Thứ Ba, 6 tháng 6, 2023

Nhận diện thông tin xấu, độc

 


Về nội dung và bản chất, có thể nhận diện: Thông tin xấu, độc tán phát trên Internet và mạng xã hội là những thông tin bịa đặt, bóp méo sự thật, xuyên tạc vấn đề, “đổi trắng, thay đen”, lẫn lộn đúng sai, thật giả hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng những luận điệu thù địch.

Việt Nam là một trong những nước có số lượng người sử dụng Internet rất lớn. Theo số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến cuối năm 2022, số người dùng Internet tại Việt Nam vào khoảng 72 triệu người, chiếm trên 73% dân số cả nước. Ở nước ta có hơn 65 triệu tài khoản mạng xã hội, chiếm khoảng 2/3 dân số, người dùng Việt Nam dành trung bình 7 giờ mỗi ngày để tham gia các hoạt động liên quan đến Internet, mạng xã hội.

Ðiều đó cho thấy, hiện nay Internet, mạng xã hội đã thâm nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống xã hội. Với nhiều nguồn thông tin khác nhau, bên cạnh những thông tin tích cực, đúng đắn vẫn có nhiều thông tin giả, bịa đặt, xuyên tạc, thù địch, phản động... được các thế lực thù địch dàn dựng, tán phát dưới nhiều hình thức nhằm chống phá chế độ ta, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức, thái độ, lối sống của người tiếp xúc với thông tin, gây hoang mang, dao động, hoài nghi vào sự lãnh đạo của Ðảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những thủ đoạn mà chúng thực hiện thông qua các hình thức chủ yếu sau:

Thứ nhất, lợi dụng quyền “tự do ngôn luận” và chiêu bài “dân chủ”, các thế lực thù địch sử dụng Internet, mạng xã hội để đăng tải, tán phát những thông tin chống phá nền tảng tư tưởng của Ðảng và của cách mạng Việt Nam, hòng phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tăng cường loan tin vu cáo, bôi nhọ nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Ðảng và Nhà nước; xuyên tạc tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam, phủ nhận những thành tựu của sự nghiệp đổi mới; xuyên tạc lịch sử dân tộc; xuyên tạc đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, đường lối bảo vệ Tổ quốc và đường lối đối ngoại của Ðảng; tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, để lôi kéo, kích động xu hướng ly khai, tự trị.

Thứ hai, chúng thành lập các diễn đàn, hội, nhóm thông qua việc thành lập các trang web, Blog, Facebook… liên kết với nhau để tổng hợp, thu thập tin tức từ các nguồn báo chí chính thống và phi chính thống. Khi đã thu hút được một số lượng công chúng truy cập thường xuyên, chúng cài dần các thông tin xấu, độc theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ, qua đó những luận điệu sai trái, xuyên tạc cũng sẽ tăng dần. Chính vì thế, nhiều người truy cập mạng nếu không tỉnh táo thì rất dễ dàng “mắc mưu”, dẫn đến bị dẫn dắt và bị động trong việc tiếp nhận thông tin xấu, độc trên các trang mạng và các diễn đàn mà chúng lập ra.

Thứ ba, chúng xây dựng các video clip có kịch bản công phu, bài bản, lời lẽ sắc bén đăng tải trên TikTok, YouTube, Facebook… nhằm tạo “trend” để thu hút nhiều lượt tương tác, chia sẻ, từ đó cài cắm những thông tin xấu, độc vào đó. Nếu tiếp cận nhiều lần, thường xuyên, ở nhiều bối cảnh khác nhau mà không “gặp được” những thông tin phản bác đầy đủ, thuyết phục, người tiếp cận sẽ rất dễ “bị nhiễm” và dần tin theo hoặc vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch.

Thứ tư, thông qua Internet, mạng xã hội, chúng đăng tải, tán phát những bộ phim, chương trình ca nhạc, vui chơi giải trí… nhằm thực hiện hành động “xâm lăng văn hoá” để áp đặt các giá trị văn hoá và lối sống “lai căng”, phá hoại bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam. Ðồng thời, chúng truyền bá lối sống ích kỷ, vụ lợi, xa hoa, truỵ lạc, bạo lực, bất chấp pháp luật; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và xã hội.

