Thứ Tư, 3 tháng 5, 2023

Sự mâu thuẫn của một âm mưu thâm độc

 Trong những luận điệu chống phá mà các thế lực thù địch, phản động thực hiện trước thềm Đại hội XIII của Đảng ta, thì luận điệu “Đại hội XIII cần bỏ cụm từ “nền tảng tư tưởng”, cứ lý thuyết nào đúng thì theo”là một ví dụ về âm mưu thâm độc của chúng.

1.  Trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại, sự đấu tranh, va đập, xung đột giữa các trào lưu tư tưởng, ý thức hệ, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng…luôn xuất hiện và có diễn biến phức tạp, nhất là từ khi chủ nghĩa tư bản (CNTB) ra đời cho đến nay. Tùy theo đặc điểm, mức độ khác nhau, có thể nói, cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội (CNXH) là cuộc đấu tranh dai dẳng, lâu dài, quyết liệt nhất.

Nhìn lại sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, sự khó khăn của các nước xã hội chủ nghĩa, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, có nguyên nhân quan trọng từ sự chống phá về tư tưởng, ý thức hệ của các thế lực cơ hội, thù địch.

Ở Việt Nam, sự chống phá của các thế lực thù địch diễn ra từ trước khi  Đảng Cộng sản Đông Dương (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam) ra đời, bằng sự đàn áp của chế độ thực dân với các phong trào yêu nước, các cá nhân có tư tưởng tiến bộ. Khát vọng giành độc lập dân tộc, đưa nhân dân, đất nước thoát khỏi ách đô hộ thực dân, thoát khỏi đói nghèo cũng là một trong những nguyên nhân ra đời một chính Đảng kiểu mới - Chính Đảng của giai cấp công nhân, lãnh đạo nhân dân kháng chiến giành độc lập và đi lên CNXH.

Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết lắm, chỉ có chủ nghĩa Lênin là chắc chắn nhất, cách mạng nhất. Cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Việt Nam, không chỉ là cuộc kháng chiến giành độc lập của một dân tộc đánh đuổi đế quốc, thực dân xâm lược mà còn là cuộc đấu tranh về ý thức hệ giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Trong suốt 30 năm từ khi Nhà nước công nông non trẻ đầu tiên ra đời, cho đến khi đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ đánh Pháp, đuổi Nhật và chiến thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa CNXH và CNTB diễn ra ở Việt Nam lúc này, không chỉ là cuộc đấu tranh trên chiến trường với súng đạn, các phương tiện chiến tranh hủy diệt của kẻ thù xâm lược, sự hy sinh xương máu của hàng triệu người, mà còn là cuộc chiến tranh tổng lực, trên mọi phương diện, trong đó có cả sự chống phá về tư tưởng, ý thức hệ của các thế lực cơ hội, thù địch. Những âm mưu kích động bạo loạn, lật đổ, tâm lý chiến, tuyên truyền, bôi nhọ, phá hoại từ bên trong thường xuyên xảy ra, có sự phối hợp trong - ngoài, trên - dưới với nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc. Phạm vi chống phá cũng rất đa dạng, kết hợp đấu tranh trên chiến trường với sức mạnh vượt trội về phương tiện chiến tranh, tiềm lực quân sự với tâm lý chiến, phá hoại về tư tưởng, chính trị, bao vây, cô lập… Nội dung và lĩnh vực chống phá được thực hiện, hướng vào những vấn đề khó khăn trong nước, khi Việt Nam vừa thực hiện kháng chiến giành độc lập, vừa từng bước xây dựng CNXH trong điều kiện điểm xuất phát thấp, một số lĩnh vực hay bị lợi dụng như dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… Âm mưu, thủ đoạn chống phá cũng linh hoạt, đa dạng, đó là sử dụng sức mạnh trên chiến trường, kết hợp phá hoại sự ổn định bên trong, ly tán về tư tưởng, chính trị… Ở mỗi thời điểm, giai đoạn khác nhau, các thế lực cơ hội, thù địch sử dụng phương thức chống phá tương ứng. Tuy nhiên, sức mạnh của chính nghĩa và sự đoàn kết, đồng lòng của người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, đã làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, Việt Nam đã giành độc lập, thống nhất đất nước.

Từ sau năm 1975, đặc biệt là từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986) đến nay, Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bước vào giai đoạn mới, với nhiều đặc điểm khác biệt so với trước đây, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến cuộc đấu tranh tư tưởng, ý thức hệ. Những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, vì nhiều lý do, nhưng chủ yếu là sai lầm chủ quan, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã lâm vào khó khăn. Khủng hoảng kinh tế - xã hội, quản lý đất nước yếu kém, sự chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ, cùng với cuộc chiến tranh lạnh, sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc gây ra đã làm cho một số nước mất ổn định nghiêm trọng, dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và một loạt nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào đầu những năm 1990.

“Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được nghiêng ngả, dao động” (Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (1))

Ở Việt Nam, thời điểm này, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo mới tiến hành được 5 năm, những khó khăn về kinh tế do điểm xuất phát thấp, bị chiến tranh tàn phá nặng nề trước đây, cùng với 2 cuộc chiến tranh biên giới phía Nam và phía Bắc, đã đẩy đất nước vào khủng hoảng chưa từng có. Bị cấm vận, bao vây cô lập, mất nguồn viện trợ từ bên ngoài làm cho Việt Nam đã khó khăn càng khó khăn hơn, nhiều vùng miền trong cả nước có tình trạng thiếu lương thực, nhu yếu phẩm thiết yếu trở nên trầm trọng… Sự chống phá của các thế lực cơ hội, thù địch giai đoạn này đối với Việt Nam càng quyết liệt hơn bao giờ hết. Điều này không chỉ thể hiện âm mưu xóa bỏ CNXH ở một số nước còn lại, trong điều kiện phong trào cộng sản, công nhân quốc tế đang thoái trào, các thế lực thù địch còn muốn xóa bỏ mô hình chế độ xã hội mới tồn tại hơn nửa thế kỷ.

Trong suốt thời gian từ cuối thế kỷ XX cho đến nay, nội dung chống phá của các thế lực thù địch có thể khái quát ở một số vấn đề cơ bản, như: 1) Tiếp tục chống phá về hệ tư tưởng, ý thức hệ mà trực tiếp là những quan điểm nền tảng, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng đã lỗi thời; đề cao mô hình, thể chế nhà nước tư bản chủ nghĩa, tam quyền phân lập, ca ngợi sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ...; 2) Chống phá chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, chia rẽ Đảng với nhân dân, quân đội, công an với nhân dân; phê phán đường lối đối ngoại, trong đó đặc biệt tập trung vào quan hệ Việt Nam - Trung Quốc; 3) Hạ thấp thành tựu, đồng thời khoét sâu, thổi phồng những khó khăn, yếu kém, sai lầm trong quản lý kinh tế - xã hội; 4) Hạ bệ thần tượng, tập trung vào các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; nhân việc Đảng xử lý cán bộ tham nhũng, tiêu cực, chúng khuếch đại, chia rẽ nội bộ nhân dân, dân tộc, tôn giáo, khối đại đoàn kết, làm nhân dân mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; 5) Thông tin bôi nhọ mô hình, yếu kém của một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại... Từ những nội dung trên, các thế lực thù địch “chế biến” thành nhiều nội dung cụ thể, có vấn đề chống thường xuyên, liên tục, có nội dung khai thác sâu ở từng thời điểm.

Lực lượng chống phá cũng có nhiều thay đổi, bên cạnh một số thế lực chính trước đây ở các nước phương Tây, lực lượng “diều hâu” cực đoan, còn một bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài, “hận thù” dân tộc sau chiến tranh, một số đối tượng bất mãn, cơ hội trong nước, móc nối với bên ngoài, trong đó có cả một số nguyên là cán bộ cao cấp, trí thức, văn nghệ sĩ… Âm mưu, thủ đoạn chống phá linh hoạt hơn, ngoài việc tiếp tục thực hiện “diễn biến hòa bình”,  “chiến thắng không cần chiến tranh”, tận dụng tối đa các kênh thông tin như đài phát thanh, nhà xuất bản trực tiếp hướng vào Việt Nam như trước đây, hiện nay chúng triệt để khai thác thế mạnh truyền thông, mạng xã hội, Internet với các hình thức đa dạng, tập trung vào thế hệ trẻ, với nhiều hình thức mới, tuyên truyền thông tin sai lạc, xuyên tạc sự thật. Chúng thường tập trung vào những vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, khiếu kiện đất đai, biên giới hải đảo, chia rẽ công an, quân đội với dân…, kích động biểu tình, bạo loạn lật đổ, đưa người từ ngoài vào, phối hợp với những phần tử cơ hội, bất mãn trong nước nhằm tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng. Nội dung chống phá cũng linh hoạt, đa dạng và tinh vi hơn, thật giả lẫn lộn, trắng đen thay đổi…, nhất là vào những thời điểm quan trọng, sự kiện chính trị lớn của đất nước như trước và sau Đại hội Đảng các nhiệm kỳ. Trong đó, luận điểm “ Đại hội XIII cần bỏ cụm từ: “nền tảng tư tưởng”, cứ lý thuyết nào đúng thì theo” là một ví dụ!

