Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2022

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản lĩnh chính trị của Đảng cách mạng - Giá trị vận dụng trong xây dựng Đảng về chính trị hiện nay

 

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản lĩnh chính trị của Đảng cách mạng - Giá trị vận dụng trong xây dựng Đảng về chính trị hiện nay

PGS, TS. NGUYỄN TRỌNG PHÚC
Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
09:51, ngày 06-05-2022

TCCS - Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản lĩnh chính trị của Đảng cách mạng có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng Đảng về chính trị hiện nay. Trong điều kiện đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng càng phải không ngừng rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Bản lĩnh Hồ Chí Minh - bản lĩnh chính trị của Đảng chân chính cách mạng

Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, khi truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh chính trị với những quan điểm rất riêng và sáng tạo. Khi đó, Quốc tế Cộng sản chưa nhìn nhận đầy đủ vai trò của cách mạng thuộc địa và cho rằng, cách mạng ở các nước thuộc địa chỉ có thể thắng lợi sau khi cách mạng vô sản thắng lợi ở các nước tư bản (chính quốc). Tháng 5-1921, Nguyễn Ái Quốc cho rằng, cách mạng các nước thuộc địa ở châu Á có thể chủ động giành thắng lợi và còn “có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”(1). Là người hoạt động quốc tế sôi nổi, nhất là trong Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc rất coi trọng tranh thủ sự ủng hộ, đoàn kết, giúp đỡ của đồng chí, bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp giải phóng của dân tộc mình. Nhưng Người ý thức rất rõ là phải dựa vào thực lực của chính mình để tự giải phóng, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(2). Ý chí tự lực, tự cường của Người là rất rõ ràng và đã trở thành ý chí của toàn Đảng và toàn dân tộc.

Ở một nước thuộc địa, phong kiến lạc hậu như Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ chính sách tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp; từ đó, Người đã viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Ở xứ thuộc địa, mâu thuẫn dân tộc là cực kỳ gay gắt; vì vậy, đấu tranh giải phóng dân tộc phải được đặt lên hàng đầu, chứ không phải là đấu tranh giai cấp như ở các nước tư bản phương Tây. Đó là điều rõ ràng trong quan điểm của Nguyễn Ái Quốc. Các giai cấp bóc lột ở Việt Nam (địa chủ, tư sản) đều nhỏ bé, một bộ phận có tinh thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định. “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”(3). “Nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có tài sản gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có tơrớt. Người thì cam chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình. Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó, không thể chối cãi được”(4). “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(5).

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (năm 1954)_Ảnh: Tư liệu

Do đặc điểm và mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp như thế, nên khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2-1930), trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu rõ mục tiêu chiến lược là: Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập, để đi tới xã hội cộng sản. Đảng chủ trương tranh thủ mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội vào thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Quan điểm đó của Nguyễn Ái Quốc đã không được Quốc tế Cộng sản và một số đồng chí hiểu đúng, thậm chí còn cho là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, Nguyễn Ái Quốc vẫn kiên trì giữ vững quan điểm nêu cao đấu tranh dân tộc, và phải đến Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (tháng 7-1935), một số đồng chí trong Quốc tế Cộng sản mới chia sẻ với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc, khi Quốc tế Cộng sản chủ trương các đảng cộng sản phải lập Mặt trận dân tộc, dân chủ chống nguy cơ chủ nghĩa phát-xít, nguy cơ chiến tranh thế giới. Ngày 6-6-1938, Nguyễn Ái Quốc có thư gửi một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản nêu rõ mình đã 8 năm trong “tình trạng không hoạt động”, vì thế “Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng”(6).

Năm 1938, Quốc tế Cộng sản đồng ý để Nguyễn Ái Quốc trở về nước để lãnh đạo phong trào cách mạng. Cần nhấn mạnh rằng, thực tiễn cách mạng Việt Nam những năm 30 của thế kỷ XX đã chứng minh quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là đúng đắn, sáng tạo, không giáo điều. Hội nghị Trung ương Đảng (tháng 11-1939) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì, họp ở Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) đã chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc ở Hà Quảng, Cao Bằng. Tại đây, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (tháng 5-1941). Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc với mục tiêu giành cho được độc lập, với tinh thần độc lập trên hết, dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. Vấn đề lợi ích giai cấp phải phục tùng lợi ích dân tộc: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(7).

Chủ trương đúng đắn đó đã đoàn kết mọi lực lượng có thể và phát huy được sức mạnh toàn dân tộc quyết “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, để làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trên tầm cao nhận thức, giành được độc lập, tự do cho dân tộc đã có lợi ích của bộ phận, giai cấp trong đó. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp đã thể hiện bản lĩnh chính trị và tầm trí tuệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại quan điểm phải luôn luôn xuất phát từ thực tiễn của đất nước, không nên “nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”(8).

Những năm 1945 - 1946, cách mạng Việt Nam phải chống giặc ngoài, thù trong, tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng tỏ rõ bản lĩnh và sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, đã quyết tâm bảo vệ nền độc lập và chính quyền cách mạng, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời có những quyết sách khôn khéo, “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Ngày 11-11-1945, Đảng tuyên bố tự giải tán, thực chất là rút vào hoạt động bí mật, bảo toàn lực lượng. “Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển, để lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn, và để có thời giờ củng cố dần dần lực lượng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất. Lúc đó, Đảng không thể do dự. Do dự là hỏng hết, Đảng phải quyết đoán mau chóng, phải dùng những phương pháp - dù là những phương pháp đau đớn - để cứu vãn tình thế”(9).

Trong lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng tư duy sáng tạo, phân tích hoàn cảnh cụ thể của đất nước, kết hợp với việc học hỏi kinh nghiệm các nước, nhưng không máy móc, giáo điều. Năm 1956, Người đã nhận thức “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”(10). “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”(11). “Còn giai cấp tư sản ở ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước... cho nên, nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ nghĩa xã hội”(12). Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích điều kiện của Việt Nam vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, hết sức lạc hậu. “Trong những điều kiện như thế, chúng ta phải dùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội? Đó là những vấn đề đặt ra trước mắt Đảng ta hiện nay”(13). Người chỉ rõ: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”(14).