          V3.

Một số giải pháp cần tập trung thực hiện để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời gian tới

 


Trước yêu cầu, nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận, đồng thời để khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp:

Thứ nhất, bảo đảm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng, nâng cao nhận thức của người đứng đầu cấp ủy ở các cấp, các ngành về tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã đề ra.

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, ý thức chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân, hình thành ý thức tự giác, thúc đẩy hành động tích cực trong việc bảo vệ, đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ ba, nhận diện và phân loại từng đối tượng, trên cơ sở xem xét ở nhiều mặt như động cơ, vai trò, nội dung các luận điệu, mức độ tác động… để đưa ra biện pháp đấu tranh thích hợp và có hiệu quả; tránh tình trạng hoặc xử lý thiếu kiên quyết, không triệt để hoặc cực đoan, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá.

Thứ tư, tăng cường các giải pháp về kỹ thuật, nghiệp vụ để ngăn chặn, sàng lọc, làm loãng, quản lý thông tin nhằm chủ động ngăn chặn sự lan truyền những luận điệu sai trái, thù địch và các trang mạng xấu, độc; xây dựng hệ bài viết có nội dung đấu tranh sắc bén và giàu tính chiến đấu, từng bước giành thế chủ động trên không gian mạng. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, sắp xếp, kiện toàn bộ máy chỉ đạo, nhóm chuyên gia, lực lượng nòng cốt (từ Trung ương đến địa phương), đổi mới mô hình và phương thức hoạt động; đặc biệt, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng, các cấp, các ban, ngành và phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ năm, đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc, phản động phải đi liền với việc khẳng định và phát triển các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh; với việc rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, chú trọng nghiên cứu, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên những vấn đề lớn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta qua hơn 35 năm đổi mới dưới sự soi sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh là minh chứng đanh thép, sống động và thuyết phục nhất để phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, đồng thời khẳng định giá trị, tính đúng đắn, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

          V3.

Kiên quyết đấu tranh, phản bác thông tin xấu, độc

 


Công tác đấu tranh, phản bác những thông tin xấu, độc trên Internet, mạng xã hội trong giai đoạn hiện nay được xem là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và quần chúng Nhân dân. Ðể thực hiện tốt nhiệm vụ trên, cần tập trung vào một số nội dung sau:

Một là, cấp uỷ, chính quyền các cấp tăng cường tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, cung cấp thông tin, kiến thức, kỹ năng liên quan đến công nghệ thông tin, quản lý và xử lý thông tin cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân - với tư cách “công dân mạng” có thể nhận thức, nhận diện thông tin xấu, độc, hiểu rõ đúng - sai. Một khi đã có “sức đề kháng” và “vắc xin” miễn nhiễm trước những thông tin xấu, độc thì mỗi công dân mạng sẽ có nhãn quan chính trị, ý thức tự giác phòng chống và chủ động đấu tranh, bác bỏ các thông tin xấu, độc đó.

Hai là, tiếp tục triển khai, quán triệt, tuyên truyền sâu rộng đến cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân về Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị; làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Ba là, cấp uỷ, chính quyền các cấp tập trung chỉ đạo, vận động, hướng dẫn cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân đẩy mạnh ứng dụng các phương tiện truyền thông, Internet, mạng xã hội vào đời sống; truy cập, theo dõi, tương tác với trang Fanpage của Ban Chỉ đạo 35 các cấp và các trang mạng chính thống để cập nhật, tương tác, chia sẻ, lan toả những thông tin, khẳng định tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những thành tựu của công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Ðảng; những gương điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt với phương châm “Lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, lấy thông tin tích cực để đẩy lùi thông tin tiêu cực.

