Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch đối với học thuyết Mác - Lênin về triết học

Ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XIX, trải qua hơn 180 năm triết học Mác - Lênin luôn luôn là thế giới quan, phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn, việc nghiên cứu, học tập, nắm vững những lý luận cốt lỗi của triết học Mác - Lênin là nhu cầu cần thiết, vì nó không chỉ có ý nghĩa giúp chúng ta hiểu đúng hơn, đầy đủ hơn, mà còn cung cấp vũ khí lý luận sắc bén, tư tưởng vững  chắc, niềm tin trong việc bảo vệ cấu phần trong nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Ngày nay, các thế lực thù địch tiếp tục điên cuồng chống phá quyết liệt vào những quan điểm có tính chất nền tảng của triết học Mác - Lênin, đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, họ thâm độc hơn với nhiều chiêu trò khác nhau, bằng những phương tiện, công cụ khác nhau, chúng tấn công vào tư tưởng, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân để rồi dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ngày càng nghiêm trọng hơn. Vì vậy, chúng ta cần tỉnh táo, sáng suốt nhận diện đúng “căn bệnh và bốc đúng thuốc” sớm đấu tranh, bảo vệ thành công triết học Mác - Lênin, góp phần bảo vệ cấu phần trong nền tảng tư tưởng của Đảng. Có thể khái quát một số biểu hiện cụ thể như sau:

Một là, các thế lực thù địch tư biện cho rằng triết học Mác - Lênin chỉ đúng ở thế kỷ XIX nay không còn đúng nữa.

Tư duy tư biện là lối tư duy, nhận thức, suy luận đơn thuần không dựa vào thực tiễn, không xuất phát từ hiện thực khách quan, từ đó đi đến kết luận không chặt chẽ, không lôgic, thậm chí có những kết luận mang tính áp đặt, sai lầm. Lối tư duy này hiện nay khá phổ biến, kể cả xuất hiện trong tư duy, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Sinh thời, Lênin đấu tranh, bảo vệ quan điểm thực tiễn, yêu cầu nhận thức phải dựa trên thực tiễn, lấy thực tiễn làm cơ sở, động lực, mục tiêu, là tiêu chuẩn của nhận thức chân lý. Lênin nêu rõ: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức”[1].

 Thực tế không có gì phải bàn cải, triết học Mác - Lênin ra đời vào những năm 40 của thể kỷ XIX, nay không còn đúng nữa phải không? Đây là quan điểm tư biện, thù địch không có sơ sở thực tiễn, cần có thái độ khách quan khi đánh giá tư tưởng, giá trị của triết học Mác - Lênin trong nhận thức và cải tạo hiện thực của con người trong thế giới đương đại, thời đại cuộc cách mạng khoa học và cộng nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, đã tác động và đưa đến những thành tựu to lớn, những tiến bộ trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ và đời sống của con người chưa từng có trong lịch sử, con người ngày càng nhận thức nhiều hơn, cải tạo nhiều hơn đối với hiện thực khách quan này. Điều này không có nghĩa là triết học Mác - Lênin không còn đúng nữa, mà thực tế ấy đã minh chứng rằng triết học Mác - Lênin đã làm cuộc cách mạng một lần nữa khi trả lời cho câu hỏi tư duy của con người có phản ánh được được tồn tại hay không? Ý thức có phản ánh được vật chất hay không? Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Tất cả điều đó đã minh chứng khả năng nhận thức của con người đối với hiện thực, và khả năng ấy chưa dừng lại mà con người còn nhận thức nhiều hơn nữa về thế giới hiện thực. Tinh thần đó Ăngghen đã chỉ rõ: “Lý luận của chúng tôi không phải một giáo điều, mà là sự giải thích quá trình phát triển, quá trình này bao hàm trong bản thân nó một loạt những giai đoạn kế tiếp nhau”[2]. Mặt khác, hiện nay ở phương Tây các nhà tư tưởng tư sản đều thừa nhận rằng không có nền triết học hiện đại nào vượt qua được triết học C.Mác, và cũng không phải ngẫu nhiên mà năm 1999, Đại học Cambridge (Anh) công bố bình chọn nhà tư tưởng số một thiên niên kỷ, kết quả là C.Mác đứng đầu, Anhxtanh đứng thứ hai. Tháng 7/2005, với câu hỏi tương tự, đã có 27.9% thính giả trong cuộc thăm dò ý kiến của chương trình In Our Time trên kênh Radio 4 của BBC đã chọn C.Mác là nhà tư tưởng ưa thích của họ, và vẫn là người đứng đầu”[3], đây là những thực tế sinh động nhất khi bàn về C.Mác và chủ nghĩa duy vật của C.Mác vẫn đúng cho dù thực tiễn có nhiều biến đổi.

