Thứ Tư, 18 tháng 5, 2022

VỀ QUAN ĐIỂM "ĐẢNG TA LÀ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN"!

     Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Đó là một lời khẳng định, sự nhắc nhở mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải ghi nhớ và thực hiện.

Đảng Cộng sản Việt Nam, qua nhiều thời kỳ với nhiều tên gọi khác nhau, có khi là Đảng Cộng sản Đông Dương (1930 – 1951), Đảng Lao động Việt Nam (1951 – 1976), đã lãnh đạo nhân dân ta liên tiếp thực hiện và giành thắng lợi nhiều cuộc cách mạng, giành độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc. Đó là sứ mệnh lịch sử mà cũng là công lao của Đảng, không thể phủ định.
Chính vì vậy, Đảng ta xứng đáng và phải giữ cho được vai trò là đảng cầm quyền. Đó là sự khẳng định của Hồ Chí Minh, không phải chỉ cho bản thân mình, mà còn cho các thế hệ đồng bào và lớp lớp đồng chí đã không quản ngại hi sinh đi theo Đảng, một lòng một dạ trung thành với Đảng. Từ bỏ vai trò cầm quyền chính là phủ định công lao của đồng bào, đồng chí và chiến sĩ đã chiến đấu vì mục tiêu cao đẹp của Đảng, từ ngày thành lập cho đến nay. Giữ cho được là một đảng cầm quyền cũng không phải chỉ để cho Đảng mà còn cho nhân dân, cho dân tộc.
Để giữ cho được là đảng cầm quyền, Đảng ta đã pháp quy hóa mong muốn đó của Bác, bằng Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, cả trong bản năm 1980, năm 1992 và năm 2013. Riêng Hiến pháp 2013 nêu chi tiết và chia thành các khoản, gồm 136 chữ, nhiều nội dung cụ thể hơn, được phát triển sâu rộng hơn, bao gồm khái quát cả tính chất, vai trò, trách nhiệm và phương thức hoạt động:
“1. Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.
3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng được toàn dân chấp nhận (thông qua việc đại biểu của nhân dân (là Quốc hội) đã tán thành Hiến pháp). Thực tế cho thấy, đến nay, trừ một số kẻ chống phá Đảng ta và nhà nước ta đòi bãi bỏ Điều 4 của Hiến pháp, còn lại tất thảy đồng bào ta vẫn cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là lực lượng lãnh đạo xã hội, đồng nghĩa với việc hưởng ứng đi theo con đường của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, là tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Đây không phải là hiện tượng cá biệt ở Việt Nam mà là mô hình chung có tính quy luật ở các nước xã hội chủ nghĩa. Suy cho cùng, đó là một thực tế khách quan. “Trong các nước xã hội chủ nghĩa, đảng cộng sản là tổ chức thực hiện sự thống trị của giai cấp vô sản, cho nên sự lãnh đạo duy nhất của đảng cộng sản đối với hệ thống chính trị là điều đương nhiên. Điều đó được thể hiện ở đường lối, chính sách của đảng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ được thể chế hóa trong toàn bộ hiến pháp và pháp luật. Bảo đảm sự lãnh đạo của đảng cộng sản là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Ở Việt Nam, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là bản chất, quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Từ khi ra đời đến nay, Đảng là nhân tố bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó không phải là ý chí chủ quan về chính trị mà là một tất yếu khách quan của lịch sử, mọi mưu toan hạ thấp vai trò của Đảng Cộng sản là trái với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân”.
Tại sao không là “Đảng ta là đảng cầm quyền” mà phải là “một đảng cầm quyền”? “Một” thể hiện tính duy nhất, hàm ý cả tính tuyệt đối. Đảng không được chia sẻ quyền lực với đảng khác trong vai trò cầm quyền của mình (nên hiểu là “không chia sẻ quyền lực” chứ không độc nhất tồn tại, vì thời của Bác còn có Đảng Dân chủ Việt Nam (1944 đến năm 1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (1946 – 1988), nhưng không giữ vai trò lãnh đạo. Tức là không liên minh, liên kết với bất kỳ đảng khác để thực hiện vai trò lãnh đạo của mình. Đây không phải là sự độc chiếm quyền lực mà đó là kết quả tất yếu của lịch sử.
Tuy nhiên, cũng cần hiểu đầy đủ lời của Người: “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Ở đây, Hồ Chí Minh đã hàm ý cảnh báo. Vì là “một đảng cầm quyền” nên có thể phát sinh những vấn đề do chỉ có một đảng nắm quyền, nhất là khi nắm quyền liên tục trong một thời gian dài. Thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc chắn Hồ Chí Minh hiểu rằng mọi sự vật, hiện tượng đều luôn vận động và biến đổi. Là đảng duy nhất cầm quyền, ở đỉnh cao quyền lực, rất có thể nội bộ đảng nảy sinh những trì trệ, thậm chí sai lầm, nếu đảng giáo điều, không phát huy và mở rộng dân chủ, không lắng nghe phản ánh từ nhân dân, không tiếp thu các ý kiến phản biện… Rất có thể, khi cầm quyền trong thời gian dài, đảng tự xây cho mình một “tháp ngà” và tự cách biệt mình với quần chúng nhân dân. Nghiêm trọng hơn, chính điều đó nảy sinh quan liêu, xa dân, tham nhũng, thậm chí độc đoán, dần đánh mất lòng tin của nhân dân. Điều này đã từng xảy ra với một số đảng, dẫn đến kết cục đảng không cầm quyền được nữa, gây những hệ lụy nguy hiểm cho quốc gia, cho dân tộc.
Về điều này, chuyên gia về tư tưởng Hồ Chí Minh, PGS.TS Bùi Đình Phong đã viết: “Đảng cầm quyền phải chống thói “kiêu ngạo cộng sản” như cách nói của Lênin. Trong điều kiện một đảng cầm quyền, duy nhất lãnh đạo cách mạng, bệnh kiêu ngạo dễ nảy sinh. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc tới bệnh kiêu ngạo. Đó là thói “tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”. Bệnh kiêu ngạo dễ dẫn đến mất dân chủ, xa dân, sai về đường lối, hư hỏng về đạo đức. Tự mãn, tự túc là bó mình lại, không cho mình tiến bộ thêm”.
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, một triều đại lúc mới khai sáng thì luôn có vua sáng tôi hiền, có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước thì về sau lại trở nên trì trệ, khủng hoảng, suy tàn. Đây là một hiện tượng bình thường trong lịch sử, trong xã hội, được khái quát trong tư tưởng của người phương Đông, “trăng có khi tròn khi khuyết”. Nhận thức được vấn đề này Đảng luôn luôn tự đổi mới, tự hoàn thiện mình, tự khắc phục các hạn chế, khuyết điểm điểm để phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, với yêu cầu lãnh đạo cụ thể.
Vì vậy, là thành viên của “một đảng cầm quyền”, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Những chữ “thực sự”, “thật sự”, “thật” là sự nhấn mạnh của Bác đối với các yêu cầu của Đảng, của mỗi đảng viên trong lời khẳng định “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Tức là, một đảng cầm quyền thì đảng viên phải thực sự như thế, không thể khác được.
Lời cảnh báo này có ẩn ý sâu sắc nên đôi khi không được nhận ra một cách đầy đủ, mà nhiều khi chỉ hiểu rằng Đảng phải cố làm sao giữ được vai trò cầm quyền mà quên những lời nhắc nhở của Bác về những nguy cơ của một đảng cầm quyền cũng như những yêu cầu của đảng viên trong đảng cầm quyền đó. Xét về từ ngữ, lời căn dặn, phát triển từ hàm ý cảnh báo, nhiều hơn hẳn lời khẳng định (50 so với 7 chữ), cũng đủ nói lên tầm quan trọng của lời cảnh báo này.
Đó chính là mỗi đảng viên phải có đạo đức cách mạng. Thực tế hiện nay cho thấy, đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên trở thành một phẩm chất gắn liền với sự tồn tại của Đảng. Hơn bao giờ hết, đạo đức cách mạng trở thành một đòi hỏi quan trọng và cần thiết cho mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo. Vì vậy, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị để một mặt phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, mặt khác không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng và sự gương mẫu trong cán bộ, đảng viên, đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng nhưng vẫn còn phải tiếp tục thực hiện tích cực và quyết liệt hơn nữa. Nên lời cảnh báo trên vẫn còn nguyên giá trị!

Yêu nước ST.

VẬN ĐỘNG VIÊN ĐỔ MỒ HÔI MANG VINH QUANG VỀ CHO TỔ QUỐC CÒN CỔ ĐỘNG VIÊN THÌ BĨU MÔI “AO LÀNG”!

     Joseph Schooling, vận động viên bơi lội nổi tiếng nhất Đông Nam Á, từng đánh bại huyền thoại Michael Phelps bình luận về SEA Games: “Olympic là đỉnh cao, nhưng SEA Games rất gần gũi, thân thuộc với tôi. Dù thi đấu ở cấp độ nào, thi đấu cho quốc gia luôn là một niềm đáng tự hào. Tôi từng có lúc xem nhẹ SEA Games, nhưng dần dần tôi mới thấy những đại hội như SEA Games rất quan trọng”. Cách đây 3 năm, huyền thoại bơi lội Đông Nam Á cũng phản bác nhiều ý kiến cho rằng SEA Games là ao làng, là đại hội bậc thấp. Anh cho biết thêm, bất cứ một vận động viên bơi lội nào muốn tiến ra biển lớn (giải đấu thế giới) đều phải bơi từ những con sông (những giải đấu nhỏ).