Bốn là, các ngành, các cấp thường xuyên nắm bắt tình hình dư luận xã hội, chủ động phát hiện, ngăn chặn, “pha loãng” những thông tin xấu, độc; kịp thời dẫn dắt, định hướng thông tin và đưa ra những biện pháp giải quyết phù hợp. Bên cạnh đó, tăng cường đào tạo đội ngũ nòng cốt; nâng cấp, đầu tư công nghệ hiện đại phục vụ công tác chuyên môn của ngành chức năng; kiên quyết đấu tranh, xử lý theo quy định của pháp luật đối với những tổ chức, cá nhân đưa thông tin sai sự thật, xấu, độc trên Internet, mạng xã hội.

Với sự phát triển và thâm nhập ngày càng sâu rộng của Internet, mạng xã hội như hiện nay thì việc mỗi “công dân mạng” nâng cao ý thức cảnh giác, chủ động nhận diện và đấu tranh, phản bác trước những thông tin xấu, độc là việc làm vô cùng cần thiết và cấp bách. Từ đó, phát huy những mặt tích cực, ngăn ngừa những tác động tiêu cực, xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh, góp phần ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Ðảng./.

          V3.

Không thể phủ nhận vai trò, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam

 


Trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị ráo riết gia tăng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta nhằm chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gây mất ổn định chính trị - xã hội, tạo cớ can thiệp, kích động bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm, lợi dụng sự phát triển của internet, các phương tiện truyền thông xã hội để xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận sự thật. Cụ thể, khi nói, viết và phát tán các luận điệu chống phá, chúng cho rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều”, “là sự sao chép máy móc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, không phù hợp với thực tiễn hiện nay, bởi thế, cần từ bỏ để “kịp đi với con đường chung mà thế giới hiện nay đang đi” - con đường tư bản chủ nghĩa (!?). Các thế lực thù địch, phản động còn tìm mọi cách đả kích, bôi nhọ tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân..., đi đến phủ nhận vai trò, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam trong lịch sử, hiện tại và tương lai.

Những luận điệu trên của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị là những tiếng nói lạc lõng, ngụy biện, xảo trá, phản động, vô căn cứ. Bởi vì, họ không hiểu hoặc cố tình không hiểu rằng, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh “đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc”.

Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự lựa chọn của lịch sử, dân tộc Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng xã hội mới không có áp bức, bóc lột, bất công.

Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX, phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai phong kiến liên tiếp nổ ra trên khắp mọi miền đất nước. Tuy nhiên, do không có một đường lối cách mạng đúng đắn và phương pháp cách mạng thích hợp, nên tất cả các phong trào nổi dậy, các cuộc khởi nghĩa mang sắc thái giai tầng khác nhau đều bị thất bại.

Trong sự bế tắc, khủng hoảng về đường lối cách mạng, đã xuất hiện một người con ưu tú, kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử, đó chính là Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và vượt qua tư duy lối mòn của các nhà yêu nước tiền bối, Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, nô dịch - con đường cách mạng vô sản. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Sự lựa chọn con đường cách mạng của Người phù hợp với yêu cầu của lịch sử dân tộc, là sự lựa chọn đúng đắn duy nhất của Việt Nam vào thời điểm cách mạng đó. Ngày 3-2-1930, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đáp ứng yêu cầu tất yếu của lịch sử.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng, làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt lịch sử dân tộc, đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã khẳng định tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc bị áp bức trên thế giới vì độc lập, tự do và phẩm giá con người. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc và đất nước không tách rời giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự hội tụ của mạch ngầm dòng chảy của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập, tự cường, tự tôn dân tộc; lòng khát khao tự do, hạnh phúc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng, xã, Tổ quốc của dân tộc Việt Nam được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh khơi dậy mạnh mẽ trong thời đại mới.

Tiếp nối thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam quyết chí, bền lòng với một ý chí sắt đá “đánh nhau có hy sinh, có gian khổ, nhưng bền gan, vững chí thì cuối cùng ta nhất định thắng, địch nhất định thua” cùng tinh thần quyết tử “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, theo một phương châm nhất quán: “Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Còn thực dân phản động Pháp thì mong ăn cướp nước ta, mong bắt dân ta làm nô lệ. Vậy ta là chính nghĩa, địch là tà. Chính nhất định thắng tà); trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dù cuộc “chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!.

Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lập nên kỳ tích Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; đưa đến ký kết Hiệp định Genève vào năm 1954, lập lại nền độc lập, hòa bình ở Việt Nam. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, ra sức đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho miền Nam; miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Toàn thể dân tộc Việt Nam “giương cao mãi mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước để thỏa lòng mong ước của Người. Với quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam một lần nữa anh dũng chiến đấu, lập nên chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Tiếp đến là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, sau cuộc trường chinh kéo dài suốt 30 năm, Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang trọn vẹn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, ghi vào lịch sử mốc son chói lọi như lời Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc đi xa: “Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng 2 đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”.

Thứ hai, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam dẫn dắt soi đường cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

Sau 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước (1975 - 1986), dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ sâu thẳm mệnh lệnh trái tim của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta “đổi mới hay là chết”, Đảng ta đã khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước. Song, đổi mới như thế nào, con đường, cách thức ra sao là những câu hỏi đặt ra trong thời điểm đó. Đại hội VI (tháng 12-1986) của Đảng nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng ta chỉ rõ phải: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh” và khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991): “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”. Sự khẳng định đó cho thấy vai trò to lớn, giá trị lịch sử và ý nghĩa hết sức quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam trước đây, cũng như đối với công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay; thể hiện bước phát triển mới trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng ta, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời, bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh phản bác những những luận điệu sai trái, phản động, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tại Đại hội IX (tháng 4-2001), Đảng ta lần đầu tiên nêu định nghĩa về tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”. Đặc biệt, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI (tháng 1-2021) của Đảng, tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động… Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là di sản tư tưởng và lý luận vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh.

“Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, tại Đại hội XIII (tháng 1-2021) của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới”(14). Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế mà chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước. Trong khi đó, “Các thế lực thù địch chống phá ngày càng quyết liệt. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều thách thức”. Vì vậy, “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị vô cùng to lớn đối với cách mạng Việt Nam, mà còn có giá trị to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới.

Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là sản phẩm của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam, mà còn là sản phẩm của thời đại, của nhân loại tiến bộ. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã bắt kịp nhu cầu khát vọng của thời đại; tìm ra con đường đấu tranh tự giải phóng cho các dân tộc thuộc địa; có sức cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả giải phóng con người.

Vấn đề trên được thể hiện ở cả phương diện lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới hết sức sinh động. Cụ thể là, ngay những năm 20 của thế kỷ XX, trong quá trình hình thành, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện khát vọng chung của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Những nhận thức sâu sắc và độc đáo về mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản phản ánh khát vọng độc lập, tự do của các dân tộc trên thế giới trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức đúng sự biến chuyển của thời đại, đặt cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa vào phạm trù cách mạng vô sản và hoạt động không mệt mỏi cho phong trào cách mạng thế giới. Người kiên quyết bảo vệ và phát triển quan điểm của V. I. Lê-nin về khả năng to lớn và vai trò chiến lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa đối với cách mạng vô sản. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, giành độc lập dân tộc để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người nhận thức sâu sắc về mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Đồng thời, Người chỉ rõ tầm quan trọng đặc biệt của độc lập dân tộc trong tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội, về tính tự thân vận động của công cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc, về khả năng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Khẳng định bài học chung của các dân tộc, Người nhấn mạnh, “... trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới…, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi” . 

