Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

Nhận diện thủ đoạn xuyên tạc về chính sách thương binh - liệt sĩ

 


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến việc chăm sóc thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ. Người đã cùng Trung ương Đảng đề ra nhiều chính sách ưu đãi người có công với nước. Chính vì vậy, ngày 27/7/1947, tại gốc đa xóm Bàn Cờ (xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên), trên 300 cán bộ, bộ đội và đại diện các tầng lớp nhân dân địa phương đã họp mặt nghe công bố bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận sự ra đời Ngày Thương binh - Liệt sĩ ở nước ta.

Trong thư Bác viết: “… Thương binh là những người đã hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu… Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy…”. Từ đó, ngày 27-7 hàng năm đã trở thành Ngày Thương binh - Liệt sĩ. 

Đến nay, các chủ trương, chính sách thương binh - liệt sĩ vẫn phù hợp với lòng dân, để tôn vinh, ưu đãi người có công với nước. Cùng với sự phát triển của đất nước, diện đối tượng chính sách, người có công được mở rộng hơn, chế độ chăm sóc, ưu đãi được nâng lên. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa đã thực sự thành phong trào rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương.

Thế nhưng, lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, trên không gian mạng đã xuất hiện những bài viết, video clip và một số tác phẩm văn học xuyên tạc chính sách thương binh - liệt sĩ; phủ nhận sự hy sinh, đóng góp của những người có công với nước. Chúng trắng trợn cho rằng: Đất nước được giải phóng là của cả dân tộc chứ không phải của riêng các anh hùng liệt sĩ, vì vậy, cũng không cần quan tâm quá nhiều đến đối tượng này; kinh tế đất nước chậm phát triển là do gánh nặng của các chính sách xã hội, trong đó, có thực hiện chính sách hậu phương, quân đội hay những chính sách thương binh, liệt sĩ. Nguy hiểm hơn, chúng tìm cách đánh đồng với những người hy sinh vì chính nghĩa với những kẻ cam tâm cho thực dân, đế quốc bằng những luận điệu hết sức xảo trá nhằm hướng lái dư luận chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đổi trắng thay đen, bóp méo, xuyên tạc lịch sử - đó không phải là chiêu trò gì mới. Trên thực tế, không ít chiến thắng, sự kiện lịch sử của Đảng và Nhân dân ta cũng đã bị những phần tử cơ hội chính trị, phản động bẻ cong, bóp méo, xuyên tạc một cách trắng trợn. Đó là hành vi thấp hèn của những kẻ vô ơn bạc nghĩa, quay lưng với quá khứ, xúc phạm đến anh linh những người đã hy sinh thân mình cho Tổ quốc. Những luận điệu của chúng là hoàn toàn sai trái với mưu đồ gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. 

Cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng: Một vài năm trước, bên cạnh việc thực hiện tốt những chính sách người có công, đâu đó vẫn còn những sai phạm đáng tiếc xảy ra. Nổi cộm có những hành vi trục lợi chính sách, khai man hồ sơ, làm giả hồ sơ thương binh của một vài cá nhân… thu lợi bất chính hàng tỷ đồng; gây bức xúc trong nhân dân, nhất là những người có công... Nhưng các đối tượng này đã phải chịu những hình phạt cao nhất của pháp luật Việt Nam.Tuy nhiên, đây chính là kẽ hở để kẻ xấu tiếp tục công kích và bôi nhọ chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Chúng ta không ai mong muốn con cháu mình tiếp tục phải chịu đựng gian khổ, tiếp tục phải đổ máu, hy sinh. Nhưng điều đó chỉ có được khi chúng ta biết trân trọng quá khứ, giữ gìn, kế thừa và phát huy truyền thống của ông cha. Vì vậy, những mưu đố xấu xa của những phần tử cơ hội, phản động nhằm xuyên tạc, bôi xấu chế độ, chính sách đối với thương binh, liệt sĩ, người có công với các mạng chẳng những không lừa được ai mà chỉ thêm lộ rõ "tim đen" của những kẻ hại dân, phản nước.

TMT

Trị “bệnh” hô khẩu hiệu

     Hiện nay, bên cạnh những cán bộ, đảng viên luôn mẫn cán, hết lòng vì công việc, luôn nói và làm theo Nghị quyết của Đảng... thì vẫn còn hiện tượng ở nhiều nơi, nhiều thời điểm có một số cán bộ “giỏi” hô khẩu hiệu. Họ nói hay, đúng chủ trương, nghị quyết của Đảng nhưng nhiều việc làm lại đi ngược với lời nói, thậm chí còn gây hậu quả xấu. Đây cũng là một trong những biểu hiện mang mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải đấu tranh.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã chỉ ra một số vấn đề yếu kém trong công tác lãnh đạo, gián tiếp chỉ ra căn “bệnh” hô khẩu hiệu: “Việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên”. Trong nhiều lần đi cơ sở và ở các hội nghị lớn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đều nhắc nhở cán bộ tránh “bệnh” hô khẩu hiệu: “Đừng có hô khẩu hiệu. Nói thế thì phải làm thế, nếu chỉ làm vì mình, vì gia đình mình thì hỏng rồi”.

Để trị “bệnh” hô khẩu hiệu, chúng ta cần những cán bộ làm giỏi hơn nói. Họ phải là những người trung thành, tiên phong trong tổ chức, lãnh đạo và quản lý; sáng tạo trong xây dựng các dự án, đề án phục vụ xã hội, nhân dân.

Muốn làm vậy thì cán bộ cấp trên phải gương mẫu, xông pha, từ bỏ thói mị dân bằng những mỹ từ; cần phải xây dựng phương pháp làm việc dân chủ, công khai; minh bạch các thông tin liên quan đến tài chính, đất đai, đầu tư công... trong thực hiện để nhân dân giám sát. Ngoài ra, phải đấu tranh mạnh hơn nữa với những cán bộ có biểu hiện quan liêu, gia trưởng và độc đoán, chuyên quyền; kịp thời phát hiện, bồi dưỡng và mạnh dạn sử dụng, cất nhắc những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, thường xuyên chăm lo cơ sở, hướng về nhân dân.

Song hành với đó là cần cải tiến quá trình kiểm tra thực hiện nghị quyết, chỉ ra những yếu kém trong tổ chức thực hiện, không để xảy ra hiện tượng lấy khẩu hiệu, thành tích ảo hoặc vay mượn thành tích để che lấp những hạn chế. Trong kiểm tra phải quyết liệt, chỉ rõ sai phạm và cách khắc phục, ngăn ngừa tiêu cực từ trong trứng nước.

Đồng thời, cần phải cải cách công tác tuyên truyền, chấn chỉnh lại công tác thi đua, khen thưởng đúng người, đúng việc, tránh “nói hay cày dở”, “phát mà không động”. Ở mỗi chi bộ, nhất là các chi bộ cơ quan, cần phát huy dân chủ, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình.

Nói phải đi đôi với làm, nói và làm phải thống nhất, thông suốt, hiệu quả chính là điều mà nhân dân, xã hội thời nào cũng cần, cũng trọng và đặt niềm tin. Đừng để niềm tin của nhân dân đứt gãy bởi “đặc sản” là “bệnh” hô khẩu hiệu.

TMT

Yêu cầu tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới

     Trong thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương, Quân ủy Trung ương đến tổ chức cơ sở đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; nắm chắc tình hình, rà soát, thẩm tra vấn đề lịch sử chính trị và chính trị hiện nay nên công tác bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đề bạt cán bộ, phục vụ kịp thời, hiệu quả công tác nhân sự. Kết quả nổi bật của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là đã góp phần quan trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội cũng như củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội; cán bộ, chiến sĩ quân đội cùng toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ chính trị nội bộ vẫn còn những hạn chế nhất định cần phải tiếp tục giải quyết tốt hơn, nhất là khắc phục sự bị động, lúng túng trong rà soát, thẩm tra, xác minh, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị của các đối tượng; nắm và quản lý tình hình chính trị nội bộ sâu sát, kịp thời hơn. Thực hiện các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước của một số cơ quan, đơn vị, cá nhân cần nghiêm túc hơn, không để xảy ra sơ hở, mất cảnh giác, kể cả ở cơ quan, đơn vị, vị trí trọng yếu, cơ mật. Cùng với đó, phải phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên, chặt chẽ hơn.

Để làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp, biện pháp cụ thể, khả thi để nâng cao hơn nữa trình độ nhận thức, hiểu biết về vị trí, vai trò, nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Ba là, chấp hành nghiêm và thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định của Đảng, Nhà nước, quân đội về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhất là các quy định về bảo mật, không để lộ, lọt, mất thông tin; không viết bài, đưa tin, phát ngôn sai quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội và trong quân đội; thực hiện nghiêm Quy định số 126-QĐ/TW ngày 28-2-2018 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về quy định những điều đảng viên không được làm. Thực hiện tốt các phương châm trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm không bỏ sót những người có năng lực, trình độ trong quá trình thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Bốn là, thường xuyên thực hiện tốt công tác nắm tình hình, rà soát chính trị nội bộ. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và có biện pháp sử dụng, quản lý cán bộ, đảng viên phù hợp đối với những trường hợp có vấn đề chính trị. Thực hiện tốt hơn nữa việc kê khai bổ sung lý lịch đảng viên, kiểm tra thẻ đảng, hộ chiếu, các giấy tờ liên quan đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; kê khai các hoạt động đi ra nước ngoài, quan hệ với nước ngoài của cán bộ, đảng viên để kịp thời phát hiện vi phạm và uốn nắn.

