Thứ Tư, 5 tháng 10, 2022

Cơ chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở Châu Mỹ

 

Về chức năng xét xử:

Các vụ việc được chuyển đến Tòa án bởi Ủy ban Quyền con người châu Mỹ hoặc bởi một quốc gia thành viên OAS. Đây là điểm khác với cơ chế quyền con người của châu Âu, nơi mà các cá nhân  có quyền gửi thẳng các khiếu nại đến Tòa án Quyền con người khu vực. Khi các cá nhân thấy rằng quyền của mình bị vi phạm thì có thể gửi khiếu nại đến Ủy ban Quyền con người châu Mỹ để xem xét khả năng thụ lý. Nếu xét thấy có thể thụ lý, Ủy ban sẽ gửi cho quốc gia liên quan một số khuyến nghị. Chỉ khi quốc gia liên quan không tuân theo các khuyến nghị này, hoặc nếu Ủy ban thấy rằng vụ việc có ý nghĩa quan trọng, thì sẽ chuyển vụ việc lên Tòa án châu Mỹ về quyền con người để giải quyết. 

Thủ tục tại Tòa án châu Mỹ về quyền con người được chia thành thủ tục viết và thủ tục miệng. Trong giai đoạn thủ tục viết, đơn khiếu kiện được nộp cần bao gồm các dữ kiện liên quan, các nạn nhân, nhân chứng có thể mời có mặt tài phiên tòa, số chi phí đòi bồi thường. Nếu vụ việc được thụ lý, Tòa sẽ gửi thông báo đến quốc gia hoặc Ủy ban quyền con người của châu lục (tùy chủ thể nào nộp đơn kiện), nạn nhân và các bên liên quan. Trong vòng 30 ngày tiếp theo thông báo, bất kỳ bên nào cũng có quyền nộp đơn phản đối. Tòa án có thể họp để xem xét đơn phản đối này. Trong vòng 60 ngày tiếp theo thông báo, bên bị đơn phải cung cấp phản hồi đơn kiện bằng văn bản nêu rõ có đồng ý hay không với nội dung và yêu cầu của đơn kiện. Trong giai đoạn tranh tụng (thủ tục miệng), một hội đồng gồm năm thẩm phán của Tòa án sẽ xem xét vụ việc. Sau khi nghe các bên tranh tụng và nghị án, Tòa sẽ tuyên án. Phán quyết của Tòa án là chung thẩm, các bên không được phép kháng cáo.

MLN. Nh

Cơ chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở Châu Mỹ

 

 Đến năm 1969, các nguyên tắc nền tảng trong Tuyên ngôn châu Mỹ về quyền và trách nhiệm của con người được tái khẳng định trong Công ước châu Mỹ về quyền con người (American Convention on Human Rights). 

Công ước này xác định:

 Các quyền con người mà các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tuân thủ và đảm bảo, đồng thời quy định việc thiết lập Tòa án Quyền con người châu Mỹ (Inter-American Court of Human Rights).

 Công ước này hiện có giá trị bắt buộc đối với 24 trong số 35 quốc gia thành viên của OAS[1].

  Tòa án Quyền con người châu Mỹ cùng với Ủy ban Quyền con người châu Mỹ (Inter-American Commission on Human Rights - IACHR) tạo nên bộ máy cơ quan bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở châu lục này.  Trước hết nói về Ủy ban Quyền con người châu Mỹ, cơ quan này có chức năng thúc đẩy việc tuân thủ và bảo vệ quyền con người ở châu Mỹ. Ủy ban bao gồm 7 ủy viên được bầu chọn bởi Đại Hội đồng OAS cho nhiệm kỳ 4 năm, hoạt động với tư cách cá nhân. Ủy ban có một Chủ tịch và hai Phó Chủ tịch. Tòa án Quyền con người châu Mỹ  bao gồm 7 thẩm phán là công dân các quốc gia thành viên OAS, được bầu theo nhiệm kỳ 6 năm bởi Đại hội đồng OAS. Tòa có hai chức năng cơ bản là xét xử và tư vấn.

MLN. Nh

Cơ chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở Châu Mỹ

 


 Cơ chế quyền con người châu Mỹ cũng có lịch sử tương đối sớm.

Ngay từ năm 1948, Tuyên ngôn châu Mỹ về các quyền và nghĩa vụ của con người (American Declarattion of the Rights and Duties of Man) đã được thông qua bởi Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (Organization of American States – OAS),  trước Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 6 tháng. Năm 1959, Ủy ban Quyền con người châu Mỹ (Inter-American Commission on Human Rights - IACHR) được thành lập.

MLN. Nh

Cơ chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở Châu Âu

 

Mọi quốc gia thành viên của Hội đồng châu Âu đều phải tham gia Công ước Quyền con người châu Âu. Đây là một trong những điều kiện để trở thành thành viên của Hội đồng châu Âu.

Công ước được bổ sung bằng hơn 10 Nghị định thư, trong đó Nghị định thư số 11 (có hiệu lực từ năm 1998) quy định việc thành lập Tòa án Quyền con người châu Âu thường trực. Tòa án có số lượng thẩm phán tương đương số quốc gia thành viên, các thẩm phán của tòa án được bầu ra bởi Nghị viện của Hội đồng châu Âu theo nhiệm kỳ 6 năm, hoạt động với tư cách độc lập chứ không phải là đại diện của quốc gia. Tòa án được chia thành 5 Tòa thành viên (Sections), được lãnh đạo bởi một chánh án (President), 5 chánh tòa (Section Presidents, hai trong số này đồng thời là Phó Chánh án - Vice-President). Mỗi Tòa thành viên sẽ chọn ra một Hội đồng (Chamber), bao gồm Chánh tòa và sáu thẩm phán luân phiên. Tòa cũng có một Đại Hội đồng (Grand Chamber) gồm 17 thẩm phán, bao gồm Chánh án, các Phó Chánh án và các Chánh tòa.

