Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2022

HẠNH PHÚC LÀ GÌ?

Hạnh phúc chỉ có ở con người, các quốc gia. Không có hạnh phúc của con người sẽ không có hạnh phúc của quốc gia; ngược lại, không có hạnh phúc của quốc gia sẽ không có hạnh phúc của con người. Để nhận thức khái niệm hạnh phúc, cần tìm nguồn gốc của nó.

7 BƯỚC ĐẾN HẠNH PHÚC

 


THẢM KỊCH

Trang Bangkok Post đưa tin, một vụ xả súng kinh hoàng đã xảy ra tại trung tâm chăm sóc trẻ em tại huyện Na Klang, tỉnh Nong Bua Lamphu vào chiều hôm nay 6/10. Phần lớn các nạn nhân đều là trẻ em.

VAI DIỄN

“Nhà hoạt động Trịnh Bá Tư bị đánh đập, phạt cùm ở Trại giam số 6”, “Theo dõi Nhân quyền kêu gọi Việt Nam điều tra cáo buộc đánh đập tù nhân lương tâm Trịnh Bá Tư”, “Liên minh quốc tế thúc giục Việt Nam điều tra cáo buộc tra tấn ông Trịnh Bá Phương” là những bài viết đang được Đài Á châu tự do - RFA cùng các cá nhân, hội, nhóm “dân chủ” tích cực lan truyền. Thế mới thấy, dù đã lâm vào vòng lao lý nhưng các “nhà dân chủ” vẫn chưa chịu từ bỏ “vai diễn nhân quyền”, không biết quay đầu hối cải.

THỨC TỈNH

Những ngày đầu tháng 9 vừa qua, nhân cái gọi là sự kiện nhà văn trở cờ Nguyên Ngọc tròn 90 tuổi, mấy anh chị “dân chủ” trong nước lại khuấy động ồn ào bằng loạt bài viết trên blog cá nhân hay các trang mạng chống cộng. Thực ra ở tuổi 90, dẫu vẫn là Chủ tịch Văn đoàn độc lập - một tổ chức ngoài Hội Nhà văn Việt Nam và không được Nhà nước chấp nhận, nhưng tuổi già, mắt mờ, chân chậm và bệnh tật phải ngồi xe lăn nên mức độ “lên sóng” của ông Nguyên Ngọc không còn được như vài năm trước. Và đó chính là lý do để các anh chị “dân chủ” mượn cớ nhằm “lên dây cót” tinh thần cho các thành viên Văn đoàn độc lập hoặc những người ủng hộ tổ chức phi pháp này.

HÀ HƠI TIẾP SỨC

Cụ thể ngày 1-10-2022 vừa qua, RFA đã liên tục đăng tải 3 bài viết theo kiểu phỏng vấn mục sư Vàng Chí Minh, người Mông đang sống tị nạn tại Hoa Kỳ. Trong bài phỏng vấn, RFA đã suy tôn Vàng Chí Minh như kiểu một anh hùng giải phóng dân tộc, người đã có gần 30 năm đấu tranh cho quyền sống và quyền tự do tôn giáo của đồng bào Mông theo đạo Tin lành ở Việt Nam. Được sự hà hơi tiếp sức đó, Vàng Chí Minh đã ra sức chỉ trích Nhà nước Việt Nam thẳng tay đàn áp tà đạo Giê Sùa và Bà Cô Dợ, trong khi 2 đạo này đã đem lại những thay đổi lớn về tinh thần cho cộng đồng người Mông (?!). Theo Vàng Chí Minh, 2 tà đạo nêu trên đã giúp người Mông xóa bỏ những hủ tục, giúp cộng đồng thực hành tiết kiệm và đời sống khá lên. Trong điều kiện khó khăn phải tập trung nghe truyền đạo qua radio, không có mục sư hướng dẫn nhưng vẫn bị chính quyền đàn áp thẳng tay.

RANH GIỚI!

BPO - Từ người có học thức, có vị trí trong xã hội, thậm chí có lúc còn là người hùng “trượng nghĩa” theo đúng nghĩa đen, thế nhưng bước qua lằn ranh đỏ họ đã thành tội phạm. Ranh giới giữa bày tỏ chính kiến cá nhân với chống phá Đảng và Nhà nước liệu có mong manh?