2.  Nhân dân Việt Nam gắn bó với Đảng Cộng sản Việt Nam, tin yêu và đi theo Đảng, gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta”. Do đó, khi nêu “cứ lý thuyết nào đúng thì theo”, điều này nghe qua có vẻ hợp lý, có tính xây dựng, nhưng thực chất là sự mâu thuẫn, đánh tráo khái niệm. Hoặc là, nền tảng tư tưởng của Đảng là đúng, được thực tiễn Việt Nam khẳng định, thì “cứ lý thuyết đúng thì theo” như vậy là đủ, không cần kiên trì nền tảng tư tưởng, dễ bị coi là cứng nhắc, giáo điều. Bên cạnh đó, trong bối cảnh khó khăn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế hiện nay, các thế lực thù địch thường rêu rao về sự “lạc hậu, lỗi thời” hoặc “chỉ đúng với trước kia, không còn đúng với hiện nay”, điều này cũng đồng nghĩa với việc coi chủ nghĩa Mác - Lênin không còn phù hợp, không còn đúng, và do đó, cứ “lý thuyết nào đúng thì theo” càng có vẻ phù hợp. Điều đó phản ánh âm mưu, thủ đoạn và cho thấy rõ mục đích cuối cùng của các thế lực cơ hội, thù địch là mong muốn Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, điều mấu chốt trong sự mâu thuẫn của luận điểm “cứ lý thuyết nào đúng thì theo!” là ở chỗ: các thế lực cơ hội, thù địch thường lấy mô hình, lý thuyết của CNTB là chân lý, hoặc các lý thuyết theo chúng là đúng, còn khác với quan điểm của chúng là sai. Thậm chí, không ít trường hợp, do “hận thù” dân tộc, do thái độ thù địch, nên những người cộng sản làm bất cứ điều gì có lợi cho đất nước, dân tộc, nhân dân thì chúng đều phê phán.

Dù trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng trong những năm qua, Việt Nam vẫn nỗ lực đạt được những thành tựu về xóa mù chữ, xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội… được thế giới thừa nhận, nhưng các thế lực cơ hội, thù địch vẫn ra sức phê phán, cố tình phủ nhận. Bởi vậy, cái gọi là “lý thuyết đúng” mà chúng đưa ra chỉ là ảo tưởng, nhằm đánh tráo khái niệm, mập mờ “đánh lận con đen” đối với những người thiếu hiểu biết. Bên cạnh đó, không thể so sánh một lý thuyết đơn thuần với một nền tảng tư tưởng, hệ tư tưởng. Đó là sự so sánh khập khễnh, thiếu tính hệ thống và tính khoa học. Bởi, một lý thuyết chỉ đề cập đến một vấn đề, một lĩnh vực cụ thể, còn hệ tư tưởng, nền tảng tư tưởng bao gồm nhiều lý thuyết, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong một chỉnh thể thống nhất, bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn.

Những luận cứ khẳng định tính đúng đắn của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là:

Thứ nhất, luận cứ về giá trị phổ quát của việc lựa chọn tư tưởng, mô hình phát triển của một quốc gia.

Mỗi chế độ xã hội đều dựa trên những quan điểm tư tưởng nhất định, là cơ sở để xây dựng, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại cho đến nay, dù tiếp cận từ quan điểm chính trị, ý thức hệ như thế nào, mọi người cũng đều phải thừa nhận, loài người đã trải qua các thời kỳ từ công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, và sau này, đã có các quốc gia đi lên CNXH. Theo quan điểm phát triển, tương ứng với mỗi một thời kỳ đó là một kiểu chế độ xã hội đặc trưng, thể hiện sự tiến hóa của văn minh nhân loại trên các lĩnh vực, từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mô hình tổ chức nhà nước, xã hội, các giá trị văn hóa, tinh thần tiêu biểu...

Nhìn chung, tư tưởng, mô hình tổ chức xã hội tồn tại trên thực tế, xét ở các khía cạnh khác nhau đều là tri thức, lý thuyết, kết tinh trí tuệ, tinh hoa của nhóm/tầng lớp/giai cấp hay của nhân loại trong từng giai đoạn lịch sử. Các đảng phái chính trị, nhất là đảng cầm quyền ở từng quốc gia đều đại diện cho một giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nhất định, đều lựa chọn tư tưởng, cương lĩnh ngay từ khi mới ra đời, đặc biệt khi trở thành đảng cầm quyền.

Thứ hai, luận cứ về khái niệm, nội hàm khoa học.

Xét về mặt khoa học, lý thuyết có thể đúng và chưa đúng và dễ bị sử dụng, phụ thuộc vào chủ quan con người, lý thuyết đúng phải được thực tiễn kiểm nghiệm. Đối với nội hàm của tư tưởng, điểm chung nhất là sự phản ánh khái quát hiện thực khách quan vào trí óc con người dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật… biểu hiện những lợi ích của con người, của giai cấp và của xã hội, nhằm thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể. Tư tưởng có một số đặc trưng cơ bản, như: 1) Có tính độc lập tương đối so với thế giới khách quan, tác động trở lại đối với thế giới khách quan và hoạt động thực tiễn của con người; 2) Nội dung phản ánh của tư tưởng là khách quan, nhưng thông qua chủ quan của con người; 3) Luôn gắn bó và thể hiện lợi ích của con người, nhóm người cụ thể; 4) Luôn gắn với chủ thể nhất định và phản ánh lợi ích của chủ thể đó; 5) Có nhiều cấp độ, hình thức khác nhau về sự tiến bộ hay lạc hậu; tính khoa học hay phản khoa học và thể hiện ở các lĩnh vực khác nhau.

Theo đó, xác định nội hàm của hệ tư tưởng được hiểu là hệ thống các tư tưởng của một giai cấp có mối liên hệ biện chứng, thống nhất, tác động qua lại lẫn nhau, cùng hướng tới một mục tiêu thống nhất, là cơ sở để đảng chính trị, đại diện cho giai cấp đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu đã xác định. Chính vì thế, khi đề cập đến nền tảng tư tưởng, đồng nghĩa với việc khẳng định những tư tưởng cốt lõi mang tính nguyên tắc, là cơ sở để định hướng cho việc bổ sung, phát triển tư tưởng mới trên nền tảng nguyên tắc cốt lõi, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của thực tiễn. Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng của chính đảng vô sản cách mạng, Đảng kiểu mới - Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Đó là hệ thống các tư tưởng, quan điểm sâu sắc và toàn diện của các nhà kinh điển Mác-xít về chính trị, kinh tế, xã hội, triết học, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo… bao gồm 3 bộ phận cấu thành: Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học. Đây là học thuyết mở, bản thân các nhà kinh điển Mác-xít cũng chỉ rõ yêu cầu cần phải bổ sung, phát triển trong điều kiện mới. Hơn một thế kỷ qua, thực tiễn phát triển các quốc gia lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa cho thấy, nước nào vận dụng đúng, sáng tạo sẽ phát triển, ngược lại giáo điều, dập khuôn, máy móc sẽ thất bại. Thực tiễn thế giới ngày nay chứng minh một thực tế, đi lên CNXH vẫn là xu thế phát triển chung của nhân loại.

Ở Việt Nam, tại Đại hội lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, đã đánh dấu một bước tiến mới về nhận thức và tư duy lý luận của Đảng. Trong đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, không chỉ là học thuyết về giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động, giải phóng con người, mà còn là học thuyết về sự phát triển xã hội, là vũ khí tinh thần để Đảng làm tròn vai trò tiên phong, vai trò lãnh đạo cách mạng, và chính Người từ chủ nghĩa yêu nước, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê nin và truyền bá vào Việt Nam. Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải làm theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tầu không có bàn chỉ nam”. Đó cũng là cơ sở để hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh sau này.

ư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng, dân tộc và nhân dân ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của đất nước ta đi tới thắng lợi cuối cùng. Từ nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt từ Đại hội IX đến nay, tư tưởng Hồ Chí Minh được nghiên cứu, làm sáng tỏ trên nhiều vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng và xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đón nhận nồng nhiệt, có nhiều chủ đề học tập theo từng nhiệm kỳ, phù hợp với các đối tượng khác nhau trong xã hội. Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đang tiếp tục được mở rộng về triết học, xã hội học, kinh tế…

Thứ ba, luận cứ về tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng, không chỉ được ghi nhận trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng, mà còn được khẳng định, ghi trong Hiến pháp. Điều 4, khoản 1, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội".

Trải qua các giai đoạn cách mạng, khi Đảng, Nhà nước Việt Nam tổng kết, đánh giá những thành công, hạn chế trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện, vấn đề kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là một bài học quan trọng hàng đầu được rút ra. Từ Đại hội VII đến Đại hội XII, khi đề cập đến bài học kinh nghiệm, vấn đề kiên định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn được đề cập trong văn kiện Đảng. Tổng kết 30 năm đổi mới, trong 5 bài học được rút ra, bài học đầu tiên là “…trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam”. Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII, khi đề cập 5 quan điểm chỉ đạo, quan điểm đầu tiên cũng nêu: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Từ những luận cứ khoa học và thực tiễn nêu trên cho thấy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống các quan điểm sâu sắc, toàn diện, kết tinh trí tuệ, tinh hoa của nhân loại, luôn được bổ sung, phát triển cùng thời đại và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Bởi vậy, đây không phải là những lý thuyết đúng đắn riêng lẻ, mà quan trọng hơn, là những lý thuyết đúng đắn được gắn kết trong một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất, mang tính cách mạng và khoa học, được thực tiễn Việt Nam kiểm nghiệm và tiếp tục bổ sung đầy đủ, sâu sắc hơn trong mỗi giai đoạn cách mạng.

Thứ tư, luận cứ về giá trị thời đại, cơ sở để đưa cách mạng Việt Nam phát triển.

Sau gần 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Kiên định độc lập dân tộc và CNXH, đặc biệt là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp, lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn, thử thách, biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, tiếp thu tinh hoa của thế giới, đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, sau này là cách mạng công nghiệp lần thứ tư... Việt Nam có quan hệ rộng mở với các quốc gia trên thế giới, vị thế ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Điều này càng khẳng định vai trò của nền tảng tư tưởng của Đảng, một nhân tố cực kỳ quan trọng không thể tách rời sự phát triển của đất nước cho đến ngày nay.