 Các khiếu kiện về quyền con người chống lại các quốc gia thành viên được gửi  đến Tòa án Quyền con người châu Âu (tại Strasbourg, Pháp) sẽ được phân loại và giao cho các Tòa thành viên, sau đó được xem xét bởi một Ủy ban gồm 3 thẩm phán.

Ủy ban này có thể ra quyết định thụ lý hay không thụ lý vụ việc. Nếu được Ủy ban chấp thuận, khiếu nại được xem xét bởi một Hội đồng. Các vụ việc quan trọng có thể được chuyển tới Đại Hội đồng. Trong vòng 10 năm hoạt động (1998-2008), Tòa án quyền con người châu Âu đã thụ lý và ra phán quyết về rất nhiều vụ việc. Số đơn khiếu nại gửi đến Tòa án ngày càng tăng. Riêng trong năm 2008, Tòa án nhận 49.850 đơn so với năm 2007 là 41.650 đơn. Ngoài Tòa án Quyền con người, châu Âu còn có một số cơ quan bảo vệ quyền con người khác như Ủy ban chống tra tấn (CPT).

MLN. Nh

Cơ chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở Châu Âu

 


 Châu Âu là khu vực đi đầu trên thế giới về việc phát triển cơ chế bảo vệ quyền con người khu vực.

Hệ thống văn kiện khu vực về quyền con người ở châu Âu có nòng cốt là Công ước châu Âu về Bảo vệ Quyền con người và Tự do cơ bản (The European Convention for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms) được Hội đồng châu Âu thông qua từ ngày 4/11/1950, có hiệu lực từ tháng 9/1953. Công ước này còn quy định cơ chế giám sát thực hiện gồm 3 cơ quan là: Ủy ban Quyền con người trực thuộc Hội đồng châu Âu (được thành lập năm 1954 nhưng đã kết thúc hoạt động từ năm 1990); Tòa án Quyền con người châu Âu (1959), Ủy ban các Bộ trưởng của Hội đồng châu Âu (gồm Ngoại trưởng hoặc đại diện của các quốc gia thành viên).

Công ước cũng quy định hai loại khiếu nại (applications) về những vi phạm quyền con người có thể được tiếp nhận và xem xét là khiếu nại của các cá nhân và của các quốc gia đối với nhau.

MLN. Nh

Cách tiếp cận đối thoại và đấu tranh trên lĩnh vực QCN

 

 Hiện nay trêh thế giới có nhiều c ách tiếp cận đối thoại và đấu tranh trên lĩnh vực QCN của khu vực và thế giới

Bên cạnh cơ chế có tính chất toàn cầu của Liên hợp quốc và một số tổ chức liên chính phủ khác, một số tổ chức khu vực cũng ban hành các văn kiện và thành lập các cơ chế để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong phạm vi khu vực đó

 Ở mức độ nhất định, một số cơ chế khu vực (ví dụ như ở châu Âu) còn tỏ ra chặt chẽ, hiệu quả hơn so với cơ chế của Liên hợp quốc. Nhìn chung, so với cơ chế của Liên hợp quốc, các cơ chế quyền con người khu vực có ưu điểm là dễ đạt được đồng thuận hơn khi thiết lập, sửa đổi, bổ sung và thực hiện, do các quốc gia trong khu vực thường có nhiều điểm chung về kinh tế, văn hóa, truyền thống lịch sử. Thêm vào đó, các cơ chế khu vực, do phạm vi hẹp hơn về địa lý, tỏ ra dễ tiếp cận hơn với công chúng so với cơ chế toàn cầu của Liên hợp quốc.

MLN. Nh

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA NĂM 1917 - GIÁ TRỊ KHAI MỞ VÀ TINH THẦN KHAI SÁNG MỘT THẾ KỶ CHO NHÂN LOẠI