Hơn thế nữa, sau khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch điên cuồng xuyên tạc, tấn công vào nền tảng triết học Mác - Lênin rất mạnh mẽ, xem như là cơ hội cuối cùng để chủ nghĩa Mác - Lênin sụp đổ, các học thuyết “chiến thắng không cần chiến tranh” lần lượt ra đời, chúng chuyển hướng chiến lược, Châu Á và Việt Nam trở thành mặt trận nóng bỏng, điều chỉnh phương thức tấn công vào thành trì các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, nhằm kết liễu hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới. Tuy nhiên, các mưu toan của các thế lực thù địch đều thất bại thạm hại, vì họ ngộ nhận, gán ghép vô nguyên tắc giữa sự sụp đổ của Liên xô và Đông Âu chính là sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, triết học Mác - Lênin nói riêng, một sự sai lầm có tính chất chiết trung, sự sụp đổ của Liên xô và Đông Âu chính là sự sụp đổ một mô hình xã hội chủ nghĩa không phù hợp, với nhiều hạn chế kéo dài chậm được nhận thức hoặc nhận thức không đúng dẫn đến quá trình cải tổ sai lầm đó chính là nguyên nhân của khủng hoảng đẩy Liên xô và Đông Âu sụp đổ. Đúng như tác giả K.Shil đã khẳng định: “Tình hình xảy ra ở Liên Xô dứt khoát không có nghĩa là chủ nghĩa xã hội khoa học đã phá sản. Ngược lại, đó là hậu quả của sự xa rời và phản bội học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học trong suốt một thời gian dài, sai lầm đó là nghiêm trọng vì căn bản nó đi ngược lại học thuyết của chủ nghĩa xã hội khoa học”[4]. Đây chính là sự khác biệt giữa sự nghiệp cải tổ của Liên Xô với sự nghiệp đổi mới, cải cách của Việt Nam, Trung Quốc và những nước xã hội chủ nghĩa khác với nhiều thành tựu to lớn, quan trọng và chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn đúng, giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn theo cùng với thời đại.

Hai là, các thế lực thù địch cho rằng quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử của triết học Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật tầm thường, chủ nghĩa duy vật kinh tế thuần túy, tuyệt đối vai trò của lao động sản xuất vật chất, xem nhẹ lao động sản xuất tinh thần và quá trình sản xuất bản thân con người.

Những quan điểm nêu trên đã xuất hiện ngay thời kỳ của Lênin, phái dân túy đã tầm thường hóa những hoạt động kinh tế với học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác. Ngày nay, nhiều quan điểm xuyên tạc, thù địch, mà điển hình là quan điểm về ba làn sóng hay ba nền văn minh của AlvinTffler khi phân chia sự vận động, phát triển của các thời đại lịch sử nhằm bác bỏ quan điểm của C.Mác và cho rằng C.Mác đã sai lầm về thời đại lịch sử, thời đại ngày nay là thời đại hậu công nghiệp, thời đại của sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản, sự tồn tại và vĩnh viễn của chủ nghĩa tư bản trong tương lai.

Trước hết, chúng ta trở về với chính bản chất khoa học và cách mạng của triết học Mác - Lênin, đúng như Ăngghen đã khẳng định: “giống như Đác-uyn đã phát hiện ra quy luật của giới hữu cơ, C.Mác đã phát hiện ra quy luật phát triển của xã hội loài người”[5]. Sau này Lênin tiếp tục khẳng định: “chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị”[6]. Quan điểm duy vật về lịch sử của C.Mác đến nay vẫn đúng, vì quan điểm này nghiên cứu, phân tích  sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội trên quan điểm duy vật, và nhận thức sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội trên quan điểm biện chứng. Do đó, dù thế giới hiện nay có nhiều biến đổi to lớn, nhất là sự hiện đại của một số nước tư bản, thì chủ nghĩa duy vật lịch sử vẫn đứng vững trên đôi chân của chính mình, vẫn là lý luận khoa học để giải thích sự giới hạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, và chứng minh tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một“quá trình lịch sử - tự nhiên”.

Mặt khác, về thực tiễn đúng như những lý giải của triết học Mác - Lênin, lịch sử xã hội loài người được bắt đầu từ lao động sản xuất vật chất, hay nói cách khác lao động sản xuất vật chất là sự chuyển giao, một trong những nguồn gốc của sự hình thành xã hội loài người, đây là “bí mật” của lịch sử xã hội được C.Mác phát hiện ra, từ đó đưa đến cuộc cách mạng trong lịch sử triết học.

Ba là, các thế lực thù địch cho rằng việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin - cấu phần quan trọng làm nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động là sự sai lầm về thế giới quan và phương pháp luận.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX các phong trào, khuynh hướng cứu nước và giải phóng dân tộc Việt Nam rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, hiện thực khủng hoảng ấy tất yếu lịch sử đã đưa Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Lênin vào những năm 1920, sau năm 1924 là chủ nghĩa Mác - Lênin, đây không phải là sự tình cờ, ngẫu nhiên, mà vì cách mạng tháng Mười Nga sự kiện vĩ đại nhất trong thế kỷ XX do Đảng Bôn-sê-vích đứng đầu là lãnh tụ Lênin lãnh đạo, và chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết chắc chắn nhất được xây dựng trên nền thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng. Mặt khác, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sự giáo điều, máy móc, mà là sự tiếp thu, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo. Điều này Hồ Chí Minh khẳng định: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm, lý luận đi đôi với thực tiễn”[7].