Những quan điểm trên là sự đúc kết sâu sắc từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, vì thế không thể có chuyện “từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng” và “cứ lý thuyết nào đúng thì theo” - một âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, cơ hội.

Hạn chế tiêu cực bởi xâm lăng văn hóa

 

Gần đây, quá trình toàn cầu hóa càng trở nên mạnh mẽ hơn cùng với sự phát triển của phương tiện truyền thông mới khiến thế giới trở thành một “ngôi làng toàn cầu” và thúc đẩy quá trình tiếp biến, biến đổi văn hóa nhanh hơn: Phương thức giải trí mới tràn đến dồn dập, lan tỏa nhanh chóng, rộng khắp từ thành thị đến nông thôn.

Cùng với đó là âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, thâm độc, đang từng ngày, từng giờ làm vẩn đục các giá trị văn hóa, đạo đức xã hội, thúc đẩy sự nảy nở các biểu hiện tiêu cực, lệch chuẩn và thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ... 

Năm 2005, UNESCO thông qua Công ước về Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa. UNESCO nhấn mạnh, các quốc gia có quyền chủ quyền về văn hóa. Để bảo vệ văn hóa, các quốc gia phải xây dựng hệ thống chính sách và pháp luật về văn hóa. Tinh thần công ước cho thấy UNESCO đã ý thức được về ảnh hưởng của sự xâm lăng văn hóa đi kèm với quá trình toàn cầu hóa.

Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ là kết tinh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần văn hóa quân sự Việt Nam, thể hiện ở sự kính trọng lãnh tụ, sự yêu thương, quan hệ gắn bó giữa quân với dân; đặc trưng bởi các phẩm chất của người quân nhân vì nước quên thân, vì dân phục vụ; phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Truyền thống văn hóa Bộ đội Cụ Hồ được hình thành từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, được củng cố, phát triển qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; được gìn giữ, phát huy và hoàn thiện trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ đã định hình thành một hệ thống giá trị văn hóa-chính trị-đạo đức tốt đẹp, bền vững, phản ánh bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh, giúp định hướng sự phát triển nhân cách cho bộ đội.

Vì vậy, việc chống lại sự xâm lăng văn hóa, giữ gìn giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều đó, chúng ta cần phải nhận diện hiện tượng xâm lăng văn hóa đối với văn hóa Bộ đội Cụ Hồ ở những phương diện sau:

Thứ nhất, tác động đến nhận thức, tư tưởng.

Cuộc chiến xâm lăng văn hóa rất khác so với cuộc chiến thông thường. Đây là một cuộc chiến tranh tâm lý, ngấm dần dần vào bộ đội, bắt đầu từ sự lung lay, lệch lạc trong nhận thức, tư tưởng. Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong ngày Di sản văn hóa Việt Nam năm 2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (nay là Chủ tịch nước) đã phát biểu: “Đáng sợ hơn mọi sự xâm lăng, đó là xâm lăng văn hóa, là mất gốc”. Thực tế đã xuất hiện tình trạng đáng báo động về việc nhiều người dân Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ, có cả một bộ phận chiến sĩ trẻ có nhận thức lệch lạc, sống thực dụng, buông thả, phai nhạt lý tưởng và đạo đức, có dấu hiệu bị đồng hóa, tôn sùng thần tượng và văn hóa nước ngoài mà quay lưng lại với truyền thống văn hóa tốt đẹp và lịch sử dân tộc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển của nền kinh tế thị trường và truyền thông mới, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để đưa những tư tưởng, thực hành, lối sống xa lạ, không phù hợp của phương Tây đến với giới trẻ cũng như bộ đội. Việc tôn thờ tiền bạc thái quá, lối sống cá nhân ích kỷ chính là những biểu hiện đi ngược lại truyền thống văn hóa tôn trọng yếu tố tinh thần, đoàn kết cộng đồng của dân tộc. Chúng ta chứng kiến việc chạy theo giá trị đồng tiền, lối sống cá nhân ích kỷ đã tạo ra rất nhiều hệ lụy trong xã hội, cũng như đang manh nha trong chính môi trường quân đội. Đây là những nỗ lực làm cho cán bộ, chiến sĩ có ý chí yếu, dao động, có thể dẫn đến đầu hàng trước sự tấn công của văn hóa nước ngoài và làm lung lay niềm tin vào chủ nghĩa xã hội.

Dưới một hình thức khác, đó là sự lan truyền của các sản phẩm văn hóa nước ngoài, ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức của bộ đội. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy những sản phẩm văn hóa ngoại lai, không phù hợp, thậm chí đi ngược lại những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông mới. Thậm chí, kể cả những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ sĩ cũng đã có nhiều người “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, không giữ được chuẩn mực đạo đức cá nhân, bê bối đời tư, phát ngôn tục tĩu, hành xử kiểu giang hồ. Một số sản phẩm nghệ thuật chạy theo thị hiếu, đề cao yếu tố chiêu trò, đồi trụy... đã vô tình hay cố ý trở thành đối tượng tác động xấu đến nhận thức cho giới trẻ, trong đó có bộ đội.

Thứ hai, tác động đến lối sống, tác phong sinh hoạt.

Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ được đặc trưng bởi những chuẩn mực trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng. Đó là lý tưởng sống, chiến đấu cao đẹp, chính nghĩa, yêu nước, yêu chế độ, trung thành, tận tụy với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; tinh thần quyết chiến quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, lao động và công tác; tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, tình đoàn kết quân dân như cá với nước; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy phản ánh bản chất cách mạng và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng, chiến đấu của Quân đội ta.

Trong khoảng một thập niên vừa qua, chúng ta thấy những biểu hiện xâm lăng văn hóa đối với bộ đội diễn ra đa dạng. Biểu hiện này đến từ những sản phẩm, sự kiện văn hóa-nghệ thuật, đặc biệt là các sản phẩm, sự kiện có yếu tố nước ngoài, được phổ biến trên các phương tiện truyền thông, sau khi tác động đến nhận thức sẽ được cụ thể hóa ở những thực hành lối sống của giới trẻ, trong đó có bộ đội. Sự thực hành các sự kiện du nhập từ nước ngoài như ngày Lễ tình nhân Valentine (14-2), ngày Cá tháng Tư (1-4)... có mặt tích cực là làm phong phú hơn sinh hoạt văn hóa của người dân, góp phần hội nhập quốc tế, nhưng nếu không có bản lĩnh, bộ đội rất dễ bị ảnh hưởng bởi văn hóa đề cao lối sống ích kỷ cá nhân, thực dụng, vật chất, xa lạ với văn hóa dân tộc.

Lối sống, cách sinh hoạt dựa vào các phương tiện truyền thông mới, đặc biệt là các mạng xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, tư tưởng của bộ đội. Thực tế đã chứng kiến một số quân nhân sử dụng mạng xã hội để đăng thông tin, hình ảnh liên quan đến nội bộ đơn vị, gây ảnh hưởng đến hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, gây nguy cơ mất an toàn thông tin, nhất là nguy cơ lộ, lọt bí mật Nhà nước, bí mật quân sự. Âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội được thực hiện bằng cách lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ huy; khai thác thông tin từ một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót, khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa quân đội với nhân dân, kích động đòi phi chính trị hóa quân đội, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại về đạo đức của quân nhân. Các thông tin được nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật-giả, tốt-xấu, khó nhận diện, trở nên nguy hiểm.

Để ứng phó với tác động của xâm lăng văn hóa đối với văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, trước hết, chúng ta cần phải hình thành nhận thức đúng đắn, đầy đủ và bản lĩnh văn hóa, giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ trong quân đội. Điều đó phải đến từ việc hiểu rõ về văn hóa dân tộc. Về nhận thức, chúng ta cần xác định rằng văn hóa rất phức tạp, vì thế, hiện tượng xâm lăng văn hóa cũng khó nhận biết rõ ràng. Việc xác định và giữ gìn văn hóa dân tộc cần phải hết sức cụ thể để phù hợp với hoàn cảnh quân đội.

Về hành động thì chúng ta nên chuyển văn hóa, bản sắc văn hóa từ những khái niệm trừu tượng thành những nội hàm cụ thể, tồn tại trong các sản phẩm và dịch vụ văn hóa. Những câu chuyện về lòng yêu nước, giá trị nhân văn, tấm lòng cao cả sẽ được truyền cảm hứng tốt hơn qua những bộ phim, cuốn truyện, bài hát, sự kiện thể thao, nghệ thuật trong quân đội. Các hoạt động văn hóa-nghệ thuật, đặc biệt là hoạt động biểu diễn nghệ thuật, là một kênh quan trọng trong quá trình nâng cao nhận thức, tri thức toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; đồng thời trang bị cho bộ đội những kiến thức cơ bản trong cuộc đấu tranh với các quan điểm văn hóa, văn nghệ lệch lạc, xấu độc, phản động cùng các âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa của các thế lực thù địch. Kết quả hoạt động văn hóa, văn nghệ là nguồn động lực to lớn cổ vũ, động viên bộ đội trong cuộc sống, chiến đấu, lao động, học tập và công tác; trực tiếp góp phần nuôi dưỡng những phẩm chất cao đẹp của người lính; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và những giá trị văn hóa; giáo dục, rèn luyện nhân cách quân nhân theo chuẩn mực con người mới xã hội chủ nghĩa. Qua các hoạt động văn hóa-nghệ thuật, bộ đội sẽ hiểu rõ hơn, dễ dàng hơn về những giá trị văn hóa dân tộc, từ đó có sức đề kháng đối với văn hóa ngoại lai.