TRỌN ĐỜI GIỮ GÌN ĐIỀU THIÊNG LIÊNG, CAO QUÝ NHẤT

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, không có lý tưởng cách mạng làm hành trang, người cán bộ, đảng viên mất đi tính tiền phong, gương mẫu, không làm tròn vai trò dẫn dắt phong trào cách mạng và lãnh đạo nhân dân. Theo Người, Đảng cần phải có những đảng viên kiên trung với lý tưởng, đường lối của Đảng: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc”, nếu “kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Cán bộ, đảng viên muốn lãnh đạo vững thì trước hết phải có tư tưởng, lập trường vững chắc. Bác khẳng định: “Nếu chỉ có công tác thực tế mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt”.

NGỌN ĐUỐC SOI ĐƯỜNG

Trong dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2022), ông Nguyễn Tiến Hà, 90 tuổi, Trưởng ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tại Nhà tù Hỏa Lò xúc động kể lại: “Thường ngày từ sáng sớm, các đồng chí bị địch dẫn đi hành quyết. Trong giây phút ngắn ngủi còn lại của cuộc đời, chuẩn bị bước lên máy chém nhưng các chiến sĩ vẫn rất kiên cường, hô to: “Thực dân Pháp đưa chúng tôi ra pháp trường đây. Các đồng chí ở lại mạnh khỏe, chiến đấu bảo vệ quê hương. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam độc lập, thống nhất muôn năm!”. Lúc đó, trong nhà tù bừng bừng khí thế chiến đấu, hô vang những khẩu hiệu: “Phản đối thực dân Pháp”, “Phản đối án tử hình”...

CON ĐƯỜNG DẪN TỚI SỰ THA HÓA, BIẾN CHẤT

Bên cạnh đội ngũ tiên phong của hàng triệu cán bộ, đảng viên đó cũng còn không ít cán bộ, đảng viên đã và đang phai nhạt lý tưởng cách mạng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra: Phai nhạt lý tưởng cách mạng là biểu hiện đầu tiên của tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị.

BỘ ĐỘI TRẢ LẠI KÉT SẮT BỊ LŨ CUỐN TRÔI CHO NGƯỜI DÂN KỲ SƠN

Ngày 6-10, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giúp nhân dân huyện Kỳ Sơn khắc phục hậu quả của lũ quét, cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh Nghệ An đã tìm thấy một chiếc két sắt bị lũ cuốn trôi, vùi sâu dưới bùn đất, trả lại cho người dân.

TIẾP TỤC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Chính quyền Nhà nước là vấn đề cốt tử của mọi cuộc cách mạng. Khi chưa có chính quyền, Đảng Cộng sản phải lãnh đạo giành cho được chính quyền về tay nhân dân. Khi đã có chính quyền thì phải luôn luôn củng cố, giữ vững và tăng cường sức mạnh của chính quyền về mọi mặt. Đây là vấn đề hết sức nghiêm túc và hệ trọng.

TIẾP TỤC ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa và sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thời gian qua, Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị đã triển khai tổng kết nghị quyết một cách nghiêm túc, bài bản, công phu, khoa học, có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ, với tinh thần trách nhiệm cao của các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương, các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước.

ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH TỔNG THỂ QUỐC GIA THỜI KỲ 2021-2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050

Thực hiện Luật Quy hoạch được Quốc hội khóa XIV thông qua vào tháng 11-2017, thời gian qua Chính phủ đã sát sao chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương trong cả nước khẩn trương, nghiêm túc nghiên cứu xây dựng dự thảo Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (các báo cáo dày khoảng 2.000 trang; tổng cộng có tới 7.000 trang tài liệu) để trình Quốc hội xem xét, quyết định trong thời gian sắp tới.

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chủ trương lớn, là nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trung tâm, quan trọng hàng đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã đề ra nhiệm vụ: "Đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa" trên cơ sở đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

KHAI MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 6 KHÓA XIII

Sáng 3-10, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc hội nghị.