Với sự mẫn cảm về chính trị của Người, cách mạng Việt Nam đã bước sang trang sử mới, từ khi Đảng ta ra đời và lãnh đạo cho đến nay với những thành tựu mang tính chất thời đại, đã minh chứng việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là đúng đắn, phù hợp, thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng của triết học Mác - Lênin vẫn tiếp tục là nền tảng, lý luận soi đường, định hướng cho những thành công trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam vì chủ nghĩa xã hội.

Ngày nay nghe nói nhiều về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, đời sống, thu nhập cá nhân rất cao, những hình ảnh ấy chúng ta không hề phủ nhận. Tuy nhiên, cần có cái nhìn khách quan, đánh giá toàn diện về chủ nghĩa tư bản, với cách tiếp cận khu vực, thì khu vực trung tâm của chủ nghĩa tư bản một mãng rất nhỏ có được sự phát triển về kinh tế, trung tâm tài chính, khoa học, công nghệ của thế giới. Nhưng lại là nơi gieo mầm cho các cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc, chiến tranh, khủng bố, an ninh con người bị đe dọa, một trong những hiện tượng khá phổ biến là “xả súng vào trường học”. Ngược lại, khu vực ngoại vi một mãng rất lớn của chủ nghĩa tư bản, thì lại nghèo về kinh tế, thiếu lương thực, ô nhiểm môi trường, sự nô dịch áp bức, dịch bệnh, giáo dục, y tế rất lạc hậu, thực tế đó một lần nữa minh chứng bản chất và sự giới hạn của chủ nghĩa tư bản, và khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Điều này Đảng ta đã khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”[8]. Đây là quy luật khách quan của lịch sử loài người, trải qua nhiều thử thách của thời gian và thực tiễn, lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin với việc nghiên cứu lịch sử bằng phương pháp biện chứng vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và thời đại của nó, việc lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp và đúng đắn.

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG BẢO VỆ NHỮNG VẤN ĐỀ MANG TÍNH QUY LUẬT LỊCH SỬ VỀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 Bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, trong và ngoài nước các thế lực thù địch, phản động đang ráo riết chống phá công cuộc đổi mới đất nước nhằm mục tiêu xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Trên các trang mạng xã hội chúng liên tục đăng tin, bài với những luận điệu chống đối và xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc tư tưởng bạo lực cách mạng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thậm chí phủ nhận độc lập dân tộc (ĐLDT) gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam… Vì vậy, cần phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trai, thù địch để bảo vệ những vấn đề mang tính quy luật về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cách mạng Việt Nam.

1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ MANG TÍNH QUY LUẬT VỀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1.1. Bạo lực cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng là quy luật tất yếu của lịch sử

Đầu thế kỷ XX, khi tiếng súng chống Pháp của phong trào Cần Vương tạm thời lắng xuống thì nổi lên con đường và phương pháp cứu nước do Phan Bội Châu hay xu hướng cải lương, “Bất bạo động” do nhà yêu nước Phan Châu Trinh khởi xướng. Mặc dù yêu nước của các ông còn những hạn chế nhưng những tư tưởng ấy như một luồng gió mới thổi vào xã hội Việt Nam. Trong đó, Phan Châu Trinh là người vượt qua những hạn chế kỳ thị đương thời, ông đề ra tư tưởng cải cách dân chủ theo hướng tư sản và đã tạo nên phong trào duy tân, phong trào kháng thuế đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, tư tưởng dân chủ cải lương của Phan Châu Trinh trong phong trào Duy Tân chủ trương “bất bạo động, bạo động tắc tử, bất vong ngoại, vong ngoại giả ngụ”, đề cao chủ trương cải tổ về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục một cách toàn diện. Song, tư tưởng này của ông cũng bị thực dân Pháp đàn áp. Vì ngay nội dung của tư tưởng là một hiểm họa đối với chế độ thuộc địa nửa phong kiến của thực dân Pháp. Thế nhưng một số người cho rằng nếu để cho tư tưởng cải lương bất bạo động của Phan Châu Trinh tiếp tục phát triển thì may ra cũng giành được độc lập như Ấn Độ mà không cần đổ máu, đất nước vẫn phát triển”. Đó là quan điểm sai lầm. Bởi, Đảng Cộng sản Việt Nam khi mới ra đời đã sớm xác định con đường và phương pháp cách mạng là dùng bạo lực để giành chính quyền. Đó không phải là sự “vọng ngoại” mà căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam.

