Thứ Ba, 4 tháng 10, 2022

Ngăn chặn âm mưu tác động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh

Hiện nay, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nguy cơ hết sức nghiêm trọng đối với sự tồn vong, vững mạnh của đất nước ta, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, trong đó có quốc phòng, an ninh. Đây thực sự là một hiểm họa tiềm tàng, một loại kẻ thù giấu mặt, một thứ “giặc nội xâm” nguy hiểm, cần được nhận diện, ngăn ngừa, đấu tranh.

Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đã chỉ rõ: “Bước vào giai đoạn phát triển mới,đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, 4 nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,“tự diễn biến”,“tự chuyển hoá”còn diễn biến phức tạp”.


Lợi dụng những vấn đề liên quan đến quốc phòng - an ninh của đất nước, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá. Mục đích của họ là tuyên truyền, kích động nhằm làm lung lạc, suy giảm hoặc mất niềm tin của nhân dân đối với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về sự nghiệp an ninh, quốc phòng. Vì vậy, cần phải nhận diện và đề cao cảnh giác.

Người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có 3 mức độ, tăng dần về tính chất.

Ở mức độ biểu hiện đầu tiên, người có biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có thái độ thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh trong bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã viết nên những trang sử vẻ vang với bao chiến công chói lọi chống lại kẻ thù ngoại xâm. Nhưng đáng buồn thay, một số kẻ đã vội quên đi những chiến thắng oanh liệt được đánh đổi bằng hi sinh, xương máu của các thế hệ cha anh.

Nhìn lại sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014, khi tình hình biên giới, biển, đảo có diễn biến phức tạp, nhạy cảm, những người này thể hiện sự bi quan, hoang mang. Một số quay sang phê phán đường lối xử lý của Đảng, Nhà nước ta. Thậm chí có quan điểm còn cho rằng, Việt Nam là nước nhỏ nên cần phải nhượng bộ, “chấp nhận” theo sự sắp đặt của các nước lớn. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét các vấn đề về quốc phòng, an ninh; làm ảnh hưởng tới sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước.

Ở mức độ tiếp theo, từ thiếu niềm tin, họ bắt đầu đòi hỏi phải có sự đổi mới nhưng theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. Họ muốn đi theo các nước lớn để nhận được sự giúp đỡ về vũ khí, trang bị kỹ thuật nhằm gia tăng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Đây là suy nghĩ phiến diện, một chiều, có thể gây ra mối nguy hại về lâu dài cho đất nước. Bởi lẽ, trên thế giới đã có việc nước nhỏ dựa vào nước lớn để trợ giúp về vũ khí, quân sự. Tuy nhiên, sự trợ giúp này không phải là “miễn phí”, mà còn kèm theo những yêu cầu, đòi hỏi từ nước lớn nên thường dẫn tới yếu tố gây mất ổn định chính trị, thậm chí nguy cơ xảy ra xung đột, chiến tranh.

Ở mức độ cuối cùng, họ xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đây là mức độ biểu hiện, phản ánh rõ ràng tính chất trầm trọng và đặc biệt nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau. Chủ yếu vẫn là: đòi phi chính trị hóa Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển...

Mục đích của những thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an trước nhân dân và dư luận quốc tế; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo ra sự nghi ngờ, hoang mang trong nhân dân; làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào CAND, QĐND hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của CAND và QĐND.

Với vai trò là lực lượng vũ trang nhân dân, “thanh kiếm và lá chắn” bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, CAND có vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình, lực lượng CAND đã thực hiện và hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị quan trọng. Đã chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu hóa nhiều âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; tổ chức có hiệu quả công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, gương mẫu đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng“Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”...

Bên cạnh những kết quả đạt được, cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của lực lượng CAND vẫn còn một số hạn chế, nhất là trong công tác quản lý cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ còn bộc lộ sơ hở, có nơi để xảy ra một số vụ việc cán bộ, chiến sĩ vi phạm kỷ luật của Đảng, của ngành, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, truyền thống của lực lượng. Trong công tác và chiến đấu, một số cán bộ, chiến sĩ còn có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thiếu ý chí rèn luyện, phấn đấu vươn lên, thậm chí có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống.

Để đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” nói chung và “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh nói riêng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị phải nhận diện chính xác những biểu hiện của “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”; kiên quyết, kiên trì, chủ động ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Là lực lượng tiên phong, gương mẫu đi đầu, cán bộ, chiến sĩ CAND cần không ngừng rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, quyết tâm giữ mình trong sạch; không sa ngã trước những cám dỗ; không để các thế lực thù địch lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, tác động.