Trước khi vô địch Olympic, Joseph Schooling cũng trưởng thành từ SEA Games và xạ thủ Hoàng Xuân Vinh của chúng ta cũng như vậy. Trước khi đứng trên đỉnh cao Taekwondo thế giới hạng 49kg tại Olympic Tokyo, Panipak Wongpattanakit (Thái Lan) cũng thống trị tuyệt đối tại SEA Games. Đô cử Hidilyn Diaz (Philippines) cũng vô địch SEA Games trước khi vô địch Olympic Tokyo… Và còn rất nhiều trường hợp khác nữa.

Chắc chắn rằng, SEA Games không thể có quy mô bằng Olympic và Asiad, nhưng nó cũng đại hội của rất nhiều nhà vô địch thế giới, châu lục hoặc tầm cỡ tương đương. SEA Games cũng là đại hội của gần 700 triệu người dân, là 1 trong 5 đại hội thể thao tầm cỡ khu vực trở nên có lượng người xem đông nhất thế giới. 

SEA Games luôn bị nhiều người Việt chê là ao làng, nhược tiểu hay hội làng vì những vấn đề trong khâu tổ chức, trọng tài… qua các năm. Đúng, những tồn đọng đó là không thể tranh cãi, nhưng nói đâu xa, ngay ở Olympic Tokyo 2020 vừa qua, cũng có nhiều tranh cãi lớn liên quan đến vấn đề trọng tài và chính chủ nhà Nhật Bản cũng bị cáo buộc “ăn gian” khi võ sĩ Nhật Bản bị đánh bất tỉnh nhưng vẫn nhận huy chương vàng tại môn Quyền anh. Tại Thế vận hội mùa đông Olympic mùa Đông 2022, các tranh cãi trọng tài, khâu tổ chức lớn đến mức trở thành vấn đề ngoại giao quốc như giữa Trung Quốc - Hàn Quốc và đặc biệt là ở các môn thi biểu diễn như trượt băng nghệ thuật.

Dĩ nhiên, không được lấy lỗi sai của các đại hội khác tầm cỡ cao hơn để làm biện minh cho công tác trọng tài còn nhiều điểm hạn chế ở SEA Games. Nhưng, hàm ý ở đây là, vấn đề trọng tài dù cố tình hay vô ý đều tồn tại như một lẽ tất yếu của thể thao và đôi khi chúng ta phải chấp nhận. Muốn đánh giá một kỳ đại hội thì nên nhìn rộng hơn ra. Nói SEA Games là một đại hội chỉ ở tầm cỡ khu vực, chất lượng chuyên môn có thể là chưa cao so với thế giới - công nhận, nói SEA Games là một đại hội có khâu tổ chức chỉ ở mức trung bình - đúng luôn, vì phần lớn các quốc gia ASEAN đều có nền kinh tế ở mức trung bình so với thế giới. 

Nói SEA Games là “mang tính khu vực” vì đưa nhiều môn thể thao đặc hữu quốc gia vào tranh tài cũng chuẩn, nhưng bản thân SEA Games là đại hội mang tính chất giao lưu văn hóa, quảng bá. Mỗi quốc gia trong ASEAN lại có một hoặc vài môn thể thao đặc thù, việc đưa vào một đại hội khu vực như SEA Games mang hàm nghĩa quảng bá là điều có trong điều lệ giải. Và cũng từ những đại hội tương tự SEA Games, các ủy ban thể thao lớn của châu lục, thế giới mới xem xét, quyết định đưa ra vào các đại hội lớn hơn. Ví dụ như eSport, Pencak Silat… Việt Nam cũng đặt mục tiêu quảng bá Vovinam ra thế giới, đưa Vovinam vào thi đấu ở Asian Games. Muốn được đưa vào Asian Games, trước tiên phải đưa vào các đại hội tầm cỡ SEA Games trước đã. Tuy nhiên, việc căn cơ đầu tiên là không lạm dụng. Năm nay, cũng là năm có tỷ lệ môn thi đấu nằm trong các môn Olympic (60%) và Asiad (85%) ở mức cao hơn so với kỳ SEA Games lần trước diễn ra ở Philippines. 

SEA Games 31 đang diễn ra tại Việt Nam có nhiều lỗi vấn đề liên quan đến lỗi tổ chức như khâu truyền hình, bê bối liên quan đến thiết kế ấn phẩm. Nhưng nếu nhìn rộng ra hơn, SEA Games 31 lần này đã không còn những hình ảnh VĐV phải nằm dài ở sân bay mấy tiếng đồng hồ, các VĐV không còn phải tự bỏ tiền túi ra gọi xe đến địa điểm thi, không còn những phòng họp báo còn chưa lắp xong ổ cắm điện, không bị các đoàn chỉ trích về điều kiện ăn ở, không bị các nhà báo phàn nàn là mạng mẽo không gửi được tin tức về nước… 

Đoàn Indonesia và Malaysia phàn nàn về việc chưa có khu ăn riêng cho vận động viên theo đạo Hồi (mặc dù đã qua tháng lễ Ramadan) và cũng được đáp ứng ngay. Đoàn Thái Lan khen ẩm thực ngon và tình nguyện viên nhiệt tình. Đoàn Campuchia khen ngợi vì ban tổ chức khéo léo bố trí sinh viên Campuchia học tại Việt Nam để hỗ trợ, phiên dịch. Hơn tuần thi đấu, cũng chưa có bê bối trọng tài nghiêm trọng diễn ra vì SEA Games 31 lần này được các liên đoàn thể thao châu lục, thế giới quan tâm. Vì các liên đoàn coi đại hội lần này là “buổi tập dượt” cho Asian Games 2022 diễn ra tại Hàng Châu (Trung Quốc) vào tháng 9 nên đã cử đội ngũ trọng tài đẳng cấp nhất đến hỗ trợ Việt Nam. Và vô tình Asian Games 2022 hoãn nên kỳ đại hội lần này có tới 1300 trọng tài quốc tế.

Và cũng tại SEA Games 31, với chủ trương không bán vé, vào cửa tự do và quá trình quảng bá tương đối tốt (có thể do “phốt” vô tình khiến SEA Games được quảng bá rộng hơn), khiến các vận động viên đều được thi đấu với sự cổ động của rất đông khán giả... Ngay cả với các môn thi ít được quan tâm như đua xe đạp, đua thuyền được tổ chức không phải ở các đô thị lớn nhưng tinh thần cổ vũ cũng rất cao. 

Không hiểu tại sao có nhiều người cứ chê bai SEA Games là ao làng, dĩ nhiên, mỗi người có một quan điểm. Nhưng khi nhìn vào trường hợp khoảnh khắc vận động viên nhảy cầu nhảy lỗi rồi bị cả cộng đồng mạng tế lên tế xuống là “nhục quốc thể” - trong khi từng có thời điểm bạn ấy thi đấu cực tốt và ở vị trí thứ 3, nhưng với mong muốn đổi màu huy chương nên muốn thực hiện động tác khó thành ra tiếp nước lỗi. Rồi VĐV Trần Nhật Hoàng khóc khi bị chấn thương dẫn đến không bảo vệ được tấm HCV cũng bị chỉ trích là “màu mè”...

SEA Games có tới 7000 vận động viên, huấn luyện viên và kỹ thuật viên tham gia tranh tài. Và cũng từng ấy sự nỗ lực, cố gắng, phấn đấu và luyện tập… Có người phải mất rất nhiều năm liền để xuất hiện ở SEA Games, có vận động viên rơi nước mắt khi được thi đấu ở khu vực vì họ và quốc gia sẽ phải mất rất lâu nữa mới tiến ra được vũ đài thế giới (như vận động viên Felisberto De Deus dành huy chương bạc chạy 5000m của đoàn Timor-Leste)...

Gắn cái chữ “ao làng” vào, tự khiến cho bao nhiêu thành quả tập luyện, máu, mồ hôi, công sức tự nhiên rẻ rúng đi.

Trước khi đến với Olympic hay Asiad, thì các vận động viên đều phải trải qua những đại hội cấp khu vực như SEA Games. Cứ hăm hăm tiến ra thế giới trong khi “ao làng” còn chưa thành công, thì khác gì “chưa đỗ ông Nghè, đã đe hàng tổng”?
Yêu nước ST.

 NHỮNG LÃNH TỤ VĨ ĐẠI CỦA PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ CỘNG SẢN QUỐC TẾ


1. V. I. Lênin (1870 - 1924)


Vladimir Ilyich Lenin là một lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Các Mác và Phriđơrich Ăngghen. Ông là người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng tháng Mười Nga, thành lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo (7/11/1917). Ông là trong 100 người có ảnh hưởng nhất đến toàn thế giới. 


2. Hồ Chí Minh (1890 - 1969)


Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.


 Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành Cách mạng tháng Tám (1945), thành lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945), nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Người được UNESCO vinh danh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam", góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.


 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập ra Đảng Mácxít - Lêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập ra các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Người sáng lập ra chế độ Dân chủ Nhân Dân Việt Nam (nay là chế độ Dân Chủ XHCN Việt Nam), góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Người là tấm gương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng.


3. Fidel Castro (1926 - 2016)


Fidel Castro – vị lãnh tụ huyền thoại của Cách mạng Cuba,Fidel Castro là biểu tượng của tinh thần chiến đấu ngoan cường, là lá cờ đầu của phong trào cách mạng Mỹ La-tinh.


Ông là người giải phóng nhân dân Cuba thoát khỏi ách thống trị độc tài của Đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Baxtia. Ông là người sáng lập nên Đảng CS Cuba, Người sáng lập nên chế độ Dân chủ XHCN và Nhà nước Công nông đầu tiên ở Châu Mỹ. Ông là người bạn thân thiết của nhân dân Việt Nam, Người đã luôn ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta, cũng như cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc chống Trung Quốc và chiến tranh biên giới Tây Nam chống Khmer đỏ Campuchia xâm lược.