Cách mạng Tháng Mười Nga - cuộc cách mạng mang sứ mệnh khai sinh ra chủ nghĩa xã hội hiện thực - một kiểu phát triển xã hội mới, công bằng và dân chủ hơn cho thế giới. Đến nay, dấu ấn hơn 100 năm trôi qua vẫn không làm phai nhạt sức sống trường tồn, giá trị khai mở và tinh thần khai sáng cho nhân loại.
Cách mạng Tháng Mười Nga là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, đánh dấu một mốc mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Cách mạng Tháng Mười Nga đã xóa bỏ giai cấp bóc lột, tư sản, địa chủ và chế độ người bóc lột người, đưa giai cấp vô sản bị áp bức, bóc lột nặng nề thành giai cấp đứng đầu và làm chủ xã hội; giải phóng nhân dân lao động, đưa người lao động từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của đất nước. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã dẫn tới sự ra đời nhà nước xã hội chủ nghĩa - nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người và làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực trong đời sống chính trị thế giới.
Nó báo hiệu quá trình cải tạo thế giới theo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã bắt đầu.Sự xuất hiện của Liên Xô - một kết quả trực tiếp của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917, đã xóa bỏ nước Nga Sa hoàng và dựng lên một nước Nga mới - Nước Nga Xôviết, đưa giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân Nga lên nắm chính quyền; biến ước mơ, nguyện vọng hàng ngàn năm của quần chúng lao động về một chế độ xã hội không còn bóc lột, áp bức, bất công và nhân dân làm chủ trở thành hiện thực. Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, một thời đại mới mở ra - Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng sâu sắc nhất trong lịch sử nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”.
Cách mạng Tháng Mười đánh dấu bước chuyển biến về chất chủ nghĩa xã hội khoa học: từ lý luận đã trở thành hiện thực sinh động. V.I.Lênin từng nhận định, Cách mạng Tháng Mười đã mở đầu cho “một thời đại mới trong lịch sử loài người”, “một sự nghiệp mới mẻ sáng tạo ra một chế độ nhà nước xưa nay chưa từng có”. Khẳng định tầm vóc, giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười, Hồ Chí Minh viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười Nga chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. Như vậy, Cách mạng Tháng Mười Nga có ý nghĩa khai mở một thời đại mới trên toàn thế giới.
Lý tưởng và tinh thần của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn tiếp tục là ngọn cờ dẫn đường cho cuộc đấu tranh cho nhân dân lao động toàn thế giới trong thế kỷ XXI. Nhiều chính phủ ở các quốc gia, nhất là ở Châu Mỹ Latin đã tuyên bố sẽ xây dựng chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI. Hiện thực sinh động của những nước đang kiên định theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên thế giới, trong đó có Việt Nam, càng khẳng định giá trị khai mở, tinh thần khai sáng và sức sống trường tồn của tinh thần Cách mạng Tháng Mười Nga trong hiện tại và tương lai./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA sỰ KIỆN LỊCH SỬ VĨ ĐẠI CỦA THẾ KỲ XX'

TƯ TƯỞNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ


Đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là đoàn kết trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và đoàn kết trong các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đoàn kết quốc tế là nhân tố bảo đảm sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội cũng như thắng lợi của công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế chứa đựng nhiều nội dung phong phú, rộng lớn; được thể hiện một cách rõ ràng, nhất quán, kiên định qua nhận thức, quan điểm và hành động của Người. Đáng chú ý một số điểm như sau:
Thứ nhất, đoàn kết quốc tế là một đòi hỏi khách quan, một vấn đề có tính nguyên tắc, là chiến lược xuyên suốt, nhất quán và có vai trò, vị trí, ý nghĩa quan trọng đối với cách mạng Việt Nam.
Tiếp bước con đường đi ra thế giới của các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh; rút kinh nghiệm từ thất bại của những phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược đầu thế kỷ XX; nhờ những trải nghiệm trong thời gian sinh sống, lao động ở nước ngoài; qua hoạt động với tư cách đảng viên Đảng Xã hội Pháp, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, và nhất là nhận được nguồn cổ vũ lớn từ thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh là người đầu tiên và duy nhất xác định rõ ràng nền tảng, nhân tố quan trọng cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là đoàn kết, hội nhập với thế giới.
Trong quan điểm của Người, thân phận bất hạnh của đa số “người bị bóc lột”, người lao động nghèo ở các nước là cơ sở chính hình thành nên “tình hữu ái”, sự đoàn kết giữa các dân tộc trên thế giới; đoàn kết quốc tế là yếu tố quan trọng làm nên sức mạnh của cách mạng giải phóng dân tộc nói chung và cách mạng ở Việt Nam nói riêng.
Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm rõ ràng về mục tiêu của đoàn kết quốc tế. Đó là, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước và kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp, vì quốc gia, dân tộc và vì nền hòa bình của khu vực và trên thế giới. Với Hồ Chí Minh, “sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới… Sự đoàn kết quốc tế có một ý nghĩa to lớn với chúng tôi”.
Thứ ba, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết quốc tế, để thực sự tạo nên sức mạnh, phải được xây dựng trên những nguyên tắc cơ bản: 1) không phân biệt, bình đẳng, cùng có lợi; 2) tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; 3) phải phát huy tinh thần “tự lực cánh sinh”, dựa vào sức của mình là chính; 4) có lý, có tình. Trong Lời tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Chính phủ các nước trên thế giới ngày 14-1-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới”. Người khẳng định: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi, và chung sống hòa bình”. Đây là thông điệp về hòa bình, hợp tác, hữu nghị, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhau của nhân dân Việt Nam với thế giới. Đây cũng là tư duy, tầm nhìn vượt thời đại của Hồ Chí Minh.
Thứ tư, đoàn kết quốc tế, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề tập hợp lực lượng là rất quan trọng. Lực lượng đoàn kết quốc tế, theo tư tưởng của Người, rất phong phú song tập trung chủ yếu vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào hòa bình, dân chủ thế giới. Hồ Chủ tịch đã thành công khi gắn cuộc đấu tranh vì độc lập ở Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do, công lý và bình đẳng để tập hợp và tranh thủ được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Đồng thời, trong việc mở rộng lực lượng đoàn kết quốc tế, Người còn xác định rõ vai trò quan trọng của các quốc gia láng giềng, các nước lớn.
Có thể khẳng định, tư tưởng về đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những định hướng, nền tảng, cơ sở lý luận quan trọng cho việc hoạch định và thực thi đường lối, chính sách đối ngoại Việt Nam, là ánh sáng soi đường của đối ngoại Việt Nam.
=====
Sưu tầm

HỌC NGHỊ QUYẾT, PHẢI HỌC THẬT!