Tư tưởng trung bình chủ nghĩa - Cái bẫy của sự trì trệ, suy thoái, tụt hậu

Đây là một trạng thái tư tưởng, một lề lối công tác, một cách thức thể hiện của các cán bộ, đảng viên khiến tổ chức đảng, cơ quan Nhà nước dễ lâm vào trạng thái trì trệ, mất tính tiền phong, tính chiến đấu, dẫn tới làm suy giảm thậm chí triệt tiêu vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan. Trên bình diện quốc gia, tư tưởng trung bình chủ nghĩa có thể dìm một quốc gia thụt lùi dần trong lúc các nước khác phát triển như vũ bão. Tư tưởng trung bình chủ nghĩa thực chất là một dạng của chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội. Tư tưởng này có cơ hội tồn tại và trở thành phổ biến trong cơ chế phân phối theo kiểu bình quân chủ nghĩa; trong cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp; cơ chế đánh giá hiệu quả công việc theo kiểu cào bằng, không rõ trách nhiệm cá nhân. Các lãnh tụ cách mạng đã chỉ ra những nguy cơ từ các nhóm trung bình, hạng người trung bình trong tổ chức. Theo V.I.Lenin, trong quan hệ xã hội, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh biểu hiện thành nhóm trung gian, nhóm trung bình chủ nghĩa. Đây là những người thỏa mãn và an tâm với hoàn cảnh của mình, xa lạ với hết thảy mọi ước mơ “viển vông”, nhưng biết rất rõ mình muốn cái gì. Họ cầu cạnh danh lợi và là những kẻ tôi đòi để đạt danh lợi trong “hòa bình”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, tư tưởng trung bình chủ nghĩa cơ bản thể hiện ở nhận thức và thái độ của con người. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: Hạng hăng hái, hạng vừa vừa và hạng kém, hạng ở giữa nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn …”. Hạng người vừa vừa, hạng ở giữa chính là biểu hiện của tư tưởng trung bình chủ nghĩa. Hạng người này thường chiếm số đông trong tập thể, do đó, hình thức biểu hiện của nó rất đa dạng. Tư tưởng trung bình chủ nghĩa, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ có trong phân phối, mà biểu hiện cả trong chính trị, đạo đức, lối sống. Sẽ có không ít người lầm tưởng rằng những người có tư tưởng trung bình chủ nghĩa trong một cơ quan, một tổ chức chỉ đơn giản là những người ít có đóng góp, nhưng là người “vô hại”. Điều này hoàn toàn sai lầm. Thực tế đã chứng minh, tư tưởng trung bình chủ nghĩa chính là nguy cơ rất lớn gây ra sự trì trệ, suy thoái, tụt hậu của các tổ chức, đảng phái, tới cả quốc gia. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có nguyên nhân do áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch tập trung, bao cấp mà trong đó tư tưởng trung bình chủ nghĩa có cơ hội tồn tại. Thực tế, những người trung bình chủ nghĩa là một lực cản lớn cho các cơ quan, tổ chức, đó là vì: Thứ nhất, nếu tạm mặc định kiến thức, trình độ học vấn của mọi cá nhân trong một cơ quan, tổ chức là như nhau thì những người có động lực cống hiến, làm việc nhiều hơn chắc chắn sẽ vươn lên có một năng lực tốt hơn. Những người trung bình chủ nghĩa lúc nào cũng muốn an nhàn, không có động lực cống hiến, không có động cơ phấn đấu làm việc hết mình, không nỗ lực để hoàn thành tốt hơn công việc do mình đảm nhiệm, mà chỉ làm cho xong chuyện. Họ không chỉ “giậm chân tại chỗ” mà còn sẽ dần tụt dốc so với chính họ do không hết mình trong công việc và tụt hậu trước nhu cầu phát triển của xã hội, yêu cầu của công việc. Yêu cầu đặt ra đối với chất lượng hoạt động của các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là các cơ quan hành chính Nhà nước ngày càng cao, sự “giậm chân tại chỗ” cũng có nghĩa là ngày càng không đáp ứng được yêu cầu của công việc. Thứ hai là tuy rất trì trệ nhưng những người trung bình chủ nghĩa vẫn giữ chắc vị trí công việc, giữ chắc biên chế Nhà nước. Sự tồn tại của họ khiến những người mới tốt hơn không có cơ hội để tham gia vào cơ quan, tổ chức, đơn vị đó nữa. Thứ ba, những người trung bình chủ nghĩa không thể tồn tại được trong một môi trường, một tổ chức giàu động lực và khát vọng. Vì thế, để tồn tại, họ buộc phải ngăn trở cái mới, ngăn trở những nỗ lực buộc họ phải thay đổi. Họ có xu hướng liên thủ để bảo vệ một môi trường làm việc “làng nhàng”, “lờ nhờ”, muốn một sự “yếu kém ổn định” của tổ chức, cơ quan, đơn vị, còn hơn là tạo ra những sự đột phá, thay đổi để rồi họ không tồn tại được. Họ không thích những cán bộ có tư duy đột phá, những đồng nghiệp xuất sắc, những đồng nghiệp có tinh thần đấu tranh thẳng thắn, vì đó là những người có thể sẽ tạo ra những sự thay đổi tích cực. Chính vì thế, họ gièm pha, ngăn trở sự phát