Trong quá trình lãnh đạo và cầm quyền, Đảng cũng phạm phải một số sai lầm, khuyết điểm, hoặc trên những vấn đề lớn, hoặc trong phạm vi hẹp hay ở một số đồng chí. Đó là, sai lầm “tả” khuynh trong Chỉ thị thanh Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ (năm 1931), Trung ương đã kịp thời phê phán khuyết điểm của một số đồng chí trong hợp tác vô nguyên tắc với các phần tử tơ-rốt-xkít và về công tác tuyên truyền, vận động quần chúng; là việc tồn tại 2 Xứ ủy (Xứ ủy Tiền Phong và Xứ ủy Giải Phóng) ở Nam Kỳ trước Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945. Khi Đảng nắm chính quyền, một số cán bộ đã phạm những lầm lỗi: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh kịp thời phê bình và yêu cầu sửa chữa. Khi xảy ra sai lầm trong cải cách ruộng đất (năm 1956), Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự phê bình trước nhân dân và quyết tâm sửa sai. Tự chỉ trích, tự phê bình khi phạm sai lầm là yêu cầu đối với một đảng chân chính cách mạng. Người nêu rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(15).

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Tư tưởng của Người đã, đang và sẽ mãi mãi soi sáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Bản lĩnh Hồ Chí Minh chính là bản lĩnh chính trị của Đảng chân chính cách mạng, thể hiện ở những nội dung chủ yếu: Một là, Đảng nêu cao khát vọng độc lập, tự do của Tổ quốc, đồng bào; đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu, đồng thời tuyệt đối trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa; trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng không xa rời những mục tiêu chiến lược căn bản đó. Hai là, độc lập, tự chủ, luôn luôn tinh thần xuất phát từ thực tiễn của cách mạng, đất nước để vận dụng sáng tạo lý luận khoa học Mác - Lê-nin, lựa chọn hình thức, phương pháp đấu tranh thích hợp và phương châm, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội có hiệu quả. Kiên quyết chống chủ nghĩa xét lại, cơ hội “tả” khuynh, “hữu” khuynh; đồng thời, chống giáo điều, nóng vội, duy ý chí. Ba là, nắm vững nguyên tắc cách mạng, đồng thời linh hoạt, mềm dẻo về sách lược “dĩ bất biến ứng vạn biến”; chủ động, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thách thức, kiên quyết giữ vững nền độc lập, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, không hoang mang, dao động trong hoàn cảnh hiểm nghèo, vững tin ở thắng lợi. Bốn là, thẳng thắn thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm với thái độ nghiêm túc, cầu thị và quyết tâm sửa chữa. Những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền đều được Đảng sửa chữa có kết quả, từ đó củng cố được niềm tin của nhân dân, tăng cường thống nhất, tinh thần đoàn kết trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội.

Rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị - nội dung quan trọng trong xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh nói chung và xây dựng Đảng về chính trị nói riêng

Rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị có mối quan hệ mật thiết với các nội dung xây dựng Đảng về chính trị và có ảnh hưởng lớn đến cả xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Nâng cao bản lĩnh chính trị là yêu cầu đặt ra với Đảng và cũng là yêu cầu đặt ra với từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ với nhân dân xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang_Ảnh: TTXVN

Báo cáo chính trị, Báo cáo về công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng và Nghị quyết của Đại hội XIII, đều đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Những nội dung cơ bản đó trong xây dựng Đảng có quan hệ mật thiết và quyết định lẫn nhau, để hướng tới mục tiêu chính trị là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xét đến cùng, vấn đề xây dựng Đảng về chính trị của một đảng lãnh đạo, cầm quyền như Đảng ta có ý nghĩa quyết định bản chất cách mạng, bản chất giai cấp công nhân, bản chất nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, tăng cường xây dựng Đảng về chính trị với nội dung căn bản: “Kiên định và không ngừng vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại. Kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, triển khai đúng đắn, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược. Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng”(16).

Từ thực tiễn đổi mới, Đảng ta rút ra nhiều bài học kinh nghiệm. Trong đó, bài học hàng đầu là: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(17). Kinh nghiệm trước hết trong công tác xây dựng Đảng là: “nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ; đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị”(18).

Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ kinh nghiệm, bài học xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới, nội dung, phương hướng xây dựng Đảng về chính trị hiện nay cần được chú trọng trên những vấn đề lớn:

Thứ nhất, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới, cương lĩnh xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Trong xây dựng Đảng về chính trị, vấn đề hàng đầu là xây dựng, hoàn chỉnh và bảo đảm tính đúng đắn của cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược của Đảng. Đó cũng là điều kiện cơ bản cho sự lãnh đạo, cầm quyền thành công của Đảng Cộng sản. Cương lĩnh, đường lối bao giờ cũng là sự kết hợp giữa nguyên lý lý luận, quy luật khách quan với đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử của đất nước, của cách mạng ở mỗi thời kỳ và phải luôn xuất phát từ thực tiễn để vận dụng, phát triển lý luận một cách sáng tạo. Nhờ vận dụng đúng đắn, sáng tạo nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chiến tranh cách mạng mà Đảng đề ra đường lối cách mạng giải phóng và đường lối kháng chiến thích hợp để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến toàn thắng. Trong đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trước đổi mới đã có lúc Đảng chưa nhận thức đúng đắn các quy luật, rơi vào nóng vội, chủ quan, duy ý chí nên đã mắc phải những sai lầm, khuyết điểm. Đường lối đổi mới của Đại hội VI (tháng 12-1986) vừa sửa chữa khuyết điểm, vừa đổi mới tư duy lý luận để nhận thức rõ hơn về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới của Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) được bổ sung, phát triển năm 2011 chính là sự tiếp nối tư duy đó. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn để làm rõ nhiều vấn đề mới do sự vận động và phát triển của đất nước và thời đại đặt ra.

Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa trung thành với lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với không ngừng phát triển lý luận, đổi mới nhận thức. Trung thành mà không thể phát triển thì sẽ sa vào giáo điều, bảo thủ, trì trệ; phát triển mà không trung thành sẽ có thể mắc vào chủ nghĩa xét lại, cơ hội và chệch hướng. Mối quan hệ giữa kiên định nguyên tắc với đổi mới sáng tạo phải luôn luôn được đặt ra với Đảng, với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược - đội ngũ có vai trò hoạch định đường lối.

Nhiều vấn đề xây dựng Đảng về chính trị đang đặt ra đối với đường lối, chủ trương lớn, những quyết sách chiến lược của Đảng cần có giải pháp xử lý kịp thời, gắn liền với việc hoàn chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa các quy luật của thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa nhà nước với thị trường và xã hội. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thì chính sách, pháp luật của Nhà nước là sự thể chế hóa đường lối của Đảng và do đó, có quan hệ mật thiết với xây dựng Đảng về chính trị. Chính sách, pháp luật càng hoàn thiện, có hiệu lực, chính là hiện thực hóa có hiệu quả đường lối, Cương lĩnh của Đảng. Đại hội XIII của Đảng bổ sung một mối quan hệ lớn rất quan trọng, đó là quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đây là vấn đề lớn về chính trị, xã hội của Đảng Cộng sản cầm quyền. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng là thuộc phạm trù Đảng lãnh đạo chính trị, xây dựng nền chính trị vì dân và do đó, cũng là yêu cầu xây dựng Đảng về chính trị.

Thứ hai, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ, trí tuệ của Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược.

Bản chất giai cấp công nhân của Đảng là sự hy sinh, phấn đấu vì độc lập, tự do của dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, giải phóng triệt để dân tộc, giai cấp, xã hội và con người; là tính tiền phong cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và khát vọng xây dựng, phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc; là phẩm chất chính trị cao đẹp, đức hy sinh, ý thức tổ chức, tính kỷ luật, phong cách làm việc nghiêm túc, tinh thần tập thể gắn liền với tác phong công nghiệp. Trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức, trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển mạnh mẽ, thì bản chất giai cấp công nhân còn là trình độ trí tuệ, là nền học vấn hiện đại. Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thật sự tiêu biểu về trí tuệ.

Bản lĩnh chính trị của Đảng cần được nhận thức sâu sắc như điều kiện bảo đảm cho Đảng hoàn thành sứ mệnh của một đảng chân chính cách mạng lãnh đạo đất nước, xã hội. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, trong điều kiện một thế giới đầy biến động, khó lường, phải nâng cao “năng lực dự báo”, phân tích, đánh giá đúng đắn thực tiễn của đất nước và “xu thế phát triển của thời đại”. Điều đó đòi hỏi Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần luôn luôn nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo và có sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị. Những quyết sách chính trị của Đảng phải bảo đảm sự đúng đắn, chính xác, không bị động, bất ngờ trên tất cả các lĩnh vực. Bản lĩnh chính trị của Đảng đặt ra yêu cầu mọi tổ chức đảng, cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên, “trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược” phải nâng cao tính chiến đấu. Kiên quyết phê phán, loại bỏ những sai trái, khuyết điểm, bảo vệ cái đúng, bảo vệ những cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; dám đổi mới, sáng tạo, dám vượt qua và có đủ bản lĩnh, năng lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành nhiệm vụ.

Xây dựng Đảng về chính trị luôn luôn hướng tới khả năng hiện thực hóa tốt nhất, có hiệu quả nhất cương lĩnh, đường lối của Đảng, tức là thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng, của giai cấp và dân tộc. Sau khi đã có đường lối đúng đắn, thì toàn bộ vấn đề là ở năng lực thực hiện đường lối, là hành động thực tiễn. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đưa ra nhận định rằng, khâu tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Cần phải nâng cao hơn nữa khả năng cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời “khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện”.

Thứ ba, xây dựng Đảng về chính trị là thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, đề cao trách nhiệm của Đảng trước đất nước và nhân dân.

Trong công cuộc đổi mới, Đảng kiên định lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn đổi mới đã ngày càng làm sáng tỏ hơn nhận thức về chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 8 đặc trưng đã được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). Một trong những đặc trưng đó là xây dựng xã hội “do nhân dân làm chủ”; bởi vậy, cần xây dựng và không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa trong xã hội là cơ sở rất quan trọng và cũng là yêu cầu khách quan để phát huy và thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh nội dung “Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng”. Đó là nội dung cần được nhận thức rõ và kiên trì thực hiện. Khi khởi đầu công cuộc đổi mới, Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phong cách làm việc, khắc phục tình trạng quan liêu xa rời thực tế, xa rời nhân dân; lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ.

Cán bộ cơ sở hướng dẫn đồng bào canh tác nông nghiệp, phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo_Ảnh: TTXVN

Cần nhận thức rõ, nội dung xây dựng Đảng về chính trị được Đại hội XIII nhấn mạnh là khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tính kiên định đó thể hiện trách nhiệm cao của Đảng đối với đất nước và nhân dân trên con đường phát triển, đồng thời cũng là trách nhiệm đối với lịch sử, đối với con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn - sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Mục tiêu chính trị của Đảng, của dân tộc và con đường phát triển đó là duy nhất đúng đắn, không thể là con đường nào khác.

