và quan tâm đến đời sống của nhân dân.
Người mong muốn Nghệ An chuyển biến tốt về mọi mặt, nhất là chính trị và kinh tế. Người khẳng định: “Tỉnh ta có truyền thống cách mạng rất vẻ vang. Tôi xin hỏi đồng bào có thi đua với các tỉnh khác xây dựng để tỉnh ta thành một tỉnh gương mẫu không? Đồng bào có cố gắng được không? Một lần nữa tôi cảm ơn các cụ phụ lão, tất cả đồng bào, tất cả các cháu. Nhờ các cụ, anh chị em và các cháu chuyển lời chào của Trung ương, của tôi tới tất cả đồng bào hôm nay không có mặt ở đây.”([7])
Ước mong của Bác là được tận mắt thấy quê hương đổi mới và phát triển toàn diện về mọi mặt. Đến thăm Nhà máy Điện Vinh vừa mới được khởi công xây dựng, đi giữa ngổn ngang sắt thép, gạch đá, máy móc, Bác đã đến tận nơi ân cần hỏi thăm anh chị em công nhân và chuyên gia Liên Xô đang làm việc…
Bốn năm sau, ngày 8/12/1961, Bác Hồ về thăm quê lần thứ hai. Trong dịp này Bác đã nói chuyện với cán bộ và đồng bào tỉnh nhà tại Vinh; thăm Hoàng Trù và nói chuyện với cán bộ, đồng bào xã Nam Liên; gặp gỡ cán bộ và công nhân Nhà máy cơ khí Vinh. Đồng thời Người cũng đi thăm và nói chuyện với đồng bào xã Vĩnh Thành, với cán bộ và công nhân nông trường Đông Hiếu…
Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các chiến sỹ lão thành cách mạng tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, ngày 9-12-1961
Buổi chiều, sau khi làm việc với Ban Chấp hành Tỉnh ủy, Bác đến thăm nhà ăn tập thể của cơ quan. Bác nâng từng chiếc lồng bàn lên để thấy lượng và chất của mỗi khẩu phần. Sau đó các đồng chí lãnh đạo tỉnh mời Bác ăn cơm tối, Bác nhận lời. Bữa cơm thết Bác cũng chỉ có mấy món đơn giản. Khi mọi người đã ngồi vào bàn ăn, Bác bảo một cán bộ đi cùng mang gói cơm độn ngô đỏ ra. Cơm gói của Bác được chia đều cho mọi người cùng ăn vui vẻ, ngon lành.
Khi thăm nhân dân xã Vĩnh Thành, Bác dặn “mọi việc trong hợp tác xã trước khi làm, ban quản trị phải đem ra bàn bạc với xã viên, hỏi ý kiến xã viên”. Ở nhà trẻ xóm Đông, sau khi thăm các cháu, Bác đưa kẹo cho bà Thậm, bà Miều và dặn “Kẹo Bác không nhiều, nhờ hai bà chia cho công bằng”. Ngay lúc nói chuyện, trời nắng gắt, một đồng chí cầm cây ô che cho Bác, Bác bảo “Ô không đủ che cho tất cả mọi người, chú đừng che riêng mình Bác, Bác không phải phong kiến, chú cất đi”… Toàn bộ những cử chỉ, lời nói, ánh mắt của Bác đều thể hiện sự quan tâm tình cảm sâu sắc của Bác đối với tất cả mọi người từ cụ già đến cháu bé, từ cán bộ đến người dân bình thường, nam cũng như nữ đều được hưởng “muôn vàn tình yêu” của Bác…
Sau lần về thăm quê cuối cùng, Bác vẫn thường xuyên quan tâm, viết thư thăm hỏi, động viên, khen ngợi kịp thời tới mọi tầng lớp nhân dân Nghệ An như: “Thư gửi đồng bào và cán bộ xã Nam Liên”, “Thư gửi đoàn viên và thanh niên ở công trường đường sắt Thanh Hóa – Nghệ An”, “Thư khen quân và dân Nghệ An đã bắn rơi 100 máy bay Mỹ”, “Thư khen đồng bào, bộ đội và cán bộ Nghệ An đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 900 của giặc Mỹ trên miền Bắc”, “Thư gửi đồng bào vá cán bộ các dân tộc huyện Quế Phong”, “Thư khen quân và dân Thành phố Vinh đã bắn rơi 100 máy bay giặc Mỹ”, “Thư gửi các cháu học sinh xã Nam Liên”, “Thư gửi cán bộ và nhân dân Nhà thương Nghệ An”, “ Điện gửi đồng bào xã Đoài”, “Thư khen Đội Thanh niên xung phong số 333 Nghệ An”…