Không khó để bắt gặp những câu chuyện đáng trách, đáng buồn nhưng ít người dám lên tiếng phản ánh, đấu tranh. Ví như khi nhận kế hoạch học tập nghị quyết, không ít cán bộ thở dài, tỏ ra mệt mỏi “khổ nhỉ, lại học nghị quyết!”.
Tại các buổi quán triệt tập trung, vài cá nhân hồn nhiên “đi ra, đi vào”, “nghịch” điện thoại, ngủ gật; lại có cán bộ dự một lúc, rồi viện lý do “chính đáng” để về trước... Đặc biệt, khi tiến hành kiểm tra kết quả học tập nghị quyết, vẫn có cán bộ, đảng viên chủ ý cậy nhờ đồng chí, đồng nghiệp chép hộ thu hoạch...
Những câu chuyện trên cho thấy, hiện nay, nhiều cán bộ, đảng viên chưa xác định rõ trách nhiệm học tập nghị quyết. Ở nhiều nơi, cán bộ quen cách nghĩ “học xong là xong”... mà chẳng buồn bàn thảo, tư duy về giá trị, tinh thần hay nội dung nghị quyết cần vận dụng vào tổ chức mình, bản thân mình trong thời gian tiếp theo. Đây thực sự là một thực tế đáng báo động!
Sự nguy hại nằm ở chỗ, Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và toàn xã hội bằng nghị quyết. Ấy vậy mà việc học nghị quyết lại bị xem nhẹ, hời hợt, hình thức... thì tinh thần, nội dung nghị quyết liệu có thấm, ngấm vào cán bộ, có đi vào thực tiễn? Hay nghị quyết một đằng triển khai một nẻo? Nghị quyết đúng, triển khai sai?
Nguyên nhân của thực trạng trên được ngụy biện rằng, học nghị quyết vốn là nội dung “khô, khó, khổ”; trong khi có quá nhiều nghị quyết phải học tập và việc cân đối thời gian giữa họp hành, công tác với học nghị quyết thường chồng lấn, gây khó cho cán bộ, đảng viên.
Thực chất, đó là những lời chống chế. Học tập nghị quyết là một chế độ bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên. Điều đáng bàn là cách thức tổ chức vẫn chưa được đổi mới căn bản mà chỉ theo lối cũ; các chế tài, quy định trong tổ chức học tập nghị quyết thiếu toàn diện, chưa tròn khâu. Gần như ở nhiều nơi, sau học tập thì đương nhiên kết quả là 100% khá, giỏi mà “bỏ quên” cả tính thực chất, khách quan trong đánh giá, kiểm tra. Hơn thế, cũng ít thấy tổ chức đảng mạnh tay xử lý cán bộ, đảng viên vì rơi vào các biểu hiện xem nhẹ, lười học, vi phạm quy chế hoặc kết quả học tập thấp kém. Mặt khác, kết quả học tập nghị quyết cũng chưa “hiện thực hóa” như một tiêu chí, căn cứ xem xét, đánh giá cán bộ, đảng viên theo quy định của cơ quan chức năng.
“Lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng...” chính là một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng xác định. Theo đó, một khi cán bộ, đảng viên rơi vào biểu hiện suy thoái này thì phải có cơ chế, chế tài xử lý nghiêm túc, triệt để, không có vùng cấm theo kỷ luật Đảng. Phải xem biểu hiện suy thoái này là mối nguy hại đặc biệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả, hiệu lực lãnh đạo của Đảng.
Nhiều ý kiến cho rằng, đã là học tập nghị quyết thì cần phải bảo đảm các khâu, các bước, các nhân tố của quá trình “dạy” và “học”. Theo đó, người quán triệt, báo cáo chuyên đề nghị quyết cần được lựa chọn kỹ lưỡng-phải là cán bộ thực sự có trình độ, năng lực, uy tín và hiểu sâu sắc về nghị quyết. Nội dung học tập cũng được lựa chọn, khu biệt hoặc lược hóa những vấn đề cần thiết, sát với nhiệm vụ từng cơ quan, địa phương, đối tượng. Phương pháp, hình thức cần được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực của đối tượng; chủ yếu trang bị các vấn đề cơ bản và định hướng nghiên cứu tiếp theo...
Đặc biệt, công tác tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng tổ chức học tập nghị quyết phải được xem là khâu quan trọng. Không nên đơn thuần phân cấp tổ chức học tập mà cần có sự đan chéo kiểm tra theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang; kết hợp với việc tổng kết, đúc rút mô hình tổ chức học tập nghị quyết hiệu quả để nhân rộng, phổ biến kinh nghiệm. Kết quả học tập nghị quyết không nên gò ép, giao khoán chỉ tiêu một cách xơ cứng mà cần bám sát thực tế, đánh giá nghiêm túc, thực chất thì mới nêu cao tinh thần, trách nhiệm của đối tượng.
Để giải quyết thấu đáo những phần việc nêu trên, rất cần sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cơ quan chức năng Trung ương và hệ thống tổ chức đảng các cấp. Có như vậy thì nghị quyết mới sớm đi vào cuộc sống, mà trước hết là đi vào khối óc, tâm huyết, trí tuệ của đội ngũ cán bộ, đảng viên-những người gánh sứ mệnh lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết.
ST

NGHỊ QUYẾT, TRÁNH DÀI MÀ RỖNG!