Tư tưởng Hồ Chí Minh và cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú đầy nhiệt huyết của Người là một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Hai tiếng “Việt Nam - Hồ Chí Minh” đã vang lên ở nhiều nước trên thế giới, là nguồn cổ vũ bất tận, động viên các dân tộc thuộc địa bị áp bức, đứng lên đấu tranh giành nền độc lập, đòi quyền sống, quyền làm người, quyền mưu cầu hạnh phúc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi mãi là chân lý sáng ngời, góp phần vào sự phát triển của nhân loại. Tôn vinh Người và giá trị tư tưởng của Người, năm 1987, Khóa họp Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông qua nghị quyết tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Trong lòng nhân dân thế giới, Chủ tịch Hồ Chi Minh là bất tử, tư tưởng của Người còn sống mãi. Bạn bè năm châu khâm phục và coi Người là biểu tượng cao đẹp của những gì thuộc về lương tri và phẩm giá làm người. Ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới Romesh Chandra đã viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”.

Sự nghiệp đấu tranh cách mạng và công cuộc đổi mới của Việt Nam thực hiện theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đã và đang cổ vũ cuộc đấu tranh chung của nhân loại tiến bộ vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Đó cũng chính là minh chứng sinh động và thuyết phục nhất khẳng định giá trị vĩ đại, sức sống trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời tự nó phản bác và đập tan những luận điệu xuyên tạc về tư tưởng của Người, đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thể kỷ qua” và “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi”./.

          V3.

Một số giải pháp đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”

 


Thứ nhất, phân loại các đối tượng là chỗ dựa của các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 

Các lực lượng phản động, thù địch: gồm lực lượng cực hữu ở một số nước phương Tây, lực lượng cực hữu người Việt Nam ở ngoài nước và những cá nhân người Việt Nam ở trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi dụng để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam.

Các lực lượng khác bao gồm những người nghiên cứu lý luận, hoạt động chính trị đảng phái tại một số nước phương Tây và cả những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam. Cuộc đối thoại, đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản không chỉ diễn ra trên phạm vi thế giới, mà ngay tại Việt Nam hiện nay. Trong đó phải coi trọng đấu tranh với những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng chính trị, trong đó gồm cả cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây thực chất là những đối tượng thù địch “giấu mặt” đóng vai “phái giữa” nên có sức nguy hại rất lớn, vì họ “đánh từ trong đánh ra” theo kiểu “người của ta”, gián tiếp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “chệch hướng” nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ nội bộ. 

Thứ hai, chú trọng hóa giải các âm mưu, thủ đoạn chống phá chủ yếu trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền.

Đối với các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn về QCN và lợi dụng các hiệp định, dự án hợp tác với nước ngoài nhằm phá hoại và làm chệch hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam: Cán bộ, đảng viên phải ý thức rõ trách nhiệm trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi danh dự và uy tín của Đảng không thể tách rời danh dự, uy tín của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong sinh hoạt hằng ngày, khi giao tiếp với mọi người thuộc nhiều thành phần trong xã hội, không thể không nghe những ý kiến về sự lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý, điều hành xã hội của Nhà nước. Mỗi cán bộ, đảng viên cần chủ động nhìn cho đúng bản chất của từng sự việc để đấu tranh, phê phán, phản bác với các luận điệu sai trái, thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Đối với các hoạt động kích động, xuyên tạc vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam, phải tập trung vạch trần âm mưu, luận điệu xuyên tạc, kích động về cái gọi là “chính sách bảo đảm trên hình thức và chính sách không bảo vệ, không bảo đảm trong thực tế” thông qua  “cơ chế xin - cho” nhằm tạo lập các “tôn giáo quốc doanh” của các thế lực phản động, thù địch.

Đối với các hoạt động kích động, xuyên tạc Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, tự do hội họp: Các luận điểm phản bác cần căn cứ vào luật pháp Việt Nam và luật pháp của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có các nước phương Tây, coi tự do ngôn luận không phải là một quyền tuyệt đối, mà bị chế ước bởi pháp luật, đạo đức, dư luận xã hội.