Bên cạnh đó, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác giáo dục đạo đức, lối sống trong quân đội. Đây là công việc cần phải thực hiện thường xuyên, kiên trì lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tấm gương tích cực để cổ vũ, lan tỏa những hành vi đạo đức, lối sống chuẩn mực của bộ đội, từ đó lan tỏa ra toàn xã hội, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ. Tiếp theo đó, cần thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình để rèn luyện đạo đức, lối sống của bộ đội. Đó cũng là biện pháp để chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi sự suy thoái từ sớm, từ xa, đưa hoạt động xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào thực chất, đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Nhìn chung, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp lâu dài, cần kiên trì, thận trọng. Xâm lăng văn hóa ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ nhưng cũng là cơ hội để chúng ta nhìn nhận, đánh giá toàn diện hơn về những giá trị văn hóa đặc biệt này, từ đó có những biện pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài để gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, trở thành tấm gương tiêu biểu cho đạo đức cách mạng và văn hóa dân tộc Việt Nam.

PGS, TS BÙI HOÀI SƠN, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội

Đừng nhận thức mơ hồ về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủ trường lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Chủ trương này là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy nhằm tiếp thu những giá trị tích cực của nhân loại trong phát triển kinh tế để phù hợp với những điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay nhiều quan điểm khác biệt, thậm chí là trái ngược, thù địch đã xuất hiện, gây cản trở không nhỏ tới quá trình thực hiện mô hình kinh tế này ở Việt Nam.

Những quan điểm sai trái phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến từ nhiều nguồn khác nhau, tập trung chủ yếu ở các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, nghi ngờ, phủ nhận sự tồn tại của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Sự nghi ngờ, phủ nhận này đã tồn tại ở nhiều nơi nhưng rộ lên khi một số cá nhân có ảnh hưởng phát biểu và được truyền thông trong và ngoài nước truyền tải, được nhiều cá nhân bất đồng chính kiến cổ vũ, tung hô như những tư tưởng “tiến bộ”, “cách tân”. Họ cho rằng chúng ta đang tìm kiếm mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng mãi không tìm ra được bởi vì "làm gì có cái thứ đó mà tìm". Một số cá nhân khác cho rằng chưa thể hình dung ra nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như thế nào do đó chưa thể khẳng định nó là tích cực hay tiêu cực. Quan điểm này về bản chất là sự nghi ngờ và không thừa nhận chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng đối với mô hình kinh tế này.

Trong lịch sử nhân loại, không có mô hình kinh tế nào là có sẵn và loài người cũng không thể nhìn trước được bất kỳ mô hình kinh tế nào. Một mô hình kinh tế dù có hoàn thiện đến mấy đều là kết quả của quá trình hoạt động của con người. Con người vừa tạo ra nó, vừa nhận thức về nó và điều chỉnh nó theo hướng hoàn thiện hơn. Thực tiễn đã chứng minh, một quốc gia với mô hình kinh tế được cho là hoàn thiện đều là kết quả của một quá trình xây dựng lâu dài, thường xuyên điều chỉnh, cập nhật và bổ sung. Trong giai đoạn đầu của quá trình xây dựng thì một nhà kinh tế dù có tài giỏi nhất cũng khó có thể hình dung đầy đủ hình hài của nó khi hoàn thiện.

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng vậy. Chúng ta đang trong giai đoạn đầu xây dựng nên hình hài của nó chưa đầy đủ cũng là điều dễ hiểu. Trách nhiệm của mỗi người dân là dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng chung sức xây dựng để hoàn thiện nó, tạo cho nó có một hình hài đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn trong tương lai.

Những quan điểm này viện lý do về sự yếu kém của một số đơn vị kinh tế nhà nước trong thời gian vừa qua nên muốn loại bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Họ cho rằng sự can thiệp của Đảng và Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường là vô nghĩa, làm lệch lạc thị trường, là lực cản của nền kinh tế Việt nam. Một số quan điểm khác thì cho rằng nền kinh tế thị trường ở nước ta là duy nhất trên thế giới khi lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, gia tăng vai trò can thiệp hành chính của Nhà nước, làm kinh tế thị trường bị biến dạng.

Những quan điểm trên đây chưa nhìn thấy hết bản chất sâu xa trong sự vận hành của một nền kinh tế; chưa hiểu hết mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Xét đến cùng, vấn đề kinh tế quyết định tới vấn đề chính trị, nhưng chính trị cũng có tính độc lập tương đối và luôn tìm cách tác động tới kinh tế nhằm đạt được những lợi ích cho những lực lượng chính trị khác nhau. Đó là lợi ích của từng giai cấp, tầng lớp, lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc. Do vậy, khi xã hội xuất hiện giai cấp và nhà nước thì không có một mô hình kinh tế nào mà không có sự tác động của các lực lượng chính trị. Chính sự can thiệp này cũng đã dẫn đến các cuộc chiến tranh thương mại, chiến tranh tiền tệ, các cuộc bao vây cấm vận kinh tế và cả các cuộc chiến tranh xâm lược ở các quy mô khác nhau giữa các quốc gia nhằm giành giật lợi ích trên thị trường.

Đối với Việt Nam, là quốc gia đi sau nên trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh của các đơn vị kinh tế còn nhiều hạn chế, nền kinh tế thị trường còn nhiều khiếm khuyết. Do vậy, vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường là đặc biệt quan trọng nhằm khắc phục các khuyết tật của thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh, sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo lợi ích của nhân dân và toàn dân tộc.

Trong quản lý nền kinh tế, những hạn chế là không thể tránh khỏi và nó không phải là mong muốn của Đảng và Nhà nước ta. Trái lại, Đảng và Nhà nước luôn biết nhìn thẳng vào sự thật, thừa nhận những hạn chế khi mắc phải đồng thời cầu thị học tập, tiếp thu những giá trị tiến bộ trong mô hình kinh tế thị trường mà nhân loại đã đạt được nhằm xây dựng mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với những giá trị tiến bộ, phù hợp nhất với Việt Nam.

Thứ ba, coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là lực cản cho sự phát triển ở Việt Nam và cần phải “đổi mới lần thứ hai”.

Quan điểm này xuất phát từ sự mơ hồ về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Những người có quan điểm này chưa hiểu hết bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Họ đổ lỗi cho những yếu kém, những tiêu cực nảy sinh trong nền kinh tế nước ta trong thời gian qua là do nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đây là lực cản cho sự phát triển ở Việt Nam và hô hào cần phải có một cuộc “đổi mới lần thứ hai”, đưa nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển đầy đủ, hiện đại như kinh tế thị trường của các nước trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD).

Trước hết, cần phải khẳng định rằng những tiêu cực nảy sinh trong quá trình vận hành của nền kinh tế nước ta thời gian qua là có thực. Tuy nhiên, đây không phải là bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực chất, nó là những khuyết tật mà Đảng và Nhà nước ta muốn loại bỏ nhằm "xây dựng thành công và vận hành đồng bộ, thông suốt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"[1].

Chính vì vậy, không thể đổ lỗi cho những yếu kém, hạn chế hiện nay là do mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trái lại, như Đảng ta đã nhìn nhận: "những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan, đặc biệt là do: Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đủ rõ"[2]. Do vậy, thay vì đổ lỗi cho mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì cần phải khắc phục những sai lầm mang tính chủ quan trong quản lý nền kinh tế, loại bỏ những hạn chế còn tồn tại, tiếp thu những giá trị tích cực từ mô hình kinh tế thị trường của các nước tiên tiến trên thế giới, trong đó có các quốc gia trong OECD.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Việt Nam sẽ xây dựng mô hình kinh tế thị trường giống bất cứ quốc gia nào. Bởi lẽ đặc điểm của nước ta không hoàn toàn giống với họ. Hơn nữa, bản thân mô hình kinh tế ở các quốc gia trong Tổ chức này cũng không hoàn toàn giống nhau. Ngay cả với mô hình kinh tế thị trường tự do nhất như Mỹ thì vẫn luôn có sự thay đổi. Sự khác biệt đó đã chứng minh cho tính đặc thù của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam không phải là ngoại lệ.

Mặc dù đang trong giai đoạn xây dựng và từng bước hoàn thiện, những hạn chế, yếu kém vẫn tồn tại, những giá trị tích cực chưa được thể hiện đầy đủ, nhưng với bản chất cách mạng và khoa học từ đường lối lãnh đạo của Đảng, với quyết tâm chính trị to lớn của toàn Đảng và toàn dân thì những hạn chế sẽ dần được loại bỏ, những giá trị tích cực sẽ được nhân lên, tạo dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa có tính đặc thù của Việt Nam, vừa mang những giá trị tiến bộ của nhân loại, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng một nước Việt Nam phát triển thịnh vượng.

1,2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 3/6/2017, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, 2017.

Cần đấu tranh chống luận điểm sai trái “chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam”

 Kể từ ngày thành lập đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 89 năm hình thành phát triển. Trong suốt quá trình ấy, Đảng luôn gắn bó với dân tộc, phấn đấu hy sinh cho độc lập dân tộc, cho tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Ngày nay, đất nước ta đã vươn lên tầm cao mới, sánh vai với bạn bè quốc tế chính là nhờ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối.

Trong quá trình điên cuồng chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch luôn nhắm đến việc loại bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin bằng nhiều phương thức như: tách biệt mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, ca ngợi Tư tưởng Hồ Chí Minh một cách thần thánh hóa, để loại bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, rồi tiếp theo là loại bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta; kêu gọi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực hiện bạo loạn lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Vì thế có quan điểm sai trái cho rằng: “Việc du nhập chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là nguyên nhân của mọi tai họa, đưa đất nước vào vòng tăm tối, trì trệ”([1]).