Fidel không cho phép dựng tượng ông ở bất cứ đâu và đặt tên đường phố theo tên ông. Ông nói rằng không muốn có một sự tôn sùng cá nhân nào. Tuy nhiên, không ai bảo ai, hình ảnh và lời nói của ông ở khắp mọi nơi, trên đường phố, tên ông được hô vang ở bất cứ sự kiện lớn nào của đất nước. Hầu hết người dân Cuba, dù yêu mến ông hay không, gọi ông với cái tên thân thiết: “Fidel”.


 Tạp chí Time năm 2012 gọi Castro là 1 trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất mọi thời đại. Lãnh tụ Cuba Fidel Castro luôn là một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn, một biểu tượng về một con người kiên cường đấu tranh cho tinh thần độc lập dân tộc và vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của con người. 


Ông thuộc lớp các nhà cách mạng kiệt xuất của thế giới thứ ba từng cống hiến đời mình cho lý tưởng tự do và giải phóng dân tộc như Hồ Chí Minh, Nelson Mandela, Che Guevara… Fidel đã trở thành một người anh hùng, một nguồn cổ vũ tinh thần của những dân tộc nghèo đói và bị áp bức trên thế giới.

St


 NHỮNG KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC SAO PHẢI KHỔ VẬY ? 


    Song song với sự kiện Thủ tướng chính phủ sang dự hội nghị thượng đỉnh Asean + Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống Hoa kỳ JBD , thì tại Việt Nam SEAGAME 31 đang được nước chủ nhà tổ chức chu đáo , người dân BẮC TRUNG NAM tưng bừng hoà trong không khí với tinh thần đoàn kết , vươn cao,  vì hoà bình ổn định và phát triển. trên các sân vận động nơi tổ chức môn bóng đá cờ hoa rợp trời cho dù đó là các trận đấu không phải của đội U23 Việt Nam. Những trận bóng có U23 Việt Nam thi đấu thì khán đài không còn một chỗ chống . hàng ngàn lá cờ tổ quốc tung bay trên các khán đài . người dân nắm tay nhau san sẻ từng chỗ ngồi , từng trai nước , dành cho nhau những cử chỉ thân thương nhất . 

trong nước thì vậy , còn ở Hoa kỳ thì vài ba trăm người, những kẻ bất trung với tổ quốc , những kẻ chưa bao  giờ đóng góp 1 cắc , 1 xu nào để xây dựng đất nước, quê hương lại rủ nhau đi biểu tình phản đối lãnh đạo Việt Nam sang thăm Hoa kỳ với những lý do lãng xẹt. 

    Ơ sao lại khổ thế các vị. thủ tướng nước tôi được đích Thân ông tổng thống Hợp Chủng quốc Hoa kỳ  JOE BIDEN trân trọng gửi lời mời nhé  và đó là khách quý của chính phủ Hoa Kỳ . còn các vị cũng chỉ là những kẻ sống nhờ, sống vả , ở Việt Nam gọi là những kẻ lang thang vô gia cư, các vị làm gì có tiếng nói . các vị làm gì có tổ quốc để mà phụng sự. Chúng tôi chào đón, mở cửa ,và tha thứ cho các vị , tạo ĐK để các vị trở về xd quê hương, nhưng chúng tôi không bao giờ chấp nhận kiểu làm của các vị ,kiểu làm của các vị giống như mấy thằng phát xít hành hung ngài đại sứ LB Nga khi họ đến đặt Hoa tại tượng đài chiến sĩ Hồng Quân .

các vị cần phải nhớ một chính trị gia của Hoa kỳ đã từng nói về những người lưu vong chống lại đất nước (( người Việt lưu vong như họ đên Tổ quốc  nước họ còn phản bội thì sao có thể tin được)) các vị phải biết đó là nỗi nhục mà không bao giờ có thể rửa sạch được.

   Sao mà phải khổ thế . ở nhà mà xem ti vi , vui vầy bên con cháu , gia đình , sao phải rủ nhau đi biểu tình chống phá nước nhà, chống phá tổ quốc một cách mù quáng , tuyệt vọng như vậy thì khổ lắm. 

cũng nên nhắc lại cho các vị nhớ , người mỹ có lúc đã đem tới Việt Nam trên 500.000 quân, cộng cả chư hầu 100-200 ngàn nữa cũng ngót nghét cả triệu quân. với Vũ khí hiện đại bậc nhất nhì thế giới . USD (đô la) thì cả mớ mà còn phải hạ cờ rút về nước. tuy nhiên họ hơn các vị là họ chấp nhận họ là người thua cuộc trong cuộc chiến phi nghĩa đó . họ nể phục cách sống quân tử của người Việt Nam và họ đã bỏ cấm vận khi thấy đó là việc làm phi nghĩa và vô nhân đạo. còn các vị 47 năm qua các vị vẫn sống ảo giác mong có ngày ( Phục Quốc) mà không biết rằng các vị làm gì có tổ quốc mà PHỤC. hãy quay đầu và hãy chấp nhận sự thực!


GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT!

         Vừa rồi nghe thấy từ: "Lựa chọn bắt buộc" học môn sử, không hiểu nó phụt ra từ đâu mà bốc mùi, pha trộn từ ngữ đến lộn mửa. Đó là ghép hai từ trái ý, mâu thuẫn với nhau một cách ngớ ngẩn, ngu xuẩn, dị hợm đến thế (?).
     Có người cho đó là khuyển ngữ, kiểu: đường điều chỉnh cong mềm mại, xăng tăng nhẹ 1.500đ - giảm sâu 250đ, 
     Nghe xong thấy mình ngơ ngác, ngớ ngẩn theo, & chóng mặt theo cái sáng chế ghép ra cụm từ này.
     Ta thử tách ra để hiểu đúng nghĩa trong từ điển: 
 * BẮT BUỘC: 
 Là Buộc phải làm theo, phải chấp nhận.

Ngay trong tiếng Anh:
"Compulsory" có nghĩa là bắt buộc, nghĩa tiếng Việt mang có tính cưỡng ép, không thể từ chối được.

 Bắt buộc trái nghĩa với từ "tự nguyện" trong tiếng Việt. Ví dụ: 
 - Luật bắt buộc phải thắt dây an toàn trong ô tô. (ko được lựa chọn)
 - Bảo hiểm bắt buộc là loại hình bảo hiểm bắt buộc do pháp luật quy định (ko có lựa chọn)
- Bắt buộc lái xe phải có bằng. (Không có lựa chọn nào khác)

  * "LỰA CHỌN":
Được chọn trong những cái cùng loại.
Lựa chọn là cơ hội hoặc vô số lựa chọn trước mặt một người trong khi quyết định là lựa chọn cuối cùng. Lựa chọn đại diện cho quyết định phản ánh kết quả cuối cùng. Lựa chọn được đưa ra cho bạn trong khi bạn một mình đưa ra quyết định.
  Rõ ràng hai từ "Bắt buộc" với " lựa chọn" nó khác hẳn nghĩa của nhau. Xưa tới giờ ko thấy ai ghép vô ý thức như thế.
Ngay Bộ GD, năm 2015 trong Chương trình giáo dục phổ thông mới đã ghi rõ, tách bạch 2 loại môn học: Tự chọn & Bắt buộc. Trong đó ghi rất rõ: 
" Môn học bắt buộc là môn học mà mọi học sinh đều phải học. Nội dung rất cần trang bị kiến thức cho học sinh."
  Vậy thì cớ làm sao, ai lại mở mồm ghép hai nhóm từ vào một: 
"lựa chọn bắt buộc"
Đã bắt buộc rồi thì lựa chọn mà làm gì và ngược lại. 

Xem ra họ đang cố tình che đậy, loanh quanh vì một sự khuất tất nào đó mới dẫn dắt dư luận vào mê cung từ ngữ như vậy.

   Đúng là anh lạy các chú cả nón vì nghĩ ra những "Mỹ tự cao siêu" đến vậy, đã bắt buộc lại còn lựa chọn... thì hãi quá, sự uyên bác kiểu con cà cuống rồi!

 Trong báo điện tử Đảng Cộng sản, ngày 6/4/2020 đã viết theo lời nói của Bác về Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt: "Cho dù xã hội có phát triển như thế nào, khoa học kỹ thuật có hiện đại đến đâu thì chúng ta phải luôn gìn giữ và làm giàu tiếng Việt, không làm cho tiếng Việt - “của cải vô cùng quý báu của dân tộc” bị mất đi sự trong sáng vốn có của nó.!" 
Kính cảm ơn!



Yêu nước ST.

 NOI GƯƠNG BÁC, TỰ SOI, TỰ SỬA

Vì sao cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự rèn, tự tu dưỡng, tự điều chỉnh, tu thân, tự vượt lên chính mình? Vì đảng viên, cán bộ trong sạch, vững mạnh thì Đảng trong sạch, vững mạnh.

💖💖💖💖💖💖💖💖

Ý NGHĨA “TỰ MÌNH”


Năm 1927, trong sách Đường cách mệnh, khi bàn về tư cách một người cách mệnh, Hồ Chí Minh đề cập 3 mối quan hệ: Tự mình phải, đối người phải, làm việc phải.


Tháng 2/1947, trong Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, Người đề cập cán bộ phải có 5 mối quan hệ: Mình đối với mình, mình đối với đồng chí mình, mình đối với công việc, đối với nhân dân, đối với đoàn thể.