Nhân kỷ niệm 34 năm ngày thành lập Đảng (3/2/2964), tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lời đề tựa tặng cho Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh với tình cảm trân trọng. Trong lời đề tựa , sau khi khẳng định thành quả và ý nghĩa của Xô Viết Nghệ Tĩnh, Bác đã căn dặn: “ …Cán bộ Đảng viên, đoàn viên thanh niên và toàn thể đồng bào Nghệ Tĩnh cần đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi thi đua xây dựng Nghệ An và Hà Tĩnh thành hai tỉnh gương mẫu, xứng đáng là quê hương của Xô Viết Nghệ Tĩnh anh hùng.” ([8])
Đặc biệt, ngày 21/7/1969 Bác đã viết “Thư gửi Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam tỉnh Nghệ An” với niềm mong muốn: “Nghệ An là một tỉnh rộng lớn, có tài nguyên phong phú, nhân dân cần cù lao động và rất cách mạng. Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc”([9])... Đây là bức thư cuối cùng cũng được xem như là bản di chúc thiêng liêng của Bác đối với quê hương.
Có thể khẳng định rằng, với quê hương Nghệ An, dù bôn ba khắp bốn biển năm châu, dù trải qua bao biến thiên của lịch sử, tình cảm và sự quan tâm của Bác giành cho quê hương vẫn luôn nồng ấm, thiết tha. Tình yêu quê hương, lòng thương dân của Bác không phải là tình thương ban ơn từ trên xuống mà xuất phát từ đáy lòng và được biểu hiện thành những hành động, lời nói cụ thể trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Những kỷ niệm trong những lần Bác về thăm quê hay những kỷ vật của Người giành tặng cho quê hương vẫn luôn được mỗi người dân quê hương khắc ghi, nâng niu, trân trọng. Muôn vàn tình yêu thương chứa đựng trong những lời căn dặn của Người đối với quê hương đến nay vẫn mang tính thực tiễn, là động lực để cán bộ, đảng viên và nhân dân Nghệ An tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người để xứng đáng là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu./.
TRÁCH NHIỆM CỘNG ĐỒNG NGẪM TỪ CÂU CHUYỆN HÀI
Có một bác sĩ trong đoàn bác sĩ đi khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho đồng bào vùng cao, sau khi khám bệnh cho một cháu nhỏ đang tầm tuổi học tiểu học, bác sĩ kê đơn thuốc và ân cần dặn dò thuốc này cháu uống sau khi ăn no. Cháu bé ngẫm nghĩ một thoáng rồi thưa: thế này cháu không uống được thuốc này đâu ạ, vị bác sĩ hỏi sao vậy cháu; dạ chú từ lâu rồi cháu không được ăn no. Vị bác sĩ phải thay đổi lại lời dặn dò hướng dẫn cháu uống thuốc sau khi ăn là được cháu nhé. Đọc thoáng qua ta nghĩ là câu chuyện hài gây cười nhưng nghĩ sâu chúng ta không thể cười được khi nhiều mảnh đời đồng bào đang ăn đói, mặc rách, thiếu chỗ ngũ, ít được học hành hãy cùng chính sách của Đảng, Nhà nước tình đoàn kết dân tộc để đóng góp chung tay cho hạnh phúc dân tộc!
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI TRONG ĐẤU TRANH VỚI THÔNG TIN SAI TRÁI, XẤU ĐỘC TRÊN INTERNET, MẠNG XÃ HỘI!
"CHẤN HƯNG" DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ TRONG NHÀ TRƯỜNG!
THẾ MÀ MÔN SỬ TIẾN SĨ NHIỀU VÀ RẤT NHIỀU? TIẾN SĨ MÔN SỬ NHIỀU HƠN THÍ SINH THI SỬ? TIẾN SĨ SỬ NHIỀU ĐỂ LÀM GÌ????
CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: MỘT THỜI CHIẾN TRẬN!
Phản bác luận điệu đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác - Lênin
