Lịch sử đã chứng minh: kể từ ngày thành lập đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua  89 năm hình thành phát triển. Trong suốt quá trình ấy, Đảng luôn gắn bó với dân tộc, phấn đấu hy sinh cho độc lập dân tộc, cho tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Ngày nay, đất nước ta đã vươn lên tầm cao mới, sánh vai với bạn bè quốc tế chính là nhờ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối. Nhờ có chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam soi rọi đường lối cách mạng Việt Nam mà Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành được những thắng lợi vĩ đại, làm cho đất nước ta phát triển phát triển không ngừng, đó là lý do mà Đảng ta kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: học chủ nghĩa Mác – Lênin là học ở lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin, hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin phải hiểu đúng, hiểu đủ, hiểu theo lôgic và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin phải sáng tạo, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mỗi nước. Chủ nghĩa Mác – Lênin là khoa học mở, đòi hỏi các đảng cộng sản và công nhân quốc tế phải bổ sung, phát triển trong hoạt động thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác – Lênin có lập trường cách mạng triệt để; có quan điểm khoa học, nhân văn, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện ra quy luật và làm theo quy luật; có phương pháp biện chứng. Thực tiễn lịch sử chứng minh: Chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam đã giải quyết được những vấn đề lớn cho cách mạng Việt Nam, chỉ ra con đường cứu nước và giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một nhân tố đưa đến sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1930, chấm dứt 72 năm khủng hoảng về đường lối cứu nước của dân tộc.

Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đều có một điểm chung là bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn; sự kế thừa, phát triển tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh là sự liên kết tư tưởng không thể tách biệt hay nói khác là nằm trong cùng một lôgic tư tưởng. Chúng ta phải khẳng định: C.Mác, Ph.Ăngghen có công đặt nền móng lý luận chống chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, kế thừa trí tuệ nhân loại, phát hiện ra nhiều quy luật, tính quy luật, đưa ra nhiều dự báo về tương lai tươi đẹp của xã hội loại người, vì mục đích giải phóng toàn diện con người. Đến thời điểm lịch sử của V.I. Lênin, trên cơ sở kế thừa phát triển tư tưởng C.Mác - Ph.Ăngghen, V.I. Lênin đã đưa ra lý luận chống chủ nghĩa đế quốc, đưa chủ nghĩa xã hội từ khoa học trở thành hiện thực với sự thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917; đề xướng cải cải cách chủ nghĩa xã hội trên cơ sở đưa ra chính sách kinh tế mới “NEP”, vì mục tiêu giải phóng con người.

Trên cơ sở kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng sáng tạo vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đưa ra lý luận chống chủ nghĩa thực dân, phát hiện ra quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phương pháp cách mạng dĩ bất biến ứng vạn biến. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy mà Đảng ta đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, được nhân dân ủng hộ, tin theo.

Như vậy, quan điểm sai trái, thù địch nêu trên cần phải đấu tranh loại bỏ; kiên định lý tưởng cách mạng, kiên trì thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội; quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, chế độ và bảo vệ nhân dân.

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Hà Nội, 2016. Tr 28 – 34.

2. Ban Tuyên giáo Trung ương: Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, Tr.99.

3. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.   

[1] Ban Tuyên giáo Trung ương: Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, Tr.99.

Thủ đoạn thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" nội bộ ta của các thế lực thù địch

 Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân ta không ngừng được cải thiện; quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường; uy tín, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước lại cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật ấy. Chúng đã và đang tìm mọi cách đẩy mạnh thực hiện âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta với nhiều thủ đoạn ngầm, mềm, sâu, tinh vi, thâm độc và xảo quyệt. Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thủ tiêu thành quả cách mạng, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta đang xây dựng, đưa Việt Nam phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, có lợi cho chúng.

1. Nếu những năm trước đây, các thế lực thù địch chủ yếu sử dụng vũ trang với các biện pháp quân sự “cứng rắn” để chống phá cách mạng Việt Nam thì ngày nay, chúng đã thay đổi chiến lược, chuyển từ vũ trang sang phi vũ trang với các biện pháp “mềm dẻo”, “linh hoạt” vừa đẩy nhanh quá trình mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế đa tầng nấc ở Việt Nam nhằm lôi kéo, thu phục, mua chuộc các đối tác; vừa dùng biện pháp răn đe quân sự, gây sức ép từ bên ngoài để tác động, “chuyển hóa” bên trong, làm cho đối tác Việt Nam phải phụ thuộc, tiến tới thay chế độ chính trị theo hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Mục tiêu của chúng là thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, kết hợp với bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Nhân dân ta nhằm “chuyển hóa” và hướng lái Việt Nam đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Chúng khai thác và lợi dụng triệt để quá trình mở rộng hợp tác, đầu tư, hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh... nhằm tạo ra các cơ hội để xâm nhập sâu hơn vào Việt Nam, thúc đẩy nhanh hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước. Đối với chúng, trong các mục tiêu “chuyển hóa” chế độ chính trị Việt Nam thì biện pháp gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước ta là vấn đề quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định “chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa”; nhờ đó mà “triệt tiêu các giá trị làm nên chế độ cộng sản, bản chất Đảng Cộng sản Việt Nam”; đồng thời, qua đó xây dựng “ý thức hệ mới” với một hệ thống lý luận chính trị tương xứng để “thay máu cho hệ tư tưởng cộng sản”, tiến tới “đánh gục và hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”; triệt tiêu mọi mầm mống của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam; thay vào đó là nền tảng tư tưởng của giai cấp tư sản mang đậm tính chất phản động, chống cộng.

Quá trình thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Việt Nam, theo các thế lực phản động, là đẩy mạnh hơn nữa sự gây rối, tạo ra các xung lực mới từ các mâu thuẫn bên trong cùng với những “cái hích từ bên ngoài”, kết hợp chặt chẽ với “lộ trình dân chủ” bên trong ở Việt Nam một cách toàn diện, đồng bộ, thông qua nhiều khâu, các bước, đó là: 1) Thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đây được coi là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, giảm sút hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước; hủy hoại và tước bỏ niềm tin của Nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa; 2) Thúc đẩy quá trình hình thành, phát triển các “tổ chức chính trị đối lập” xuất hiện và hoạt động công khai, làm cho Đảng Cộng sản bị phân hóa, rối loạn sự lãnh đạo, mâu thuẫn với Nhà nước, không thể kiểm soát được tình hình. Từ đó, buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải chấp nhận “dân chủ” hóa xã hội theo hình mẫu phương Tây hoặc phá vỡ chế độ chính trị - xã hội; 3) “Dân chủ hóa chính quyền các cấp”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng và đảng viên ra khỏi quần chúng; gây áp lực đối với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương, tiến tới lật đổ Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Cùng với đó, chúng triệt để khai thác internet và các trang mạng xã hội để tăng cường quảng bá hình ảnh “tốt đẹp” của phương Tây, gieo cấy niềm tin, tăng sức nặng thuyết phục về giá trị văn hóa, dân chủ tư sản trong mắt người dân Việt Nam, nhất là giới trẻ. Mặt khác, tăng cường “cài cắm”, móc nối, xâm nhập, “chuyển hóa ngầm” bằng các thủ đoạn tình báo để kích thích “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp ở Việt Nam.

2. Các chiến lược gia tư sản cho rằng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Việt Nam theo quỹ đạo tư bản là mắt xích quan trọng nhất trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam. Chúng xác định rằng, lực lượng bên ngoài là tác nhân kích thích quan trọng; lực lượng “ngầm” bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước Việt Nam đóng vai trò quyết định, là hạt nhân, lực lượng nòng cốt cho sự “chuyển hóa”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước. Vì vậy, thực hiện “chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước thông qua con đường “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ nhất thiết phải xây dựng “đội ngũ cán bộ mới”, tức là những người đối lập với Đảng, Nhà nước, luôn đề cao giá trị, văn hóa, lối sống phương Tây; tìm cách đưa các nhân tố này vào trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; từng bước hình thành các phe phái, khuynh hướng đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ráo riết thúc đẩy tham nhũng và lợi dụng việc chống tham nhũng, cũng như những sơ hở, thiếu sót của Đảng, Nhà nước ta để kích động, gây chia rẽ, tạo sự nghi ngờ trong các tầng lớp nhân dân; gây mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, Nhà nước; vu khống, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Để dọn đường can thiệp sâu hơn vào nội bộ ta, chúng đã thành lập một số nhóm tư vấn ở nước ngoài để tác động, “chuyển hóa” Việt Nam theo hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước. Các nhóm này đã biên soạn tài liệu, báo cáo và gửi đến một số lãnh đạo Việt Nam nhằm hướng lái, thúc đẩy Việt Nam đẩy mạnh cải cách “dân chủ”, “cải biến” mạnh mẽ các tập đoàn kinh tế, mở rộng con đường phát triển kinh tế tư nhân theo hướng tư bản, làm cho nó mâu thuẫn gay gắt với quyền lợi kinh tế và ý chí chính trị của Đảng, Nhà nước ta. Theo đó, chúng tích cực lôi kéo, thu hút, tiếp cận các bộ, ngành, viện nghiên cứu của Việt Nam để móc nối, tác động “chuyển hóa” một số nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành thông qua con đường “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ để đưa các giá trị phương Tây vào Việt Nam. Với kinh nghiệm lật đổ, hỗ trợ hoặc tiếp tay cho các cuộc “cách mạng sắc màu” tại một số nước trên thế giới, gần đây, các thế lực thù địch đã đẩy mạnh các hoạt động “ngầm” chống phá Việt Nam thông qua tổ chức phi chính phủ (NGO) để tránh sự chú ý của các cơ quan chức năng Việt Nam. Điển hình là hoạt động “trá hình” của Quỹ Dân chủ quốc gia (NED), Viện Dân chủ quốc gia (NDI), Viện Cộng hòa quốc tế (IRI), v.v.. Các tổ chức này đã chủ động liên hệ và đề nghị gặp gỡ một số tổ chức, cán bộ cao cấp của ta với hy vọng tìm cơ hội hợp tác, thực hiện ý đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” Việt Nam.