Trách nhiệm chính trị của Đảng đối với sự phát triển của đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc và sự bình yên trong cuộc sống của nhân dân là rất quan trọng. Đó không chỉ là sứ mệnh, là nguyên tắc mà còn là lương tâm, danh dự của Đảng. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu đều được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng về xây dựng Đảng và Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định điều đó. Thực tế cho thấy, ở ngành nào, lĩnh vực nào, địa phương, đơn vị nào mà trách nhiệm chính trị được đề cao và thực hiện nghiêm túc thì nơi đó đạt được nhiều thành quả trong sự phát triển, niềm tin của nhân dân được củng cố, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng cao. Mọi biểu hiện thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm đều mang lại hậu quả tiêu cực cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, vì thế mọi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị cần nghiêm túc, chủ động ngăn chặn, đẩy lùi; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân./.

--------------------

Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ

 

Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ

PGS, TS. ĐINH NGỌC GIANG
Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
06:07, ngày 03-07-2022

TCCS - Vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Đảng ta luôn coi trọng việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ. Đây là một nội dung rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc với các đại biểu dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 28-3-2021_Ảnh: TTXVN

Bản lĩnh chính trị và nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ

“Bản lĩnh” thường được hiểu là khả năng và ý chí kiên định trước mọi hoàn cảnh(1). Bản lĩnh chính trị (BLCT) của cán bộ là khả năng và ý chí kiên định, vững vàng về lý tưởng, mục tiêu của Đảng, nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, đặc biệt là trước những tình thế khó khăn, phức tạp thì cán bộ luôn bình tĩnh, sáng suốt cùng cấp ủy và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xác định được chủ trương, giải pháp đúng đắn để vượt qua tình thế đó, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối và từng bước hiện thực hóa lý tưởng, mục tiêu của Đảng.

Bản lĩnh chính trị là một bộ phận đặc biệt quan trọng của phẩm chất chính trị của cán bộ; cùng với trình độ trí tuệ và phẩm chất đạo đức, lối sống tạo nên chất lượng của đội ngũ cán bộ; bảo đảm cho đội ngũ cán bộ có khả năng vượt qua những khó khăn, thách thức, quyết tâm hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng.

Bản lĩnh chính trị của cán bộ được tạo nên bởi các yếu tố chủ yếu, như tri thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tri thức về các khoa học cần thiết khác; sự giáo dục, rèn luyện của các cấp ủy, tổ chức đảng; sự tham gia của các tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT) và nhân dân vào việc giáo dục, rèn luyện BLCT của cán bộ; tình yêu thương, gắn bó và trách nhiệm đối với nhân dân; sự tu dưỡng, rèn luyện, thử thách trong thực tiễn của cán bộ.

Nâng cao BLCT của cán bộ là toàn bộ hoạt động của các cấp ủy, tổ chức và từng cán bộ nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò của các yếu tố tạo nên BLCT với sự tham gia của các tổ chức trong HTCT các cấp và nhân dân, để làm cho BLCT của cán bộ được nâng lên, đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao.        

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận chính trị của Đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh lật đổ các thế lực áp bức, bóc lột, giành chính quyền, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đường lối của Đảng cũng được coi là bộ phận lý luận chính trị quan trọng, bởi vì phần lớn nội dung trong đường lối của Đảng nhằm giải quyết những mục tiêu chính trị dưới dạng khái quát, cô đọng nhất ở mỗi giai đoạn cách mạng. Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng có quan hệ mật thiết và chi phối các yếu tố khác (những yếu tố tạo nên BLCT của cán bộ) - là cơ sở, yếu tố quan trọng hàng đầu hình thành, phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh luận giải và khẳng định rõ trong các bài viết, bài nói của mình.

Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, khi luận bàn về nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt câu hỏi: Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Và Người khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”(2). Đồng thời, Người chỉ rõ, đảng cách mệnh phải vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường cách mạng đã lựa chọn, xác định đúng đắn đường lối và đề ra các giải pháp lãnh đạo thực hiện hiệu quả nhằm đưa cách mạng đến thắng lợi. Đặc biệt, trong những lúc cách mạng gặp hiểm nguy, đảng cách mạng phải bình tĩnh, sáng suốt, kịp thời đề xuất và thực hiện các giải pháp đúng đắn ấy để đưa cách mạng vượt qua khó khăn, “thác ghềnh”, phong ba, bão táp, đi đến thắng lợi. Tức là, Đảng phải có BLCT vững vàng, như Người từng khẳng định: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(3). Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ ra và khẳng định yếu tố đặc biệt quan trọng, mang tính cốt lõi tạo nên sự bình tĩnh, sáng suốt của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng và của đội ngũ cán bộ trong thực hiện nhiệm vụ được giao - yếu tố tạo nên BLCT của Đảng và của đội ngũ cán bộ - chính là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người viết: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(4).

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục luận giải: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”(5). Phần lớn hoạt động phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ là thông qua hoạt động thực tế của các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong HTCT và của từng cán bộ. Các hoạt động này chỉ có thể đem lại hiệu quả, phát huy mạnh mẽ vai trò nâng cao BLCT của cán bộ khi được lý luận soi sáng, dẫn đường. Không được lý luận soi sáng, dẫn đường thì những hoạt động nâng cao BLCT của cán bộ sẽ mất phương hướng chính trị, gây hậu quả không tốt cho sự phát triển của từng cán bộ và cả sự nghiệp cách mạng.  