Năm 1948, khi viết về Tư cách người Công an cách mệnh, Người đề cập 6 mối quan hệ: Đối với tự mình, đối với đồng sự, đối với Chính phủ, đối với nhân dân, đối với công việc, đối với địch.


Đúc kết lại, mỗi người phải xử sự, xử thế các mối quan hệ: tự mình, đối với người, đối với việc. Đáng lưu ý là trong tất cả các mối quan hệ trên dù bất cứ ở thời kỳ nào, Hồ Chí Minh đều đặt “đối với tự mình” lên trên hết. Vì sao như vậy?


Có nhiều cách cắt nghĩa, lý giải khác nhau, nhưng chắc chắn có mấy lý do cơ bản: một là, tự mình là rất khó. Tự “mổ xẻ” mình đâu có dễ. Kẻ thù ở trong mình không thể dùng lựu đạn, gươm giáo để tiêu diệt. Hai là, con người - nhất là cán bộ, đảng viên - thường mắc các chứng bệnh như tự cao tự đại, ưa người ta nịnh mình, do lòng yêu ghét của mình mà đối với người, đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Ba là, “đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái ở người ta thì trước phải biết đúng sự phải trái ở mình. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu”(1).


Khi bàn về các đức tính Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Hồ Chí Minh chỉ bảo rằng mình không Cần mà bảo người khác Cần là vô lý. Mình không Kiệm mà bảo người khác Kiệm là vô lý. Mình không Liêm mà bảo người khác Liêm là vô lý. Mình không Chính mà bảo người khác Chính là vô lý.


Về lý luận và thực tiễn, “đối với tự mình” là nói đến yếu tố chủ quan, yếu tố bên trong, còn “đối với người” là nói đến yếu tố khách quan, yếu tố bên ngoài. Triết học mácxít chỉ rõ rằng yếu tố chủ quan, yếu tố bên trong bao giờ cũng là yếu tố đóng vai trò quyết định.


Tục ngữ có câu: “Việc đời không gì khó, chỉ sợ chí không bền”. Vì vậy, đối với mọi việc, nói dễ thì dễ, nói khó thì khó. Hồ Chí Minh đúc kết: Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên.

 LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: Ngày 18/5


“Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng xuất lao động và không ngừng cải tiến đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi”.


Câu nói trên của Hồ Chí Minh trích trong “Bài nói tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội nghị phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam” ngày 18 tháng 5 năm 1963, bàn về mối quan hệ giữa khoa học và sản xuất.


Đây chính là phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tổ chức nghiên cứu khoa học; khoa học phải gắn với nhiệm vụ, với đời sống xã hội; khoa học phải gắn với thực tiễn, phải từ thực tiến và quay lại phục vụ chính thực tiễn và phải đáp ứng nhu cầu của sản xuất, phục vụ sản xuất, nhằm nâng cao năng suất lao động và nâng cao đời sống vật chất của nhân dân. Năng suất lao động cao thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo điều kiện xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Do vậy, trong các thời kỳ thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, Người chú trọng đề ra các chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển khoa học và kỹ thuật.


Hiện nay, đất nước ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế sâu rộng dưới sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức dần dần giữ vai trò chủ đạo, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu các thành phần kinh tế; quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của khoa học và kỹ thuật trong xây dựng chủ nghĩa xã hội càng có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc đã được Đảng ta cụ thể hóa thành các nghị quyết, đề án, chương trình; trong đó, xác định cùng với giáo dục đào tạo, thì khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu.


Thấm nhuần quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của khoa học đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, có nhiều giải pháp trong nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, khoa học quân sự. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học trong quân đội ngày càng được phát triển cả về số lượng và chất lượng, được đào tạo cơ bản ở trong nước và nước ngoài, tâm huyết, yêu nghề. Các phong trào: “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật”, “Tuổi trẻ Quân đội tiến quân vào khoa học công nghệ”… được đông đảo cán bộ, chiến sĩ toàn quân hưởng ứng thực hiện, ngày càng xuất hiện nhiều công trình, đề tài khoa học, sáng kiến có giá trị cao, được ứng dụng có hiệu quả trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và đóng góp góp vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, được dư luận ghi nhận, đánh giá cao, thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng quân đội từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.


CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH THẤM ĐẬM TÌNH QUÊ

 Quê hương, hai tiếng thiêng liêng ấy mỗi khi nhắc đến đều để lại những tình cảm không nguôi, xao xuyến lòng người.

“Quê hương nghĩa trọng tình cao

Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”

Hơn 60 năm đã trôi qua kể từ ngày Bác Hồ về thăm quê lần thứ nhất (1957), nhưng hai câu thơ trên của Người vẫn còn in đậm trong tâm trí của mỗi chúng ta, nói lên tình cảm thiêng liêng mà gần gũi, mộc mạc mà sâu nặng nghĩa tình Bác giành cho quê hương Nghệ An.

Lúc sinh thời, mặc dù bận trăm công, nghìn việc, nhưng từ trong sâu thẳm trái tim mình, Bác Hồ vẫn dành tình cảm sâu nặng đối với quê hương, nơi có núi Hồng, sông Lam hiền hòa thơ mộng, với làng Trù quê mẹ và làng Sen quê cha. Mặc dù xa quê hơn nửa thế kỷ, đi nhiều nước trên thế giới, thông thạo nhiều thứ tiếng, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau, Bác vẫn giữ nguyên những thói quen sinh hoạt, giữ gìn và phát huy những phẩm chất tốt đẹp đã được hun đúc từ quê hương. Bác vẫn thích dùng tương Nam Đàn, cà pháo Nghi Lộc và thường đem thết đãi khách quý những món ăn dân dã của quê hương. Bác đã sống một cuộc sống giản dị, thanh đạm, tiết kiệm từ thời niên thiếu cho đến cuối đời. Chính vì vậy, Người đã đem những tinh hoa của văn hóa quê hương mình hòa lẫn với tinh hoa của các nước trên thế giới để “tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu Châu mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”.

Tuổi thơ của Người gắn bó với quê hương chỉ trong 9 năm. Năm 1911, Người ra đi tìm đường cứu nước với hành trình bôn ba hải ngoại suốt 30 năm. Trở về nước năm 1941, cùng Đảng lãnh đạo nhân dân ta làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đất nước lại bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược nên mãi tới năm 1957, Người mới có dịp về thăm quê lần thứ nhất. Đến cuối năm 1961, trở về thăm quê lần thứ hai và cũng là lần cuối cùng quê hương được đón Người.

Sinh ra trong một gia đình Nho học yêu nước, chứng kiến sự thất bại của phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa diễn ra trên chính quê hương mình và sự “bất lực” của các bậc tiền nhân… tất cả đã nung nấu, thôi thúc Người ra đi và tìm kiếm một con đường cứu nước mới. Và như thế, chính mạch nguồn truyền thống yêu nước của vùng đất “địa linh nhân kiệt” này như một lẽ tự nhiên không chỉ đã sản sinh ra Hồ Chí Minh mà còn góp phần tạo nên nền móng để hình thành hoài bão ra đi tìm đường cứu nước của Người.

Trong 30 năm sống xa Tổ quốc, tâm trí Nguyễn Ái Quốc vẫn luôn hướng về quê hương vẫn đang bị giày xéo dưới gót giày của đế quốc, thực dân. Người đã mạnh mẽ tố cáo sự áp bức bóc lột dã man của đế quốc Pháp đối với người dân “bản xứ’ trên các tờ báo như: Le paria, Nhân đạo, Đời sống công nhân và trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”…

Những hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trên đất Pháp đã tác động mạnh mẽ đến nhân dân trong nước, đặc biệt là thanh niên yêu nước Nghệ Tĩnh. Thế hệ thanh niên trong nước nói chung và Nghệ Tĩnh nói riêng lúc bấy giờ xem Nguyễn Ái Quốc như một người dẫn đường, là động lực thôi thúc họ xuất dương.

Thông qua những hoạt động tích cực của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài từ năm 1924 đến trước năm 1930, lớp thanh niên Nghệ Tĩnh xuất dương lúc bấy giờ đã được Người quan tâm, trực tiếp giáo dục, đào tạo, dìu dắt, thử thách và trở thành những người tuyên truyền, những người tổ chức cho cách mạng Việt Nam như: Trần Phú, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Phùng Chí Kiên, Trương Vân Lĩnh, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duy Điếm, Lê Thiết Hùng…  Họ là những người đầu tiên gieo hạt giống cách mạng trên quê hương Nghệ Tĩnh và cả nước bằng việc giáo dục lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào quần chúng đang sục sôi cách mạng. Lực lượng trẻ tuổi ấy là những cán bộ chủ chốt, là bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong bộ khung quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930.

Khi phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh nổ ra, Người vẫn theo sát và cùng với Trung ương Đảng chỉ đạo cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Nghệ Tĩnh. Trong bài “Nghệ Tĩnh Đỏ” viết ngày 19/2/1931 gửi Đông Phương Bộ của Quốc tế Cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện sự am hiểu sâu sắc về thiên nhiên, con người và phong trào yêu nước của quê hương Nghệ Tĩnh, đồng thời cổ vũ động viên, khích lệ phong trào đấu tranh của nhân dân tiến lên: “Địa thế hai tỉnh nhiều rừng núi, đất đai cằn cỗi, nông giang chẳng có, ở đây thường xẩy ra lụt, bão. Do đó nhân dân đói khát và nơi ăn chốn ở rất khổ sở, sưu thuế nặng nề và nạn áp bức chính trị làm cho cảnh ngộ của họ càng cùng cực hơn.