3. Xâm nhập, tác động, lái thông tin và truyền thông Việt Nam theo ý đồ thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ một cách tinh vi, thâm độc. Các chiến lược gia tư sản cho rằng, để đẩy nhanh quá trình “dân chủ hóa” ở Việt Nam phải đồng thời tích cực hóa quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước và các cộng đồng dân cư Việt Nam. Theo đó, con đường để thực hiện “dân chủ hóa” thông tin, truyền thông và xã hội Việt Nam hiệu quả nhất, trước tiên là thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành thông tin, truyền thông. Quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành này có quan hệ chặt chẽ với quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước. Trong đó, “dân chủ hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước theo hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” xã hội Việt Nam, nếu không thực hiện được “dân chủ hóa” trong ngành thông tin, truyền thông và xã hội thì không thể đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước Việt Nam. Vì vậy, “dân chủ hóa” thông tin, truyền thông là đưa “dân chủ” vào thông tin, truyền thông nhà nước cũng như mở rộng thông tin, truyền thông phi chính thống trong xã hội Việt Nam. Bằng con đường này, chúng hy vọng sẽ gây nhiễu loạn dư luận xã hội, “pha loãng” nền tảng tư tưởng của Đảng và kích động tư tưởng tự do, dân chủ theo hình mẫu tư sản phương Tây. Nhằm đạt mục tiêu này, năm 2017, các thế lực đế quốc đã chi một khoản tiền “kếch xù” để hỗ trợ công tác thông tin, truyền thông châu Á. Trong đó, dành hơn 40 triệu USD cho đài “Á châu tự do” (RFA); giúp nhà đài nâng cấp hệ thống phát thanh truyền hình vệ tinh, nâng cao hiệu quả truyền bá tự do, dân chủ, nhân quyền đến các nước mà chúng cho rằng “thiếu dân chủ”, “vi phạm nhân quyền”, trong đó có Việt Nam. Cùng với đó, chúng lợi dụng triệt để thông tin, truyền thông để thực hiện mưu đồ gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngành giáo dục - đào tạo Việt Nam, làm cho đội ngũ trí thức Việt Nam bị “phân tâm, phân hóa”, nghi ngờ đường lối, chính sách giáo dục - đào tạo của Đảng, Nhà nước ta. Chúng đầu tư mạnh vào các lĩnh vực thương mại điện tử, phần mềm, dịch vụ trực tuyến, công nghệ không dây, internet, các dịch vụ giải trí trên điện thoại di động, internet... để xâm nhập, chiếm lĩnh, chi phối thị trường công nghệ thông tin, truyền thông Việt Nam, tách dần thông tin, truyền thông Việt Nam ra khỏi sự kiểm soát của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.

Đối với các nhà báo Việt Nam, chúng đã và đang tìm mọi biện pháp nhằm lôi kéo, mua chuộc một số người có “quan điểm cấp tiến” đi du học hoặc tạo điều kiện cho đi công tác nước ngoài để “mở mang tầm nhìn, bổ sung, cập nhật kiến thức mới”, bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp tác nghiệp hiện đại, viết bài về vấn đề dân chủ, nhân quyền theo hướng phản biện xã hội, truyền bá giá trị tự do, nhân quyền tư sản vào Việt Nam. Đây là thủ đoạn hết sức thâm độc của các thế lực thù địch.

4. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các thế lực thù địch đang ráo riết sử dụng chiêu bài “dân tộc” và “tôn giáo” để đẩy mạnh việc cổ súy cho cái gọi là phát huy “dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam. Chúng đã và đang dùng nhiều “chiêu trò” để tuyên truyền, xuyên tạc tình hình đổi mới ở nước ta, vu cáo Việt Nam “không có dân chủ”, thiếu công khai, minh bạch; vi phạm nhân quyền, không tôn trọng tự do tôn giáo; rằng Đảng, Nhà nước ta đối xử không công bằng với đồng bào các dân tộc thiểu số; không quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo. Với nhiều hình thức trá hình, thông qua con đường “ngoại giao thân thiện”, “hỗ trợ nhân đạo”, chúng đã và đang tìm cách đưa người vào Việt Nam với các danh nghĩa rất khác nhau để xúc tiến việc tìm hiểu tình hình, thu thập thông tin, móc nối, lôi kéo, hỗ trợ các lực lượng “ngầm” gây rối ở một số địa bàn thuộc các địa phương, phản ánh sai lệch sự thật, gây hoang mang, nghi ngờ, đố kỵ, mâu thuẫn trong nội bộ các dân tộc; tạo điều kiện thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống phá Đảng, Nhà nước và bài xích chế độ ta.

Nhìn lại sự kiện bạo loạn ở Tây Nguyên (2001, 2004), của người Mông ở Mường Nhé (2011), ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Thuận (2017, 2018)…, chúng ta có thể thấy âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động là vô cùng thâm độc và xảo quyệt. Bằng nhiều chiêu trò bỉ ổi, chúng đã “hỗ trợ” nhóm phản động người Mông ở Tây Nguyên, vận động họ ra các tỉnh phía Bắc “đón vua”; đồng thời, lôi kéo người Mông từ Điện Biên vào các tỉnh Tây Nguyên để “lánh nạn”, chờ cơ hội lập lại “vương quốc Mông” tự do. Bên cạnh những việc làm trên, chúng còn liên tục tài trợ, giúp đỡ, huấn luyện một số cốt cán “Tin lành Đềga” ở nước ngoài để đưa về Việt Nam hoạt động thông qua “bức bình phong” là các “tổ chức phi chính phủ”. Việc làm của chúng ít nhiều đã và đang gây khó khăn, sức ép đối với chính quyền địa phương, làm mất ổn định trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sinh hoạt của Nhân dân. Ở một số địa phương, những phần tử bất mãn với chế độ ta đã lợi dụng tình hình này, đẩy mạnh hoạt động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tổ chức đảng và chính quyền địa phương với ý đồ “góp gió thành bão”, gây “sóng” trên cả nước để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

5. Đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo, ráo riết thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngành giáo dục Việt Nam là một “chiêu bài” thâm độc của các thế lực thù địch. Chúng xác định giáo dục - đào tạo là một trong những mũi đột phá, là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Để thực hiện mục tiêu này, chúng chủ trương thực hiện chính sách hai mặt. Một mặt, mở chiến dịch xuyên tạc, phủ nhận kết quả của nền giáo dục - đào tạo Việt Nam, cho rằng nền giáo dục - đào tạo nước ta đang ở tình trạng khủng hoảng, bế tắc; chất lượng đào tạo nhân lực rất đáng lo ngại, không thể đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội;… Mặt khác, chúng kêu gọi phải thay đổi nền giáo dục Việt Nam bằng con đường “Tây học”, du học.

6. Lôi kéo, chuyển hóa, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lực lượng vũ trang nhằm làm suy yếu, thực hiện “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” lực lượng vũ trang là một mũi nhọn trọng điểm trong âm mưu “đánh sập” Việt Nam của các thế lực thù địch. Về cơ bản, thường xuyên và lâu dài, chúng lấy kinh tế để chuyển hóa chính trị, lấy vô hiệu hóa Quân đội, Công an làm nhiệm vụ trước mắt và trực tiếp. Trong nhận thức và hành động, chúng cho rằng, chỉ có tách rời Đảng Cộng sản ra khỏi lực lượng vũ trang, gạt bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội và Công an thì mới có thể chuyển hóa thành công chế độ chính trị ở Việt Nam theo hình mẫu tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, trong mọi phương sách, từ trước đến nay, chúng đều hướng đến cái đích duy nhất là: gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội và Công an.

7. Thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế được các thế lực thù địch xác định là giải pháp căn cơ, chính yếu để thực hiện âm mưu, thủ đoạn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Việt Nam. Bằng nhiều biện pháp, chúng kích động, lái nền kinh tế Việt Nam đi chệch khỏi định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện điều đó, chúng cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, rắp tâm “nhấn chìm” thành phần kinh tế nhà nước, khoét sâu vào những yếu kém của các doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích cổ phần hóa triệt để hoặc giải thể các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước. Thực chất, chúng muốn thành phần kinh tế nhà nước lụi tàn để phá hỏng cơ sở, chỗ dựa của chế độ xã hội chủ nghĩa; làm suy yếu và tiến tới gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước trên lĩnh vực này, hướng lái Việt Nam phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.

8. Để tăng tốc, mở rộng quy mô, đổi mới hình thức chống phá Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch, phản động đã và đang tiến hành nhiều thủ đoạn, biện pháp mới rất tinh vi và xảo quyệt. Về chính trị tư tưởng, chúng tiếp tục xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cái mới của thủ đoạn này là tấn công nhằm đánh đổ thần tượng Hồ Chí Minh, bôi nhọ thân thế, cuộc đời, sự nghiệp, trước tác của Người; cắt ghép, lắp ráp, tạo dựng chứng cứ giả để xuyên tạc, bôi nhọ đời tư của một số lãnh tụ của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Quân đội, Công an để tạo sự nghi ngờ và dư luận xấu trong xã hội. Lợi dụng việc Đảng, Nhà nước ta sửa đổi Hiến pháp và một số bộ luật, các thế lực thù địch đưa ra các yêu sách đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để “gây bầu không khí dân chủ” ở Việt Nam. Hơn thế, họ cho rằng, Đảng Cộng sản ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng chứng tỏ rằng, nội bộ Đảng đang có những vấn đề phức tạp, sắp có biến động lớn. Từ đó, chúng kích động, lôi kéo đảng viên và quần chúng nhân dân đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp. Nhìn chung, âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch là rất nguy hiểm. Vì vậy, nhìn rõ và vạch trần bộ mặt thật của chúng, luôn đề cao cảnh giác, đề phòng để không bị mắc mưu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và trong Nhân dân là trách nhiệm, bổn phận của mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay.