triển của những người này. Đối với tổ chức đảng, nếu bộ phận đảng viên có tư tưởng trung bình chủ nghĩa càng nhiều thì tính tiền phong, chiến đấu, vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng chắc chắn sẽ giảm sút. Có thể dễ dàng nhận ra hiện nay có một bộ phận không nhỏ đảng viên chưa thể hiện được những phẩm chất mẫu mực; chỉ thích làm việc dễ, nhàn hạ, mang lại nhiều quyền lợi, lảng tránh việc khó, né tránh những nơi khó khăn, gian khổ; chỉ nghĩ tới quyền lợi của mình, không đếm xỉa tới lợi ích của tập thể, của cộng đồng, của đất nước. Có không ít cá nhân vào Đảng chỉ với mục đích rất thực dụng là tạo thuận lợi để kiếm một suất biên chế Nhà nước. Đó là những biểu hiện nếu không được khắc phục triệt để thì sẽ dẫn tới việc người dân mất dần niềm tin vào đảng viên, rồi cả tổ chức đảng. Trên bình diện quốc gia, các nhà kinh tế học đã chỉ ra một cái bẫy mà các nước đang phát triển rất dễ sa vào, đó là “cái bẫy thu nhập trung bình”. Nghĩa là tình trạng khi một quốc gia đạt đến mức thu nhập bình quân nhất định (do những lợi thế sẵn có) và giậm chân tại mức thu nhập ấy mà không thể vượt qua ngưỡng đó để trở nên giàu có hơn. Để vượt qua được cái bẫy trung bình ấy cần những nỗ lực rất lớn, cần sự sáng tạo, đổi mới không ngừng để vươn lên chiến thắng trong cạnh tranh kinh tế toàn cầu. Muốn thoát được “bẫy thu nhập trung bình” cần phải có một nền kinh tế hiệu quả, mà muốn thế trước hết phải có một nền quản trị quốc gia hiệu quả. Nền quản trị quốc gia không thể hiệu quả nếu chỉ có những chiến lược, chủ trương, quyết sách đúng đắn của Đảng, của Nhà nước ở “thượng tầng”, trong khi ở “hạ tầng”, ở cơ sở việc triển khai lại không đồng bộ, không với quyết tâm cao nhất, không có trách nhiệm cao nhất. Trong những cản lực ở cơ sở thì những cản lực từ đội ngũ cán bộ, nhân viên Nhà nước “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về” là không nhỏ. Bộ phận cán bộ, nhân viên ấy có năng lực làng nhàng, thiếu trách nhiệm, thiếu sâu sát rất dễ nhiễm thói quan liêu, đưa ra những quy định trên trời gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Trong suốt quá trình đổi mới, Đảng ta luôn kiên trì phê phán tư tưởng trung bình chủ nghĩa. Việc xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xét về nguyên tắc, là xóa bỏ tư tưởng trung bình chủ nghĩa. Tuy vậy, tư tưởng này cho đến nay vẫn tồn tại khá phổ biến gây rất nhiều nguy cơ như đã phân tích ở trên. Để loại bỏ tư tưởng này trong sinh hoạt Đảng, chấn chỉnh, nâng cao phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên thì cần phải thực hiện những việc sau: Thứ nhất là mỗi cán bộ, đảng viên phải xác định lại tư tưởng, động lực lao động của mình; phải sống có lý tưởng, có hoài bão; nuôi dưỡng khát vọng hoàn thiện bản thân, có khát vọng cống hiến cho cộng đồng, cho đất nước. Thứ hai là trong công tác tổ chức cán bộ cần phải đề ra được những tiêu chí khách quan, khoa học để đánh giá đúng năng lực của cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh luân chuyển cán bộ; mạnh dạn thay thế những cá nhân yếu kém, trung bình bằng những cá nhân mới tốt hơn. Cần chọn được những người đứng đầu có năng lực quản lý, lãnh đạo, có chuyên môn tốt, giàu nhiệt huyết, từ đó để làm đầu tàu xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh. Một trong những nội dung trọng tâm của Hội nghị Trung ương 6, khóa XII của Đảng vừa qua là bàn về việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh gọn đầu mối, tinh giản biên chế. Việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, biên chế ấy là thực sự cấp thiết. Nhưng muốn thực hiện thành công thì phải có một quyết tâm rất lớn, cần một nhận thức đúng đắn của toàn thể cán bộ, đảng viên, việc tinh giản biên chế chắc chắn sẽ động chạm đến bộ phận cán bộ, đảng viên thuộc “nhóm yếu kém” và “nhóm trung bình”. Tính tiền phong, gương mẫu là thuộc tính của Đảng ta. Năm 1945, Đảng ta chỉ có khoảng 5.000 đảng viên mà có thể vận động toàn dân làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám trên cả nước thành công vang dội, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đó là vì 5.000 đảng viên ấy thực sự là 5.000 cá nhân mẫu mực, là những ngọn cờ để quần chúng đi theo. Theo công bố vào tháng 3-2016, Đảng ta đã có 4,65 triệu đảng viên. Nếu tất cả đảng viên đều nêu cao tinh thần tiền phong, “đảng viên đi trước làng nước theo sau” thì chắc chắn sức sống, sức chiến đấu của Đảng ta sẽ mạnh mẽ hơn rất nhiều, sẽ lãnh đạo nhân dân đưa đất nước ta tăng tốc trên quá trình phát triển.