Thứ ba, thực hiện các giải pháp liên ngành nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ

Cần tách các bộ phận tiến hành công tác tư tưởng thành một cơ quan độc lập để thực hiện đồng bộ các khâu của quy trình công tác tư tưởng và bám sát thực tiễn luôn luôn biến động của cuộc sống. Tiếp tục kiện toàn việc xây dựng lực lượng chuyên trách theo hướng tinh gọn, đủ mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị: Ban hành cơ chế tuyển chọn những cán bộ làm công tác tư tưởng thực sự tiêu biểu về lý luận chính trị, thuần thục các kỹ năng truyền thông, thông tin hiện đại. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ, phù hợp, phân rõ trách nhiệm cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp; vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp trong đối thoại, đấu tranh trong lĩnh vực tư tưởng.

Cách thức tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hữu hiệu nhất là: Nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, tăng cường khắc phục tác động tiêu cực của kinh tế thị trường kết hợp với tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ theo nguyên tắc dựa vào dân, gắn bó mật thiết với nhân dân nhằm củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân.

Các tỉnh ủy, thành ủy, các ban đảng và cấp ủy các cấp xây dựng nghị quyết, kế hoạch, chỉ thị về lãnh đạo đấu tranh tư tưởng thông qua hai loại nghị quyết: nghị quyết lãnh đạo theo nhiệm kỳ, hằng năm, hằng quý, là nghị quyết lãnh đạo chung, trong đó có nội dung lãnh đạo công tác đấu tranh tư tưởng; nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo công tác đấu tranh tư tưởng. Trên cơ sở đó lãnh đạo triển khai, thực hiện nghị quyết, kế hoạch về lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, như phát huy vai trò của chính quyền, các đoàn thể chính trị  - xã hội và thường xuyên kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm đấu tranh tư tưởng. Những điển hình tốt, những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế là cơ sở để cấp ủy xây dựng nghị quyết, kế hoạch về lãnh đạo đấu tranh tư tưởng chính trị nhằm thu được thắng lợi lớn hơn.

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin điện tử tuyên giáo (VCNET): Cần nghiên cứu, đưa vào khai thác sử dụng các phần mềm phục vụ kiểm soát, phân loại thông tin tích cực, tiêu cực trên internet, mạng xã hội liên quan đến cơ quan, đơn vị; cảnh báo luồng dư luận quan tâm và nguy cơ xảy ra biểu tình ở các “điểm nóng”; phát triển rô-bốt mạng tham gia các chiến dịch truyền thông chủ động (phát tán nhiều thông tin tích cực; pha loãng, làm phân tán luồng thông tin tiêu cực, xấu, độc), nhất là ở các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông.

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện mạng lưới cộng tác viên công tác tư tưởng chính trị trong Đảng và trong xã hội: Cần xây dựng đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã hội về tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân; và tăng cường phối hợp giữa các cấp, ngành, đoàn thể, nhất là các hội viên công tác xã hội về tư tưởng tại địa phương nhằm đổi mới công tác quản lý, giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ này để họ tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tích cực học tập đường lối, chủ trương của Đảng. Đối với chính quyền, cần đưa công tác thông tin, tuyên truyền thành truyền thông chính sách và quan hệ công chúng, nhằm huy động đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia vào tất cả các khâu của chu trình chính sách, pháp luật và phản hồi ý kiến, đánh giá của người dân để hoàn thiện chính sách, pháp luật./.

          V3.

Đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền

 


Các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền thường xuất hiện ở một số cán bộ, đảng viên trước kia hoạt động cách mạng hoặc trước đây hay đang công tác trong cơ quan Đảng, Nhà nước, nhưng vì lý do nào đó (tham nhũng, tiêu cực, sa đọa về đạo đức, lối sống, bất mãn, ảo tưởng bản thân, bị các thế lực chống đối mua chuộc, lung lạc,...) đã quay lại nói xấu Đảng, Nhà nước và xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử của Đảng, của đất nước, của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) hoặc phụ họa cùng với các thế lực phản động, thù địch; và ở mức độ khác nhau trực tiếp xuyên tạc, công kích, chống đối công tác tư tưởng chính trị của Đảng trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền.