9. Nhìn lại quá khứ, suy xét những diễn biến hiện nay, có thể khẳng định rằng, bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là không hề thay đổi đối với sự chống phá cách mạng Việt Nam. Một số thủ đoạn mới nảy sinh là sự bổ sung nội dung, hình thức mới để duy trì chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Việt Nam; trong đó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân chỉ là hai trong nhiều việc đang được các thế lực thù địch “thay hình, đổi dạng” cho hợp với tình hình và diễn biến của thời cuộc, nhưng tác động, ảnh hưởng của nó thì đặc biệt nguy hiểm. Vì vậy, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng trên cơ sở nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là giải pháp cơ bản, có ý nghĩa quyết định để chúng ta đánh bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; không mắc mưu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của chúng.

Cùng với đó, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là vấn đề thời sự, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong đó, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang là cơ sở nền tảng để lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của Nhân dân; luôn xứng đáng là lực lượng nòng cốt, tin cậy của Đảng, Nhà nước, Nhân dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với xây dựng, củng cố thế trận an ninh nhân dân; xây dựng “thế trận lòng dân”; hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Nhân dân.

Trong bối cảnh hiện nay, cần tăng cường các biện pháp nắm bắt tình hình địch, tình hình ta ở cơ sở, địa phương, nhất là những địa phương có “điểm nóng”; kịp thời phát hiện các hoạt động chống phá và xâm nhập trái phép của bọn phản động, sự móc nối của chúng với các phần tử cơ hội chính trị, bất mãn với chế độ ta ở trong nước và nước ngoài. Cùng với đó, quản lý tốt internet, mạng xã hội, các phương tiện thông tin, truyền thông để có biện pháp phân loại quản lý, đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại mọi ý đồ xâm nhập, móc nối, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm; từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, nhất là người dân ở các vùng còn nhiều khó khăn như biên giới, hải đảo, vùng đồng bào theo đạo, các dân tộc thiểu số, các gia đình thuộc diện chính sách, các địa phương có các vụ khiếu kiện chưa giải quyết xong; v.v..

Bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật để nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, truyền thông đại chúng như sách báo, tạp chí, báo điện tử, internet,... nhằm đáp ứng nhu cầu nắm bắt thông tin của các tầng lớp nhân dân; tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng sáng tác, có nhiều chương trình mới, hay hơn, hấp dẫn hơn để đáp ứng nhu cầu thưởng thức các giá trị văn hóa, nghệ thuật của Nhân dân, cán bộ, chiến sĩ. Đây là biện pháp tốt để lấn át các trào lưu thông tin, truyền thông điện tử, sách báo, băng nhạc, đĩa hình, các trang mạng xã hội... phi chính thống mà các thế lực thù địch đang khai thác, sử dụng triệt để nhằm chống phá ta.

Rà soát, điều chỉnh một số chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, các địa phương về xây dựng “thế trận lòng dân”, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho phù hợp với tình hình mới, thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp theo quy chế, quy định hiện hành của Nhà nước; quan tâm giải quyết thỏa đáng một số nhu cầu chính đáng về an sinh xã hội của quảng đại quần chúng như: nâng cao chất lượng đời sống dân sinh (điện, nước, đi lại, khám chữa bệnh, học tập, nghiên cứu, thưởng thức các giá trị văn hóa, nghệ thuật...); kiên quyết khắc phục các khuyết điểm, hạn chế; không để sơ hở tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và bồi dưỡng cán bộ; chú trọng đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp nghiên cứu, giảng dạy, học tập để nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là quan tâm chăm lo bồi dưỡng, lựa chọn cán bộ có tâm, có trí tuệ, có thực đức, thực tài để giới thiệu cho Đảng chuẩn bị nhân sự cho đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đồng thời, tăng cường giáo dục chính trị, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, giúp họ nêu cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; đề cao ý thức cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; không để xảy ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong các cơ quan, đơn vị và các khu dân cư. Đó là những vấn đề then chốt, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm chấn hưng đất nước, phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh, ngoại giao..., tạo sức mạnh nội sinh bền vững để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và bảo vệ Tổ quốc.

Đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước và kỷ luật Quân đội; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoàn thành thắng lợi các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra; chuẩn bị tốt các điều kiện để tổ chức thành công Đại hội lần thứ XIII của Đảng, phấn đấu đưa nước ta sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

Nguồn: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật (www.nxbctqg.vn)

PHẢI LUÔN ĐẢM BẢO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CỘNG CUỘC ĐỔI MỚI

 

Để đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ hội nhập quốc tế, phải chú ý một số nội dung trọng tâm như sau:

Một là, bảo đảm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệ thống chính trị tập trung mũi nhọn đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chuyển hóa chính trị của các thế lực thù địch, phản động; bảo vệ vững chắc địa vị và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Giữ vững và kiên trì chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng phải làm cho chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, tỏa sáng, phát huy sức sống là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư tưởng- lý luận, trước hết là nhiệm vụ của các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở. Mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần thấu hiểu sâu sắc hơn bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin; tính mở của học thuyết, tư duy biện chứng lý luận luôn gắn liền với thực tiễn, chứa đựng hơi thở của thời đại, của cuộc sống.

Kiên quyết phê phán những nhận thức, phương pháp tư duy và cách tiếp cận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo lối cực đoan, một chiều, giáo điều, bảo thủ, nhất là thái độ phiến diện, hẹp hòi, máy móc trong ứng xử với các giá trị văn minh nhân loại, đem đối lập chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội một cách gượng ép theo ý muốn chủ quan, minh họa đơn giản. Điều này vô tình biến những nguyên lý cơ bản, hệ thống lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin thành những quan điểm khô cứng, nguyên mẫu, không có mối liên hệ nào với thực tiễn và cuộc sống sinh động của thế giới đang vận động, phát triển; không đến xỉa gì đến tính đặc thù của các quốc gia, dân tộc...

Phải tiến hành một cuộc đấu tranh toàn diện trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, tuyên giáo nhằm bảo vệ tính cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tập trung mũi nhọn đấu tranh bảo vệ vai trò và quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, bảo vệ định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cấp ủy đảng các cấp phải thống nhất nhận thức và hành động, quan tâm chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt các lực lượng, các ngành, các cấp vào cuộc mà lực lượng xung kích, nòng cốt là ngành Tuyên giáo, các cơ quan truyền thông, thông tin tuyên truyền, cơ quan nghiên cứu khoa học, Hội đồng Lý luận Trung ương, các ban đảng các cấp; lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, các nhà nghiên cứu lý luận, các học giả. Tập trung đấu tranh phản bác, vạch trần sự giả dối, xảo biện, phát hiện, ngăn chặn các luận điệu sai trái, độc hại của các thế lực thù địch tấn công phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lý luận, hoàn thiện hệ thống quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thông qua các hình thức, phương thức, biện pháp phù hợp để huy động được sức mạnh tổng hợp mọi nguồn lực, trí tuệ, cơ chế chính sách phục vụ cuộc đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, quan tâm xây dựng, củng cố và hoàn thiện cơ sở pháp lý làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận.

Thực tiễn, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng diễn ra rất quyết liệt, khó khăn, phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do, tôn giáo, dân tộc, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Việc nhanh chóng cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng để tăng cường, hoàn thiện cơ sở pháp lý thông qua hệ thống luật pháp, các văn bản chỉ đạo của Nhà nước, của Chính phủ và các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự là yêu cầu tất yếu, phù hợp với xu thế của thời đại ngày nay.

Thời gian tới cần tiếp tục nghiên cứu cụ thể hóa, pháp luật hóa đầy đủ các quan điểm chỉ đạo của Đảng về đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ thể chế xã hội chủ nghĩa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước một cách phù hợp, nhất là các bộ luật quan trọng liên quan đến nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, coi trọng việc xây dựng bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ chuyên trách; mô hình, phương thức, biện pháp và cơ chế đấu tranh phù hợp với từng loại đối tượng, trên từng vấn đề, ở từng thời điểm.

Tiếp tục rà soát, nghiên cứu, sắp xếp kiện toàn bộ máy chỉ đạo, mô hình và cơ chế phương thức lãnh đạo cuộc đấu tranh phù hợp, hiệu quả và thiết thực hơn. Đặc biệt, không nên coi nặng về số lượng công trình, bài viết, cá nhân, đơn vị tổ chức đấu tranh phản bác mà quan trọng hơn là tìm cơ chế, biện pháp, hình thức tổ chức đấu tranh, tuyên truyền phù hợp, tập trung lực lượng mũi nhọn đấu tranh trong từng thời điểm, với từng loại đối tượng, từng vấn đề cụ thể, không để dàn trải, chồng chéo, trùng dẫm, thậm chí trái chiều nhau. Nghiên cứu ban hành quy định phổ biến, tuyên truyền công khai, rộng rãi các công trình nghiên cứu, bài viết phản bác có chất lượng, hàm lượng khoa học cao, sắc sảo, thuyết phục về lý luận và thực tiễn; mang tính hệ thống, toàn diện về mặt học thuật...