Can thiệp sai trái là vi phạm các nguyên tắc trong bảo đảm quyền con người

 Ngày 7/9, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Đà Nẵng đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Bùi Tuấn Lâm (trú tại phường Thanh Bình, quận Hải Châu) để điều tra, làm rõ hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN  Việt Nam”, quy định tại Điều 117, BLHS.

Ngày 8/9, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk cũng thông báo về việc đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với Đặng Đăng Phước (trú tại số nhà 19/6, đường Giải Phóng, phường Tân Lợi, TP Buôn Ma Thuột) để điều tra cùng về hành vi trên.

Tung hứng, đánh tráo sự thật

Ngay sau đó, nhiều thông tin, luận điệu sai trái liên quan đến việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt bị can để tạm giam đã được các đối tượng xấu tung ra. Liên quan đến bị can Bùi Tuấn Lâm, trang mạng của tổ chức Việt Tân rêu rao rằng: “Nhà hoạt động Bùi Tuấn Lâm thường xuyên lên tiếng trước những bất công, tình hình dân chủ, vi phạm nhân quyền và có đóng góp tích cực cho phong trào dân chủ tại Việt Nam”; “việc bắt giữ Bùi Tuấn Lâm là một bằng chứng tiếp theo về sự khủng bố trắng của chính quyền đối với những công dân yêu nước”… Với bị can Đặng Đăng Phước, họ tô vẽ, tạo dựng Phước thành hình tượng một “người yêu nước”, “nhà đấu tranh”, từ đó lên tiếng vu khống chính quyền vi phạm dân chủ, nhân quyền.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) kêu gọi Việt Nam cần bãi bỏ Điều 117, BLHS “về sự lạm quyền”, lên tiếng đòi “ngay lập tức trả tự do cho Bùi Tuấn Lâm và những người khác”. Một số báo, đài, các trang mạng xã hội hải ngoại đăng tải thông tin phụ họa dưới dạng “kẻ tung người hứng” để gây sức ép và can thiệp, yêu cầu thả tự do cho các đối tượng bị bắt.              

Những luận điệu rêu rao trên là sai sự thật. Chẳng có ai bị khởi tố, bắt tạm giam chỉ vì đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền. Chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật, núp danh dân chủ thực hiện hành vi chống phá đất nước, chống phá chính quyền nhân dân, bị CQĐT khởi tố, điều tra. Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can là những hoạt động tố tụng đầu tiên của quá trình điều tra. Để xác định tính chất, mức độ hành vi phạm pháp đối với Bùi Tuấn Lâm, Đặng Đăng Phước, các cơ quan tố tụng sẽ phải thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ và tiến hành các bước tiếp theo. Tuy nhiên, nếu ai theo dõi hoạt động của những kẻ tự xưng “giới dân chủ” thì cũng không xa lạ gì đối với hai bị can này.

Bị can Bùi Tuấn Lâm thường xuyên sử dụng tài khoản mạng Facebook “Peter Lam Bui” để đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, phát sóng trực tiếp (livestream) có thông tin, nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; cổ súy các hoạt động chống chính quyền; xúc phạm lãnh tụ, xúc phạm uy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân thực thi pháp luật. Đồng thời, đối tượng này cũng công khai ủng hộ Phạm Đoan Trang, Lê Dũng Vova, Trịnh Bá Phương - những kẻ chống phá Nhà nước, đã bị cơ quan chức năng đưa ra xét xử. Ngoài ra, Bùi Tuấn Lâm còn có mối quan hệ với một số tổ chức, hội nhóm chống phá chính quyền như “Hội bầu bí tương thân”, “Con đường Việt Nam”...

Tài liệu xác minh ban đầu của cơ quan điều tra cho thấy, Bùi Tuấn Lâm từng tham gia khóa huấn luyện về “xã hội dân sự”, “đấu tranh bất bạo động”; thường xuyên tham gia các buổi thảo luận về học thuyết xã hội nhằm đào tạo lực lượng hình thành xã hội dân sự, chống phá đất nước; tham gia với các đối tượng chống đối chính trị viết bài xuyên tạc chính quyền, câu kết hoạt động kích động biểu tình, gây rối… Việc chống phá của Bùi Tuấn Lâm mang tính quyết liệt, thể hiện rõ mục đích thay đổi chế độ.