Các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, về tư tưởng, chính trị: Mặc dù nhiều khi mang danh mơ hồ, lưng chừng, “phái giữa” tư tưởng tư sản và tư tưởng XHCN, song các biểu hiện này thực chất là hệ tư tưởng tư sản. Nội dung có tính bản chất của loại biểu hiện này là: Quan niệm một cách phiến diện, thậm chí tuyệt đối hóa quyền cá nhân; coi nhẹ quyền của tập thể, của dân tộc và chủ quyền quốc gia; coi nhẹ tính bình đẳng của các chủ thể quyền và các nội dung quyền, nhất là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, vốn chiếm vị trí cơ bản và là yêu cầu có tính bức thiết đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Về mặt chính trị, đây là biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc về văn hóa, coi tư tưởng nhân quyền phương Tây mang tính phổ quát toàn nhân loại, thậm chí cao hơn chủ quyền quốc gia.      

Các biểu hiện này dao động hoặc mơ hồ, lưng chừng nằm giữa hai loại hình giá trị tư tưởng XHCN và tư sản về dân chủ và nhân quyền. Nó cho thấy, loại biểu hiện này không có giới tuyến địch - ta rõ ràng, mà nằm ngay trong nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên, trong mỗi tổ chức đảng và chính trị - xã hội. Vì thế nhân dân, trước tiên là mỗi cán bộ, đảng viên, đều là chủ thể đấu tranh với các biểu hiện này. Trong phương thức đấu tranh với các biểu hiện này cần coi trọng cách thức, phương pháp, biện pháp tư tưởng chính trị, như truyền thông, vận động nhằm nâng cao nhận thức, tích cực phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và coi trọng cách thức kết hợp đấu tranh với đối thoại hay ngược lại.

Thứ hai, về mục đích hoạt động: Các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường hùa theo các thế lực phản động, thù địch trong việc: Tuyên truyền xuyên tạc, kích động, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn về quyền con người (QCN) để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; tiến hành các hoạt động chống phá thực tiễn bảo đảm QCN trên tất cả lĩnh vực: kinh tế, tôn giáo, dân tộc, thông tin, truyền thông, giáo dục, đào tạo, văn hóa - nghệ thuật, tư pháp,... kể cả hợp tác quốc tế, nhằm thúc đẩy sự chệch hướng XHCN của sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Tuyên truyền, ca ngợi các giá trị của nhân quyền tư sản nhằm kích động, cổ vũ việc phân hóa, chuyển hóa tư tưởng chính trị XHCN, đồng thời thúc đẩy “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” sang tư tưởng nhân quyền tư sản, trước tiên trong nội bộ Đảng, Nhà nước. Tạo dựng “ngọn cờ” về nhân quyền thông qua việc tuyên truyền, ca ngợi nhiều nhân vật chống đối nhằm kích động hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong và ngoài nước và tìm cách xác lập cơ chế “đa nguyên, đa đảng” trong thực tế ở nước ta.

Thứ ba, về chủ trương chống phá: Các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường phụ họa với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch về lấy chống phá chính trị, tư tưởng làm khâu đột phá; dùng sự suy thoái về đạo đức, lối sống để hỗ trợ, hậu thuẫn; lấy mua chuộc kinh tế làm mũi nhọn; lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ. Họ cũng thường phụ họa, xuyên tạc, thậm chí lu loa kích động rằng: Đảng không thể chống tham nhũng thành công, vì chế độ độc đảng sẽ thủ tiêu đấu tranh; muốn chống tham nhũng thành công thì phải mở rộng dân chủ, thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; chia sẻ trên các phương tiện truyền thông xã hội những bài viết có nội dung xuyên tạc, phỉ báng Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN ở nước ta; nói xấu, xúc phạm lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên tạc, bôi nhọ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chê bai quản lý yếu kém, tham nhũng; bịa đặt, suy diễn thiếu căn cứ gây hiểu lầm, hoang mang trên cộng đồng mạng và trong nhân dân hòng làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ,... Trên thực tế ở nơi này, nơi khác, có một số đảng viên vẫn còn sinh hoạt đảng, lại đi phê phán đường lối, chủ trương của Đảng là thiếu căn cứ. Cá biệt, còn có người nói rằng, còn ở trong Đảng là vì quyền lợi chính trị của gia đình mình, chứ thật tình không thiết tha với lý tưởng của Đảng.