Trong lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước dân tộc ta phải đứng trước những kẻ thù to lớn và hung bạo, để bảo vệ ĐLDT và sự sống còn của nhân dân, ông cha ta phải luôn luôn dùng biện pháp đấu tranh vũ trang. Điều này trở thành một truyền thống và là phương pháp của một nước nhỏ chống lại những kẻ thù xâm lược hung bạo. Thực dân Pháp khi xâm lược nước ta đã cấu kết với bè lũ phong kiến để áp bức, bóc lột nhân dân ta, mọi phản kháng dù nhỏ của nhân dân ta đều bị đàn áp. Vì vậy, để lật đổ chế độ thực dân phong kiến không thể không dùng sức mạnh của quần chúng. Từ tổng kết kinh nghiệm thực tiễn lịch sử phát triển của xã hội loài người, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin rút ra kết luận: Để giành chính quyền từ tay giai cấp thống trị, quần chúng cách mạng phải sử dụng bạo lực.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, được sự hỗ trợ của các nước đế quốc, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta. Đảng và Chính phủ ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành hàng loạt hoạt động ngoại giao (Hiệp định Sơ bộ 6/3, Tạm ước ngày 14/9) để tránh cuộc chiến tranh xảy ra. Nhưng thực dân Pháp với âm mưu xâm lược và nô dịch nước ta lần nữa nên đã không thừa nhận ngay cả khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: Việt Nam chỉ là một quốc gia tự do trong khối Liên hiệp Pháp. Chúng ta muốn hòa bình nhưng hòa bình trong độc lập, tự do và chúng ta đã nhân nhượng đến giới hạn cho phép. Không dừng lại ở đó, ngay sau khi chiến tranh nổ ra, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hàng chục lần đề nghị Pháp thương lượng hòa bình để kết thúc chiến tranh. Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc và trả lời phỏng vấn nhà báo Mỹ: Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố rằng nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình”, “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù chuốc oán với một ai”[1]. Đó là đường lối ngoại giao hòa bình văn minh và tiến bộ; là biểu hiện sinh động của văn hóa hòa bình, không muốn chiến tranh. Nhưng tất cả đều bị từ chối. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành chín năm kháng chiến thực dân Pháp và hơn 20 năm chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước cùng quá độ lên CNXH. Đó là thắng lợi vĩ đại trong thế kỷ XX của Nhân dân và cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng ta mà chưa có đảng phái nào ở Việt Nam làm được điều đó.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam là quy luật tất yếu, là sự lựa chọn của lịch sử

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hàng loạt cuộc khởi nghĩa do giai cấp nông dân, các sĩ phu yêu nước Việt Nam đứng lên kháng Pháp, nhưng đều thất bại. Nối tiếp các phong trào khởi nghĩa chống Pháp theo hệ tư tưởng phong kiến là các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng của các đảng chính trị đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, như: đảng của giai cấp nông dân như Nghĩa hưng (năm 1907); đảng của giai cấp tư sản, địa chủ, như Lập hiến (năm 1923)... tới đảng của tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức, tiểu tư sản, như Việt Nam nghĩa đoàn, Đảng Thanh niên, Đảng An Nam độc lập (năm 1927), Việt Nam quốc dân đảng (năm 1927)… cuộc Khởi nghĩa Yên Bái ngày 09 tháng 02 năm 1930 thất bại, đã nói lên sự bế tắt về đường lối cứu nước và giải phóng dân tộc ở Việt Nam lúc bấy giờ.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, một loạt các đảng phái, như: Đại Việt quốc dân đảng, Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách); Đảng Dân chủ Việt Nam (ra đời ngày 30-6-1944 và tự giải tán vào ngày 20-10-1988), Đảng Xã hội Việt Nam (ra đời ngày 22-7-1946 và tự giải tán tròn 42 năm sau đó, ngày 22-7-1988)[2]… các đảng trên, có đảng mong chấn hưng đất nước, có đảng âm mưu tính biến đất nước thành nơi thử nghiệm những mưu đồ chính trị cho giai cấp, tầng lớp của họ… không vì mục đích giải phóng dân tộc, chúng dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn và thậm chí chúng cho rằng: Đảng Cộng sản Đông Dương vì quyền lợi giai cấp và ép Đảng ta phải tự giải tán. Trước khó khăn, thách thức của lịch sử và để chứng tỏ sứ mệnh của mình với toàn dân tộc, trong Thông cáo ngày 11 tháng 11 năm 1945, Đảng ta khẳng định: “Những đảng viên cộng sản là những chiến sĩ tiền phong của dân tộc, bao giờ cũng hy sinh tận tụy vì sự nghiệp giải phóng của toàn dân, sẵn sàng đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của giai cấp, hy sinh quyền lợi riêng của đảng phái cho quyền lợi chung của dân tộc; để phá tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng nước nhà…”[3]. Khi Đảng Cộng sản Đông Dương tự giải tán, thì một số đảng phái đã tự phải diệt vong hoặc bị giải tán hoặc theo bọn xâm lược ra nước ngoài… nhiệm vụ giải phóng dân tộc là một thách thức về vị trí, vai trò của đảng chính trị trong cách mạng Việt Nam.