chạy chức, chạy quyền

"Chạy chức, chạy quyền" là tình trạng đưa vào quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm chức vụ, quyền hạn cho những cán bộ chưa hoặc không đủ tiêu chuẩn, điều kiện được giấu dưới vỏ bọc “đúng quy trình”, “đúng quy định”. Vấn nạn này đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" chỉ rõ và đó cũng là 1/27 biểu hiện của thực trạng suy thoái, không những không suy giảm mà ngày càng trở nên ung nhọt, phổ biến, gây bức xúc trong dư luận xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. "Chạy chức, chạy quyền" là một dạng tha hóa quyền lực; là việc người có quyền lực đã “sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi” trong công tác cán bộ. "Chạy" là những biểu hiện cụ thể, phản ánh suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của những người “chạy” và cả người được “chạy”; đồng thời cho thấy, việc "chạy" - bao gồm "chạy chức, chạy quyền" không chỉ tạo ra lỗ hổng, khiếm khuyết trong công tác cán bộ, gây mất đoàn kết nội bộ, làm triệt tiêu động lực phấn đấu của những người chính trực, gây tâm tư trong công tác tư tưởng, công tác cán bộ mà còn tạo “hiệu ứng cần chạy, phải chạy” trong từng cơ quan, đơn vị, địa phương để được lên chức ở tất cả các cấp, từ Trung ương đến địa phương. “Chạy chức, chạy quyền” không chỉ tạo ra một tiền lệ xấu trong công tác cán bộ, làm cho những người làm việc nghiêm túc, muốn trau dồi về mọi mặt và phấn đấu cũng dần tự ti vào năng lực bản thân để rồi “nhìn gương” đó để phát sinh tính láu cá, cơ hội, đầu cơ chính trị... mà còn làm mất uy tín của Đảng, suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng mà còn đe dọa sự tồn vong của Đảng cầm quyền và chế độ. Sự “chạy” này vừa vô tình, vừa hữu ý đã làm cho bệnh cậy quyền, ỷ thế, độc đoán, chuyên quyền, tham lam, địa phương chủ nghĩa, tư túng, kéo bè kéo cánh, nể nang… trong đội ngũ cán bộ chủ chốt không bị ngăn chặn, kiểm soát kịp thời; làm cho công tác cán bộ trở nên bị động, bị vô hiệu hóa. Hệ quả của nó là, “chạy chức, chạy quyền” diễn ra trong tất cả các khâu của công tác cán bộ: chạy tuổi, chạy vào quy hoạch, chạy để được bổ nhiệm, chạy luân chuyển, v.v.., tạo thành một “làn sóng” khi trầm khi bổng, nhưng rõ nét nhất, sôi động nhất là trước mỗi kỳ đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Soi rọi theo 23 điều Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu về “Tư cách người cách mệnh” (tác phẩm Đường Cách mệnh, năm 1927), có thể thấy, những người tham gia “chạy chức, chạy quyền” và những người giúp cho việc vận hành “chạy chức, chạy quyền” chính là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cả người "chạy" và người được "chạy" đều chưa hoặc không rèn luyện đạo đức cách mạng theo đúng những gì Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu. 1) Họ đã chưa hoặc không “tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại. Chịu khó. Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật". Bởi vì “chạy”, cho nên họ không phải trải qua quá trình rèn luyện đạo đức cách mạng, không phải bền gan phấn đấu mà đã được cất nhắc, bổ nhiệm. Bởi vì sớm có được chức vụ/quyền hạn dễ dàng nên họ đã sa vào cá nhân chủ nghĩa, tự cao, tự đại, tự mãn với những gì mình đang có, để rồi tiếp tục tạo điều kiện cho những kẻ “như mình, giống mình” chạy tiếp vào các vị trí khác. 2) Họ đã chưa hoặc không “đối người phải: “Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người”, vì, chức