Liên quan đến vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng thông qua lãnh đạo bằng nghị quyết, một cán bộ ở cơ quan chiến lược nọ đã thẳng thắn nêu nhận định, rằng hiện nay, nghị quyết của nhiều tổ chức đảng ở cơ sở đang rơi vào tình trạng quá dài dòng văn tự; đọc thì khá hay nhưng khó triển khai trên thực tế.
Cán bộ này lý giải, có lẽ những người “chủ biên” bị vướng vào tâm lý sợ đối tượng được quán triệt, học tập không hiểu hết ý mà họ viết ra; đồng thời sợ nghị quyết thiếu nội dung, thiếu toàn diện...
Thực tế cho thấy, không ít nghị quyết của tổ chức đảng ở cơ sở; nhất là ở cấp chi bộ lại dành dung lượng khá lớn để đánh giá tình hình thế giới, khu vực, trong nước và dự báo những vấn đề rất ít liên quan đến chức năng, nhiệm vụ và đặc thù công tác lãnh đạo, chỉ đạo trên thực tế. Có chi bộ còn “sao chép”, “biên tập” một số nội dung nghị quyết của cấp trên, rồi biến nó thành chủ trương của cấp mình. Lại có chi bộ ban hành nghị quyết một cách cầu toàn, vấn đề nào cũng đề cập, nội dung nào cũng “đá” một ít như để khẳng định: Tổ chức đảng phải lãnh đạo toàn diện mọi mặt công tác và điều đó phải được thể hiện trong nội dung nghị quyết.
Đó là những nhận thức và cách làm sai lệch. Cần nhớ lại sự mực thước nêu gương và những lời răn dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh-Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta. Theo đó, khi trực tiếp biên soạn các văn kiện, văn bản, nghị quyết quan trọng, có tính chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện hết sức ngắn gọn, súc tích. Ví như, Chánh cương vắn tắt của Đảng chỉ có 265 từ; Sách lược vắn tắt của Đảng: 251 từ; Tuyên ngôn Độc lập:1.085 từ; Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến: 205 từ; Di chúc hơn 1.000 từ... Ngắn và gọn là thế, nhưng văn bản nào của Người khi được ban hành cũng đều được đông đảo quần chúng tiếp nhận, quyết tâm thực hiện, tạo nên các cao trào cách mạng mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân!
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ngắn gọn, súc tích là bởi Người luôn bám sát mục đích cao nhất là nhằm tuyên truyền, lãnh đạo, giáo dục, giác ngộ cán bộ, quần chúng. Người chỉ rõ: “Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích...”. Đặc biệt, Hồ Chí Minh thẳng thắn phê phán: “Nhiều anh em hay viết dài. Viết dòng này qua dòng khác, trang này qua trang khác. Nhưng không có ích cho người xem. Chỉ làm tốn giấy tốn mực, mất công người xem”.
Trong nhiều năm qua, các cơ quan chức năng của Trung ương luôn quyết liệt chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng, ban hành nghị quyết ở tất cả các cấp; tập trung vào đổi mới việc xây dựng nghị quyết ở cấp cơ sở theo hướng ngày càng đi vào thực chất, ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ triển khai. Ấy nhưng, tinh thần đó qua các cấp chưa được quán triệt đầy đủ; trong khi công tác kiểm tra, bồi dưỡng, chỉnh huấn... còn nhiều khuyết yếu, có nơi còn “bỏ ngỏ”. Đây chính là một trong nhiều nguyên nhân khiến cán bộ, đảng viên và quần chúng sinh ra căn bệnh ngại học nghị quyết. Nhiều ý kiến ngụy biện rằng, việc ngại học, ngại đọc nghị quyết là bởi văn kiện này thường có quá nhiều nội dung, các vấn đề chung chung, khá giống nhau qua các năm, quý, tháng; có chăng chỉ là sự thay đổi những con số, những chỉ tiêu, còn văn phong, cách diễn đạt thì vẫn na ná theo lối cũ. Cũng bởi thế mà dù nghị quyết được ban hành đều đặn theo đúng quy định, nhưng “hiệu quả lãnh đạo”, “khả năng hiện thực” nghị quyết vào cuộc sống ở cấp cơ sở vẫn còn không ít khó khăn, vướng mắc.
Để nghị quyết đi vào cuộc sống, thì khâu đầu tiên, cấp thiết hiện nay là phải đổi mới phương thức xây dựng nghị quyết, nhất là ở cấp cơ sở. Các cấp cần đặc biệt quan tâm lãnh đạo, quyết liệt đổi mới một cách căn bản việc xây dựng nghị quyết theo hướng ngắn, gọn, thực chất, sát thực tế; quyết liệt chống “bệnh ôm đồm”, dài dòng trong thể hiện văn phong nghị quyết. Việc làm đó cần được tiến hành đồng bộ, mạnh mẽ, kết hợp giữa hướng dẫn với kiểm tra, uốn nắn; tạo một đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp trong hệ thống tổ chức đảng. Từng cấp ủy nêu cao trách nhiệm trong thảo luận, quyết nghị các chủ trương, giải pháp lãnh đạo; nhưng cũng đồng thời đặt ra những yêu cầu cao về dung lượng nghị quyết, tất yếu phải “gọt bỏ”, “gọt bớt” những nội dung, câu từ dài dòng, hoa mỹ, sáo rỗng. Nghị quyết tốt nhất phải ngắn gọn, cô đọng, có trọng tâm, đúng tầm, sát thực, dễ triển khai.
Với những người có trách nhiệm trực tiếp soạn thảo nghị quyết, phải luôn khắc nhớ sâu sắc lời phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Viết làm gì dài dòng và rỗng tuếch như thế? Chỉ có một cách trả lời: Là quyết không muốn cho quần chúng xem. Vì đã dài lại rỗng, quần chúng trông thấy đã lắc đầu, ai còn dám xem nữa? Kết quả chỉ để cho những ai vô công rồi nghề xem, và người xem cũng mắc phải thói xấu như người viết”.
Công bằng mà nói, đổi mới cách xây dựng nghị quyết của tổ chức đảng ở cơ sở không chỉ là việc cải cách hành chính trong Đảng, mà cao hơn là một giải pháp quan trọng để Đảng ta mạnh lên từ cơ sở, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới! Đó là một việc cần kíp!
ST