Tri thức của cán bộ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng chỉ có thể được hình thành thông qua việc học tập nghiêm túc của cán bộ ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là trong hệ thống trường đảng. Điều này phụ thuộc rất lớn vào chất lượng dạy và học, gồm chất lượng nội dung, chương trình phù hợp với từng đối tượng cán bộ; chất lượng đội ngũ giảng viên; hình thức, phương pháp dạy và học; việc quản lý dạy và học; môi trường học tập ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; tinh thần, thái độ của người học. Tri thức của cán bộ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng còn có được thông qua sinh hoạt đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động thực tiễn và việc tự giác thường xuyên tự học tập suốt đời của cán bộ.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng cùng đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương  và các đại biểu tham dự Lễ ra mắt cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”_Ảnh: TTXVN

Vai trò của rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn đối với việc nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ

Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ chỉ có thể được hình thành và từng bước nâng cao thông qua rèn luyện, thử thách bền bỉ, thường xuyên và lâu dài trong thực tiễn, qua những thử thách cam go khi đứng trước những vấn đề gay cấn, phức tạp nảy sinh trong thực tiễn hoạt động của cán bộ. Trong hoạt động thực tiễn, cán bộ phải biết vận dụng sáng tạo những kiến thức lý luận đã học vào thực tiễn, giải quyết đúng đắn những vấn đề nảy sinh, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Thực tiễn là “trường học” tốt nhất để củng cố, phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ. Thực tế cho thấy, sự rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, sự đối mặt với những khó khăn, thách thức, quyết liệt đương đầu với kẻ thù tàn bạo, thâm độc, xảo quyệt đã tôi luyện, nâng cao khả năng, ý chí kiên định, sự linh hoạt, sáng suốt của Đảng và của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, tự do để kịp thời đề ra các chủ trương, giải pháp đúng đắn đưa cách mạng đến thắng lợi.

Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, đội ngũ cán bộ tuy không phải trực tiếp đối mặt với kẻ thù tàn bạo, phản động, tội phạm (trừ cán bộ là lực lượng vũ trang); song, họ lại phải đối mặt với những tác động, thử thách không hề nhỏ. Đó là những cám dỗ của tiền tài, vật chất, tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế; sự cám dỗ của địa vị, quyền lực; sự lôi kéo, mua chuộc của các thế lực thù địch, phản động với âm mưu, thủ đoạn rất thâm độc, xảo quyệt hòng làm cho người cán bộ suy giảm hoặc đánh mất BLCT, gây thiệt hại cho Đảng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Những thử thách nêu trên đối với cán bộ không kém phần gay gắt, nghiệt ngã so với những thử thách trong chiến đấu chống quân thù giành độc lập dân tộc. Vì thế, rèn luyện trong thực tiễn và nỗ lực vượt qua được những thách thức hiện nay có vai trò rất to lớn trong việc củng cố, phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ.

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện cán bộ đến bài học có giá trị lớn trong công tác cán bộ của Đảng ta 

Bản lĩnh chính trị của người cán bộ là một nội dung rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Theo Người, đạo đức cách mạng của người cán bộ được thể hiện ở những phẩm chất, như trung với nước, hiếu với dân; thương yêu con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng... đây cũng là những biểu hiện của BLCT của người cán bộ, trong đó sự liêm chính là biểu hiện rõ nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: LIÊM là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”(6). Quang minh chính đại trong khái niệm “LIÊM” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những đặc trưng của BLCT của người cán bộ. Người chỉ rõ: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà”(7). Đây là một đặc trưng cơ bản của BLCT của cán bộ, là sự chính trực của cán bộ và trên thực tế, người cán bộ chính trực thường được gọi là cán bộ có BLCT. 

Cán bộ và công tác cán bộ là những vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt, xuyên suốt trong tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng. Đặc biệt, huấn luyện cán bộ là một nội dung rất quan trọng, thể hiện trong các luận điểm nổi tiếng của Người: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(8); “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(9); “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(10).

Huấn luyện cán bộ gồm nhiều nội dung, trong đó huấn luyện lý luận chính trị có vai trò quan trọng hàng đầu. Mọi cán bộ đều phải được huấn luyện lý luận chính trị. Huấn luyện cán bộ gồm huấn luyện ở nhà trường qua các lớp đào tạo cơ bản, các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm công tác; qua sinh hoạt đảng, đoàn thể; sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, sự kèm cặp của cán bộ chủ chốt ở cơ quan, đơn vị trong quá trình làm việc; qua thực tiễn công tác và việc tự học tập của cán bộ... Như vậy, học tập lý luận chính trị phải được kết hợp chặt chẽ với hoạt động thực tiễn của cán bộ thì mới đem lại hiệu quả, thiết thực.

Khi được trang bị tri thức lý luận chính trị và vận dụng vào trong công việc thực tế, cán bộ sẽ vững vàng, tự tin xử lý có kết quả những vấn đề nảy sinh, vượt qua những khó khăn, thách thức, kể cả những khó khăn lớn, thách thức quyết liệt, gay cấn để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; qua đó, họ từng bước trưởng thành. Đây là sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa việc học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, tạo nên sự trưởng thành của cán bộ, trong đó có sự trưởng thành về BLCT và được nâng cao qua từng thời kỳ cách mạng. Sự trưởng thành của cán bộ nhờ rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sau khi học tập lý luận chính trị được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lúc học rồi, họ có thể tự mình tìm ra phương hướng chính trị có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo. Thế là lý luận thiết thực, có ích(11). Như vậy, sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sẽ đem lại hiệu quả về nhiều mặt đối với cán bộ, mà điều quan trọng hàng đầu chính là góp phần nâng cao BLCT của đội ngũ này.

Cách mạng luôn luôn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn đòi hỏi Đảng, từng cán bộ phải không ngừng nâng cao BLCT để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng. Vì thế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu việc giáo dục, rèn luyện, giữ vững và nâng cao BLCT của cán bộ; nhờ đó, chất lượng đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, góp phần đưa cách mạng nước ta vượt qua những khó khăn, thách thức lớn, nhất là khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới với nhiệm vụ mới mẻ, phức tạp, nặng nề hơn trước, để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhận thức sâu sắc vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ đối với thắng lợi của cách mạng, trước khi Đảng ta ra đời, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo chọn những thanh niên ưu tú, “những hạt giống đỏ” đưa đi học tập lý luận chính trị ở Quảng Châu, Trung Quốc tại những lớp do Người trực tiếp biên soạn bài giảng và giảng dạy. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã truyền đạt những nội dung lý luận rất sâu sắc, thiết thực, với cách giảng dạy rất khoa học cho học viên; trong đó, Người rất coi trọng việc gắn chặt lý luận với thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước trên thế giới và với thực tiễn cách mạng nước ta. Nhờ đó, việc học tập lý luận chính trị đã nhanh chóng đem lại hiệu quả, có tác dụng rất to lớn, thiết thực đối với lớp cán bộ tiền bối của Đảng.