Liên quan đến bị can Đặng Đăng Phước, mặc dù là giáo viên, giảng dạy tại Trường CĐSP Đắk Lắk nhưng đối tượng này không giữ chuẩn mực nhà giáo, liên tục lợi dụng mạng xã hội để lan truyền các thông tin sai sự thật. Với lăng kính nhìn nhận của Phước, mọi vấn đề trong xã hội đều trở nên đen tối, tiêu cực. Thay cho việc truyền thụ kiến thức, nhân cách cho học sinh, đối tượng này lại núp danh dân chủ, nhân quyền, đưa ra những phát ngôn xuyên tạc và thường xuyên tụ tập, tiếp xúc với các phần tử bất mãn để tuyên truyền kích động, đả phá chính quyền. Khi Luật An ninh mạng được thông qua, đối tượng này cũng là một trong số các phần tử kêu gọi tẩy chay, phản đối. Các cơ quan chức năng nhiều lần nhắc nhở, giáo dục và yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật nhưng Đặng Đăng Phước không chấp hành, ngược lại còn tiếp tục hoạt động ngày càng quyết liệt, cực đoan hơn.

Do đó, việc khởi tố, bắt tạm giam đối với Bùi Tuấn Lâm và Đặng Đăng Phước để phục vụ điều tra là tất yếu. Hoạt động của hai đối tượng này rõ ràng không phải vì mục đích thúc đẩy dân chủ, nhân quyền như những gì họ rêu rao. Thực chất, những đối tượng này luôn tìm mọi cách để chống phá, làm thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Những luận điệu “tẩy trắng”, “khóc mướn” cho Bùi Tuấn Lâm và Đặng Đăng Phước suy cho cùng cũng chỉ là một chiêu trò để tạo dựng các “hình mẫu ngược”, làm nhiễu loạn tình hình, gây sức ép cho chính quyền và các cơ quan tiến hành tố tụng, tạo cớ cho các thế lực bên ngoài tiến hành chống phá Đảng, Nhà nước. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cho người dân. Những năm qua, Việt Nam đã triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy quyền con người; thực hiện có hiệu quả chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, chính sách đối với nhóm người yếu thế; giải quyết tốt vấn đề tôn giáo, dân tộc… Cùng với đó, Việt Nam cũng đang tích cực tham gia vào hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc. Dân chủ, nhân quyền phải gắn liền với an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Bảo đảm nhân quyền phải gắn chặt với phát triển bền vững kinh tế, văn hóa, xã hội. Không thể tự xưng hoạt động vì dân chủ, nhân quyền để chống phá đất nước, gây mất ổn định như những gì Bùi Tuấn Lâm, Đặng Đăng Phước và các đối tượng khoác áo “dân chủ” đang thực hiện.

Cần hành động đúng đắn, tuân thủ luật pháp

Ở bất kỳ đất nước nào thì tiền đề, điều kiện để đảm bảo thực hiện tốt quyền con người đều phải gắn với pháp luật, vừa mang tính bảo vệ, vừa mang tính quản lý. Trong giai đoạn hiện nay, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, quyền con người, quyền công dân là những quyền cơ bản được ghi nhận và thể hiện trong hiến pháp và pháp luật của các nước. Tuy nhiên, mang danh nghĩa “đấu tranh cho dân chủ” để xâm phạm đến khách thể là quốc gia, dân tộc, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân là thủ đoạn mà một số đối tượng đã, đang triệt để lợi dụng. Như trường hợp Bùi Tuấn Lâm đã tiến hành các hoạt động đăng tải bài viết, hình ảnh, video, livestream… có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Ngày 9/9/2022 vừa qua, cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hà Nội ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với Phan Sơn Tùng về hành vi tương tự. Rõ ràng, hành vi của các đối tượng trên là phạm pháp, tác động xấu đến an ninh, trật tự xã hội nên việc tiến hành các biện pháp khởi tố, bắt tạm giam để điều tra, xử lý là việc làm bình thường của cơ quan tiến hành tố tụng. Các hoạt động trên góp phần giữ gìn an ninh xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh, góp phần làm cho người dân vững tin hơn vào pháp luật.