vụ/quyền hạn có được là do được nâng đỡ, cất nhắc bởi “chạy”, nên phần thì họ không đủ năng lực, trình độ đảm đương công việc; phần thì do “mặc chiếc áo quá rộng”, có chức, có quyền quá dễ dàng nên không thể nghiêm cẩn trong công việc, càng không thể “có lòng bày vẽ cho người”. Vì năng lực có hạn, lại lộng quyền, lạm quyền nên trong thực thi công vụ thì quan liêu, tham ô, tham nhũng, vòi vĩnh, gây bức xúc trong xã hội và trong quan hệ ứng xử với đồng nghiệp thì “nịnh trên, nạt dưới”, làm mất lòng tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, vào công tác cán bộ. 3) Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và cả tổ chức thực hiện, những kẻ do“chạy” được chức quyền và cả người được "chạy" cũng chưa hoặc không có tinh thần và phương pháp “làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”. Đó là những người không chỉ coi thường tổ chức, Điều lệ Đảng, pháp luật, công khai vi phạm các nguyên tắc tổ chức, làm suy yếu tổ chức đảng, mất uy tín của tập thể mà còn trở thành nhân tố gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, dẫn đến thao túng bộ máy lãnh đạo, thao túng công tác cán bộ. Với họ, những kẻ cơ hội, chăm lo đầu tư quan hệ để lấy lòng cấp trên sẽ được cất nhắc; còn những người có năng lực và đạo đức nhưng liêm chính, không cúi luồn “sẽ trượt từ vòng quy hoạch”. Thực trạng này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo rất sớm, trong một số bài viết ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Tuy nhiên, ung nhọt này dường như chưa có “kháng sinh” đặc trị. Cùng với thời gian Đảng cầm quyền, vấn nạn này ngày càng “lở loét”, “lan nhanh” dẫn đến tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “là con đẻ” của “chạy chức, chạy quyền” đã mặc nhiên coi “chạy” là con đường tiến thân hiệu quả nhất, để rồi “lan vòi bạch tuộc” của mình, tiếp tục dung dưỡng, bảo kê cho những người có “nhu cầu chạy” đến được với những người “cần phải chạy”, để tạo thành đường dây, phong trào “chạy chức, chạy quyền”. Những năm gần đây, thông tin về việc những quan chức lạm dụng chức vụ/quyền hạn được giao phó kéo bè, kéo cánh, đưa người thân, cánh hẩu vào giữ các vị trí tại các cơ quan công quyền, tạo tiền đề hình thành “nhóm lợi ích” đã cho thấy câu chuyện cả nhà làm quan, cả họ làm quan đã không còn là hiện tượng đơn lẻ... dẫn đến tình trạng một gia đình hoặc một dòng họ “cát cứ”, “thao túng”, “chi phối” công tác cán bộ nói riêng, quyền lực chính trị, kinh tế của địa phương nói chung, gây bức xúc trong nhân dân. Ung nhọt và căn bệnh trầm kha này đã được Đại hội XII của Đảng chỉ ra: “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp... chưa được ngăn chặn, đẩy lùi”[1]; được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII nêu rõ: “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội..., trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi…Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội”[2],v.v.. và được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trăn trở, nhấn mạnh: “Chạy chức, chạy quyền, tệ tham nhũng đã chi phối tới nhiều khâu trong công tác cán bộ, từ lựa chọn đối tượng đưa đi đào tạo, bồi dưỡng, đến quy hoạch, luân chuyển, đánh giá, bổ nhiệm, nên mới “có hiện tượng đề bạt, cất nhắc nhiều người nhà, người thân quen mặc dù không đủ tiêu chuẩn? Vì sao cứ nói bổ nhiệm đúng quy trình nhưng kết quả thực tế bố trí cán bộ lại là sai?”