Về mặt khách quan mà nói, ngày 03 tháng 02 tháng 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp chặt chẽ những yếu tố của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với tố chất của một đảng mácxít chân chính kiểu mới của giai cấp công nhân, có bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á; chín năm kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân cũ làm nên thắng lợi của trận Điện Biên Phủ vang dội năm châu, chấn động địa cầu. Bước vào giai đoạn cách mạng mới, Đảng đã chủ trương thực hiện hai chiến lước cách mạng, “cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau, nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội”[4]Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là đỉnh cao của bản anh hùng ca về lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Đây là một trong những chiến thắnvĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, một trong những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. “Năm tháng sẽ trôi qua nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX”[5]. Thắng lợi đó đã kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt vĩnh viễn 117 năm chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc xâm lược (chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới), hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cả nước cùng quá độ lên CNXH.

Hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện. Những thành tựu đạt được trên tất cả các lĩnh vực là phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân ta.

3. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quy luật tất yếu của cách mạng Việt Nam và là xu thế của thời đại

Trước sự thất bại của các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, hệ tư tưởng tư sản, tiểu tư sản. Ngày 05 tháng 6 năm 1911, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước để giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và đã không ngừng tổ chức truyền bá vào nước ta, sáng lập và rèn luyện Đảng ta.

Ngày 03 tháng 02 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tư tưởng ĐLDT gắn liền với CNXH được khẳng định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là: Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản - tức là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ để thực hiện mục tiêu ĐLDT và người cày có ruộng, từng bước đưa đất nước tiến lên xây dựng CNXH.

Mục tiêu đó trở thành hiện thực trong cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Song, nền ĐLDT không được hưởng trọn vẹn, các thế lực thù địch quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn thể dân tộc đứng lên… bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chín năm kháng chiến đầy hy sinh gian khổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân và toàn thể dân tộc đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1954) và 20 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, toàn Đảng và toàn thể dân tộc Việt Nam đã làm nên đại thắng Mùa Xuân năm 1975, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên CNXH.

Bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, Cương lĩnh năm 1991 của Đảng khẳng định bài học đầu tiên của cách mạng Việt Nam là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học xuyên suốt trong quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc”[6]Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”[7]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (1-2021) của Đảng nhấn mạnh: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[8]. Nếu xa rời mục tiêu ĐLDT và CNXH là sẽ đi chệch hướng phát triển của đất nước. Kiên định ĐLDT và CNXH để thực hiện thành công mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Bởi, ĐLDT và CNXH là con đường tất yếu khách quan, là nhu cầu của dân tộc Việt Nam, xu thế phát triển của xã hội loài người. Và chỉ có học thuyết Mác - Lênin, học thuyết khoa học và cách mạng mới khẳng định được những giá trị bền vững đó trước thời đại.

2. VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, BẢO VỆ MỘT SỐ VẤN ĐỀ MANG TÍNH QUY LUẬT LỊCH SỬ TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Trước, trong và sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội phản động ráo riết đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng đưa ra chiêu bài mặc dù không mới lắm, nhưng cực kỳ nguy hiểm và thâm độc hòng phủ nhận tư tưởng bạo lực trong cách mạng Việt Nam, đòi “đa nguyên, đa đảng”, xóa bỏ ĐLDT gắn liền với CNXH… tung lên dồn dập trên các phương tiện thông tin, truyền thông không chính thống, trên internet, mạng xã hội với thái độ hằn học và giọng điệu thù địch. Đó là những quan điểm và luận điệu sai lầm muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam. Hơn ai hết, người giảng viên lý luận chính trị phải nhận diện được những quan điểm sai trái, thù địch trong đấu tranh, phản bác để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế động XHCN.

Thực hiện Quy chế giảng viên ban hành kèm theo Quyết định số 2252-QĐ/HVCTQG, ngày 02 tháng 5 năm 2019 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, người giảng viên lý luận chính trị có nhiệm vụ góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, đặc biệt khẳng định tính tất yếu của quy luật lịch sử trên những vấn đề sau:

Thứ nhất, ở mỗi thời đại lịch sử khác nhau có các dân tộc khác nhau đi tiên phong giành độc lập; thời cận đại có các dân tộc Anh, Pháp và Mỹ; dân tộc Nga đã mở ra cho loài người một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Với ý nghĩa đó, dân tộc Việt Nam là người đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc ở thế kỷ XX.

Thứ hai, dù lịch sử đã sang trang, song “Ôn cố tri tân” hay nhận thức lại lịch sử, nhận thức đúng sự thật lịch sử để rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai là cần thiết đối với mỗi quốc gia dân tộc, do đó không được phép áp đặt những hiện tượng lịch sử bên ngoài cho điều kiện hay hoàn cảnh lịch sử của các quốc gia dân tộc khác nhau. Mọi mưu toan phủ nhận quan điểm bạo lực cách mạng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng hay phủ nhận ĐLDT gắn liền với CNXH ở Việt Nam là phủ nhận những thành tựu to lớn mà Đảng và Nhân dân ta đã giành được trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, là sự vong ân bội nghĩa với hàng triệu đồng bào, chiến sĩ hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH để có một Việt Nam phát triển như hôm nay.