Nhân dân Nghệ Tĩnh nổi tiếng cứng đầu. Trong thời kỳ Pháp xâm lược cũng như trong các phong trào cách mạng quốc gia (1905-1925) Nghệ Tĩnh đã nổi tiếng. Trong cuộc đấu tranh hiện nay, công nhân và nông dân Nghệ Tĩnh vẫn giữ vững truyền thống cách mạng của mình…”([1])

Người cũng khẳng định: “Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh (28 đồn mới được dựng lên ở Nghệ An), tuyên truyền của chính phủ, báo chí… đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ Tĩnh…”([2])

Trong nước, Người yêu cầu Trung ương Đảng phát động phong trào toàn quốc “chia lửa” với Nghệ Tĩnh. Một làn sóng đấu tranh đã tràn khắp ba miền Bắc – Trung – Nam từ Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế, Sài Gòn…

Ở nước ngoài, Người yêu cầu Quốc tế Cộng sản và các Đảng anh em hãy quan tâm đến phong trào như kịp thời viết thư động viên phong trào, góp ý kiến và trao đổi rút kinh nghiệm đấu tranh, giúp đỡ về tinh thần, vật chất, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Đông Dương nói chung và nhân dân Nghệ Tĩnh nói riêng. Trong thư gửi Quốc tế Cộng sản tháng 2/1931, Người viết: “ Quốc tế Cộng sản và Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản cần gấp rút ra lời hiệu triệu của Đảng Cộng sản, trước hết là Đảng Cộng sản Pháp, giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới hãy ra sức ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Đông Dương mở chiến dịch chống nạn khủng bố trắng của đế quốc Pháp ở Đông Dương”( [3]). Đề nghị thiết thực này của Người đã được Quốc tế Cộng sản chấp nhận và ủng hộ. Ngày 27/2/1932, Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản đã gửi thư cho các Đảng Cộng sản Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ phải huy động công nhân và nhân dân lao động nước mình đấu tranh ủng hộ phong trào Cộng sản ở Đông Dương (tiêu biểu là Xô Viết Nghệ Tĩnh) về mọi phương diện. Trong thời gian này, nhân dân Pháp, Ấn Độ, hội Việt kiều yêu nước ở Xiêm đã mít tinh, biểu tình, quyên tiền ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Trong bài viết cho tạp chí “Những vấn đề hòa bình và CNXH”, Người cũng đã ca ngợi và đánh giá phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh là một phong trào xưa nay chưa từng có và để lại những bài học quý báu về vấn đề xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng cách mạng, về phương pháp và thời cơ giành chính quyền… Người viết: “ Tuy đế quốc Pháp đã dập tắt phong trào trong biển máu nhưng Xô – Viết Nghệ Tĩnh chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam. Phong trào tuy thất bại nhưng nó rèn luyện cho cuộc cách mạng tháng Tám sau này…”([4])

Tình thương, nỗi nhớ quê, nỗi lo lắng đến đời sống của đồng bào vẫn ngày đêm canh cánh, thường trực trong lòng Bác. Do bận công việc nước nhà, chưa về thăm quê được, nhưng Người luôn viết thư thăm hỏi động viên tỉnh nhà, xã nhà. Khi các đồng chí lãnh đạo tỉnh, cán bộ ở quê ra Hà Nội công tác, nếu có điều kiện Bác đều gặp gỡ, ân cần hỏi thăm về quê hương.

Chỉ nửa tháng sau ngày đọc Tuyên Ngôn độc lập, Người viết “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” vào ngày 17/9/1945. Trong thư Người viết: “Thơ này, tôi không dùng danh nghĩa Chủ tịch của Chính phủ, nhưng chỉ lấy danh nghĩa của một đồng chí già mà viết để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm với các đồng chí…”([5])

Hàng chục bức thư, các bài viết, bài nói chuyện hay những bức điện của Bác gửi về cho quê nhà Nghệ An đã nói lên sự quan tâm, thương yêu và tấm lòng của Người đối với quê hương như: “Lời cảm ơn đồng bào công giáo” (ngày 14/10/1945), “Thư gửi toàn thể bộ đội và dân quân tỉnh Nghệ An” (tháng 5/1948), “Thư cám ơn đồng bào trại sản xuất Nghệ An” (ngày 15/9/1948), “Thư gửi bộ đội lão quân huyện Nam Đàn” (ngày 17/2/1949), “Thư gửi các hội mẹ chiến sĩ Liên khu IV” (ngày 1/5/1949, “Thư gửi đồng bào tỉnh Nghệ An” (tháng 8/1949), “Điện gửi họ Nguyễn Sinh” (ngày 9/11/1950), “Thư gửi cụ Hà Văn Quận” (ngày 5/12/1953)…

Ngày 14/6/1957, Bác về thăm quê hương lần thứ nhất trong niềm náo nức, mong chờ của nhân dân huyện Nam Đàn nói riêng, tỉnh Nghệ An nói chung. Đối với Bác, ngày hôm ấy đã dánh dấu một mốc lịch sử trong đời, là ngày khép kín vòng tròn 50 năm tạm biệt quê hương, đi về phương Nam, bôn ba hải ngoại và trở về từ phương Bắc. Gặp lại đồng bào quê hương, nét mặt Bác rất xúc động, Người bắt tay, vẫy chào bà con. Vẫn giữ cho mình giọng Nghệ nằng nặng, trầm ấm, vang vọng, Bác trải lòng với nhân dân quê nhà: “Đã lâu về đến quê hương thì thường tình người ta tủi tủi, mừng mừng. Tôi không thấy tủi tủi mà chỉ thấy mừng mừng. Mừng mừng là vì sao? Từ lúc tôi ra đi và bây giờ trở lại thấy nước ta nói chung, tỉnh ta nói riêng có thay đổi rất nhiều. Thay đổi quan trọng nhất là lúc tôi ra đi, nước ta đang còn bị thực dân cai trị, đồng bào ta đều là những người nô lệ, bây giờ trở về thì đồng bào miền Bắc nước ta nói chung, Nghệ An nói riêng, là những công dân tự do làm chủ nước nhà. Đó là thay đổi to nhất…” ([6])

Về thăm quê, Bác không quên lối đi nhỏ vào nhà ngày xưa, cây bưởi trước nhà, cây mít, hàng cau phía sau, chiếc võng tuổi thơ, chiếc rương gỗ nhỏ, khung cửi của mẹ, chiếc phản gỗ và mấy pho sách của cha, những câu chuyện kể của bà… Ở những nơi Bác đến thăm, Bác khen ngợi những thành tích mà nhân dân quê nhà đã đạt được và nhắc nhở đồng bào và cán bộ phải ra sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, các ngành nghề khác.

Nói chuyện với Hội nghị cán bộ toàn tỉnh Nghệ An, Người lưu ý, tỉnh nhà phải “cần, kiệm, liêm, chính”, thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm; phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa. Người nêu rõ: Tiền đồ của mỗi người, nhất là người cách mạng, là nằm trong tiền đồ của dân tộc, nằm trong tiền đồ của giai cấp, không thể tách riêng được. Nhiệm vụ chúng ta phải ra sức củng cố chính quyền nhân dân và củng cố những tổ chức của nhân dân ở các địa phương và quan tâm đến đời sống của nhân dân.

Người mong muốn Nghệ An chuyển biến tốt về mọi mặt, nhất là chính trị và kinh tế. Người khẳng định: “Tỉnh ta có truyền thống cách mạng rất vẻ vang. Tôi xin hỏi đồng bào có thi đua với các tỉnh khác xây dựng để tỉnh ta thành một tỉnh gương mẫu không? Đồng bào có cố gắng được không? Một lần nữa tôi cảm ơn các cụ phụ lão, tất cả đồng bào, tất cả các cháu. Nhờ các cụ, anh chị em và các cháu chuyển lời chào của Trung ương, của tôi tới tất cả đồng bào hôm nay không có mặt ở đây.”([7])

Ước mong của Bác là được tận mắt thấy quê hương đổi mới và phát triển toàn diện về mọi mặt. Đến thăm Nhà máy Điện Vinh vừa mới được khởi công xây dựng, đi giữa ngổn ngang sắt thép, gạch đá, máy móc, Bác đã đến tận nơi ân cần hỏi thăm anh chị em công nhân và chuyên gia Liên Xô đang làm việc…

Bốn năm sau, ngày 8/12/1961, Bác Hồ về thăm quê lần thứ hai. Trong dịp này Bác đã nói chuyện với cán bộ và đồng bào tỉnh nhà tại Vinh; thăm Hoàng Trù và nói chuyện với cán bộ, đồng bào xã Nam Liên; gặp gỡ cán bộ và công nhân Nhà máy cơ khí Vinh. Đồng thời Người cũng đi thăm và nói chuyện với đồng bào xã Vĩnh Thành, với cán bộ và công nhân nông trường Đông Hiếu…

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các chiến sỹ lão thành cách mạng tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, ngày 9-12-1961

Buổi chiều, sau khi làm việc với Ban Chấp hành Tỉnh ủy, Bác đến thăm nhà ăn tập thể của cơ quan. Bác nâng từng chiếc lồng bàn lên để thấy lượng và chất của mỗi khẩu phần. Sau đó các đồng chí lãnh đạo tỉnh mời Bác ăn cơm tối, Bác nhận lời. Bữa cơm thết Bác cũng chỉ có mấy món đơn giản. Khi mọi người đã ngồi vào bàn ăn, Bác bảo một cán bộ đi cùng mang gói cơm độn ngô đỏ ra. Cơm gói của Bác được chia đều cho mọi người cùng ăn vui vẻ, ngon lành.