Việc kêu gọi trả tự do cho đối tượng vi phạm pháp luật là sai trái vì những lý do sau:

Trước tiên, chủ quyền quốc gia, quyền dân tộc tự quyết là những nguyên tắc cơ bản trong hợp tác quốc tế về bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Hiến chương Liên hợp quốc (26/6/1945), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16/12/1966 đã để ở vị trí ưu tiên số một về quyền dân tộc tự quyết. Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị quyền con người châu Á (29/3 – 2/4/1993) và một nội dung cơ bản của hội nghị quốc tế về quyền con người tổ chức tại Viên (Áo) tháng 6/1993 đã khẳng định độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và quyền tự quyết dân tộc là nguyên tắc trong quan hệ quốc tế hợp tác giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con người… Các quốc gia, tùy theo bối cảnh lịch sử, chế độ xã hội, điều kiện kinh tế, truyền thống văn hóa mà thực hiện những vấn đề có quan hệ tới quyền con người. Việc bắt giữ các đối tượng xâm hại khách thể được Điều 117, BLHS bảo vệ là hoạt động bình thường của cơ quan tiến hành tố tụng, tuân thủ luật pháp và làm vững chắc thêm sức mạnh, tính tôn nghiêm của luật pháp, phù hợp với điều kiện xã hội của Việt Nam, bối cảnh khu vực, quốc tế. Việc kêu gọi thả tự do cho đối tượng đang bị điều tra về hành vi phạm tội là trái với nguyên tắc trong quan hệ quốc tế, đồng thời là sự can thiệp vô lý đối với hoạt động tố tụng của một quốc gia.

Hơn nữa, hành vi của Bùi Tuấn Lâm và các đối tượng nêu trên là xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, chế độ và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Việc HRW cũng như các tổ chức phản động, chống phá phản đối việc bắt giữ Bùi Tuấn Lâm, Đặng Đăng Phước và kêu gọi trả tự do ngay lập tức cho những đối tượng này dẫn đến sự vi phạm trong nguyên tắc giáo dục của pháp luật. Cụ thể, khi một người có hành vi phạm tội mà không bị xử phạt hoặc được sự bênh vực, hỗ trợ của cá nhân, tổ chức khác càng làm cho đối tượng ảo tưởng, cho rằng mình có thể đứng ngoài vòng pháp luật, thích làm gì thì làm mà chính quyền “không thể đụng tới”, từ đó gây khó khăn trong việc đảm bảo quyền con người. Đáng ra, HRW cần phải có các động thái khuyên răn, yêu cầu những ai phạm pháp thì phải từ bỏ, chấp hành luật pháp nhà nước sở tại thì mới phù hợp với ý nghĩa, nhân danh tổ chức hoạt động “vì quyền con người”. Ngược lại, khi HRW hay các tổ chức khác bất chấp sự thật, can thiệp sai trái cho đối tượng phạm pháp thì chính những tổ chức này đang vi phạm luật pháp quốc tế, vi phạm các nguyên tắc trong bảo đảm quyền con người. HRW và các tổ chức, cá nhân đang có quan điểm, hành động sai trái cần hành động đúng đắn, phù hợp các giá trị của văn minh, tiến bộ nhân loại.

Còn với những đối tượng phạm pháp, không nên chờ đợi từ sự cổ suý, can thiệp của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. Chờ đợi sự cổ suý sẽ không làm họ tỉnh ngộ mà tiếp tục dấn sâu vào vết xe đổ, nối tiếp những sai lầm.

Bảo vệ cái đúng, phê phán cái sai

 

Sáng đến trường, Bình giọng bực tức kể cho đồng nghiệp chuyện gặp lại người bạn thân sau nhiều năm mà cậu ta cứ luôn miệng nói xấu ngành giáo dục, nói xấu chế độ, ca tụng những bài viết có thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội.

Vì không muốn tranh luận với bạn nên Bình "nuốt cục tức" ra về...

Nghe xong câu chuyện, anh An, Tổ trưởng Tổ Văn "sôi sùng sục":

- Cậu như vậy là không được. Một giáo viên trẻ, lại là đảng viên mà thấy xấu không đấu tranh, thấy sai không phản biện, thờ ơ trước việc làm sai trái, không dám bảo vệ lẽ phải. Im lặng như thế không khác gì đồng ý với cái sai, cái xấu.

- Nhưng anh ơi, lúc ấy trong quán cà phê, bạn nói to tiếng, em không muốn tranh luận. Hơn nữa bạn bè lâu ngày mới gặp, lời đi tiếng lại ảnh hưởng đến tình cảm bạn bè, Bình bối rối thanh minh.