Thứ ba, thế giới dù có nhiều đổi thay, song toàn Đảng và toàn thể dân tộc Việt Nam luôn kiên định ĐLDT gắn liền với CNXH; ĐLDT và CNXH không chỉ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, cơ sở lý luận và thực tiễn cho con đường phát triển của cách mạng Việt Nam mà còn là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay. Cần phải khẳng định rằng: phải là người Việt Nam yêu nước mới thật sự hiểu hết được giá trị của những thành quả mà Nhân dân ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 92 năm qua, mới có thể nhận thức được đúng đắn và quyết tâm phấn đấu bảo vệ những thành quả đó; và chỉ có ĐLDT gắn liền với CNXH mới đem lại cho Nhân dân cơm no, áo ấm, mọi người đều được học hành và có điều kiện phát triển toàn diện; ĐLDT và CNXH là cơ sở vững chắc để xây dựng được một Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong tương lai.

Thứ tư, đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay… Những thành tựu to lớn trong cách mạng dân tộc dân chủ, giải phóng dân tộc cũng như những thành tựu bước đầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là một minh chứng hùng hồn, là luận cứ lịch sử sâu sắc nhất, là quy luật tất yếu về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam mà có rất nhiều đảng chính trị đã từng xuất hiện ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã không làm được.

Có thể nói, trong mọi hoạt động của mình, trách nhiệm của người giảng viên lý luận chính trị phải không ngừng nêu cao tinh thần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, không ngừng góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2022

VĂN HÓA LÀ NỀN TẢNG TINH THẦN CỦA XÃ HỘI - NGUỒN LỰC NỘI SINH CHO QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 Xuất phát từ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có rất nhiều Nghị quyết về văn hóa. Trong đó, quan trọng nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa  VIII với mục tiêu là “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”[1]. Nhận thức sâu sắc của về mối quan hệ giữa văn hóa, kinh tế, chính trị đánh dấu sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về vai trò của văn hóa trong thời kỳ đổi mới.

Đại hội lần thứ XII của Đảng tiếp tục nhất quán đường lối xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước với mục tiêu: “Làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh””[2]. Không dừng lại ở việc nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò to lớn của văn hóa đối với sự phát triển xã hội, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục xác lập vị trí của văn hóa là một trong ba bộ phận hợp thành sự phát triển bền vững, toàn diện của đất nước “Chiến lược phát triển tổng thể của đất nước ta là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”[3]

Khái niệm “nền tảng” tinh thần được hiểu là không gian tinh thần của cộng đồng, bầu không khí tinh thần, khí thế của đông đảo quần chúng nhân dân và của cộng đồng dân tộc, hệ tư tưởng, tình cảm, niềm tin, khát vọng của con người, các quan niệm đạo lý, pháp lý đạt chuẩn mực chân, thiện, mỹ... Vai trò nền tảng tinh thần của xã hội của văn hóa chính là sức mạnh của hệ thống giá trị của văn hóa Việt Nam trong hiện tại và trong quá khứ. Các giá trị nói trên tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội - vì nó được thấm nhuần trong mỗi con người và trong cả cộng đồng; được truyền lại tiếp nối và phát huy qua các thế hệ; được vật chất hóa và khẳng định vững chắc trong cấu trúc xã hội của từng dân tộc. Các giá trị này chi phối hàng ngày đến cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của mọi thành viên xã hội bằng môi trường xã hội - văn hóa. Truyền thống của nền văn hóa dân tộc là một dòng chảy tinh thần được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi xã hội của con người. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống... Các giá trị và sức mạnh đó của văn hóa và con người Việt Nam đã làm nên nền tảng tinh thần vững chắc của dân tộc ta; trở thành nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng của phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - cơ sở chỉ đạo đời sống tinh thần dân tộc và là thành tố quan trọng của văn hóa. Vì vậy, chúng ta chủ trương làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội, trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Đó cũng là con đường xây dựng con người mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh đủ sức đề kháng và đẩy lùi các tiêu cực xã hội, đẩy lùi sự xâm nhập của tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ. Biện pháp tích cực là đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, phường xã văn hóa, cơ quan, đơn vị văn hóa; nêu gương người tốt - việc tốt.

Tuy nhiên, đi ngược với xu thế chung của đất nước, nhằm chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận vai trò chủ đạo đời sống tinh thần dân tộc của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thay vào đó, coi đa nguyên văn hóa mới là vai trò chủ đạo; tuyên truyền cho các giá trị văn hóa phương Tây; cố tình hạ thấp giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Mục tiêu của họ là tạo nên sự hỗn loạn về văn hóa, tư tưởng, làm mất đi trụ cột nâng đỡ về tinh thần của dân tộc ta, làm rối ren hệ ý thức tư tưởng trong nội bộ Đảng, dẫn đến sự hỗn loạn về kinh tế, chính trị.

Trong bối cảnh đó, chúng ta càng phải nâng cao tinh thần cảnh giác, khẳng định vị trí, vai trò, sức mạnh của văn hóa “soi đường cho quốc dân đi”, phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc, kiên trì vai trò chỉ đạo đời sống tinh thần dân tộc của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực phát triển văn hóa. Đây là một công việc khó khăn, vô cùng phức tạp và cũng là nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.