KỶ NIỆM 75 NĂM TÁC PHẨM “SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC”: GIÁ TRỊ VẸN NGUYÊN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG

 

Vào cuối năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đang diễn ra trong tình thế “châu chấu đá voi”, đất nước giữa lúc nước sôi, lửa bỏng, Đảng, Chính phủ ngập trong bộn bề công việc, dốc sức lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân và dân ta vừa kháng chiến, vừa kiến quốc... thì Chủ tịch Hồ Chí Minh dành thời gian, trí tuệ, tâm sức để viết và cho ra đời tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”.
Sự ra đời của tác phẩm hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà là vì tình hình thực tế cách mạng Việt Nam lúc đó đặt ra cấp bách vấn đề phải đổi mới lối làm việc trên cơ sở sửa chữa, chấn chỉnh những lề lối làm việc cũ, lạc hậu, sai sót của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng theo những chuẩn mực, nguyên tắc, quy định làm việc của một đảng cầm quyền.
Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn thành trong tháng 10-1947, ký bút danh X.Y.Z. Đây là tác phẩm đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp trình bày một cách hệ thống tư tưởng đổi mới về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, trong đó “Vấn đề cán bộ” của Đảng có nội dung, ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Vấn đề này bao gồm những việc Đảng phải tập trung giải quyết là: Huấn luyện cán bộ; dạy cán bộ và dùng cán bộ; lựa chọn cán bộ; cách đối với cán bộ; chính sách cán bộ. Tuy nhiên, với góc độ “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm và cách thức khắc phục nhằm làm cho đội ngũ cán bộ của Đảng ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp”. Để giải quyết vấn đề này, có nhiều việc phải làm đồng bộ theo những nguyên tắc, yêu cầu và bằng cách thức hợp lý, khoa học, cụ thể, trong đó “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” đặt lên trước. Tuy nhiên, cho đến thời điểm cuối năm 1947, đa số cán bộ vì nhiều lý do khác nhau mà chưa được huấn luyện chu đáo. Một số nơi có mở được lớp huấn luyện, nhưng còn quá nhiều khuyết điểm.
Đó là nội dung huấn luyện không sát với đối tượng, lý luận không ăn khớp với thực tế, dạy theo cách học thuộc lòng... nên “học rồi” mà “không dùng được”. Không chỉ nhìn thấy hạn chế, bất cập trong công tác huấn luyện mà Chủ tịch Hồ Chí Minh còn hướng dẫn một cách rất thấu đáo, cụ thể việc sửa chữa khuyết điểm.
Người đặt ra yêu cầu: “Những cơ quan lãnh đạo và những người phụ trách phải có kế hoạch dạy cho cán bộ một cách toàn diện cả về chuyên môn nghiệp vụ, văn hóa, chính trị, lý luận... nhưng phải gắn với yêu cầu công việc của từng cán bộ mà lựa chọn nội dung phù hợp, sao cho huấn luyện phải thiết thực và “Phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó. Những người lãnh đạo cần phải tham gia việc dạy”.
Trong vấn đề cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc xem xét, cất nhắc cán bộ. Người nhận thấy: “Từ trước đến nay, Đảng ta chưa thực hành cách thường xem xét cán bộ. Đó là một khuyết điểm to. Kinh nghiệm cho ta biết: Mỗi lần xem xét lại nhân tài, một mặt thì tìm thấy những nhân tài mới, một mặt khác thì những người hủ hóa cũng lòi ra”.
Người chỉ rõ, trước khi cất nhắc cán bộ phải biết rõ cán bộ, “Biết rõ ràng cán bộ, mới có thể cất nhắc cán bộ một cách đúng mực”. Để “biết rõ” cán bộ thì phải xem xét cán bộ một cách thật sự khoa học, chu đáo, cẩn trọng. Theo Người, việc xem xét để “hiểu biết cán bộ” cố nhiên là việc khó và người đi xem xét cán bộ “càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng”.
Từ thực tế, Người đã chỉ ra 4 chứng bệnh thường phạm phải trong xem xét cán bộ mà chỉ phạm một trong những chứng bệnh đó thì cũng như “mắt đã mang kính màu” không bao giờ hiểu đúng cán bộ. 4 chứng bệnh cần phải khắc phục đó là: Tự cao, tự đại; ưa người ta nịnh mình; do lòng yêu ghét của mình mà đối với người; đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau.
Điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm trong xem xét cán bộ không chỉ là phẩm chất đạo đức, phong cách mà còn đồng thời là phương pháp, trình độ năng lực xem xét cán bộ. Người đã vận dụng nhuần nhuyễn “phương pháp làm việc biện chứng” mà theo Người vốn là ưu điểm lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin vào xem xét cán bộ.
Người chỉ rõ “cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp nhất, vì nó cũng phải biến hóa”. Về thực chất cách xem xét này là đặt cán bộ trong trạng thái “động” với những biến đổi có thể xảy ra theo những khuynh hướng và biểu hiện đa dạng, không nhất thành bất biến, không theo đường thẳng, không giống nhau trong quá khứ, hiện tại và tương lai...
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xem xét cán bộ phải dựa vào hiện tượng, nhưng phải đi từ nhiều hiện tượng “ngoài mặt” mà đi sâu tìm ra tính chất của cán bộ. Điều chỉ dẫn này thật sâu sắc, vì không phải bao giờ bản chất và hiện tượng cũng thống nhất hoàn toàn, cũng sáp nhập vào nhau làm một. Xem xét cán bộ phải toàn diện và cụ thể, “không chỉ xem xét một việc, một lúc mà phải xem toàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ”.
Như thế, xem xét cán bộ là một quá trình liên tục, đòi hỏi phải sử dụng nhiều phương pháp khoa học, trong đó không thể thiếu phương pháp lịch sử và logic. Điểm rất đáng chú ý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra là nếu xem xét cán bộ một cách toàn diện, đi từ hiện tượng đến bản chất thì thấy được có những cán bộ “tuy họ làm được việc cũng không phải là cán bộ tốt” và có cán bộ “dù công tác kém một chút cũng là cán bộ tốt”.
Tư tưởng, đạo đức, phong cách, năng lực, nhân cách của cán bộ không chỉ biểu hiện trong công tác mà còn biểu hiện trong sinh hoạt, không chỉ trong nói, viết mà trong hành động, không chỉ trong một quan hệ mà nhiều quan hệ, với cả những ưu điểm và khuyết điểm.