- Cậu suy nghĩ như thế là chưa thấu đáo. Biết cậu là giáo viên mà lại đi nói xấu ngành giáo dục, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước thì bạn cậu không những không tôn trọng cậu mà còn vi phạm pháp luật. Cậu phải xem lại mối quan hệ với anh ta.

Đứng ngoài cửa phòng, Phó hiệu trưởng Tú nghe được câu chuyện. Bước vào phòng, anh nghiêm giọng:

- Bình ạ, An đang nói những lời gan ruột với cháu đấy. Tình bạn là tài sản quý, chúng ta phải xây dựng, giữ gìn. Nếu bạn nhận thức lệch lạc, nói hay làm điều gì sai trái thì cháu phải biết khuyên giải, can ngăn, chỉ cho bạn tỉnh táo trước thông tin xấu độc, tìm “đường sáng” cho bạn mình đi chứ. Đằng này, cháu lại im lặng một cách vô tâm là mình cũng sai như bạn đấy. Nếu không thay đổi, một ngày không xa, cháu có thể mất đi tình bạn, hoặc bạn cháu cũng biến cháu thành người xấu như thế. Làm ngơ trước thông tin xấu độc cũng là một biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đấy cháu ạ! Chú tin, cháu không phải là người như vậy!

Nghe thầy Phó hiệu trưởng phân tích, Bình hiểu ra vấn đề và tỏ ra ăn năn: 

- Dạ, cháu xin lỗi chú và anh. Cháu đã hiểu và biết cái sai của mình rồi. Lần tới, gặp lại cháu sẽ nói cho bạn hiểu, không nghe theo, không chia sẻ những thông tin xấu độc, trái chiều nữa!

Phê phán những luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 

Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam.

Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Không ngộ nhận, thờ ơ trước những quan điểm sai trái, phản động

Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ. Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH .

Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay.

Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB.

Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử

Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên.

Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB.

Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu.

Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển.

Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(1).

Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN”(2) là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi.  

Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 05/10


“… Không biết tự quyết, tự định cái gì, như vậy làm sao công tác phát triển được. Có mắt ta phải trông, có óc ta phải nghĩ, có tay ta phải làm chứ.
Nhưng tự động không phải tự tiện”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Tinh thần chủ động trong Ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 59, ngày 05 tháng 10 năm 1945.
Ngày 02 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; từ đây chính quyền cách mạng được thiết lập từ Trung ương đến cơ sở, song chính quyền mới phải đối diện với muôn vàn khó khăn, gian khổ, đặc biệt về công tác cán bộ vừa thiếu, vừa yếu, kinh nghiệm trong quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế. Để khắc phục, chấn chỉnh những bất cập, khó khăn trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài để huấn thị đội ngũ cán bộ các cấp.
Cán bộ và công tác cán bộ luôn là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại của cách mạng. Xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kỳ được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, với việc ban hành nhiều quyết sách quan trọng về cán bộ và công tác cán bộ; kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện và đã đạt được những kết quả quan trọng. Phần lớn đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức, lối sống giản dị, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, hoàn thành nhiệm vụ được giao; nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế… Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đến nay vẫn còn một số hạn chế, bất cập, nhất là việc điều động, bổ nhiệm vi phạm nguyên tắc, lợi ích nhóm, tệ nạn chạy chức, chạy quyền diễn ra ở một số cơ quan, địa phương… gây bức xúc trong dư luận.
Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng; một nội dung cơ bản của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì nhiệm vụ xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch; có tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu trong cả lời nói và việc làm, khả năng tư duy sáng tạo, năng lực lãnh đạo, chỉ huy giỏi; trình độ, kiến thức chuyên môn ngày càng cao; có uy tín trong tập thể; sức khỏe và độ tuổi phù hợp, luôn gần gũi, sâu sát với bộ đội, làm nòng cốt trong xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, đảm bảo cho Quân đội không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH Há» CHÍ MINH'

PHÊ PHÁN NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ. Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH . Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay. Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB. Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên. Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB. Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu. Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển. Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(1). Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN”(2) là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi. Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam.