          Quán triệt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) và các Nghị quyết của Đảng “ văn hóa là nền tảng thần của xã hội”, chúng ta đã tạo dựng được nền móng vững chắc của nền văn hóa mới theo đúng định hướng của Đảng. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền văn hóa Việt Nam mang đậm các đặc trưng “dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”, lấy  chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng chỉ đạo đời sống tinh thần dân tộc, lấy việc “chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện,… hướng đến chân - thiện - mỹ”[4]Nhờ kiên định vai trò chỉ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa Việt Nam luôn tỏ rõ sứ mệnh thiêng liêng “soi đường cho quốc dân đi”. Sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng. Tư duy lý luận về văn hóa có bước phát triển; nhận thức về văn hóa của các cấp, các ngành và toàn dân được nâng lên. Đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn mực giá trị văn hóa mới được hình thành. Trong đó, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng thấm sâu vào nhận thức, tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Dưới ánh sáng của hệ tư tưởng tiến bộ đã góp phần xây dựng phẩm chất, đạo đức, tâm hồn, lối sống con người Việt Nam  hiện đại ngang tầm với sự nghiệp đổi mới đất nước. Từ đó góp phần hình thành bản lĩnh của con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và vững vàng trước những biến động to lớn của thời đại, những thách thức trước vận mệnh dân tộc. Các cộng đồng dân cư, đoàn thể chính trị - xã hội luôn coi trọng phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp; tổ chức thực hiện tốt các phong trào: “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” về ý thức tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với cuộc vận động “Xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, xây dựng nếp sống và văn hóa ứng xử nơi công cộng” có kết quả rõ rệt; “Xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc”;  sự liên kết, phối hợp của 3 lĩnh vực gia đình - nhà trường - xã hội trong xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhân cách cho giới trẻ tiếp tục được phát huy. Quy chế dân chủ ở cơ sở với việc xây dựng quy ước văn hóa được quan tâm hơn trong quá trình triển khai thực hiện… Có thể khẳng định, những giá trị truyền thống của dân tộc, tính tiên tiến của nền văn hóa, đã trở thành nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam hôm nay, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Điều đó góp phần làm nên sức mạnh và sự vững vàng từ trong chiều sâu của truyền thống dân tộc, để đất nước chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, vượt qua bao vây, cấm vận và mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Chính vì vậy, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, giữ gìn những giá trị tốt đẹp, tích cực, tạo nên sức hấp dẫn, uy tín của quốc gia trên con đường phát triển, cần có quyết tâm chính trị hàng đầu là đặt văn hóa về đúng vị trí, vai trò, đúng tầm mức; kiên trì xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người phát triển toàn diện, xây cái tốt để lấn át cái xấu, làm lành mạnh hóa môi trường xã hội, làm thất bại âm mưu “diển biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Khi cả xã hội hướng đến thượng tôn pháp luật, yêu thích cái đẹp, cái đúng, cái tốt, cái thật, cái thiện, mỗi công dân tôn trọng thực hành đạo đức, đủ phẩm chất để nêu gương, có khát vọng và trách nhiệm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, có tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc… thì khi đó chân - thiện - mỹ được vận hành trong mỗi chủ thể xã hội, trở thành tâm hồn và phẩm giá của mỗi con người. Đó cũng là môi sinh để nuôi dưỡng và thấm sâu các giá trị văn hóa vào đời sống tinh thần của xã hội, từ đó bảo đảm cho văn hóa các điều kiện để đảm đương được vai trò là nền tảng tinh thần vững chắc, là nguồn lực nội sinh mạnh mẽ và là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước./.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Việt Nam chính thức kết nối với xa lộ thông tin của thế giới vào ngày 19/11/1997. Sau hơn 20 năm phát triển, đến nay Việt Nam đã trở thành một trong các quốc gia có tỷ lệ người dùng internet cao nhất châu Á, đứng thứ 12/20 quốc gia dẫn đầu thế giới về số người dùng internet[1]. Internet và mạng xã hội ở Việt Nam đã trở thành công cụ vô cùng quen thuộc, là “một phần tất yếu” trong cuộc sống của người dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ đất nước[2]. Thế nhưng, vừa qua trên một vài trang mạng xuất hiện các luận điểm không đúng, không phù hợp với chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Đáng lưu ý là gần đây đã xuất hiện một số tài liệu chống đối, xuyên tạc lịch sử cùng với những luận điệu hết sức phản động; một số phần tử cơ hội chính trị tập trung chống phá nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, đòi Đảng ta từ bỏ quyền lãnh đạo; đòi thực hiện đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam theo quan điểm của phương Tây[3]… Các thế lực thù địch lợi dụng những tiêu cực nảy sinh trong một số cán bộ, đảng viên mà chúng ta đang lên án phê phán, đấu tranh và xử lý các vụ việc tham nhũng, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân và các tệ nạn xã hội khác… để gây tâm lý hoang mang, làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội để chống phá cách mạng Việt Nam càng trở nên tinh vi, phức tạp với mức độ nguy hiểm khó lường. Vì vậy, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là nhiệm vụ vô cùng cấp bách.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết đã nêu những quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm củng cố tư tưởng của Đảng trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay, tác giả kiến nghị một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, thường xuyên nâng cao nhận thức, trách nhiệm về cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình mới. 