Trong quá trình tổ chức cuộc đấu tranh phải hết sức quan tâm chăm lo lựa chọn, bồi dưỡng, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận chuyên nghiệp hoặc kiêm nhiệm có đủ bản lĩnh chính trị, năng lực, trình độ, tâm huyết tham gia cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng- lý luận. Bên cạnh đó, phải chú trọng phát huy cao độ lợi thế, tính chiến đấu của các công cụ thông tin, truyền thông hiện đại của Đảng, Nhà nước và các cơ quan ban, ngành, địa phương, bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, thiết thực, hiệu quả và tính lan tỏa xã hội.

Bốn là, nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ đảng viên; kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức trách nhiệm chính trị, bản lĩnh và lập trường giai cấp; kiên định cuộc đấu tranh, gắn việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.

Bên cạnh đó, việc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn liền với việc không ngừng mở rộng dân chủ trong Đảng, trong xã hội. Đề cao trách nhiệm và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân trong cuộc đấu tranh phê bình và tự phê bình, “tự soi, tự sửa” theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong nội bộ, hạn chế đến mức thấp những nhân tố bất ổn từ bên trong.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ hội nhập quốc tế

 


Thành tựu, kết quả của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ hội nhập quốc tế là to lớn, có ý nghĩa quan trọng trên cả phương diện chính trị, tư tưởng - lý luận và thực tiễn, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn được hình thành; đất nước tiếp tục phát triển vững vàng trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế.

Từ khi đất nước tiến hành đổi mới và từng bước hội nhập quốc tế, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động là không thay đổi nhưng chuyển sang hình thái mới, phương thức, thủ đoạn mới hết sức tinh vi xảo quyệt. Chúng lợi dụng Internet, báo điện tử, trang mạng xã hội, các website, các nền tảng công nghệ phổ biến: blog, Facebook, Youtube, Zalo… để tổ chức các chiến dịch phá hoại trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực cả lý luận và thực tiễn. Mục tiêu cơ bản của chúng là đả phá, công kích những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cộng sản cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội; âm mưu phủ nhận, loại bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thông qua các con đường hợp tác, giao lưu, trao đổi văn hóa, tri thức khoa học, kinh tế, luật pháp và các nền tảng công nghệ mạng, chúng đưa các lý thuyết mới, tư tưởng mới thâm nhập vào Việt Nam hòng “pha loãng tư tưởng chính thống”, làm mờ nhạt nguyên lý, nguyên tắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tập trung phê phán, hạ thấp vai trò, ý nghĩa thời đại, lý luận của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác - Lênin. Thâm độc hơn, chúng đem đối lập chủ nghĩa Mác- Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó đòi bác bỏ, thủ tiêu, loại bỏ chủ nghĩa Mác- Lênin ra khỏi Việt Nam… Thực chất của những chiêu trò, thủ đoạn này đều nhằm chống phá hệ tư tưởng và lý tưởng cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Phụ họa với các chiến dịch chống phá điên cuồng, bất chấp đạo lý của các thế lực thù địch là hoạt động phá hoại âm thầm, “mưa dầm thấm lâu” của các nhà lý luận, học giả tư sản phối hợp với số đối tượng cơ hội chính trị, “trở cờ”, bất mãn, tiêu cực, hận thù giai cấp ở trong nước. Chúng liên thủ với nhau, sử dụng các chiêu bài tung hứng ca ngợi, tâng bốc mô hình chủ nghĩa tư bản phát triển và chủ nghĩa xã hội dân chủ; bịa đặt, dựng chuyện, phê phán, đả kích, xuyên tạc chủ nghĩa xã hội và mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu trước đây. Đồng thời, tập trung tấn công phê phán, hạ bệ tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo, đóng góp, cống hiến của Đảng Cộng sản Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chủ trương đổi mới, phủ nhận thành quả của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mục đích cuối cùng là hướng lái đất nước và nhân dân ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa xã hội ta hòa nhập với các giá trị phương Tây.

Thế giới ngày nay đang biến đổi hết sức sâu sắc, chấp nhận mâu thuẫn đan xen với nhau và sự tồn tại trong đa dạng, đa văn hóa, đa lợi ích. Sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ số và Internet, mạng xã hội làm cho thế giới xích lại gần nhau hơn; quan hệ dường như không bị ngăn cách, cản trở bởi hàng rào ý thức hệ, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, biên giới địa lý và khoảng cách không gian, thời gian… Từ đó, xuất hiện những chiến dịch “xâm lăng” về văn hóa - tư tưởng, hô hào lấp chỗ trống về tư tưởng - lý luận, cổ xúy lối sống thực dụng và giá trị phương Tây. Bên cạnh đó, các nước lớn đều chú trọng gia tăng ảnh hưởng lợi ích chiến lược, lợi ích an ninh toàn cầu đã gây ra nhiều hệ lụy, nguy cơ làm chệch hướng những giá trị chuẩn mực trên cả phương diện chính trị, tư tưởng, văn hóa, đạo đức và ý thức con người. Nhiều tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ các học thuyết tạp nham phi giai cấp, phi ý thức hệ, phi lý tưởng, phi văn hóa, phi đạo lý truyền thống đã trực tiếp tác động, ảnh hưởng tiêu cực đối với Việt Nam...

Nhận thức đúng đắn tính chất, thực chất và bản chất đối kháng của cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý luận - chính trị là không khoan nhượng, phải hết sức kiên trì, kiên định, thường xuyên, liên tục, sáng tạo, mang tính trí tuệ và tính chiến đấu cao, Đảng ta luôn nêu cao ý thức chính trị và bản lĩnh, lập trường giai cấp, đồng thời xác định và khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc, đề ra những chủ trương, phương châm, biện pháp đấu tranh phù hợp. Cuộc đấu tranh của Đảng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng để bảo vệ nền tảng tư tưởng đã được tổ chức trên phạm vi, quy mô rất rộng lớn, nhất là trên bình diện lý luận gắn với việc làm rõ, từng bước khẳng định, bổ sung những vấn đề mới về công cuộc đổi mới với sự lý giải tường minh, thấu đáo.

Toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đã có sự thống nhất trong nhận thức cũng như hành động, tích cực, chủ động vào cuộc mà lực lượng xung kích, nòng cốt là ngành Tuyên giáo, các cơ quan truyền thông, thông tin, cơ quan nghiên cứu khoa học, lý luận, các ban đảng các cấp; lực lượng Công an, Quân đội và các nhà khoa học, các học giả thuộc chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn. Đã có hàng vạn bài viết các thể loại, hàng nghìn cuốn sách, tài liệu đấu tranh phản bác, vạch trần sự giả dối, xảo biện; phát hiện, ngăn chặn các luận điệu sai trái, độc hại của các thế lực thù địch tấn công phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phá hoại nội bộ. Chúng ta giữ vững được thế trận và chủ động trên mặt trận chính trị tư tưởng; nắm chắc âm mưu chiến lược, chiến thuật, thủ đoạn, chiêu trò, biện pháp cách thức, hình thức, phương tiện chống phá của các loại đối tượng... Đảng luôn vững vàng về mặt chính trị, tuyệt đối không ngả nghiêng dao động, giữ vững vai trò, vị trí lãnh đạo Nhà nước và xã hội; kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, vận dụng sáng tạo, đề ra hệ thống quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới toàn diện đúng đắn và vận hành trong thực tiễn đổi mới thành công, giành được những “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, làm thay đổi căn bản diện mạo, uy tín, vị thế của Đảng và đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Tuy nhiên, trên thực tế, cuộc đấu tranh này cũng gặp những hạn chế, khó khăn bất cập. Trong bối cảnh mới, các thế lực thù địch tăng cường, đẩy mạnh hơn bao giờ hết các chiến dịch, thủ đoạn chống phá từ bên ngoài, phối hợp, câu kết chặt chẽ với các đối tượng phản động, cơ hội chính trị trong nước. Chúng đã lập ra hàng trăm trang website, blog, fanpage, mạng xã hội có máy chủ đặt ở nước ngoài để truyền bá, chuyển tải thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo, đả phá, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống phá chủ nghĩa xã hội ở nước ta, công khai tấn công vào những vấn đề cơ bản của nền tảng tư tưởng của Đảng với lòng căm thù ngút trời của những kẻ thất thế, bại trận, vì lợi ích giai cấp ích kỷ, lợi ích cá nhân.

Bên cạnh đó, có lúc, có nơi, sự hiểu biết của một số người cộng sản, người cách mạng về chủ nghĩa Mác, về chủ nghĩa xã hội thiếu tính hệ thống, toàn diện, chưa thẩm thấu đầy đủ thế giới quan mác-xít, phương pháp luận mác-xít, thậm chí chưa đoạn tuyệt một cách dứt khoát với thế giới quan tư sản nói chung và thế giới quan dân chủ tư sản nói riêng. Cách thức tổ chức, mô hình, phương thức, biện pháp đấu tranh của ta có lúc chưa theo kịp sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình. Lực lượng, trang bị phương tiện tham gia cuộc đấu tranh còn những hạn chế về nhiều mặt, chưa ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên lĩnh vực thông tin, truyền thông.

ĐỔI MỚI LUÔN PHẢI TỈNH TÁO KHÔNG ĐƯỢC NGỦ QUÊN

 


Hiện nay, trước tác động mạnh mẽ của tình hình thế giới và khu vực, đặc biệt là cuộc xung đột quân sự Nga – Ucraina, đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề mới đối với sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, nhất là sự an nguy của quốc gia – dân tộc Việt Nam. Vì vậy mà quá trình đổi mới phải luôn tỉnh táo để nhận diện đúng và kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch; ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đập tan âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội; “phi đảng hóa” các tổ chức chính trị – xã hội của các loại “giặc ngoại xâm và nội xâm”. “Không ngủ quên” trên chiến thắng, không bao giờ mắc mưu của địch

Đây là vấn đề cấp thiết, cấp bách, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia – dân tộc Việt Nam; cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của Nhân dân.