Năm là, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ làm công tác bảo vệ an ninh ở các cấp. Chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao hơn nữa vai trò của cơ quan, cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao ý thức trách nhiệm, niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, đảng viên được bổ nhiệm, đề bạt, cử đi học, ra nước ngoài. Đồng thời, xem xét kỹ lưỡng về mặt chính trị, nhất là việc nhận xét, đánh giá bảo đảm của cơ quan bảo vệ an ninh theo phân cấp.

Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung hết sức quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Với sự quyết tâm cao, công tác bảo vệ chính trị nội bộ sẽ tiếp tục đạt được những kết quả tốt góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

TMT

Cần hiện thực hóa “4 không” trong phòng chống tham nhũng hiện nay

 


Trong  Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay thì "chống giặc nội xâm" là nhiệm vụ rất quan trọng nhưng vô cùng khó khăn, phức tạp, bởi tham nhũng, tiêu cực thường xảy ra ở cán bộ có chức, có quyền.

Nó đòi hỏi chúng ta phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục, bền bỉ ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự, với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm. Đặc biệt, phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để "không thể tham nhũng"; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để "không dám tham nhũng"; và một cơ chế bảo đảm để "không cần tham nhũng, không muốn tham nhũng”. Chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách để bảo đảm thực hiện “4 không” này.

Trước hết, phải “tuyên chiến” với “chạy chức”, sở dĩ trước hết phải “tuyên chiến” với “chạy chức”, vì đây vừa là biểu hiện rõ nhất của sự tha hóa quyền lực, vừa là nguyên nhân cơ bản, trực tiếp dẫn đến tha hóa quyền lực, tham nhũng, tiêu cực. Cổ nhân đã đúc rút “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”. Người không tốt mà lại làm cán bộ, nắm quyền lực trong tay thì đương nhiên sẽ dẫn đến tha hóa quyền lực. Ai đó đã phải đầu tư để “chạy chức”, “chạy quyền” thì tất yếu sẽ nghĩ cách tham nhũng, tiêu cực để ít nhất là thu hồi số tài sản đã dùng để “chạy”, rồi còn phải tìm cách “chạy” tiếp. Thật vô cùng nguy hiểm vì đối tượng “chạy chức” sẽ lại ưu ái sử dụng những người biết “dùng phong bì, đi cửa sau”. Cái vòng “chạy chọt” cứ thế tiếp diễn, khiến người thực sự có tâm, có tài không được trọng dụng. Tha hóa quyền lực nói chung và tham nhũng, tiêu cực nói riêng vì thế sẽ ngày càng nghiêm trọng, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Do đó, trước tiên phải chặn bằng được nạn “chạy chức”, “chạy quyền”, kiểu “nâng đỡ không trong sáng”.

TMT

Cảnh báo sự sa sút lý tưởng cách mạng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

 


Trong thời gian vừa qua, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên rất đáng quan ngại. Biểu hiện đầu tiên trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra là một bộ phận cán bộ, đảng viên: “Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Trong lĩnh vực tư tưởng chính trị, đã có không ít cán bộ, đảng viên, thậm chí có một số ít cán bộ giảng dạy lý luận chính trị nhưng bản thân, ở các mức độ khác nhau, không còn tin vào những quan điểm cơ bản, những chân lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin; tuyên truyền những điều không phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng, bất chấp những thành tựu to lớn, rất đáng tự hào mà đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước hiện nay và được thế giới đánh giá cao. Cần lưu ý rằng, sự phủ nhận ngấm ngầm, không bộc lộ ra mặt của họ một khi có cơ hội sẽ bùng phát cũng đáng ngại và nguy hại không kém. Tấm gương tày đình về sự thờ ơ, phai nhạt, phản bội lý tưởng cách mạng đã từng xảy ra trong Đảng Cộng sản Liên Xô có hàng chục triệu đảng viên, trong lực lượng vũ trang của Liên Xô một thời rất hùng mạnh và ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây là bài học đắt giá mà chúng ta không thể lơ là, chủ quan, mất cảnh giác hay coi thường.

Báo động về sự suy thoái đạo đức, lối sống, nhất là về sự suy thoái lý tưởng cách mạng của một bộ phận cán bộ, kể cả một số cán bộ cấp cao, trong thời gian vừa qua hết sức đáng ngại. Chủ nghĩa cá nhân, động cơ kiếm tiền, bao che để trục lợi, lợi dụng khe hở của công tác quản lý và luật pháp để thu vén, làm giàu cho bản thân và gia đình đều là những nguyên nhân trực tiếp khiến người có chức, có quyền, có địa vị cao trong xã hội trở thành tội phạm. Nhưng nguyên nhân chủ yếu mang tính quyết định, dẫn họ đến sự thoái hóa đó chính là sự tu dưỡng của bản thân quá kém, đặc biệt là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, điều mà họ đã từng tuyên thệ trung thành suốt đời trước cờ Đảng khi họ được kết nạp vào Đảng.

Rõ ràng là sự lao dốc của những cán bộ đã từng trải ấy trên các cương vị công tác họ được đảm nhận, suy đến cùng là do lối sống buông thả, do sự tham lam quyền lực vô độ, muốn có thật nhiều tiền, muốn làm giàu thật nhanh mà không nghĩ đến hậu quả. Chính họ đã không đủ can đảm để chống lại những "bả" vinh hoa, phú quý không chính đáng. Sự lao dốc không phanh ấy, một lúc nào đấy thuận lợi, rất có thể sẽ dẫn đến chỗ góp phần bán rẻ cả đồng chí, đồng đội, phản bội lại Tổ quốc và quay lưng lại với nhân dân.

Để ngăn sự sa sút lý tưởng cách mạng, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần đấu tranh cách mạng, nghiêm khắc với chính bản thân cá nhân, gương mẫu trong mọi lúc, mọi nơi, trong cuộc sống và công việc, thường xuyên đấu tranh trước những mặt trái của xã hội.  

TMT

Lý tưởng cách mạng - ngọn đuốc soi đường cho cán bộ, đảng viên đi đúng hướng

 


Trong cuộc sống của mỗi con người có thể có các loại lý tưởng khác nhau. Có lý tưởng sống được con người nuôi dưỡng suốt cả cuộc đời; cũng có lý tưởng thuộc về một mặt nhất định nào đó, chẳng hạn như lý tưởng chính trị, lý tưởng học vấn, lý tưởng nghề nghiệp, lý tưởng đạo đức, v.v.. Dù là loại nào thì lý tưởng cũng đều đóng vai trò định hướng, có tác dụng điều chỉnh hoạt động và đặc biệt là có sức mạnh kích thích con người hành động. Con người sống trong xã hội mà nếu không có lý tưởng thì thật là vô vị, là “sống hoài, sống phí”.

Sống trong một chế độ xã hội nhất định nào đó thì lý tưởng cách mạng của con người thuộc vào loại lý tưởng chính trị. Bởi vậy, lý tưởng cách mạng không phải là cái gì đó quá viển vông, xa vời hoặc quá trừu tượng mà con người không bao giờ có thể đạt tới. Lý tưởng chính trị của người cách mạng trong thời kỳ mà giai cấp tư sản vừa lúc mới manh nha, còn non trẻ là lật đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến già cỗi, bảo thủ, cản trở sự phát triển để thiết lập chế độ chính trị tư sản, xác lập quyền thống trị của giai cấp tư sản đang lên. Lý tưởng cách mạng của những người công nhân giác ngộ sống trong xã hội tư bản đầy rẫy bất công là lật đổ, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, mong ước xây dựng một xã hội tự do, công bằng, nhân văn, bình đẳng.

Lý tưởng cách mạng chung của những người yêu nước chân chính ở các nước đã từng là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân không có gì khác hơn là đấu tranh giành lại độc lập cho đất nước và dân tộc mình.

Trong tất cả các giai đoạn cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính lý tưởng cách mạng “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã thúc đẩy mọi cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, vượt qua mọi hiểm nguy, dấn thân, xông pha vào những nơi khó khăn nhất, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh thân mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhờ vậy mà cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thành công, hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thắng lợi trọn vẹn, giang sơn bị chia cắt nhiều năm đã được thu về một mối.

Tiếp nối truyền thống cách mạng của cha ông thuở trước, giờ đây, đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng nhận thức rõ lý tưởng như Bác Hồ từng khẳng định, đó là: “Mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc”; “phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân”; “không có gì quý hơn độc lập, tự do”; “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Những người theo lý tưởng cách mạng của Đảng cũng ra sức thực hiện Cương lĩnh năm 2011: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Nhờ sự đoàn kết nhất trí, sự đồng lòng ra sức phấn đấu, lao động kiên cường của cả dân tộc, trong đó có các cán bộ, đảng viên, dưới sự lãnh đạo của Đảng mà “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Để hiện thực hóa được lý tưởng xây dựng một xã hội dân chủ, tự do, công bằng, nhân văn, dân giàu, nước mạnh, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân vô điều kiện; phải vì lợi ích của nhân dân mà ra sức phấn đấu; đồng thời phải biết kết hợp hài hòa lợi ích của bản thân với lợi ích của đất nước và của nhân dân.