Chính vì thế, Người yêu cầu trong xem xét cán bộ: “Chẳng những xem xét công tác của họ, mà còn phải xét cách sinh hoạt của họ. Chẳng những xem xét cách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không. Chẳng những xem xét họ đối với ta thế nào, mà còn phải xem xét họ đối với người khác thế nào.
Ta nhận họ tốt, còn phải xét số nhiều đồng chí có nhận họ tốt hay không...”. Liên hệ vào thực tế, chúng ta không khó nhận thấy những biểu hiện xem xét cán bộ chưa quán triệt đầy đủ, sâu sắc những yêu cầu này nên đã dẫn đến đánh giá, cất nhắc, sử dụng cán bộ không đúng.
Thiết nghĩ, để thực hiện tốt những yêu cầu trong xem xét cán bộ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra thì người đi xem xét cán bộ phải khắc phục bệnh chủ quan, hẹp hòi, phiến diện... không được rơi vào chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện.
Trên cơ sở xem xét cán bộ thì việc “cần kíp” cần giải quyết là “cất nhắc cán bộ”. Yêu cầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra là phải cất nhắc một cách cho đúng và “phải có gan cất nhắc cán bộ. Cất nhắc cán bộ, phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái”. Người cảnh báo rằng, “nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây thêm mối lôi thôi trong Đảng.
Như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào”. Theo Người, việc cất nhắc cán bộ phải tiến hành “cẩn thận”, “đúng mực”, đúng người, đúng việc dựa trên cơ sở “biết rõ ràng cán bộ”. Người yêu cầu, khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người cán bộ đó có gần gũi quần chúng, có được quần chúng Nhân dân tin cậy và mến phục không, đồng thời phải xem người cán bộ ấy xứng đáng, phù hợp với công việc gì; nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ thì cũng “không được việc”.
Điều thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc trong cất nhắc cán bộ mà Người chỉ ra là: “Cất nhắc cán bộ, không nên làm như “giã gạo”. Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên.
Một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời. Đối với cán bộ, chẳng những phải xem xét rõ ràng trước khi cất nhắc. Mà sau khi đã cất nhắc phải giúp đỡ họ, khuyên gắng họ, vun trồng lòng tự tin, tự trọng của họ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu “phải khéo dùng cán bộ”. Người phê phán những chứng bệnh là: “Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực. Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình”.
Những chứng bệnh đó đã đưa đến làm hỏng cả công việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo. Quá trình sử dụng cán bộ dù họ là người trong hay ngoài Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đều phải thực hiện tốt 5 cách: “Chỉ đạo”, “Nâng cao”, “Kiểm tra”, “Cải tạo” và “Giúp đỡ”.
5 cách này phải được kết hợp chặt chẽ, vận dụng linh hoạt, không cứng nhắc, máy móc, “thả cho họ làm” để phát huy tinh thần sáng tạo; “tìm cách cho họ học thêm lý luận và cách làm việc” để họ ngày càng tiến bộ; gắn với “kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm”; khi vấp phải sai lầm thì thuyết phục giúp họ sửa chữa; và “phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc”...
75 năm đã trôi qua, nhưng những nội dung căn cốt về “vấn đề cán bộ” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong “Sửa đổi lối làm việc” vẫn đang là một vấn đề thời sự hết sức nóng hổi và là “vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp” của Đảng ta hiện nay.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang tiếp tục thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về “vấn đề cán bộ” trong tác phẩm này và những chỉ dẫn quý giá của Người trong hơn 20 năm sau vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Theo đó, Đảng luôn coi trọng đổi mới lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Song, công tác cán bộ vẫn còn hạn chế cần phải khắc phục.
Nổi lên là “việc thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng về một số nội dung trong công tác cán bộ còn chậm, còn một số ít nội dung chưa thống nhất giữa pháp luật của Nhà nước với quy định của Đảng. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn còn không ít trường hợp chưa phản ánh đúng thực chất. Việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử có nơi chưa bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, cá biệt có nơi bố trí người nhà, người thân chưa đủ uy tín. Chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc”.
Để khắc phục những hạn chế đó, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp mà Đảng ta đã chỉ ra, trong đó cần: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo công tác cán bộ, cải cách thủ tục hành chính và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền về công tác cán bộ. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ. Xử lý nghiêm đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật của Nhà nước”.
Đồng thời quán triệt và thực hiện tốt quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về công tác cán bộ, “phải xác định đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ “then chốt” của “then chốt”, có liên quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ, sự phát triển, vững mạnh của đất nước... nhưng cũng “cực kỳ phức tạp, khó khăn, vì nó liên quan đến con người, là “công tác con người”.
Vì thế công tác cán bộ nói chung, công tác nhân sự nói riêng “phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, thật sự trong sáng, khách quan, đặc biệt phải “có con mắt tinh đời” trong việc đánh giá, giới thiệu, lựa chọn; lấy tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và hiệu quả công tác, uy tín của bản thân và gia đình làm thước đo chủ yếu.
Phải trên cơ sở xác định rõ tiêu chuẩn, tiêu chí để đánh giá đúng cán bộ, lựa chọn đúng người, sắp xếp đúng việc, bố trí đúng chỗ”. Điều quan trọng nhất hiện nay là “nói phải đi đôi với làm” trên cơ sở nhận thức đầy đủ, sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về công tác cán bộ và triển khai một cách chủ động, khoa học, quyết liệt với đủ dũng khí, niềm tin thì việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng mới có thể đạt hiệu quả như Đảng và nhân dân ta mong muốn.
ST (Theo QĐND)
2