Đây là giải pháp, đồng thời là yêu cầu đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị cùng toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức rõ cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay là một trong những nhiệm vụ chính trị mang tính cấp bách, thường xuyên và lâu dài. Đây là cuộc đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận, quan điểm của Đảng, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ những giá trị tư tưởng, lý luận đúng đắn, bảo vệ những thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã dày công xây dựng. Do vậy, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển hệ thống lý luận, cung cấp luận cứ khoa học về chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn xã hội trước các luận điểm xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch.

 Hai là, thường xuyên đổi mới phương thức, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng đấu tranh phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.

Đây là giải pháp cơ bản nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu xuyên tạc trên mạng xã hội. Đa dạng hóa hoạt động đấu tranh theo hướng: thiết lập và sử dụng các trang web, blog, diễn đàn để đăng tải các bài viết với nội dung tuyên truyền các quan điểm chính thống, định hướng dư luận, phản bác hoặc tiến hành đấu tranh phản bác ngay tại các trang mạng “độc hại” được đối tượng sử dụng. Xây dựng và mở rộng đội ngũ cộng tác viên đưa tin, viết bài, bình luận; nâng cao chất lượng các bài viết đấu tranh phản bác với luận cứ khoa học, tính thuyết phục cao. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp đấu tranh trực tiếp và gián tiếp; giữa xây và chống, trong đó lấy xây là chính; chủ động cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan báo chí để đấu tranh, ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả.

Ba là, chủ động bám sát các vấn đề, sự kiện, cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trong mặt trận đấu tranh trên mạng xã hội.

Với phương châm chỉ đạo công tác tư tưởng phải đi trước, đón đầu; không để “khoảng trống” thông tin để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá. Các cơ quan chức năng cần quan tâm nghiên cứu biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo để phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng đấu tranh cho các lực lượng. Thực hiện tốt việc cung cấp thông tin cho cán bộ theo định kỳ, gặp mặt các đồng chí cán bộ nghỉ hưu; chủ động trao đổi với các cán bộ có quan điểm chưa thống nhất để cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo sự đồng thuận về nhận thức và hành động.

Bốn là, tăng cường quản lý, chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách hiệu quả.

Các cơ quan chức năng cần chủ động phối hợp với các đơn vị cung cấp dịch vụ, nghiên cứu sử dụng các giải pháp về công nghệ thông tin để ngăn chặn một cách triệt để các tin tức xấu trên các trang mạng. Đặc biệt, cần chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để xâm nhập, chiếm quyền quản trị, điều hành các trang web, blog, diễn đàn mạng xã hội để vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại” trong một thời gian nhất định. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các đồng chí đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm những hành vi tiết lộ bí mật của Đảng, Nhà nước.

Chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên; các chủ trương, giải pháp cơ bản cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm và có hệ thống./.

Âm mưu xuyên tạc, bịa đặt lịch sử của các thế lực thù địch

 Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, bôi nhọ nói xấu lãnh tụ của Đảng và Nhà nước Việt Nam là thủ đoạn thâm độc và đê hèn của những kẻ phản bội đi ngược lại xu thế phát triển của đất nước nhất là trước tình cảm kính yêu vô hạn của nhân dân Việt Nam đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng như những công lao to lớn của Người đối với mạng Việt Nam và sự hy sinh, của các anh hùng, liệt sĩ trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

          Trong các cuộc chiến tranh ác liệt, đã có không biết bao nhiêu người dân Việt Nam đã ngã xuống, xương máu của cha anh chúng ta thấm đẫm trên từng tấc đất quê hương suốt từ Nam chí Bắc. Và hôm nay đây khi hòa bình lặp lại, không một ai bị lãng quên và không một ai được phép quên lãng những người đã ngã xuống vì nền Độc lập Tự do, về lịch sử hào hùng của cả một dân tộc. Tuy nhiên các phần tử cơ hội phản động đã dùng những luận điệu bịa đặt bỉ ổi nhất để xuyên tạc, bôi nhọ nhân cách của Chủ tich Hồ Chí Minh, xuyên tạc ý nguyện uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam. Bởi vậy sự bịa đặt, bôi nhọ nói xấu xúc phạm đến lãnh tụ Hồ Chí Minh là xúc phạm đến danh dự, lòng tin yêu của nhân dân Việt Nam đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu. Luận điệu của chúng cũng chỉ là lời lẽ của những kẻ vô học, không căn cứ, không thể lung lạc được lòng tin yêu, kính trọng của nhân dân Việt Nam với Chủ tịch Hồ Chí Minh và đạo lý uống nước nhớ nguồn đối với các anh hùng liệt sĩ. Những luận điệu xuyên tạc ấy càng cho thấy rõ bộ mặt phản động, trơ tráo của chúng cần được tẩy chay, loại bỏ trong đời sống cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.