TMT

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ!


Năm 1978 Polpot nổ súng tấn công biên giới phía Tây Nam ròng rã hơn 1 năm trời, tràn sâu vào nội địa hơn 10 cây số, nhưng những nhà chiến lược gia Việt Nam thời điểm đó vẫn nhẫn nại kiên trì đánh động với thế giới và thuyết phục bằng ngoại giao và yêu cầu Polpot lập vùng phi quân sự để giải quyết tranh chấp nhưng Polpot phớt lờ..


Bên trong nội địa Campuchia Polpot ra sức tàn sát đồng loại, đẩy người dân Campuchia tràn sang biên giới qua Việt Nam lánh nạn. Người Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đành mở cửa đón nhận họ trên tinh thần hàng xóm láng giềng, Khi đó, không 1 Quốc gia nào dám đứng ra giúp người Campuchia. Để khẳng định đúng hơn điều này, Cố vấn hoàng gia Campuchia Chai I Hiêng đã khẳng định trước thế giới : “Trên thế giới này, có không biết bao nhiêu kẻ mạnh, người giàu, chỉ có duy nhất anh bạn láng giềng nghèo Việt Nam tới cứu dân tộc ta mà thôi".


Bỏ ngoài tai lời của thế giới, mặc kệ sự bủa vây cấm vận của các thế lực thù địch, Việt Nam, 1 lần nữa bước vào 1 cuộc ch.iến tr.anh mới, cuộc chiến cứu mình, cứu bạn và cứu cả Đông Nam Á thoát khỏi viễn cảnh như Trung Đông ngày hôm nay. Hàng vạn bà mẹ lại tiễn con lên đường, vết thương chiến tranh còn chưa nguôi ngoai, vết thương khác lại đè lên đôi vai đất mẹ Việt Nam.

Lúc Việt Nam mang quân sang đánh Polpot cả thế giới đã nhảy ngược lên tố Việt Nam là tiểu bá, â.m m.ưu ch.iếm Lào và Campuchia làm bàn đạp thâu tóm, nhuộm đỏ Đông Nam Á. Mỹ - Trung họp khẩn với nhau, đề nghị lên Liên Hiệp Quốc cô lập cấm vận Việt Nam, mà thậm chí các phe cộng sản thời điểm đó đều lên án Việt Nam xâm phạm 1 nước có chủ quyền độc lập.


Trong khi đó 1 mặt khác Mỹ ra sức công nhận chính quyền Polpot là hợp pháp, bơm tiền, súng đạn, cả Đông Nam Á đứng lên chống lại Việt Nam, Singgapo còn đứng ra kêu gọi thế giới viện trợ cho Polpot, Thái Lan cho Polpot mượn đất làm bàn đạp để “giải phóng“ Campuchia khỏi tay “bè lũ Việt Nam“. Mặt khác Trung Quốc ở cùng phe với Mỹ và lũ chư hầu điều động quân số hàng chục vạn quân tinh nhuệ dồn dập tấn công từ Phong Thổ, Lai Châu tới Móng Cái, Quảng Ninh dài hơn 1.000km với Lý do “Phản kích tự vệ chống Việt Nam“, thực ra là muốn cứu nguy cho Polpot.


Một lần nữa, thế giới lại đứng nhìn 1 Quốc Gia nhỏ bé nhưng bất khuất kiên cường 1 mình đứng lên chống lại cả thế giới chỉ vì cứu bạn. Mãi cho đến tận 30 năm sau, chúng mới ghi nhận Việt Nam có công giúp Campuchia hồi sinh, và lũ Polpot phạm phải tội ác diệt chủng, chống lại loài người.

Nhắc tới những cuộc Vệ Quốc vĩ đại đã qua của dân tộc, không thể không nhắc đến Ông - Lê Duẩn - thế kỷ này, thế kỷ sau và hàng trăm năm sau. Cái tên của ông vẫn sẽ đi vào lịch sử như 1 Bismark của Đông Nam Á, Tầm vóc và sự vĩ đại của ông cho đến tận ngày nay thế giới vẫn chưa đánh giá hết, ngay cả bởi chính chúng ta.


NL HCM

ĐÁNG SUY NGẪM

 

Lần đầu tiên họp phụ huynh cho con, cô giáo mầm non nói với người mẹ: 'Con trai chị có bệnh tăng động, cháu không ngồi yên trên ghế được 3 phút.'


Trên đường trở về nhà, con trai hỏi mẹ cô giáo đã nói gì. Người mẹ nói với con trai: 'Cô giáo nói con trai mẹ trước đây không ngồi trên ghế được một phút, giờ con đã ngồi được 3 phút rồi, con có tiến bộ.'


Tối hôm đó, cậu bé ăn hẳn 2 bát cơm mà không cần mẹ bón.


Không lâu sau, cậu bé vào tiểu học. Đi họp phụ huynh cho con, cô giáo nói: 'Cả lớp có 50 em, trong lần kiểm tra toán này, con chị xếp thứ 48, có thể con có một chút vấn đề về trí tuệ.'


Trở về nhà, cô nói với con: 'Cô giáo nói chỉ cần con chú ý một chút, con sẽ xếp trước 48 bạn.'


Nghe mẹ nói vậy, ánh mắt cậu bé lóe sáng, gương mặt ủ rũ bỗng giãn ra. Ngày hôm sau đi học, cậu đi sớm hơn hẳn ngày thường.


Khi con lên cấp hai, người phụ nữ vẫn không tránh được những buổi họp phụ huynh. Trước khi về, giáo viên nói với chị: 'Theo kết quả học tập hiện nay của con, việc thi vào trung học phổ thông sẽ hơi khó một chút.'


Trên đường về, chị xoa vai con và nói: 'Cô giáo nói, chỉ cần con nỗ lực hơn nữa, rất có hy vọng là con sẽ đỗ vào trường công lập.'


Rồi cũng đến ngày cậu bé tốt nghiệp trung học phổ thông. Đến khi trường đại học có thông báo kết quả thi, cậu bé từ trường trở về, mang theo giấy thông báo trúng tuyển một trường đại học danh tiếng đưa cho mẹ, nước mắt rưng rưng: 'Mẹ, con không phải là một đứa trẻ thông minh nhưng mẹ luôn ở bên cạnh cổ vũ, động viên, ghi nhận con.'


Lúc đó, người mẹ đã ôm con thật chặt, những giọt nước mắt lẫn lộn vui buồn lăn dài trên má.


'Một lời nói hay sưởi ấm ba đông, nửa lời ác nghiệt lạnh sáu tháng ròng.' Một lời an ủi động viên sẽ giúp người khác có thêm động lực, niềm tin, hướng đến những điều tích cực.


Một lời cổ vũ khích lệ có thể thay đổi được cả quan niệm và hành vi của người khác, từ đó có thể thay đổi cả vận mệnh, số phận của con người.


St

LÒNG TỰ TRỌNG



Trên mạng đang rầm rầm vụ gần 50 học sinh một trường cấp 3 đi trễ vào ngày khai giảng, nhà trường không cho vào.


Sở giáo dục khiển trách nhà trường quá cứng nhắc, lẽ ra phải cho các em vào. 


Cư dân mạng chỉ trích nhà trường làm mất niềm háo hức dự lễ khai giảng của các em.


Rất nhiều ý kiến, rằng giáo dục là yêu thương, là bao dung, là nuôi dưỡng tâm hồn.


Tôi im lặng đọc nhiều điều, từ nhiều hướng. 

Tôi cũng chả muốn ý kiến ý cò về những chuyện thế này. Nhưng tôi chỉ hỏi vài câu bâng quơ:


1. Liệu các em có hào hứng không?

Không học sinh nam nào áo bỏ vào quần để bước vào trường. Không học sinh nào tỏ vẻ lo lắng và tiếc nuối. Các bạn ung dung lướt web thôi. Tôi nghi ngờ cái được cho là nỗi thất vọng của các em.


2. Liệu khi vào đời, có ai mở cửa cho các bạn khi đi trễ không?

Đúng giờ là đức tính quan trọng của một người có lòng tự trọng. Nếu bạn chuẩn bị tốt, bạn sẵn sàng, và bạn sẽ không bỏ lỡ bất kỳ sự kiện nào bạn xem là quan trọng. 

Khi bước vào đời, không có bất kỳ cánh cửa nào mở ra cho bạn, vì hàng vạn người khác tốt và đáng tin cậy hơn bạn.


3. Cổng trường có phải là cổng chùa không?

Hãy nghĩ, khi hàng ngàn người đang nghiêm túc chuẩn bị cho buổi lễ thì hàng chục người lao xao xông vào. Ai sẽ nói, ai sẽ nghe, ai sẽ gây rối. 

Cho đứng ngoài là thể hiện thái độ thẳng thắn, đấu tranh chống cái xấu, là bảo vệ những người nghiêm túc biết tôn trọng người khác. Cổng trường khác với cổng chùa.


4. Yêu thương là gì? Bao dung là gì? Nuôi dưỡng tâm hồn là gì?

Yêu thương khác với nuông chiều vô lối. Bao dung khác với bao che cái xấu và dung túng những thói quen đáng phê phán. Nuôi dưỡng tâm hồn không phải bằng những động tác xoa dịu đám đông và đầy tính mị dân.