Một số vấn đề đặt ra khi xây dựng Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng của Việt Nam

Cho đến nay, công tác phòng, chống tham nhũng cũng chưa đạt được mục tiêu đề ra. Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng nhận định: “Tuy nhiên, tham nhũng vẫn đang diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và chưa bị đẩy lùi. Công tác phòng, chống tham nhũng nói chung chưa đạt yêu cầu, mục tiêu đề ra”. Nghị quyết số 126/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 ngày 29/11/2017 cũng đã nêu: “Qua 10 năm thực hiện…, công tác phòng, chống tham nhũng đã … tạo chuyển biến tích cực trên nhiều phương diện, với nhiều kết quả cụ thể, được dư luận quần chúng đồng tình, cộng đồng quốc tế ủng hộ… Tuy nhiên, công tác phòng, chống tham nhũng vẫn chưa đạt yêu cầu và mục tiêu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng. Tham nhũng với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên diện rộng, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, gây bức xúc trong nhân dân”. Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) xếp Việt Nam thuộc nhóm nước tham nhũng nghiêm trọng, năm 2018, chỉ số cảm nhận tham nhũng của Việt Nam vẫn chỉ đạt 33/100 điểm, xếp hạng 117/180 toàn cầu (giảm 02 điểm so với năm 2017). Khảo sát Phong vũ biểu toàn cầu Việt Nam năm 2017 cũng chỉ ra: 72% người dân được hỏi cho rằng tham nhũng trong khu vực công là vấn đề nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng (năm 2013 là 60%), và chỉ có 4% cho rằng tham nhũng không phải là một vấn đề ở Việt Nam (năm 2013 là 14%). Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, trong thời gian tới, cần tiếp tục ban hành Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng cho giai đoạn tiếp theo (2020 - 2030). Chiến lược mới cần khắc phục một số nhược điểm của Chiến lược cũ và hướng tới các giải pháp mạnh mẽ trong phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng. Thứ nhất, mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể của Chiến lược cần có sự logic chặt chẽ đảm bảo tính đồng bộ, khả thi. Các khía cạnh phòng ngừa tham nhũng và chống tham nhũng cần phải được quy định một cách đầy đủ nhằm tăng cường hiệu quả phòng, chống tham nhũng. Vấn đề phát hiện và xử lý tham nhũng cần được thể hiện rõ ràng, cụ thể ở mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể. Thứ hai, cần có các giải pháp hiệu quả hơn trong phát hiện và xử lý tham nhũng. Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 tập trung vào các giải pháp có tính phòng ngừa cao: công khai, minh bạch: kê khai tài sản, thu nhập, xây dựng các quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, nâng cao nhận thức về tham nhũng, trách nhiệm của các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng. Trong giai đoạn tới, nhằm đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng và để phù hợp với tình hình hiện nay, cần bổ sung thêm một số giải pháp mạnh mẽ hơn, chẳng hạn như: kiểm soát quyền lực nhằm phòng, chống tham nhũng; thu hồi tài sản bất minh; phòng, chống tội phạm tham nhũng có yếu tố nước ngoài… Thứ ba, bổ sung giải pháp về tiêu chí, chỉ số đánh giá quốc gia về tình hình tham nhũng theo hướng đa dạng hóa hình thức đánh giá thay vì chỉ tập trung vào các báo cáo sơ kết, tổng kết, báo cáo chuyên đề nhằm đảm bảo tính chính xác, khách quan. Có cơ chế để các tổ chức xã hội, người dân, doanh nghiệp giám sát và đưa ra những góp ý nhằm phát huy tối đa vai trò phản biện của xã hội trong phòng, chống tham nhũng. Tham khảo kết quả điều tra xã hội học, đánh giá chính thức và có tính khách quan và khuyến cáo của các tổ chức quốc tế đối với chính sách phòng, chống tham nhũng của Việt Nam. Thứ tư, cần chú trọng việc xác định tổng thể hiện trạng tình hình tham nhũng và nguyên nhân gây ra để thiết kế Chiến lược đảm bảo tính khoa học, có mục tiêu phù hợp với hiện trạng vấn đề, có tính khả thi, hiệu quả, có hệ thống các giải pháp, công cụ đồng bộ, thống nhất, toàn diện, hiệu lực và tạo ra bước đột phá trong việc kiểm soát tình hình tham nhũng. Hiệu quả của Chiến lược đòi hỏi khuôn khổ pháp lý đồng bộ, khả thi không chỉ dựa trên yêu cầu của công tác phòng, chống tham nhũng, của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà còn phải đáp ứng yêu cầu của các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia trong đó có Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng, các hiệp ước về kinh tế… và tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới. Thứ năm, việc xây dựng Chiến lược phải gắn với việc tổng kết, đánh giá thực tiễn, đánh giá tác động. Trong từng giai đoạn cụ thể, trên cơ sở các báo cáo chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đánh giá, khuyến nghị của các tổ chức quốc tế, ý kiến phản biện của xã hội, Chính phủ cần giao trách nhiệm cho các cơ quan chức năng tiến hành tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động của Chiến lược đối với mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Từ đó có những điều chỉnh phù hợp nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu mà Chiến lược đã đề ra. Theo đó, để phòng, chống tham nhũng, vừa phải tích cực chủ động phòng ngừa, vừa phải kiên quyết trong phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng. Bên cạnh đó, cần xây dựng lực lượng chuyên trách đủ mạnh, có phẩm chất chính trị, bản lĩnh đạo đức nghề nghiệp làm nòng cốt trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng. Cần đặt quá trình phòng, chống tham nhũng trong điều kiện hội nhập, chủ động hợp tác hiệu quả với các quốc gia, tổ chức quốc tế; tiếp thu và chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài trong công tác phòng, chống tham nhũng.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng: Phản bác luận điệu xuyên tạc, xấu độc trên mạng xã hội 2