Khi thăm nhân dân xã Vĩnh Thành, Bác dặn “mọi việc trong hợp tác xã trước khi làm, ban quản trị phải đem ra bàn bạc với xã viên, hỏi ý kiến xã viên”. Ở nhà trẻ xóm Đông, sau khi thăm các cháu, Bác đưa kẹo cho bà Thậm, bà Miều và dặn “Kẹo Bác không nhiều, nhờ hai bà chia cho công bằng”. Ngay lúc nói chuyện, trời nắng gắt, một đồng chí cầm cây ô che cho Bác, Bác bảo “Ô không đủ che cho tất cả mọi người, chú đừng che riêng mình Bác, Bác không phải phong kiến, chú cất đi”… Toàn bộ những cử chỉ, lời nói, ánh mắt của Bác đều thể hiện sự quan tâm tình cảm sâu sắc của Bác đối với tất cả mọi người từ cụ già đến cháu bé, từ cán bộ đến người dân bình thường, nam cũng như nữ đều được hưởng “muôn vàn tình yêu” của Bác…

Sau lần về thăm quê cuối cùng, Bác vẫn thường xuyên quan tâm, viết thư thăm hỏi, động viên, khen ngợi kịp thời tới mọi tầng lớp nhân dân Nghệ An như: “Thư gửi đồng bào và cán bộ xã Nam Liên”, “Thư gửi đoàn viên và thanh niên ở công trường đường sắt Thanh Hóa – Nghệ An”, “Thư khen quân và dân Nghệ An đã bắn rơi 100 máy bay Mỹ”, “Thư khen đồng bào, bộ đội và cán bộ Nghệ An đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 900 của giặc Mỹ trên miền Bắc”, “Thư gửi đồng bào vá cán bộ các dân tộc huyện Quế Phong”, “Thư khen quân và dân Thành phố Vinh đã bắn rơi 100 máy bay giặc Mỹ”, “Thư gửi các cháu học sinh xã Nam Liên”, “Thư gửi cán bộ và nhân dân Nhà thương Nghệ An”, “ Điện gửi đồng bào xã Đoài”, “Thư khen Đội Thanh niên xung phong số 333 Nghệ An”…

Nhân kỷ niệm 34 năm ngày thành lập Đảng (3/2/2964), tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lời đề tựa tặng cho Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh với tình cảm trân trọng. Trong lời đề tựa , sau khi khẳng định thành quả và ý nghĩa của Xô Viết Nghệ Tĩnh, Bác đã căn dặn: “ …Cán bộ Đảng viên, đoàn viên thanh niên và toàn thể đồng bào Nghệ Tĩnh cần đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi thi đua xây dựng Nghệ An và Hà Tĩnh thành hai tỉnh gương mẫu, xứng đáng là quê hương của Xô Viết Nghệ Tĩnh anh hùng.” ([8])

Đặc biệt, ngày 21/7/1969  Bác đã viết “Thư gửi Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam tỉnh Nghệ An” với niềm mong muốn: “Nghệ An là một tỉnh rộng lớn, có tài nguyên phong phú, nhân dân cần cù lao động và rất cách mạng. Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc”([9])... Đây là bức thư cuối cùng cũng được xem như là bản di chúc thiêng liêng của Bác đối với quê hương.

Có thể khẳng định rằng, với quê hương Nghệ An, dù bôn ba khắp bốn biển năm châu, dù trải qua bao biến thiên của lịch sử, tình cảm và sự quan tâm của Bác giành cho quê hương vẫn luôn nồng ấm, thiết tha. Tình yêu quê hương, lòng thương dân của Bác không phải là tình thương ban ơn từ trên xuống mà xuất phát từ đáy lòng và được biểu hiện thành những hành động, lời nói cụ thể trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Những kỷ niệm trong những lần Bác về thăm quê hay những kỷ vật của Người giành tặng cho quê hương vẫn luôn được mỗi người dân quê hương khắc ghi, nâng niu, trân trọng. Muôn vàn tình yêu thương chứa đựng trong những lời căn dặn của Người đối với quê hương đến nay vẫn mang tính thực tiễn, là động lực để cán bộ, đảng viên và nhân dân Nghệ An tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người để xứng đáng là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu./.


TRÁCH NHIỆM CỘNG ĐỒNG NGẪM TỪ CÂU CHUYỆN HÀI

 Có một bác sĩ trong đoàn bác sĩ đi khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho đồng bào vùng cao, sau khi khám bệnh cho một cháu nhỏ đang tầm tuổi học tiểu học, bác sĩ kê đơn thuốc và ân cần dặn dò thuốc này cháu uống sau khi ăn no. Cháu bé ngẫm nghĩ một thoáng rồi thưa: thế này cháu không uống được thuốc này đâu ạ, vị bác sĩ hỏi sao vậy cháu; dạ chú từ lâu rồi cháu không được ăn no. Vị bác sĩ phải thay đổi lại lời dặn dò hướng dẫn cháu uống thuốc sau khi ăn là được cháu nhé. Đọc thoáng qua ta nghĩ là câu chuyện hài gây cười nhưng nghĩ sâu chúng ta không thể cười được khi nhiều mảnh đời đồng bào đang ăn đói, mặc rách, thiếu chỗ ngũ, ít được học hành hãy cùng chính sách của Đảng, Nhà nước tình đoàn kết dân tộc để đóng góp chung tay cho hạnh phúc dân tộc!

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI TRONG ĐẤU TRANH VỚI THÔNG TIN SAI TRÁI, XẤU ĐỘC TRÊN INTERNET, MẠNG XÃ HỘI!

         Trong Nghị quyết số 28-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Đảng ta đã đề cao trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, nhận định nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin ngày càng tăng và đặt ra mục tiêu phải chủ động phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả chiến tranh mạng.
     Thực tế, thời gian qua, đã xuất hiện một số hình thái chiến tranh mới như chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng, trực tiếp đe dọa chủ quyền, lợi ích quốc gia dân tộc trên không gian mạng. Các thế lực thù địch, phản động, tội phạm công nghệ cao đã triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước.
     Trước tình hình đó, đấu tranh với thông tin sai trái, xấu độc trên internet, mạng xã hội là việc làm cần thiết, là trách nhiệm của cả cộng đồng, trong đó có cán bộ, chiến sĩ quân đội. Việc thành lập Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng là hoàn toàn phù hợp với quy luật, xu thế khách quan, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Việc đấu tranh trên không gian mạng hết sức có vị trí vai trò rất quan trọng góp phần đấu tranh trên mọi lĩnh vực, nhằm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.
     Cán bộ, chiến sỹ trong toàn quân luôn nâng cao nhận thức hơn nữa trong việc đấu tranh chống mọi quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên không gian mạng bởi đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong giai đoạn hiện nay./.




Yêu nước ST.

"CHẤN HƯNG" DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ TRONG NHÀ TRƯỜNG!

         Trong các cuộc tiếp xúc cử tri của lãnh đạo Đảng, nhà nước, cử tri rất băn khoăn trước việc Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa môn Lịch sử là môn học tự chọn ở bậc Trung học phổ thông. Theo bà Nguyễn Thị Việt Nga - Ủy viên Ủy ban Văn hóa, giáo dục của Quốc hội, lịch sử của dân tộc ta rất hào hùng và hấp dẫn, tại sao chúng ta lại biến lịch sử hào hùng, hấp dẫn thành bài học khô khan?

PV: Thưa bà, vấn đề đưa môn Lịch sử là môn học tự chọn ở bậc trung học phổ thông đang nhận được nhiều ý kiến trái chiều. Cá nhân bà có quan điểm như thế nào trước vấn đề này?

Bà Nguyễn Thị Việt Nga: Theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo, bắt đầu từ năm học tới khối lớp 10 THPT, môn Lịch sử là môn tự chọn. Tôi không đồng tình với việc này. Giáo dục lịch sử không phải vấn đề thích hay không thích, không phải vấn đề đặt lên “bàn cân” để chúng ta trả lời rằng có cần hay không. Câu trả lời là đương nhiên rất cần thiết!

Tôi đã nghe lý giải của các chuyên gia rằng, chương trình THCS đã được học đẩy đủ lịch sử dân tộc cho nên lớp 10 nếu không chọn cũng không sao. Thực ra giáo dục lịch sử không thể nói đến đâu là đầy đủ. Giáo dục lịch sử đối với mỗi con người phải được bắt đầu từ thủa ấu thơ và không có điểm dừng. Lịch sử dân tộc là dòng chảy, việc giáo dục môn Lịch sử là để bồi đắp kiến thức, tình yêu nước, lòng tự hào dân tộc và quan trọng nhất từ đó xác định ý thức công dân của mỗi con người. Điều này rất cần thiết. Và, đây là việc phải làm thường xuyên, liên tục chứ không phải như các môn học khác là cung cấp lượng kiến thức nhất định. Cho nên theo tôi không nên để Lịch sử là môn học tự chọn.

Ở nhiều nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đã đưa môn Lịch sử là môn học bắt buộc. Đặc biệt lịch sử còn là văn hóa của dân tộc, thưa bà?

- Thực tế đã đúc kết, “văn hóa soi đường quốc dân đi”, từ trẻ đã tiếp cận lịch sử sẽ hình thành nên tính cách của con người. Gần đây nhiều tổ chức, cá nhân, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các bậc phụ huynh và công dân đều có ý kiến về vấn đề này. Tại dự thảo Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân gửi đến kỳ họp thứ 3 của Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam vừa xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã nêu lên những băn khoăn của dư luận xã hội, có ý kiến trái chiều về việc đưa môn Lịch sử là môn học tự chọn ở bậc THPT có thể sẽ gây ra hậu quả, hệ lụy khó lường. Điều đó có nghĩa nó không đạt được sự đồng thuận trong xã hội.

Theo bà, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần “ứng xử” như thế nào trước ý kiến không ủng hộ từ cử tri, các nhà khoa học?

- Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, sẽ xem xét lại việc này. Thực tế hiện tại có một số học sinh không thích môn Lịch sử và không có nhiều học sinh chọn học. Nhưng không thể không thích thì cho thôi, còn ai thích thì học. Do đó Bộ Giáo dục và Đào tạo cần rà soát xem vấn đề đặt ra lâu nay: Vì sao học sinh không thích học môn Lịch sử. Phải chăng kết cấu chương trình chúng ta chưa hợp lý? Cần phải có đổi mới toàn diện, chứ hiện nay vẫn dạy, nhồi nhét kiến thức theo kiểu hàn lâm, không phù hợp với học sinh.

Bây giờ không phải thấy dư luận phản ứng mà Bộ lại đưa trở lại, học như cách cũ mà cần xem xét lại để làm sao môn Lịch sử trong nhà trường phát huy tác dụng thực sự. Đơn cử như cần xem xét toàn diện việc dạy và học môn học này trong nhà trường hiện nay như thế nào? Nhược điểm ở đâu để chúng ta “chấn hưng” dạy và học Lịch sử trong nhà trường. Đừng để người Việt không biết lịch sử Việt Nam nhưng lại rất rành lịch sử nước khác. Điểm thi Lịch sử quá thấp thì lại xem có dạy nữa hay không? Đó là sai lầm.

Từ việc dạy học môn Lịch sử cho thấy đổi mới giáo dục chưa căn bản, vẫn còn nhiều lo lắng và băn khoăn, thưa bà?

- Tôi cho rằng tư duy về giáo dục cần phải đổi mới đầu tiên. Khi chúng ta chưa đổi mới tư duy, cứ loay hoay, vẫn dạy theo kiểu đáp án có sẵn mà không phát huy được sự sáng tạo và chủ động của học sinh. Mặc dù “hô khẩu hiệu” khá nhiều song từ kết cấu sách giáo khoa, phương pháp giảm tải, cách thi, cách đánh giá… đều chưa đổi mới được. Chưa đổi mới được là do chúng ta vẫn vướng mắc trong tư duy: thích con đường an toàn, và do đó vẫn dạy theo con đường cũ. Như vậy sẽ tạo ra một thế hệ chỉ biết đi những con đường mòn, không dám đột phá, sáng tạo, chỉ yên tâm khi giống mọi người. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, hội nhập với thế giới sâu rộng của Việt Nam thì chúng ta cần thay đổi tư duy giáo dục, phải có cái nhìn rất sâu để đổi mới giáo dục chứ không chỉ nói đổi mới một cách lý thuyết.

Phải đổi mới cách thức dạy và học môn Lịch sử

Tại buổi tiếp xúc cử tri ngày 14/5, trước lo ngại của cử tri về việc đưa môn Lịch sử thành môn học lựa chọn đối với bậc học THPT, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã giao Ủy ban Văn hóa, giáo dục chủ động tổ chức, nghiên cứu, tham vấn ý kiến chuyên gia về vấn đề này. Theo Chủ tịch Quốc hội, phải đổi mới cách thức dạy và học môn Lịch sử nhằm bảo đảm “dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn. Đây là vấn đề rất lớn, Ủy ban Văn hóa, giáo dục đang làm việc rất tích cực. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chính phủ cũng sẽ có báo cáo về vấn đề này để tiếp tục rà soát, đánh giá, nghiên cứu. Bởi việc học, hiểu rõ về lịch sử có ý nghĩa hệ trọng đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc./.
Ảnh: Bà Nguyễn Thị Việt Nga.
Yêu nước ST.

THẾ MÀ MÔN SỬ TIẾN SĨ NHIỀU VÀ RẤT NHIỀU? TIẾN SĨ MÔN SỬ NHIỀU HƠN THÍ SINH THI SỬ? TIẾN SĨ SỬ NHIỀU ĐỂ LÀM GÌ????

         66 người coi thi chỉ một thí sinh thi môn sử.
Vậy mà các bác cho rằng môn sử học nhiều hơn 71 tiết so với những năm trước học nhiều hơn nhưng chất lượng không có gọi như thế nào cho đúng? Vậy giáo sư tiến sĩ môn sử dùng để làm gì?

Những năm trước tích hợp và thi sử còn thê thảm vậy nay các bác cho tích hợp môn sử lại chơi trò cho môn sử tự chọn thì không còn ai học sử nữa. 

 Kế hoạch lật sử thành công miễn mãn luôn. 

Các bác vừa được ăn vừa được phủi tay sạch chỉ chết chế độ XHCN Việt Nam sẽ nát bét. 

Các bác cứ cho 1000 tiết sử cho nó oách. 1000 tiết sử cho vào tích hợp và tự chọn thì lớp trẻ chỉ biết về sử như bò đội nón. 

 Sau vài năm nữa các bác cho hết nguyên ảnh ngô đình Diệm nguyên văn Thiệu là chế độ được thế giới công nhận, công sản miền Bắc xâm lược Miền Nam thế là chế độ XHCN Việt Nam đi tong. Các bác tổng hết những người yêu nước vào máy chém thế là các bác được ăn trắng mặc trơn cờ vàng được các bác treo lên hạ cờ đỏ xuống coi như việc các bác đã hoàn chỉnh

Chúc mừng bọn lật sử thành công dân chúng tôi nói cấm sai.

Đừng lừa dân cái trò đưa môn sử tích hợp và tự chọn chẳng khác gì bỏ môn sử?




Môi Trường ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: MỘT THỜI CHIẾN TRẬN!

         Đầu năm 1980, đất nước còn nghèo lắm, ngày 2 bữa cơm độn 7 phần là sắn, khoai còn không đủ no. Thằng con trai như tôi, cao lêu nghêu hơn 1,7 m, ốm trơ xương chỉ 47 kg - vừa đủ ký nhập ngũ thời đó. Chúng tôi biết nhập ngũ là ra trận, đi vào Chiến trường K lành ít dữ nhiều.

Khi lệnh gọi nhập ngũ được gửi về nhà, không khí gia đình trầm hẳn, trong bữa cơm không ai nói với ai lời nào. Mẹ tôi bỏ cơm. Cha tôi thì không nói gì, chỉ hơi trầm tư và hút nhiều thuốc…

Còn 3 ngày nữa là đến ngày lên đường, tôi nhớ khoảng cuối tháng giêng năm 1980, lúc này ở quê tôi là những tháng ngày giáp hạt, đói vàng võ. Gạo trong nhà đã hết mà lúa ngoài đồng còn chưa chín. Mẹ tôi chọn khoảnh lúa tốt nhất, mới vừa ưng ửng, cắt một bó mang về đạp, phơi khô xong xay giã rồi nấu một bữa cơm trắng để tiễn tôi đi lúc tờ mờ sáng. Có lẽ đây là bữa cơm mà tôi nhớ suốt đời.

Khi xe nhận quân đến sân của UBND xã ở đầu làng, mấy đứa em chạy về hớn hở báo tin. Mẹ tôi lặng thinh, bà lững thững theo tôi ra đến đầu ngõ rồi dừng lại. Có lẽ đi nữa mẹ sợ không cầm được nước mắt, mẹ sợ làm tôi bận lòng.

Còn cha, ông theo tôi ra đến tận đầu làng. Lúc từ biệt, vỗ vai tôi, ông nói: "Mày giữ sức khỏe, vào lính học khôn nghen con". Lúc này sống mũi tôi đà cay cay, tôi chỉ nói được một câu: "Dạ! Cha về đi". Xe chuyển bánh, bóng cha nhỏ dần rồi khuất sau bóng cây ven đường...

Hơn nửa ngày, xe đưa chúng tôi đếncăn cứ Chu Lai, tỉnh Quảng Nam - nơi huấn luyện tân binh của Quân khu 5.

Thời gian như không còn ý nghĩa

Xong 3 tháng quân trường, chúng tôi vào chiến trận. Xe đưa chúng tôi qua biên giới, tại cửa khẩu Lệ Thanh, huyện Đắk Cơ, tỉnh Gia Lai. Bên kia biên giới là cửa khẩu Oyadav của Campuchia.

Tôi được biên chế vào Trung đội 2, Tiểu đoàn Trinh sát 32 - Quân khu 5. Tiếp theo là 20 ngày huấn luyện nghiệp vụ và chiến thuật trinh sát rồi từ đây vào chiến trận. Chúng tôi không có thời gian để suy nghĩ, không nhớ nhà, không còn biết buồn hay sợ sệt gì nữa, trong đầu chỉ muốn xung trận...

Trận đánh đầu tiên - dọc tuyến đường đất đỏ 126, con đường huyết mạch để chi viện và vận chuyển nhu yếu phẩm của quân ta từ dọc biên giới Lào đến tỉnh biên giới Preah Vihear của Campuchia - phải nói là ác liệt, vì trục đường này luôn bị tàn quân Pol Pot tập kích. Trận đánh sinh tử nhất là trận T23 - trận quyết định để quét sạch tàn quân Pol Pot trên trục đường 126 này.

Cuối cùng, chúng tôi cũng dẹp được tàn quân Pol Pot nhưng thiệt hại nặng do lính mới chưa thạo địa hình, chưa quen chiến trận. Bạn tôi - Phạm Văn Thành, quê tỉnh Quảng Ngãi - bị thương nặng trong trận này. Tôi chỉ kịp ký quyết định làm phẫu thuật và để bạn ở lại tuyến sau rồi tiếp tục hành quân. (Sau này giải ngũ, may mắn Thành còn sống).