Tóm lại là, khi còn nhỏ không dạy dỗ ra trò thì lớn lên chỉ trở thành những kẻ phá hoại xã hội mà thôi. 


Thay vì kêu gào đánh bóng về những thứ gọi là nhân văn, hãy tập cho những người to lớn kia những điều nhỏ bé để trở thành những người đàng hoàng và tử tế.


Không ai trở thành người tử tế khi thiếu phẩm chất cao quý nhất: LÒNG TỰ TRỌNG!


Võ Anh Triết

SÀI GÒN THỜI PHÁP, MỸ LÀ "HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG", "KINH ĐÔ HOA LỆ"? VIỆT NAM ĐÃ ĐÁNH ĐUỔI NỀN VĂN MINH NHÂN LOẠI?

         Hiện trên không gian mạng có bài viết ca ngợi về Sài Gòn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 với những mỹ từ như Sài Gòn xưa là hòn ngọc viễn Đông, kinh đô hoa lệ hay Sài Gòn thời Pháp và Mỹ xưa được người châu Âu xem là thiên đường của phụ nữ. Từ đó họ cho rằng Việt Nam đánh đuổi Pháp, Mỹ là đánh đuổi nền văn minh nhân loại. Xin gửi đôi lời: 
     Người châu Âu mà cụ thể là người Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha...là những người đã xâm lược đất nước ta kể từ 1858. Đến năm 1862, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp đã đầu hàng Pháp và ký hoà ước Nhâm Tuất dâng 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Đến 1884 thì vua tôi nhà Nguyễn chính thức thừa nhận quyền "bảo hộ" của Pháp tại nước ta. Từ đây nhân dân ta phải sống kiếp nô lệ, vong quốc ngay trên quê hương mình. 
    Sài Gòn lúc đó là thiên đường của người Pháp, chúng đưa gia đình, vợ con sang nước Nam để hưởng thụ thành quả mà chúng đã xâm lược được. Thế nhưng, nhân dân ta khi đó phải làm trâu, làm ngựa cho chúng, bị Pháp bóc lột, sát hại dã man. Thiên đường của phụ nữ Pháp và châu Âu nhưng là nỗi đau của cả dân tộc này. Ca ngợi vì lý do gì, hay Báo Thanh Niên lấy làm vinh hạnh vì người Pháp xâm lược và tròng lên tổ quốc ta ách cai trị bạo tàn gần 100 năm? Các bạn vinh dự vì tổ tiên, cha anh mình từng sống kiếp nô lệ khi Pháp đến khai sáng văn minh cho An Nam?
     Từ năm 1858 cho đến khi nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên cuộc cách mạng long trời, lở đất, đánh đổ ách đô hộ gần 100 năm của thực dân Pháp để thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 02/9/1945. Sau đó đánh bại thực dân Pháp bằng chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” thì trước đó họ đã “khai sáng” cho dân tộc ta bằng: Chính sách khai thác thuộc địa, bốc lột nhân dân ta đến tận cùng của sự khổ đau, tủi nhục của kiếp làm người nô lệ. Người Pháp đã “khai sáng văn minh” cho nước ta bằng chính sách ngu dân để cai trị mà hậu quả của nó là có hơn 90% dân số mù chữ, vơ vét đến cạn kiệt tài nguyên, khoáng sản, hình thành đồn điền…để làm giàu cho “chính quốc”; là tắm máu các cuộc khởi nghĩa của nhân dân yêu nước, là xác người phơi trên những đồn điền cao su, trên đường ray xe lửa là hơn 2 triệu người dân bị chết đói năm 1945 (khi Pháp bán nước ta cho Nhật”… 
     Nhiều người vẫn lấy làm “tự hào” khi người Pháp xây dựng các công trình như đường tàu, nhà ga, bến cảng, cầu cống, nhà hát… và xem đó là tinh túy của văn minh phương Tây, là khai sáng cho nhân dân ta. Họ quên rằng, tất cả những công trình đó được dựng lên là để phục vụ cho chính sách cai trị của Pháp và thuận tiện cho việc chuyển tài nguyên về đất nước “Đại Pháp”. Không phải là chúng xây dựng lên để phục vụ cho nhu cầu của nhân dân ta. Nếu không có cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 02/9/1945 thì dân tộc ta, nhân dân ta vẫn mãi sống kiếp nô lệ ngay trên chính quê hương của mình.
     Mỹ, Diệm lật Bảo Đại và Quốc gia Việt Nam, vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 để xây dựng cái gọi là “nền Đệ Nhất Cộng hòa”. Mỹ đem quân đội Hoa Kỳ cùng với đồng minh là Australia, New Zealand, Philippines, Thailand và Hàn Quốc đến xâm lược Việt Nam. Cái mà các người gọi là "nền văn minh của Mỹ" theo chân chúng đến nước ta là: Tội ác chiến tranh, là gây đau thương tang tóc cho tổ quốc ta; là bom đạn, là chất da cam, là vũ khí hủy diệt để đi giết người, đi xâm lược một dân tộc có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ với mong muốn biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. Người Mỹ bị nhân dân ta khuất phục, buộc phải cút khỏi Việt Nam theo cái cách không thể nhục nhã hơn. Hơn 58.000 lính Mỹ bị tiêu diệt cùng hàng chục ngàn quân chư hầu bị khai tử; thương phế binh của riêng Hoa Kỳ là 303.000 tên. 
     Vậy thì cái gọi là “nền văn minh” mà những người mang trong mình tư duy nô lệ luôn ca ngợi đó nằm ở đâu? Giá trị của cái gọi là "văn minh kiểu Hoa Kỳ" mang lại cho chúng ta những gì từ 1954-1975?. Chiến tranh đã đi qua 47 năm, những đau thương, mất mát của dân tộc ta đã nguôi ngoai, vết thương đã liền lại sẹo; chúng ta khép lại quá khứ để hướng về tương lai; nhưng từ trong sâu thẳm trái tim của người Việt vẫn không bao giờ quên những tội ác mà Mỹ và đồng minh cùng lũ lang sói bán nước, hại dân - ngụy Sài Gòn đã gây ra cho chúng ta., mãi mãi là thế cho dù sông có cạn, đá có mòn.
     Khi xưa ở bên tàu, Trần Hậu Chủ là đế vương của nhà Trần. Thế nhưng chỉ biết vui chơi, nhạc, hoạ. Trong cung chứa chấp toàn đám xướng ca vô loài. Vậy nên khi quân Tùy tiến đánh đến gần kinh đô nhưng Trần Thúc Bão chẳng quan tâm đến kẻ đang xâm lược đất nước mình, vẫn tửu sắc, cầm thi và kết cục là nhà Trần diệt vong. Cái lối tư duy kiểu: Con hát biết đâu hờn vong quốc/Bên sông còn hát hậu đình hoa. Người viết bài và người kiểm duyệt bài này chẳng cũng cùng hệ tư tưởng "ca xướng bất tri hờn vong quốc". Vẫn ca ngợi Pháp và bè lũ xâm lược. 
     Chẳng thế mà hiện nay, trên đầy các mặt báo, người ta ca ngợi Sài Gòn trước 1975 là "Hòn Ngọc viễn Đông", cho rằng chúng ta đánh đuổi Pháp, Mỹ là đánh đuổi nền văn minh nhân loại...vâng, Sài Gòn thời Pháp thuộc là mảnh đất màu mỡ để giống mắt xanh mũi lõ tha hồ trác táng trên máu xương của nhân dân Việt Nam. Là nơi mà những kẻ đi "khai sáng văn minh" và bọn tay sai, bán nước hưởng lạc. Đến thời Mỹ và chư hầu xâm lược miền Nam Việt Nam, thời đó đúng là "thiên đường của phụ nữ" và là nơi quân đội Mỹ xem là thiên đường dục vọng. Là nơi mà: 
Trượt tú tài anh làm trung sĩ
Em ở nhà lấy Mỹ sinh con
Bao giờ xong chuyện nước non
Anh về anh có Mỹ con anh bồng
     Ca ngợi thiên đường do người Pháp, Mỹ tạo ra chứng tỏ những kẻ ca ngợi chúng đã vội quên nỗi nhục mất nước, nỗi nhục nô lệ! Không hiểu người viết bài và người kiểm duyệt có thuộc dòng Pháp con, Mỹ con hay không nhưng tôi ngửi thấy mùi khét kiểu me Tây. Thiên đường của phụ nữ Pháp thì đúng nhưng loài ngựa mà các người cho là bi kịch đó, không đơn thuần là loài ngựa bốn chân. Nó phải được bao hàm cả hàng chục triệu đồng bào mất nước, chịu cảnh áp bức không lối thoát. Thiên đường ư? Thiên đường của người Pháp, Mỹ nhưng là nỗi đau đoạn trường của người Việt Nam./.



Yêu nước ST.

  MỘT SỐ TỔ CHỨC BÌNH PHONG CỦA CIA CHUYÊN VỀ CÁCH MẠNG MÀU VÀ BẠO LOẠN LẬT ĐỔ

1. USAID (United States Agency for International Development) 

Mặc dù trên website của tổ chức này có những lời tự giới thiệu rất thiện chí là tiến bộ: thúc đẩy phồn vinh thịnh vượng chung; tăng cường dân chủ và quản trị tốt; bảo vệ nhân quyền; cải thiện y tế toàn cầu; theo đuổi an ninh lương thực và nông nghiệp; cải thiện ổn định bền vững môi trường; giáo dục đào tạo từ xa; giúp đỡ các tầng lớp xã hội ngăn chặn và khôi phục từ các cuộc xung đột…

Nhưng thực chất là công cụ của chính quyền Mỹ để can thiệp và gây rối vào công việc nội bộ các quốc gia Mỹ không ưa.