SỰ HOANG TƯỞNG CỦA ĐỖ NGÀ VỀ NHÀ NƯỚC

 Trong thời gian qua, Đỗ Ngà liên tục đăng tải những bài viết chống phá đất nước trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… Trong những bài viết đó, Đỗ Ngà xuyên tạc, bịa đặt, phán xét sặc mùi phản động. Lập luận của Đỗ Ngà rất tráo trở, thâm hiểm và những dẫn chứng, lý lẽ của Y đưa ra rất vô lý, ngây ngô, hoang tưởng. Những điều đó được thể hiện rõ trong bài viết “Ba nhà nước, ba gọng cùm, dân thoát đằng trời!” mà Đỗ Ngà mới đăng tải gần đây.

Những quan niệm chung nhất, được thừa nhận rộng rãi trên toàn thế giới về nhà nước đều chỉ rõ nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lí xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội. Thế nhưng với sự hoang tưởng cao độ về “trí tuệ uyên thâm vượt xa thiên hạ” của bản thân, Đỗ Ngà đã hùng hồn “thánh phán” ra cái gọi là “ba nhà nước tam trùng” ở Việt Nam hiện nay. Đỗ Ngà “phán” rằng, ở nước ta hiện nay “có ba nhà nước”. Nhà nước thứ nhất là Đảng Cộng sản, nhà nước thứ hai là Chính phủ, nhà nước thứ ba là Mặt trận Tổ quốc. Đối chiếu với quan niệm về nhà nước, chúng ta có thể thấy đó là sự tùy tiện, ngây ngô, ấu trĩ của Đỗ Ngà.

Đỗ Ngà bịa đặt rằng “Nhà nước thứ nhất là Ban Bí thư với người đứng đầu là Tổng bí thư…, dùng để cai trị 5,1 triệu đảng viên”. Ở đây, có thể thấy Đỗ Ngà đã trơ trẽn bịa đặt, vu khống khi Y nói rằng Đảng “cai trị” các đảng viên. Có lẽ Đỗ Ngà ảo tưởng quá nhiều về quyền lực, “ngáo chính trị” nên trong đầu óc, miệng lưỡi của Y sặc mùi “cai trị”, phản động. Sự thật thì ai cũng biết rằng không có đảng chính trị nào trên thế giới có mang tính chất nhà nước như thi hành quyền lực, cưỡng chế… đối với đảng viên.

Đỗ Ngà còn vu khống rằng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một nhà nước dùng để giám sát nhân dân, “hỗ trợ”, “chỉ điểm” cho Chính phủ bắt bớ, xử tù những người có quan điểm đối lập với Đảng và Nhà nước ta.

Chúng ta đều biết trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân;...

Trong bài viết của mình, Đỗ Ngà còn cổ xúy cho việc thành lập các hội nhóm chính trị phản động, chống phá đất nước. Qua đó cho thấy dã tâm hằn học, định kiến tăm tối nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Bởi vậy, mỗi người Việt Nam yêu nước cần nêu cao cảnh giác, không để mắc mưu Đỗ Ngà và đồng bọn của y./.