Thứ tư, về phương thức chống phá: Các thế lực phản động, thù địch với sự phụ họa của các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường sử dụng truyền thông đại chúng, đặc biệt là internet, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam, xuyên tạc, kích động về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Chúng lợi dụng các sai sót trong quản lý để xuyên tạc, kích động biểu tình trái phép; tổ chức các hội thảo để xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử, tuy âm thầm, nhưng thâm độc và tác hại lâu dài. Các thế lực phản động, thù địch dùng chiêu bài “mớm lời”, “rắc thính”, kích động để gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, làm suy thoái về tư tưởng, chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; chúng tập trung xuyên tạc cái gọi là: nhân quyền gắn với xã hội tư sản, còn QCN là quyền tập thể gắn với chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh chỉ tiếp thu chủ nghĩa Mác  - Lê-nin chứ không có tư tưởng “cao siêu”, thậm chí còn không đề cập đến tư tưởng về nhân quyền, xã hội công dân trong tư tưởng thời trẻ của C.  Mác, Ph. Ăngghen (!?),....

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, các thế lực phản động, thù địch tăng cường móc nối, cấu kết với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ra sức xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, với ý đồ làm lung lay nhận thức, niềm tin của nhân dân vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng; lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc sự thật đổi mới theo định hướng XHCN,....

Thời điểm các thế lực phản động, thù địch với sự phụ họa của các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường xuyên tạc, kích động, chống đối là vào những dịp, những sự kiện lớn, như đại hội đảng các cấp, toàn quốc, các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, dịp kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.... Chẳng hạn về bầu cử, luận điệu nói xấu, kích động của các thế lực phản động, thù địch với sự phụ họa, xuyên tạc, kích động của các cán bộ, đảng viên có biểu hiện  “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” rêu rao rằng, bầu cử ở nước ta chỉ là hình thức, không minh bạch, không dân chủ (!?); phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử; bịa đặt, tung tin sai sự thật về công tác nhân sự; kích động, kêu gọi người dân không tham gia bầu cử; lợi dụng việc “tự ứng cử” để gây rối; kêu gọi cử tri “tẩy chay bầu cử”, “không đi bỏ phiếu”, “bỏ phiếu trắng”,... nhằm thực hiện ý đồ tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử thấp. Hơn thế nữa, thông qua đó, các thế lực phản động, thù địch, với sự phụ họa, xuyên tạc, kích động của các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, muốn phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phục vụ cho các âm mưu, hoạt động chống phá của chúng. Còn vào dịp kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoạt động chống phá của các thế lực phản động, thù địch là nhằm hạ thấp ý nghĩa to lớn của chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Cán bộ, đảng viên là những người tiên phong đưa Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị vào cuộc sống, vào thực tiễn đấu tranh tư tưởng trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Trước hết, họ là những người phải quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, góp phần xây dựng thành nghị quyết, kế hoạch thực hiện tại tổ chức, đơn vị của mình. Họ cũng là những người trực tiếp tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục quần chúng, xây dựng nhận thức đúng đắn cho mình và cho quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, trong đó có lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Họ cũng là những người trực tiếp, thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, phê phán những suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sai trái, lệch lạc; chấn chỉnh những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Đó là cơ sở để cán bộ, đảng viên được phân công làm nhiệm vụ nòng cốt, chuyên trách đấu tranh tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, góp phần củng cố hệ tư tưởng của Đảng nói chung, phát huy tài năng và trí tuệ của mình vào thực tiễn đấu tranh tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống hằng ngày; từ đó chủ động, tích cực góp phần hoàn thành các mục tiêu đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền mà Nghị quyết số 35-NQ/TW đề ra.

          V3.