Là "tổ chức dân sự" dạy các đảng phái, phe đối lập muốn làm CM phương pháp quảng cáo, tiếp thị quần chúng, lập báo cáo tin tức, tìm chủ đề CM, tổ chức biểu tình, tổ chức nổi loạn quần chúng. Dưới vỏ bọc “hỗ trợ dân sự”, “trợ giúp phát triển” cho nước ngoài và hoạt động khắp thế giới. Tổ chức này vừa bị đóng cửa ở Nga vì tiền sử cung cấp tiền bạc và kích động phe đối lập. USAID do TT Kennedy lập năm 1961, mặc dù mang tiếng là tổ chức độc lập, nhưng không hề che đậy hoạt động dưới sự dẫn dắt của TT Mỹ, bộ ngoại giao và Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ.

2. IRI (International Republican Institute)

Viện cộng hòa quốc tế, lãnh đạo là quí ông lướt sóng hồ Trúc Bạch, diều hâu John McCain. IRI do TT Reagan thành lập năm 1982 nhằm phổ biến dân chủ, được cấp vốn từ chính phủ Mỹ cho các chương trình chính trị, các dự án dân chủ hóa. Có bề dày thành tích gây bạo loạn và lật đổ, ví dụ như phế bỏ TT dân bầu Aristide của Haiti, lập bù nhìn thân Mỹ, hay bạo loạn “mùa xuân Arabia” vừa qua, lật đổ TT Mubarak. Phần lớn tiền tài trợ IRI đến từ USAID, bộ ngoại giao và NED.

Hoạt động của IRI bao gồm cả đào tạo các “nhà dân chủ”, đặc biệt là Ai Cập và Tunisia. Trích wiki: "Một số các nhóm và các cá nhân trực tiếp tham gia vào các cuộc nổi dậy và những cải cách sâu rộng trong khu vực, trong đó có Phong trào thanh niên Ai Cập, Trung tâm Bahrain vì nhân quyền và các nhà hoạt động cơ sở như Entsar Qadhi, một thủ lĩnh trẻ ở Yemen, được đào tạo và cấp tiền từ IRI, NDI, FH… là các NGO có trụ sở tại Washington.”

Báo cáo của Bộ tư pháp về tài trợ nước ngoài của các tổ chức NGO ở Ai Cập đã tiết lộ rằng IRI ở Ai Cập đã nhận được tài trợ của khoảng 7 triệu đô la của USAID cho bầu cử Ai Cập 2011-2012. Các nhà lãnh đạo quân sự của Ai Cập coi tài trợ của IRI là can thiệp vào công việc nội của nước này.

3. NDI (National Democratic Insitute for International affairs)

Viện dân chủ quốc gia về quan hệ quốc tế có lãnh đạo là quí bà ngoại trưởng Medeleine Albright. Rõ ràng nhất là NDI cùng NED tài trợ phe đối lập Chavez cũng như bạo loạn hiện nay ở Venezuela. NDI từng đóng vai trò quan trọng trong việc Liên bang Nam Tư tan rã và bạo loạn Kosovo. NDI hoạt động ở cả Nga và Trung Quốc.

NGO này có trụ sở ở Washington và được thành lập bởi chính quyền Mỹ năm 1983 theo cùng 1 cách thức như NED để phổ biến dân chủ toàn cầu.

Theo sứ mệnh được tuyên, "NDI cung cấp hỗ trợ thực hành cho các lãnh đạo chính trị và dân sự để phát triển giá trị, thực hành và tổ chức dân chủ.” Nếu như IRI thuộc phe Cộng hòa thì NDI thuộc phe Dân chủ, mặc dù ranh giới nhiều khi không thật rõ ràng. Triển khai sứ mệnh, NDI bảo trợ hoạt động cho cả các tổ chức chính trị và dân sự ở 125 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm giám sát các cuộc bầu cử, cổ súy dân chúng các nước lập các đảng phái đối lập, các NGO thúc đẩy chính sách mở cửa, và chính phủ đa đảng phái. Sáu nhiệm vụ chính của NDI: sự can dự của công dân vào chính quyền, tiến bộ bầu cử, đảng phái chính trị, phụ nữ trong chính sách, dân chủ và công nghệ dân chủ, quản trị dân chủ.

Các nhà tài trợ rót tiền cho viện này là USAID và NED, là các đại gia dầu mỏ: Chevron, Exxon, Texaco and Enron. Dân chủ là công cụ để gây hỗn loạn và làm suy yếu các quốc gia độc lập để trục lợi, theo cách hiểu từ hoạt động của Viện dân chủ, không phải theo tuyên bố.

4. NED (National Endowment for Democracy)

Quĩ bảo trợ dân chủ quốc gia được Quốc hội Mỹ thành lập năm 1983 với sứ mệnh “phổ biến dân chủ”. Một trong những lãnh đạo NED là Vin Weber, cựu nghị sĩ tân diều hâu, người sáng lập "Empower America" với quan điểm chính trị đơn giản: Mỹ phải chiếm ưu thế tuyệt đối về sức mạnh quân sự để giải quyết các tranh chấp. NED cầm đầu các tổ chức khác như IRI, NDI, CIPE (Chamber of Commerce's Center for International Private Enterprise), ACLS (American Council of Learned Societies) hay AFL-CIO (American Center for International Labor Solidarity).

Tất cả số đó đều có quan hệ mật thiết với các tổ chức Phi chính phủ NGO khác. Chúng hoạt động trải rộng ở các nước thuộc thế giới thứ 3: Việt Nam, Myanmar, Cambodia, China, Nga… Năm 1980, bọn chúng can thiệp vào bầu cử Pháp, tài trợ nhóm cực hữu NIU và dùng chúng tấn công phe tả. Nhưng hoạt động của NED được biết rõ nhất là dưới sự điều khiển của CIA, người ta ví NED là con ngựa gỗ (Trojan Horse) của CIA. Allen Weinstein, một lãnh đạo NED phát biểu năm 1991: "Vô số những gì NED làm ngày hôm nay đã được CIA làm vụng trộm 25 năm qua." Bush tăng ngân sách gấp đôi cho NED năm 2004. 

Phạm vi hoạt động của NED và các chi nhánh của nó rất rộng, gây ảnh hưởng đến các tiến trình chính trị các quốc gia, từ gây tác động xã hội dân sự, truyền thông, nuôi dưỡng các nhóm doanh nhân, nuôi ăn các nhóm nhân quyền, cấp tiền và thuê mướn các lực lượng ủng hộ các đảng phái chính trị, các chính khách, theo dõi và tung tin đồn bầu cử gian lận nếu không vừa lòng. Đặc biệt NED thường o bế bảo kê giới đầu sỏ, doanh nhân, những kẻ theo đường hướng tân tự do, mở cửa.

 

Tuy nhiên, NED hầu hết cấp tiền qua các tổ chức trung gian như kể trên. Từ xung đột Kosovo – Nam Tư, cho đến các cuộc cách mạng màu: Hoa hồng ở Gruzia, cách mạng Cam ở Ukraine, Hoa Tuy-lip ở Kyrgyzstan, bạo loạn Tân Cương – Trung Quốc... đều được NED cấp tiền hết sức dồi dào.

Thành viên Ban quản trị NED hầu hết là các nhân vật đứng đầu chính quyền Mỹ: Henry Kissinger, Madeleine Albright, Frank Carlucci, Zbigniew Brzezinski, Wesley Clark, cựu giám đốc WB Paul Wolfowitz, thượng nghị, đại diện thương mại Bill Brock…

5. Freedom House 

Hội đoàn quyền tự do, lãnh đạo là cựu CIA James Woolsey, một tân diều hâu.

Freedom House tự tuyên truyền mình là “tiếng nói trong sạch vì tự do dân chủ khắp thế giới”. Là tổ chức già đời được thành lập cách đây hơn 60 năm bởi Wendell Willkie và Eleanor Roosevelt (vợ) , 2 thủ lĩnh liberals Mỹ. Hội đoàn tự do cổ vũ mạnh giá trị dân chủ và kiên quyết chống cả cực tả lẫn cực hữu. Nó bênh vực kế hoạch Marshall tái thiết châu Âu sau WW-II, các phong trào dân sự ở Mỹ thập kỷ 50 và thuyền nhân Việt Nam cuối thập kỷ 70, phong trào Đoàn kết ở Ba Lan và phe đối lập dân chủ ở Phillippines thập kỷ 80 cùng rất nhiều phong trào dân chủ khác. Đặc biệt Freedom House chống lại độc tài Pinoche, tay sai bù nhìn Mỹ ở Chile, chủ nghĩa apartheid ở Nam Phi, đàn áp Mùa xuân Praha, LX đưa quân vào Afghan, vi phạm nhân quyền ở Cuba, Burma, China, và Iraq.

Freedom House bênh vực mạnh cho các hoạt động dân chủ, tự do tôn giáo, tự do báo chí, các liên minh thương mại và tự do thị trường.