Chiến trận ngày một ác liệt, hết trận này đến trận khác, chúng tôi quen dần với địa hình, địa vật nơi này, bản lĩnh và thiện chiến hơn. Vậy mà đến khi giải phóng được đường 126 thì số quân ra trận với tôi ngày đầu đã hy sinh gần một nửa, số còn lại bị thương cũng nhiều, đơn vị phải bổ sung quân nhiều lần.

Mùa mưa năm 1980, chúng tôi đánh ở tỉnh Stung Treng, cách Phnom Penh khoảng 300 km, sát biên giới Lào. Chiến trận giằng co nhiều tháng liền, lương khô khó nuốt và mưa rừng cứ ám ảnh. Hai bên vây ráp, quần nhau cả tháng. Quân phục trên người bị gai, cỏ cào xước rách tả tơi. Có lúc lương khô đã cạn, đạn dược gần hết mà đường tiếp viện bị địch mai phục cắt đứt, chỉ huy ra lệnh để dành đạn, khi phát hiện mục tiêu khoảng 20 m mới được bắn...

Cứ như thế, tháng ngày trôi qua, hết trận này đến trận khác, lương khô, cơm vắt, ngủ rừng… và đồng đội bao lớp đã hy sinh. Càng khổ cực chúng tôi càng căm thù Pol Pot, xung trận càng cương quyết hơn. Thời gian với chúng tôi dường như không còn ý nghĩa. Tôi không nhớ là mình đã trải qua bao nhiêu trận đánh, không còn phân biệt mùa trong năm, chỉ biết hai mùa nắng - mưa và quanh mình là súng đạn, mùi thuốc súng và khói lửa chiến tranh.

Vui nhất là khi Tết đến. Cuối năm, chiều biên giới xa xôi, chúng tôi ăn bữa cơm đầy đủ theo chế độ nhưng không có rượu. Đồng đội có đứa lén mang bộ đồ lính còn lành lặn của mình ra dân đổi rượu. Đêm cuối năm, chúng tôi ra dân uống rượu, hát ca và bập bẹ tỏ tình bằng tiếng người bản xứ, dù biết có thể sẽ bị kỷ luật. Nhưng thôi, mai xung trận, đời lính... biết đâu ngày trở lại.

Những tháng ngày bám địch nơi biên giới nằm sát Thái Lan, nơi từng chứng kiến bao cuộc giao tranh ác liệt. Chúng tôi đến để đánh dẹp tàn quân Pol Pot ẩn nấp ở đây.

Cuộc chiến cam go chứ không như chúng tôi nghĩ là sẽ đánh nhanh thắng gọn. Hai bên giằng co kéo dài mấy năm trời, hao binh tổn sức. Có những đồng đội vừa được tiếp viện cho đơn vị tôi chưa kịp nhớ tên đã hy sinh, có chiến hữu dạn dày trận mạc cũng nằm lại miền biên giới hoang lạnh.

Ác liệt nhất ở Preah Vihear là trận đánh Đồi 147. Gần nửa năm, từ mùa khô qua đến mùa mưa mà vẫn chưa giải phóng được Đồi 147 này. Đồng đội bị thương và hy sinh không biết bao nhiêu mà kể...
Đánh trận mãi cũng mệt mỏi, hao mòn dù tôi không còn sợ chết. Tôi cũng không còn nhớ nhà, nhớ quê hay nhớ người thân nữa. Nhiều lúc tôi ước sao mình không còn phải nhìn thấy cảnh tang thương, chết chóc. Thế nhưng, trước mặt quân thù còn đó, sau lưng là đồng đội đặt niềm tin vào người đi đầu. Là trinh sát, tôi đi đầu dẫn đường, mở lối dò gỡ bom mìn mà nản chí thì đồng đội sẽ ra sao? Thế là lòng căm phẫn Pol Pot sôi lên, tôi quyết chiến đấu với chúng đến cùng.

Sau này, khi đọc báo hay xem tivi, thấy không ít người viết hay kể về Chiến trường K đầy thơ mộng, tôi nghĩ họ tô vẽ thêm cho thú vị. Với tôi, đó là những tháng ngày ác liệt và dữ dội nhất. Một phần tuổi thanh xuân của tôi đã gắn chặt với nơi này. Đồng đội tôi, có người để lại một phần cơ thể, có người mãi mãi nằm lại đó…

Tháng 4-1984, đơn vị tôi được lệnh rút về tuyến sau, một tháng sau thì giải ngũ. Khi cùng đồng đội cầm quyết định giải ngũ trên tay, tôi mới dám tin là mình còn sống.

Lúc này, hình ảnh cha mẹ, người thân hiện ra mồn một. Chúng tôi nhớ nhà, nhớ cha mẹ, nhớ quê… Nghịch lý một điều là lúc giải ngũ, có người mới... sợ chết. Bởi lẽ, nhiều đồng đội của tôi khi cất quyết định xuất ngũ trong balô rồi mà trên đường về biên giới lại bị trúng mìn Pol Pot gài và hy sinh, thật đau xót!

Khi tôi về đến đầu làng, hàng xóm, người thân ra đón rất đông. Từ xa, tôi đã nhìn thấy cha mẹ. Khi tôi đi tới, cha tôi ngờ ngợ chăm chú nhìn. Có lẽ vì sau 5 năm, tôi đã khác nhiều, đen trũi và dáng người cao lớn, hơn 70 kg so với 47 kg hồi nhập ngũ.

Rồi cha tôi chạy đến ôm chầm tôi và reo lên "Lên, Lên!". Tôi vờ né ra và nói: "Con đâu phải là con của chú". Cha tôi tiu nghỉu rồi tuyệt vọng: "Trời ơi! Không lẽ thằng Lên chết rồi...". Lúc này tôi mới quay lại ôm lấy cha, nghẹn ngào: "Con, Lên đây". Cha mẹ tôi òa khóc. Lần đầu tiên tôi thấy cha mình khóc. Thì ra, khi con người ta hạnh phúc và đau khổ đều có thể khóc và khóc cũng móm mém giống nhau.

Giờ đây, chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm. Bạn chiến đấu với tôi còn sống không nhiều, cha mẹ tôi giờ cũng thành người thiên cổ nhưng ký ức chiến trường vẫn còn mãi trong tôi./.
Bài và ảnh CCB Trần Xuân Lên. Tác giả (bìa phải) cùng đồng đội ở Chiến trường Campuchia năm 1980.
Yêu nước ST.

Bài học nhớ đời

 

Thoáng thấy bóng ông Tuyến đi về qua ngõ, ông Tính chạy ra gọi giật giọng:

Phản bác luận điệu đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác - Lênin

 

Một trong những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin.

"THEN CHỐT CỦA THEN CHỐT"

         Một trong những bài học sâu sắc của sự nghiệp cách mạng là chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là khâu “then chốt của then chốt" trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Đảng ta mạnh là nhờ các tổ chức đảng vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh.
      Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận quan trọng về công tác này.
     Tuy nhiên trong thời gian vừa qua, trên các phương tiện thông tin chúng ta thấy được, vẫn còn một số ít cán bộ, đảng viên yếu kém về trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ; tụt hậu về trí tuệ, năng lực tư duy, năng lực tổ chức và hoạt động thực tiễn trước yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, thậm chí có cả cán bộ Quân đội và Công an vi phạm kỷ luật của Đảng đến mức phải xử lý pháp luật. Đó là điều đáng tiếc, điều đó tạo ra kẽ hở để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động lợi dụng xuyên tạc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
      Để phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế nêu trên, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, mỗi chúng ta là cán bộ, đảng viên của Đảng cần tăng cường tự giáo dục, rèn luyện mình về phẩm chất đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao năng lực, tác phòng công tác.
Đó là cách duy nhất để Nhân dân tin yêu cán bộ, theo Đảng chọn đời./.




Môi Trường ST.

THẾ GIỚI-VIỆT NAM, VIỆT NAM-THẾ GIỚI: KHÔNG NGƯỜI THÂN, KHÔNG NGƯỜI CỔ VŨ NƯỚC NHÀ,..VĐV ĐIỀN KINH TIMOS LESTE GIƠ CAO LÁ CỜ VIỆT NAM 🇻🇳 ĐỂ ĂN MỪNG HUY CHƯƠNG BẠC ANH CŨNG KHÔNG QUÊN CẢM ƠN SỰ CỔ VŨ CỦA CĐV VIỆT NAM!

     Mới đây, màn ăn mừng sau khi giành huy chương bạc của vận động viên điền kinh Felisberto De Deus người Timor Leste khiến nhiều người xúc động. Cụ thể, sau khi giành huy chương bạc trong nội dung 10.000m nam tại SEA Games 31, vận động viên người Timor Leste đã nở nụ cười vui mừng, khoác trên vai lá quốc kỳ của quê hương mình. Đặc biệt, trên tay anh vẫn giữ chặt lá cờ Việt Nam như một lời cảm ơn tới cổ động viên Việt Nam vì đã tiếp thêm sức mạnh cho anh dù phải thi đấu ở nơi đất khách quê người.

Thi đấu trên sân khách, không bạn bè, không người thân, không cổ động viên đến từ quê hương, các cầu thủ dường như đã thiếu đi phần nào ngọn lửa tiếp sức. Sau khi về đích, vận động viên Timor Leste đã chạy đến và cùng ăn mừng với hai tuyển thủ Việt Nam là Nguyễn Văn Lai và Lê Văn Thao. Anh chàng cũng không quên gửi lời cảm ơn đến CĐV Việt Nam vì đã tiếp thêm sức mạnh cho anh cùng các đồng đội. Và đây chính là tấm huy chương điền kinh đầu tiên mà đoàn thể thao Timor Leste giành được trong lịch sử tham dự SEA Games./.
Môi Trường ST.