Nhờ kết hợp chặt chẽ việc học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trước những cam go, thách thức quyết liệt của cách mạng nước ta trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, BLCT của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng khi đó được nâng cao, đáp ứng tốt yêu cầu của cách mạng. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, gian khổ và phải đối mặt với sự ác liệt của cuộc đấu tranh giành chính quyền, song Đảng ta luôn tìm ra các giải pháp phù hợp, hiệu quả để huấn luyện, trang bị lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả việc học tập lý luận chính trị với tăng cường rèn luyện, thử thách đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực tiễn để nâng cao chất lượng về mọi mặt, trong đó có BLCT của họ. Những hoạt động này, cùng với sự nêu gương, sự dẫn dắt, lan tỏa của những cán bộ tiền bối, BLCT của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng cao. Với BLCT vững vàng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng khi đó (chỉ khoảng 5.000 đảng viên) đã cùng toàn thể dân tộc giành thắng lợi to lớn trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, nhân dân Việt Nam từ kiếp nô lệ thành người làm chủ đất nước. 

Đội ngũ cán bộ tiếp tục được Đảng huấn luyện về mọi mặt, coi trọng huấn luyện lý luận chính trị kết hợp chặt chẽ với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, đã đem lại hiệu quả thiết thực; nhờ đó, BLCT của cán bộ luôn được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các thời kỳ cách mạng tiếp theo. Đây là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi to lớn trong các cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai và trong khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc sau khi thống nhất đất nước.

Nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn chú trọng việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của cán bộ. Qua đó, BLCT của đội ngũ cán bộ nước ta được nâng lên một bước mới, cùng Đảng vững vàng lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những khó khăn, thách thức mới, quyết liệt chưa từng có, tận dụng những thời cơ và thuận lợi để đưa sự nghiệp đổi mới đất nước giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, mở ra thời kỳ phát triển mới của đất nước. Điều này đã được Đại hội XIII của Đảng chỉ ra và khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(12).

Tuy nhiên, công cuộc đổi mới đất nước trong những thập niên tới sẽ còn gặp những khó khăn, phức tạp, thách thức không nhỏ: “tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo… Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động”(13). Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong đó, nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới đất nước trong thời kỳ phát triển mới được Đảng ta xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm; thể hiện trong các văn kiện quan trọng của Đảng và sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Cụ thể là:

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” xác định mục tiêu: “Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân”(14). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, nhấn mạnh: “Xây dựng đồng bộ, toàn diện các đối tượng cán bộ ở các cấp. Chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, tính chuyên nghiệp, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức”(15).

Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cùng Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình Vũ Đại Thắng cứu trợ người dân vùng rốn lũ gặp hoàn cảnh khó khăn ở huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình (năm 2020)_Ảnh: TTXVN

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược”(16). “Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp”(17). Đặc biệt, Đại hội XIII bổ sung và nhấn mạnh những đặc trưng cơ bản rất quan trọng mà đội ngũ cán bộ cần có, đó là “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(18). Những đặc trưng này, cũng là những đặc trưng rất cơ bản của BLCT của đội ngũ cán bộ trong giai đoạn hiện nay.

Những chủ trương, quan điểm và chỉ dẫn của Đảng là cơ sở và căn cứ rất quan trọng để nâng cao nhận thức và xác định chủ trương, giải pháp đúng đắn để nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới của đất nước. Trong đó, cần tập trung thực hiện những giải pháp nhằm kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ trong thời gian tới, cụ thể như sau:

Một là, nâng cao nhận thức sâu sắc, thống nhất và trách nhiệm của các cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên về việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của cán bộ, trước hết là những cán bộ của cơ quan, đơn vị mình. 

Hai là, tiếp tục cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, trong đó coi trọng xác định rõ tiêu chuẩn cụ thể về BLCT của chức danh cán bộ, làm cơ sở và định hướng cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về mọi mặt, nhất là về lý luận chính trị và về rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn cũng như việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả các hoạt động này.

Ba là, đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng dạy và học lý luận chính trị; việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với việc rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, tạo cơ sở cho việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của cán bộ.

Bốn là, tiếp tục thực hiện quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó, cần coi trọng việc học tập và làm theo tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư...

Năm là, cổ vũ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tự giác học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, tự rèn luyện trong thực tiễn; từng cán bộ thực hiện kết hợp việc tự học tập lý luận chính trị với việc tự rèn luyện trong thực tiễn đạt kết quả để nâng cao BLCT.

Sáu là, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị và sự tham gia của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để góp phần nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới./.

Nâng cao đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh và tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 

TCCS - Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhiệm vụ tự giác, thường xuyên của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, là nhân tố quan trọng góp phần vào thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, việc rèn luyện đạo đức cách mạng theo chỉ dẫn của Người và tinh thần Đại hội XIII của Đảng chính là góp phần vào thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mỗi đảng viên, cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.

1- Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc đến những bến bờ thắng lợi; đồng thời, là một danh nhân văn hóa thế giới, nên Người luôn hiểu rõ và thực hành các chuẩn mực đạo đức truyền thống dân tộc, đồng thời kế thừa những tinh hoa đạo đức của nhân loại. Với tầm vóc của một nhân cách lớn, không phải đến khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, có vị trí và vai trò ngày càng vững chắc trong lòng nhân dân, được lịch sử ghi nhận qua những thắng lợi vĩ đại do Đảng lãnh đạo đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc; mà ngay từ khi Đảng ta còn ở buổi sơ khai, đến những ngày đầu chính thức cầm quyền sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm, nhắc nhở cán bộ, đảng viên về việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức suốt đời của người cách mạng.