6. Open Society Institute

Viện xã hội Mở của tài phiệt George Soros. Hắn còn lập một số tổ chức để tài trợ các viện tự do, các nhà báo, sinh viên, các đoàn thể chuyên nghề biểu tình, các hội thảo "khoa học" xã hội... Viện xã hội mở của Soros đã chi tiêu và hoạt động mạnh ở Đông Âu thập kỷ 80-90. Ngoài ra, Soros còn cấp tiền và thao túng Human Right Watch, bản thân hắn là giám đốc điều hành HRW.

7. CMD (Center for Media and Democracy)

Trung tâm Truyền Thông và Dân Chủ thì lộ rõ là "Can thiệp dân chủ" như Ron Paul buộc tội, chúng tác động đến các kết quả và các tiến trình CT ở các quốc gia bằng con đường vừa công khai vừa vụng trộm. Trung tâm này và nhiều tổ chức kể trên lại không được phép hoạt động trên đất Mỹ.

Hầu hết các nhà thuyết giáo Dân Chủ, là cỗ máy tuyên truyền, cỗ máy ăn tiền được CIA cấp vốn, thường là trực tiếp từ quyền lực tối cao Washington. Chỉ có Viện xã hội Mở của George Soros là độc lập với Washington nhưng chức năng thì tương tự: tuyên truyền quảng cáo những cái dơ dáy bẩn thỉu đểu giả DÂN CHỦ MỸ được tô trát son phấn đẹp đẽ và xức nước hoa thơm lừng.

VẬY NÊN:

- Hãy cẩn trọng với các Tổ chức phi chính phủ hoạt động phi lợi nhuận vì các mục tiêu cộng đồng, xã hội, dân sự!

- Đừng thấy đỏ mà tưởng chín! Đừng thấy ngon ăn mà tưởng bở, đừng vì lợi ích trước mắt mà mờ mắt để rồi sập bẫy tai họa, hối không kịp!

- Nhớ rằng chiếc áo không làm nên thầy tu!

- Không có người dốt, chỉ có kẻ lười học, lười tư duy.

- Đừng a dua theo hội chứng đám đông một cách mù quáng và thiếu tư duy./.

 MỘT SỐ SỰ THẬT VỀ CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ Ở VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ XX... 

* Lượng bom Mỹ ném xuống Việt Nam trong cả cuộc chiến là 7,85 triệu tấn, gấp gần 3 lần tổng số bom mà tất cả các nước đã sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ II và tương đương sức công phá của 250 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản.

* Tính bình quân mỗi người Việt Nam thời đó phải chịu đựng trên dưới 250 kg bom của Mỹ.

* Nếu tính cả bom, đạn dùng trên mặt đất (lựu đạn, mìn, đạn pháo, chất nổ...) thì Mỹ đã dùng tổng cộng trên 15,35 triệu tấn bom đạn ở Việt Nam. Kết cấu hạ tầng ở cả hai miền Việt Nam bị phá hủy nặng nề. Sau chiến tranh, Việt Nam là một trong những nước có tình trạng ô nhiễm bom, mìn nặng nề nhất trên thế giới. Gần 800.000 tấn bom mìn chưa phát nổ còn sót lại trong lòng đất vẫn tiếp tục gây tai nạn, làm hơn 42.000 người chết, 62.000 người bị thương từ 1975 đến 2014, gây ô nhiễm 6,6 triệu ha đất (chiếm gần 18% diện tích Việt Nam), khiến chính phủ Việt Nam phải chi mỗi năm khoảng 100 triệu USD để khắc phục hậu quả bom mìn.

* Chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam là một chiến tranh ác liệt với quy mô lớn kéo dài gần 20 năm. Đây cũng là lần đầu tiên, hậu quả tàn khốc của vũ khí chiến tranh được xuất hiện trên sóng TV trực tiếp của các nước tiên tiến.

* Chỉ tính riêng trong 81 ngày đêm ngắn ngủi giao tranh xảy ra ở Quảng Trị, báo chí nước ngoài đã thống kê, Thành cổ Quảng Trị đã hứng chịu 328.000 tấn bom đạn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hirosima và Nagasaki hồi Chiến tranh thế giới thứ II.

* Đế quốc Mỹ đã áp dụng hầu hết các vũ khí tân tiến nhất thời điểm đó (chỉ trừ vũ khí hạt nhân). Một loạt các loại vũ khí đã được sử dụng bởi các quân đội khác nhau hoạt động trong Chiến tranh ở Việt Nam, bao gồm quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Quân đội Nhân dân Việt Nam) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam); tất cả các đơn vị của quân đội Mỹ; các đồng minh của mỹ là Quân lực ng.ụy Sài Gòn, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Thái Lan và Philippines...

*Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có ít binh sĩ và vũ khí hơn, trong khi đó Quân đội Mỹ được trang bị vũ khí hiện đại bậc nhất thế giới. Ở thời kỳ cao điểm năm 1968, quân Mỹ và đồng minh có số lượng quân sĩ gấp bốn lần và gấp hàng chục lần về thiết bị vũ khí. Ngay cả ở thời điểm cuối năm 1975, khi Mỹ đã rút quân về nước, họ vẫn trang bị cho quân ng.ụy Sài Gòn mạnh gấp 2 lần về quân số và gấp vài lần về trang bị so với Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, chiến thắng chung cuộc lại thuộc về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, bên yếu thế hơn nhiều về quân sự. Đây là điều để lại nhiều bài học về chiến lược chính trị và quân sự cho các nhà nghiên cứu, các tướng lĩnh quân sự sau này.

Trong cuộc chiến tranh phá hoại ở Việt Nam của Đế quốc Mỹ, khả năng tác chiến công nghệ cao của không quân và hải quân là ưu thế chính của Mỹ, ở thời kỳ cao điểm Mỹ đã huy động 60% không quân và 40% hải quân để tham chiến ở Việt Nam. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Liên Xô viện trợ cho một số vũ khí như MiG-21 và SAM-2 để chống lại, nhưng số lượng khá ít và đây cũng không phải là những vũ khí hiện đại nhất của Liên Xô khi đó. Tuy nhiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sáng tạo ra những chiến thuật mới, phát huy hiệu quả số lượng trang bị ít ỏi của mình. Tham mưu trưởng Không quân Mỹ Conwell viết: “Lực lượng phòng không của Việt Nam là thứ đáng sợ nhất và hoàn chỉnh nhất mà những phi công Mỹ đã từng gặp” Đại tá James G. Zumwalt nhận xét: “Đối với nhiều người Việt Nam, cuộc chiến với Mỹ là một ván cờ. Mỗi khi người Mỹ tung ra nước đi khó bằng cách áp dụng công nghệ mới vào chiến trường, phía Việt Nam lại sử dụng sự khéo léo để đáp trả”.

* Tổng cộng trong 20 năm, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh này 6,6 triệu lượt quân nhân Mỹ (chiếm 15% nam thanh niên toàn nước Mỹ) – vào thời điểm cao nhất (năm 1968–1969) có tới 628.000 quân Mỹ hiện diện trên chiến trường – bằng tổng số lục quân của cả năm nước Anh, Tây Ban Nha, Bỉ, Canada, Australia và chiếm 70% tổng số lực lượng lục quân Mỹ lúc bấy giờ, với những sư đoàn thiện chiến nhất như Kỵ binh bay, Tia chớp nhiệt đới, Anh cả đỏ, Thuỷ quân lục chiến… Cùng với lục quân, Mỹ huy động 60% không quân chiến lược, chiến thuật với 2.300 máy bay, trong đó có 46% pháo đài bay B-52 với hơn 200 chiếc, 42% lực lượng hải quân với hàng trăm tàu chiến trong đó có 15/18 hàng không mẫu hạm, tuần dương hạm, 3.000 xe tăng - xe thiết giáp; 2.000 khẩu pháo hạng nặng từ 120 đến 175mm. Ngoài ra, Mỹ đã đổ tiền của xây dựng Quân lực ng.ụy Sai Gòn với trang bị 1.800 máy bay, 2.000 xe tăng – thiết giáp, 1.500 khẩu pháo, 2 triệu khẩu súng các loại, 50.000 xe cơ giới quân sự, hàng trăm tàu, thuyền chiến đấu.

* Các vụ hãm hiếp phụ nữ do lính Mỹ và đồng minh thực hiện diễn ra rất thường xuyên trong chiến tranh và ít khi bị trừng phạt, nếu bị xử thì cũng rất nhẹ, và đặc biệt Mỹ đã đem loại văn hóa hưởng thụ và trụy lạc thừa thải vào Việt Nam, tiếp tục phát triển cái gọi là "Hòn Ngọc Viễn Đông" giả  tạo và lớp phụ nữ trẻ theo chế độ tay sai làm gái điếm lên tới hơn nửa triệu người, điều trơ trẽn, đáng xấu hổ nhất là phụ nữ theo chế độ ng.ụy Sài Gòn lúc ấy rất tự hào "Làm mẹ thế giới" với sản phẩm cho ra là gần 150.000 con lai ! 

 

Hiện nay có hơn hàng vạn nạn nhân chất độc hóa học tại Việt Nam. Một nửa diện tích rừng của Việt Nam bị phá hủy. Mỹ đã rải ở miền Nam Việt Nam 45.260 tấn (khoảng 80 triệu lít) chất độc hóa học, sự tàn phá môi trường do Mỹ gây ra lớn đến mức đã khai sinh một từ tiếng Anh mới "Ecocide" - Thuốc hủy diệt sinh thái.