Để nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trên internet, mạng xã hội của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang trong tình hình mới cần tập trung một số giải pháp chủ yếu sau: Một là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hoà bình” trên mạng xã hội Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh phản bác luận điệu sai trái trên không gian mạng theo định hướng, chỉ đạo thống nhất, đồng thời giao mỗi ban ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị phải xây dựng lực lượng, hệ thống, kế hoạch tuyên truyền; thường xuyên nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, khắc phục tình trạng mơ hồ về chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Thường xuyên gắn kết chặt chẽ công tác tư tưởng, tuyên truyền với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Hai là, đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân thấy rõ “tính hai mặt” của mạng xã hội, hiểu biết đầy đủ những thủ đoạn hoạt động và nội dung chống phá của các thế lực thù địch; mức độ nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đề cao trách nhiệm trong đấu tranh là vấn đề hết sức quan trọng. Đây là cơ sở của hành động, định hướng hành động, có nhận thức đúng mới có trách nhiệm cao và hoạt động hữu hiệu. Thường xuyên nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội trong quần chúng nhân dân; định hướng thông tin chính xác, kịp thời nhằm tạo khả năng “miễn dịch”, “tự đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ địch để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu “Diễn biến hòa bình”, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc, kích động, góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị trật tự, an toàn xã hội. Ba là, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức, đa dạng hoá hình thức đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trên mạng xã hội. Đổi mới nội dung tuyên truyền đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại.... trên mạng xã hội, trong đó chú trọng tuyên truyền, giáo dục truyền thống, định hướng hệ giá trị, bồi dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho thế hệ trẻ một cách thiết thực, sâu rộng, có tính thuyết phục cao, qua đó nâng cao khả năng đề kháng và phản bác của người dân trước những thông tin sai trái, thù địch. Đẩy mạnh và đa dạng hóa hình thức thông tin, tuyên truyền; lựa chọn đúng nội dung và luôn có những thông tin mới trong tuyên truyền. Phải hướng mạnh về cơ sở, tăng cường thông tin đối ngoại; tiến hành điều tra dư luận xã hội để nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cơ sở để xây dựng nội dung tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của kẻ địch. Bốn là, duy trì thường xuyên và có hiệu quả hoạt động thông tin tuyên truyền trong quần chúng nhân dân. Cần phát huy hiệu quả lợi thế từ công tác tuyên truyền, với phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”; chủ động thông tin chính thống, chính xác, đầy đủ, kịp thời, bảo đảm tính định hướng nhằm giải quyết hiệu quả các đơn, thư khiếu nại, tố cáo, nhất là trước những sự kiện nhạy cảm, phức tạp, tạo sự đồng thuận cao trong cơ quan, đơn vị, nhân dân đối với các chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân cần cảnh giác với thông tin trên các trang mạng xã hội, phải tỉnh táo, sáng suốt nhận biết thông tin nào là đúng, chính xác, thông tin nào là giả, bịa đặt, xuyên tạc nhằm tránh bị các thế lực thù địch, cơ hội chính trị sử dụng để lôi kéo, kích động người dân hướng theo ý đồ xấu độc của chúng. Phản bác có hiệu quả những thông tin, quan điểm sai trái, phản động, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.