CHỌN LỰA THÔNG TIN TRONG MỚ HỖN LOẠN

 

Các nguồn tin trên mạng ở VN, kể cả một vài tờ báo lẻ, thiên về đưa tin giật gân, lôi kéo độc giả, để kiếm Quảng cáo như tờ: TN, TT, hay một vài ông "nguyên viện.."
Vâng, họ đưa có chỗ không sai, nhưng bởi họ cắt tin theo chủ quan cá nhân, đưa tin không đầu cuối, không bình luận. Không bao quát chung, không theo kịp diễn biến & bản chất của vấn đề. Hễ thấy rút lui chiến thuật, cho rằng thất bại, tháo chạy...
Họ trẻ, chưa từng ở QĐ nên không hiểu biết về ý đồ tác chiến, nghi binh, điều chuyển, thay đổi thiên biến vạn hóa ...trên thực địa, thực binh.
(kiểu tin: "Đau bụng uống nhân sâm/...thì tắc tử ".
Họ chỉ đưa đoạn trước, thì sẽ uống, xem trang sau sẽ chết !)
Trong chiến tranh có bộ máy tâm lý chiến ở cả hai phía. Bởi thế những người khôn ngoan nên tiếp nhận thông tin theo các nguồn tin chính thống, có kiểm chứng.
* Ở VN: Báo Quân đội ND, Nhân dân, VTV, VTC & đặc biệt là Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) nguồn tin độc quyền Quốc gia.
* Mới đây: Phóng viên chiến trường của Ukraine đăng một dòng stt khá cảm thán trên trang cá nhân của mình:
"10.000 lính Ukraine đã c.h.ế.t, chỉ để cố gắng chứng minh với Phương Tây rằng Ukraine vẫn có thể thắng, và cố gắng thuyết phục họ rằng làm ơn đừng do dự nữa, hãy gửi thêm viện trợ đi".
Zelensky lên ti vi hàng đêm lên là để lên dây cót tinh thần:
Mỗi ngày Ukraine đều đang ở thế thượng phong, tiến lên như diều gặp gió...
* Tham mưu trưởng QĐ Anh lại nhận định: Hiện tại Ukraine chưa thấy có dấu hiệu rằng có thể thay đổi cục diện chiến trường!
Nhưng cái giá phải trả từ đầu chiến dịch phản công là không hề nhỏ.
Cũng thông cảm cho ông ta (Zelensky) vì nếu nói lên sự thật chiến trường thì nguy to: Dân hoảng loạn, Quân rút chạy, Mỹ & EU ngưng viện trợ...thì ..." thôi rồi Lượm ơi!"
Thế nhưng, cái động thái mang bàn ghế ra giữa đường ký khẩn cấp đơn xin gia nhập Nato, biết là ổng sắp chết đuối, phải mau tìm "cọc" . Hãy nhìn khuôn mặt thất thần của ông ta cũng biết tình hình đại cục đang ở chỗ nào ?!
TIN NHANH
1/ Bộ Quốc phòng Nga đã tiết lộ đoạn video cho thấy cách mà pháo binh Nga thực hiện một cuộc tấn công lớn vào các vị trí của quân đội Ukraine, nhằm loại bỏ hàng loạt xe tăng, vũ khí và xe bọc thép.
2/ Mấy ngày qua, Zelensky lệnh cho QĐ Ukraine phản công vào Kherson. Tổng tham mưu trưởng báo cáo là rất khó khăn & có thể tổn thất nặng nề. Zelensky yêu cầu phản công bằng mọi giá.
* Ngày 3/10 QĐ Ukraine bao vây nửa thị trấn Liman. Quân đội Nga rút khỏi thị trấn này ( Đây là cửa ngõ Kherson ). Sau đó phản công dữ dội bằng hỏa lực mạnh:
* Theo TTXVN: Đêm 4/10, Nga dội tên lửa, pháo phản lực dữ dội, diệt hơn 500 quân Ukraine và 60 đơn vị vũ khí, khí tài quân sự.
* Theo VTC: Phía Kharkov, QĐ Nga đã tấn công vào Lữ đoàn bộ binh cơ giới sói 14 trong 24 giờ qua loại khỏi vòng chiến 100 binh sĩ Ukraine.
Trong 3 ngày 2,3,4/10 QĐ Nga diệt hơn 900 binh sĩ Ukraine của lữ đoàn lữ đoàn 66 & 93, tại tp Liman.
Tất cả các cuộc tấn công của quân Ukraine đều thiệt hại và bị QĐ Nga đẩy lùi.
4/ Loạt pháo tự hành 2S3 Akatsiya Nga tấn công cứ điểm của quân đội Ukraine, và các vị trí các đơn vị dự bị phía sau.
pháo tự hành 2S3 Akatsiya di chuyển vào vị trí ẩn nấp, "dàn trận" theo hàng ngang sau đó liên tục khai hỏa tấn công vào các cứ điểm quân sự Ukraine.( ảnh)
( Quốc Minh tổng hợp & bình luận)