* Quân lực ng.ụy Sài Gòn là một quân đội hiện đại, tốn kém, đòi hỏi kinh phí hoạt động gần 3 tỷ USD Mỹ mỗi năm. Nền kinh kế ng.ụy Sài Gòn không thể cáng đáng được kinh phí này, nên ng.ụy Sài Gòn đã gần như phải dựa hoàn toàn vào viện trợ kinh tế của Mỹ để có thể thực hiện phòng thủ quốc gia. Khi Mỹ giảm viện trợ xuống còn 1,1 tỷ USD vào năm 1974, nền kinh tế lâm vào khủng hoảng với lạm phát ở mức 200%, Quân lực ng.ụy không còn đủ kinh phí hoạt động, tình trạng thiếu đạn dược, vũ khí, xăng dầu đã dẫn đến hỏa lực yếu và giảm tính cơ động. Nguồn: Andrew A. Wiest, The Vietnam War, 1956-1975, 2002, Osprey Publishing, tr. 80).

 

THƯ GỬI CÁC BÁC, CÁC CHÚ LÀ TƯỚNG LĨNH ĐÃ NGHỈ HƯU!

     Các bác, các chú kính mến!
     Đất nước ta nằm ở vị trí địa chính trị của thế giới, do vậy lịch sử của dân tộc ta luôn gắn liền với hình ảnh của người mẹ và người lính.
     Hình ảnh của những người lính đã trở thành nét đẹp trong tâm hồn của các thế hệ người Việt. Trong đó các bác, các chú là những người tiêu biểu, xuất sắc trong lực lượng ấy.
     Ông cháu ngày trước cũng là một ông Tướng, ông tham gia đánh Pháp, đánh Mỹ. Khi nghỉ hưu ông cháu là Trung tướng. Bố cháu bảo ông cháu đi xe về đến đầu làng là cho lái xe quay lại. Tự khoác ba lô vào làng. Sau này lớn lên cháu có hỏi ông. Ông bảo các cụ nhà mình dạy mình sinh ra từ làng, về nhà mình là người nông dân. Đừng làm gì để bà con xa cách, mặc cảm, có như vậy mình có nói họ mới nghe, mình có nhờ họ mới giúp; ông sống được đến đến giờ cũng là nhờ những người nông dân che chở, đùm bọc đấy. Bài học ấy luôn canh cánh trong lòng cháu, để rồi hôm nay đi đâu, làm gì cháu cũng luôn luôn tôn trọng những người đang ngày đêm làm ra hạt gạo, củ khoai nuôi sống mình. 
     Mấy hôm nay, cháu nghe nói có các bác, chú thành lập hội, tổ chức đại hội rồi lại bị xoá bỏ. Có chú ngang nhiên lên trả lời phỏng vấn báo chí về tình hình Nga-Ucraine theo cảm tính và sự kém cỏi về nhận thức. Nên cháu viết mấy lời này. 
Thứ nhất, chúng cháu được nuôi ăn học đàng hoàng nên chúng cháu biết đâu là đúng, đâu là sai. Ai là người tàn phá đất nước, ai là người đã vô tư giúp đỡ Tổ quốc mình đánh đuổi ngoại xâm (tức là cháu biết lẽ phải). 
     Thứ hai, trong danh sách các bác, các chú cháu chưa thấy ai có công lao, công trình hay việc làm nào đáng để cho chúng cháu ngưỡng mộ và học tập. Vậy thì tại sao các bác, các chú lại thành lập một cái hội mà nghe ra thì lại có mùi “xôi thịt”…Các bác, các chú về đời thường rồi thì chỉ "còn danh, chứ không còn chức"; tổ chức đã bố trí cho các bác, các chú được sinh hoạt ở các Hội CCB thống nhất từ TW đến địa phương; mà đã là hội viên thì tất cả đều bình đẳng như nhau. Nguyên cớ gì các bác, các chú lại đi thành lập một cái hội riêng? Phải chăng đây là biểu hiện "công thần, không chịu hòa mình..."; "một biểu hiện tự diễn biến", hay một ẩn ý nào khác? Các bác, các chú bảo là cùng giúp đỡ nhau phát triển kinh tế? Vậy cái mô hình kinh tế mà các bác, các chú định xây dựng là gì? Nghe trừu tượng và vô lý quá. 
     Thứ ba, theo quy chế phát ngôn của Chính phủ và các bộ ngành. Chỉ có người đứng đầu với có quyền trả lời thông tấn, báo chí (hoặc ít nhất là phải được ủy quyền). Thế mà có chú lại nghiễm nhiên lên ngồi trả lời báo chí một cách suy đoán mang màu sắc cá nhân (đi ngược lại câu châm ngôn: Nói như tướng”. Để cho cả nước bạn cũng phải lên tiếng phản đối. 
     Việc làm của các bác, các chú khiến cho Nhân dân và CĐM không khỏi bức xúc. Bình tâm lại, không bức xúc không được các bác, các chú ạ. 
     Cháu thuộc thế hệ 9X, là những người sinh ra sau chiến tranh. Cháu không biết nhiều về quân sự nhưng mà cháu nghĩ nếu các bác, các chú rảnh rỗi, thì nên đến các trường phổ thông nói chuyện về lịch sử dân tộc, quân đội. Truyền thụ những kiến thức hào hùng cho thế hệ trẻ, chỉ cho họ cách nhận biết cái đúng, cái sai; từ đó để động viên họ nối tiếp truyền thống xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Nếu làm như vậy các bác, các chú sẽ được mọi người ngưỡng mộ và yêu mến ( thay vì làm những việc mà người đời quay lưng lại với mình).
     Lịch sử là sự tiếp nối, có câu “Nhân dân không thờ nhầm ai bao giờ” nên cháu mong sẽ không bao giờ còn nghe được những câu chuyện không hay về những người mà cháu hằng ngưỡng mộ!!!
Yêu nước ST.

 SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ-TINH THẦN TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Suốt chiều dài lịch sử, sức mạnh chính trị - tinh thần là ưu thế tuyệt đối, có vai trò rất lớn trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Sức mạnh của nhân tố chính trị - tinh thần là sức mạnh tổng hợp của nhân tố chính trị, gắn liền với nhân tố tinh thần, dựa trên nền tảng chính trị của một giai cấp nhất định gắn bó chặt chẽ với nhận thức, tình cảm, ý chí, quyết tâm…của mỗi thành viên trong xã hội và hướng theo những lợi ích, định hướng chính trị nhất định. Các thế hệ cha anh luôn nhận thức đúng và quan tâm đến việc xây dựng và phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần, đặc biệt là trong những cuộc chiến tranh giải phóng và trong công cuộc bảo vệ đất nước. Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ ra rằng, sức mạnh chính trị - tinh thần nếu được phát huy thì không một khó khăn, trở ngại nào chúng ta không vượt qua. Không một kẻ thù nào chúng ta không đánh thắng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh chính trị - tinh thần của dân tộc ta được phát huy cao độ với nội dung và chất lượng mới, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng và phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần luôn là vấn đề chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Sức mạnh chính trị - tinh thần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay là tổng thể những khả năng về chính trị - tinh thần có thể huy động nhằm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, thể hiện ở hệ tư tưởng chính trị,chế độ xã hội, các chính sách đối nội, đối ngoại; ở lòng yêu nước, niềm tin, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết…dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phải chú trọng xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó, lấy xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần là nhân tố hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

 

 SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ-TINH THẦN TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Suốt chiều dài lịch sử, sức mạnh chính trị - tinh thần là ưu thế tuyệt đối, có vai trò rất lớn trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Sức mạnh của nhân tố chính trị - tinh thần là sức mạnh tổng hợp của nhân tố chính trị, gắn liền với nhân tố tinh thần, dựa trên nền tảng chính trị của một giai cấp nhất định gắn bó chặt chẽ với nhận thức, tình cảm, ý chí, quyết tâm…của mỗi thành viên trong xã hội và hướng theo những lợi ích, định hướng chính trị nhất định. Các thế hệ cha anh luôn nhận thức đúng và quan tâm đến việc xây dựng và phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần, đặc biệt là trong những cuộc chiến tranh giải phóng và trong công cuộc bảo vệ đất nước. Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ ra rằng, sức mạnh chính trị - tinh thần nếu được phát huy thì không một khó khăn, trở ngại nào chúng ta không vượt qua. Không một kẻ thù nào chúng ta không đánh thắng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh chính trị - tinh thần của dân tộc ta được phát huy cao độ với nội dung và chất lượng mới, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng và phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần luôn là vấn đề chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Sức mạnh chính trị - tinh thần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay là tổng thể những khả năng về chính trị - tinh thần có thể huy động nhằm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, thể hiện ở hệ tư tưởng chính trị,chế độ xã hội, các chính sách đối nội, đối ngoại; ở lòng yêu nước, niềm tin, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết…dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phải chú trọng xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó, lấy xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần là nhân tố hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

 

 KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN CÔNG LAO TO LỚN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Không ai có thể phủ nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam vì chính Người đã làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc ta từ thân phận một dân tộc nô lệ thành một đất nước độc lập, tự do. Với thế giới, Người đã “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(1).