Bác Hồ với công nhân xe lửa Gia Lâm (tranh của họa sĩ Phạm Lung, sáng tác năm 1969_Ảnh: Tư liệu

Khi Đảng còn chưa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ đặc điểm của các dân tộc phương Đông là luôn tôn trọng và đánh giá cao những tấm gương đạo đức trong sáng, cao cả, hết lòng phụng sự Tổ quốc, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Những bậc vua sáng, tôi hiền trong lịch sử từ xa xưa có công mở mang bờ cõi, giữ yên sự vững bền của xã tắc, cho đến những bậc tiên hiền, những vị có công lập làng, giữ xóm… luôn được nhân dân ghi nhận, tôn làm thánh, thờ làm thành hoàng và truyền tụng từ đời này qua đời khác. Vì thế, ngay từ đầu những năm 1920, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát đặc điểm này của dân tộc Việt Nam nói riêng, các dân tộc Á Đông nói chung, để đưa ra chỉ dẫn cần thiết cho mỗi người cộng sản trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, giữ vững sự tin yêu của quần chúng nhân dân: Đối với các dân tộc Á Đông, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền.

Năm 1927, qua tác phẩm Đường cách mệnh, Người đã chỉ rõ những yêu cầu về đạo đức của người cộng sản, về tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng. Tu dưỡng, rèn luyện theo những chỉ dẫn đó, các lớp đảng viên tiền bối của Đảng đã cống hiến, hy sinh cả cuộc đời mình để tô thắm thêm đạo đức trong sáng của người cách mạng, nên đã thuyết phục được nhân dân một lòng một dạ tin vào Đảng, đi theo Đảng. Cũng vì thế, mặc dù chỉ có chưa tới năm nghìn đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đem lại độc lập cho dân tộc sau hơn 80 năm dưới ách thực dân xâm lược, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho đất nước, các cán bộ, đảng viên của Đảng đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, tỏ rõ sự xứng đáng với danh hiệu đảng viên cộng sản cao quý. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, thì những đảng viên của Đảng trở thành những cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở công tác trong hoàn cảnh, điều kiện mới, khi kẻ thù trước mặt không chỉ là quân thù và hy sinh, mất mát là mạng sống cá nhân, mà còn phải đối diện với những “viên đạn bọc đường”, luôn làm xao động ý chí phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện của họ để mưu cầu lợi ích cá nhân.

Nhận thấy rõ điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên về nghĩa vụ của họ trước quốc dân, đồng bào và chỉ rõ: Đảng không phải là tổ chức để làm quan, phát tài, mà là để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc; vì thế, đảng viên phải luôn rèn luyện, phấn đấu, luôn sẵn sàng hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng. Những lời căn dặn, nhắc nhở của Người giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, thấy rõ những tiêu chí cần phải kiên trì tu dưỡng, rèn luyện, nỗ lực phấn đấu để xứng đáng với sự mong đợi, kỳ vọng của quần chúng nhân dân, với nhiệm vụ do Đảng giao phó, xứng với danh hiệu đảng viên cộng sản.

Những yêu cầu đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong nhiều bài nói, bài viết ngay từ khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, gửi đội ngũ cán bộ, đảng viên và bộ máy chính quyền các cấp, ở các vùng, miền và thể hiện tập trung hơn cả chính là ở tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, năm 1947. Đây có thể xem như một bộ tổng tập đầu tiên về những tiêu chuẩn của người cán bộ cách mạng, người đảng viên cộng sản, về yêu cầu và chỉ dẫn đối với hoạt động của chính quyền cách mạng, là sự cảnh báo về những thói hư, tật xấu mà người cán bộ, đảng viên hay mắc phải, để từ đó đề ra biện pháp phòng, chống những thói hư, tật xấu đó. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Đảng ta cầm quyền trên một nửa lãnh thổ trong điều kiện phải chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ với miền Bắc và chi viện cho phong trào cách mạng miền Nam đấu tranh giải phóng đất nước. Khi đó, những thói hư, tật xấu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên xuất hiện, gây ảnh hưởng xấu tới uy tín, sự vững mạnh, hiệu quả lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nhận thức rõ nguy cơ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều tác phẩm về việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đó là tác phẩm Đạo đức cách mạng, viết năm 1955; tác phẩm Đạo đức cách mạng, viết năm 1958, đặc biệt là tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân viết năm 1969.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Võ Văn Thưởng thăm và làm việc với Ban thường vụ Tỉnh ủy Long An về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh Long An nhiệm kỳ 2020 - 202 (Trong ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng thăm Hợp tác xã rau an toàn Phước Thịnh tại xã Phước Hậu, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An)_Ảnh: TTXVN

2- Tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân được Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bằng việc nêu bật những thành tích của Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Có được những thành tích đó là nhờ đông đảo đảng viên luôn kiên trì phấn đấu theo lý tưởng của Đảng, trở thành những người đi trước mở đường, dẫn dắt quần chúng nhân dân chinh phục những cột mốc trên con đường đấu tranh vì độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, vẫn “còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém”(1), họ chính là những người “mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết”(2). Vì sa vào chủ nghĩa cá nhân, nên họ “tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa… coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền”(3), họ cũng “mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(4).

Để ngăn chặn và đẩy lùi căn bệnh cá nhân chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”(5). Về phía mỗi đảng viên, Người yêu cầu phải “đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”(6).