Ngay từ khi mới 20 tuổi, do nhận thấy những bế tắc về đường lối và phương pháp cách mạng của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, Nguyễn Ái Quốc đã rời Tổ quốc để ra đi tìm đường cứu nước. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam tự nó chưa nói lên sự trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin với cách mạng nước ta. Vấn đề cốt lõi nhất là ở khả năng dẫn đường, hấp dẫn, lôi cuốn của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cả một đất nước đang vươn lên để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Sức sống chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ thực sự được tỏa sáng ở Việt Nam khi Hồ Chí Minh đã vận dụng nó để lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nên những thắng lợi vẻ vang ở thế kỷ XX mà không chỉ bạn bè quốc tế ghi nhận mà ngay cả kẻ thù cũng phải nể phục. Do đó, chỉ những kẻ cố tình “nhắm mắt làm ngơ”, “có mặt như mù” mới có thể phủ nhận được công lao to lớn của Người với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, “không ai có quyền phỉ báng vào hiện thực lịch sử, quy cho Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là có tội với lịch sử dân tộc bởi chính Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên tiếp nhận và phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản”(2).

Không chỉ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, Người còn trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, khai sinh và xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Điều quan trọng hơn cả là khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã không bê nguyên xi lý luận của các bậc tiền bối mà đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người đã biến hệ thống lý luận với những nguyên lý, quy luật, phạm trù mang tính phổ quát của chủ nghĩa Mác - Lênin thành những triết lý giản đơn, dễ hiểu để tuyên truyền, giải thích cho nhân dân, hướng dẫn nhân dân làm theo.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin chính là nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh. Về logic, tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển, làm phong phú, sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam. Vì thế, trong tác phẩm “Đường kách mệnh” (viết năm 1927), ngay ở trang đầu tiên, Hồ Chí Minh đã trích lời của Lênin: Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động,… chỉ có theo lý luận cách mệnh tiên phong Đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiên phong để nêu bật tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với Đảng: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(3). Điều này đã được Người nhấn mạnh lại trong bài trả lời phỏng vấn nhà báo Sác-lơ Phuốc-ni-ô, phóng viên Báo L'humanité (Pháp) ngày 15/7/1969: “…chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn như đồng chí đã biết. Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng… chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác - Lênin”(4).

Có thể nhận thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin ở bản chất khoa học và cách mạng, ở lý tưởng và mục tiêu nhân văn vì con người, vì giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại. Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học về những quy luật phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; về cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống mọi sự áp bức, bất công; về xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời trên mảnh đất hiện thực là thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân - lực lượng xã hội đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất của lịch sử phát triển nền sản xuất vật chất của nhân loại. Đồng thời, là sự tổng hòa từ nhiều nguồn tri thức của loài người, thu nhận tinh túy từ các tư tưởng tiến bộ và không ngừng được bổ sung bằng những kinh nghiệm từ thực tiễn lịch sử được khái quát lên tầm lý luận. Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời vì mục tiêu cải tạo thế giới, hướng đến giá trị nhân văn cao cả là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Như vậy, về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có sự khác biệt, đối trọng nhau như các thế lực thù địch vẫn rêu rao. Có được điều đó là do chính Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu, kế tục, phát triển nó lên tầm cao mới, vận dụng sát đúng với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin nằm trong sự thống nhất hữu cơ; cả hai đều là cấu phần quan trọng trong nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta. Chúng ta không thể lấy chủ nghĩa Mác - Lênin thay cho tư tưởng Hồ Chí Minh và ngược lại, cũng như không thể hiểu và quán triệt, vận dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin.

(1) Chu Đức Tính (chủ biên), Hồ Chí Minh - con người thời đại, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H, 2010, tr.16.

(2) Nguyễn Đắc Độ: “Cần hiểu đúng công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam” trong sách Bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, Cục Tuyên huấn, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H,2019, tr.58.

(3) (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 28, tr.374.

 TIẾP TỤC ĐẤU TRANH CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN TÁCH RỜI, ĐỐI LẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG VÀ PHẦN TỬ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ

Lâu nay, để tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” - “cuộc chiến tranh không khói súng”, “khâu đột phá” mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị thường sử dụng là tấn công trên mặt trận tư tưởng. Việc đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một thủ đoạn nhằm phủ định đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động bạo loạn lật đổ để thay đổi thể chế chính trị hiện hành ở nước ta. Chừng nào chưa đạt được mục đích của mình, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị sẽ còn chống phá bằng các hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta phải mài sắc vũ khí lý luận để đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị nói chung và âm mưu, thủ đoạn đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói riêng. Theo đó, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân về mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về động cơ đen tối của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị khi phủ nhận mối quan hệ này. Cần làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ rằng, mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là mối quan hệ giữa cội nguồn và phát triển, giữa cái chung và cái đặc thù nên “tuy hai mà là một, tuy một mà là hai”. Vì thế, không thể tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cũng không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin và ngược lại. Cho dù tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều điểm sáng tạo, nhưng lại thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở chiều sâu bản chất, ở lý tưởng giải phóng con người... Việc các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị mưu toan tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cố tình lờ đi mối quan hệ biện chứng giữa hai hệ thống tư tưởng, lý luận này không phải là do chưa có đủ thông tin hay chưa có phương pháp nghiên cứu phù hợp, mà là sự chủ ý xuyên tạc, bịa đặt và lừa bịp nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” và thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị để cán bộ, đảng viên hiểu rõ nội dung, bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những năm tháng đất nước bị chia cắt, kẻ thù đế quốc từng dùng “trăm phương ngàn kế” để ly gián nhân dân miền Nam với Bác Hồ, với Đảng, với miền Bắc xã hội chủ nghĩa nhưng đều bị thất bại trước ý chí sắt đá của nhân dân ta: “Dù ai nói ngả, nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân/ Dù ai rào giậu, ngăn sân/ Lòng ta vẫn vững là dân Bác Hồ”. Lúc này cũng vậy, nếu cán bộ và nhân dân đều thấu hiểu, thấu cảm giá trị đích thực, sức sống thời đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì mọi sự xuyên tạc sẽ trở nên vô nghĩa. Do đó, cần tập trung thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”. Làm tốt công tác giáo dục lý luận chính trị, đẩy lùi căn bệnh lười học lý luận chính trị ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, tích cực bồi đắp tri thức khoa học cho cán bộ, đảng viên và nhân dân chính là tạo “vắc-xin” phòng, chống sự xâm nhập của các luồng thông tin xấu, độc, các quan điểm sai trái, thù địch.

Ba là, xây dựng đội quân tinh nhuệ tác chiến mặt trận tư tưởng lý luận là các chuyên gia giỏi, am hiểu về lý luận chính trị để đấu tranh trực diện với những âm mưu, thủ đoạn, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các chuyên gia khi tham gia vào trận chiến trên mặt trận đấu tranh tư tưởng phải có thái độ vừa mạnh mẽ, điềm tĩnh, vừa kiên quyết, kiên trì; mọi lập luận đưa ra phải đạt tới mức tinh thông, sắc bén về lý luận, phong phú, sinh động về thực tiễn. Theo đó, cần thường xuyên và kịp thời cung cấp thông tin cho lực lượng này và tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm với các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt về đấu tranh trên không gian mạng để họ trở thành những chiến sĩ thực thụ trên mặt trận đấu tranh tư tưởng.   

 

 NĂM ĐẶC TRƯNG CỦA PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” VÀ MƯỜI BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

Một nội dung quan trọng trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, là chỉ ra 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Đây là nội dung hết sức thiết thực, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải có trách nhiệm học tập, quán triệt, vận dụng hiệu quả.

5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

Một là, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, có đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy.

Ba là, tích cực huấn luyện, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn; có phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao; gương mẫu trong công tác, sinh hoạt; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

Bốn là, có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị. Kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định của quân đội.

Năm là, chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt; lắng nghe, tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Có tinh thần đoàn kết quốc tế, mở rộng và tăng cường đối ngoại quốc phòng góp phần tích cực bảo vệ môi trường hòa bình khu vực và thế giới.

10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

1. Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; ganh ghét, đố kị, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.

2. Háo danh, tự cao, tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân, tham vọng quyền lực, địa vị; chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích, chạy tội, mua và sử dụng bằng cấp giả, giấy tờ giả; tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho mình.

3. Thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, không chấp hành sự phân công, điều động của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác; đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, không tận tâm, tận lực với công việc, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng.

4. Thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; sợ trách nhiệm, tranh công, đổ lỗi; giấu giếm, bao che và không trung thực về những khuyết điểm, sai phạm.

5. Ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không bảo vệ”, “thấy sai không đấu tranh”; tinh thần tự phê bình và phê bình thấp, lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ và mục đích không trong sáng; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức.

6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để tham ô, nhận hối lộ hoặc để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

7. Cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm để chiếm đoạt tài sản của tập thể; tham gia, xúi giục, cưỡng ép, mua chuộc người khác làm những việc trái chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Đảng, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và đơn vị.

8. Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu sát; xử lý các sai phạm của cấp dưới không cương quyết, thiếu khách quan; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân.

9. Coi thường lý luận, xa rời thực tiễn, lười học tập, rèn luyện, thích tự do, vô kỷ luật; hoang mang, dao động, hoài nghi về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

10. Phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng; nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

BQĐND