Trong tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nguyên nhân chủ quan và khách quan của chủ nghĩa cá nhân. Nguyên nhân chủ quan, là do những cá nhân này thiếu tu dưỡng, rèn luyện nên “phẩm chất, đạo đức còn thấp kém”. Nguyên nhân khách quan, có nguyên nhân từ thực tế xã hội khi những tồn dư do xã hội cũ để lại từ lối mòn suy nghĩ, đã tác động không tốt tới nhận thức chính trị của một số đảng viên, khiến cho họ tuy là đảng viên nhưng chưa thực sự xứng đáng với tư cách đảng viên cộng sản. Bên cạnh đó, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa nghiêm túc trong thực hiện việc theo dõi, bồi dưỡng, đánh giá trước khi kết nạp quần chúng vào Đảng; sau khi kết nạp đảng, không nghiêm túc thực hiện các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, như tự phê bình và phê bình, tập trung dân chủ… trong thực hiện nhiệm vụ chính trị cũng như trong sinh hoạt hằng ngày. Những hạn chế đó khiến cho một số cán bộ, đảng viên thiếu sự rèn luyện, tu dưỡng, ít được kiểm tra, giúp đỡ trong công việc và sinh hoạt hằng ngày, nên đã làm cho căn bệnh cá nhân chủ nghĩa phát sinh và ngày càng trầm trọng.

Để ngăn ngừa và đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những biện pháp căn bản. Thứ nhất, mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên trì, quyết tâm tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, phải “đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”, “phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”. Thứ hai, tổ chức đảng các cấp phải tăng cường việc giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên về các tiêu chí của người cộng sản; trong đó, cần chú ý “về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”. Thứ ba, thực hiện nghiêm các biện pháp xây dựng Đảng về tổ chức, như “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng… Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”. Thứ tư, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, theo đó tổ chức đảng các cấp “Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”.

Những chỉ dẫn đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn luôn là kim chỉ nam cho mỗi cấp ủy, tổ chức đảng cũng như mỗi đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, tiến hành công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cũng như trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức người cộng sản một cách hiệu quả.

3- Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là những chỉ dẫn quan trọng của Người về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng xứng đáng với sự tin yêu của nhân dân, thời gian tới, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện có hiệu quả những nội dung Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Một là, làm tốt việc giáo dục lý tưởng cách mạng, quan điểm, đường lối của Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của toàn hệ thống chính trị và lan tỏa trong nhân dân, để quan điểm, đường lối chính trị khoa học, cách mạng trở thành dòng chủ lưu chính chi phối suy nghĩ, hành động của toàn thể đội ngũ cán bộ, đảng viên và đông đảo nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt; chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng là định hướng quan trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của cả hệ thống chính trị, góp phần bảo đảm kết quả thực hiện nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo của Đảng đạt yêu cầu, mục đích đề ra.

Giáo dục lý tưởng cách mạng, quan điểm, đường lối của Đảng cho đoàn viên, thanh niên (Trong ảnh: Đoàn viên, thanh niên thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham quan Khu lưu niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ tại phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)_Ảnh: TTXVN

Thời gian qua, bên cạnh những thành quả đã đạt được, vẫn còn tình trạng “việc cụ thể hóa, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa kịp thời… Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”(7). Để khắc phục những hạn chế này, thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành phải: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”, “Công tác tư tưởng phải… làm cho tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội”(8).

Hai là, làm tốt công tác phát triển đảng viên. Trong thời gian qua, việc “Kết nạp đảng viên một số nơi còn chạy theo số lượng, chưa coi trọng đúng mức chất lượng… Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên chưa được quan tâm đúng mức, việc rà soát, sàng lọc đảng viên chưa thường xuyên, thiếu cương quyết”(9).

Để khắc phục những hạn chế đó, đồng thời nâng cao chất lượng đảng viên, thời gian tới, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra là: “Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng kết nạp vào Đảng những đoàn viên ưu tú, trưởng thành trong lao động, học tập, trong lực lượng vũ trang; quan tâm phát triển đảng viên là công nhân, trí thức, doanh nhân để tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị các cấp”(10). Bên cạnh đó, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 21-1-2019, của Ban Bí thư, “Về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng”; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII về tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới. Cần làm tốt công tác lựa chọn, bồi dưỡng các quần chúng ưu tú và việc rèn luyện, thử thách cán bộ, đảng viên trong thực tiễn cách mạng. Cần tuân thủ nghiêm chỉ dẫn của V.I. Lê-nin trong phát triển đảng viên là “thà ít mà tốt”. Đảng vững mạnh không phải ở số lượng đông đảo đảng viên, mà ở sức mạnh to lớn, đầy thuyết phục do những thành viên xứng đáng với danh hiệu người đảng viên cộng sản thể hiện trước quần chúng nhân dân, trong thực tiễn cách mạng của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Ba là, tổ chức đảng các cấp cần tuân thủ nghiêm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, như tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình,… nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Sức mạnh của Đảng nói chung, của mỗi tổ chức đảng nói riêng là ở sự đồng tâm nhất trí của tập thể cùng quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ; cùng hy sinh, phấn đấu cho lý tưởng; cùng giúp nhau chiến thắng những kẻ thù ẩn sâu bên trong bản thân mỗi người - những suy nghĩ mang tính cá nhân ích kỷ, không vì lý tưởng, sự nghiệp chung…

Thời gian qua, “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”(11). Để khắc phục, đẩy lùi những hạn chế, khuyết điểm nói trên của đảng viên, tổ chức đảng, thời gian tới cần “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý các chi bộ, đảng viên vi phạm quy định, nguyên tắc sinh hoạt đảng… Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm”(12).

Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đảng chỉ hoàn thành được sứ mệnh của mình khi luôn hướng mọi hoạt động của mình vào phục vụ nhân dân; giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Thời gian qua, tổ chức đảng các cấp, bên cạnh những thành tích đạt được trong việc phục vụ nhân dân, cũng như việc bảo đảm chịu sự giám sát, giúp đỡ của nhân dân, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục, đó là: “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả thấp”(13). Vì thế, thời gian tới, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần đặc biệt “Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, kết hợp với phát huy vai trò giám sát của báo chí và nhân dân đối với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên… Thực hiện có hiệu quả việc giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cán bộ chủ chốt”(14)./.