Thứ Ba, 6 tháng 6, 2023

 

Giải pháp tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường chính trị

(LLCT) - Nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ quan trọng của đội ngũ giảng viên các trường chính trị. Trước yêu cầu nâng cao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy đòi hỏi cần có những giải pháp cụ thể, thiết thực tăng cường tính chuyên môn của công tác này. Từ thực trạng công tác nghiên cứu khoa học của Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học, trong đó hoạt động báo cáo chuyên đề có ý nghĩa then chốt.


Từ khóa: nghiên cứu khoa học, báo cáo chuyên đề.

Trong những năm qua, Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường đã ban hành nhiều văn bản quy định cụ thể về thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tế, tổng kết thực tiễn ở địa phương, cơ sở. Từ năm 2010 đến nay, hoạt động nghiên cứu khoa học về tổng kết thực tiễn địa phương của đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường đã đạt nhiều kết quả tích cực:

Thực hiện sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu về thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, tất cả đội ngũ cán bộ, giảng viên tích cực thực hiện đề tài khoa học các cấp, tham gia hội thảo khoa học ở phạm vi trong và ngoài tỉnh, tổ chức tọa đàm ở cơ sở... nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị của Trường, của địa phương. Cán bộ, giảng viên nhà trường đã đăng ký, triển khai nghiên cứu và bảo vệ thành công 1 đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh và được hỗ trợ từ ngân sách nghiên cứu khoa học của tỉnh (đề tài: Nghiên cứu biên soạn chuyên khảo về địa phương học Đồng Tháp, 2010), để làm tài liệu cho giảng viên soạn giáo trình giảng dạy trong chương trình Trung cấp chính trị - hành chính và cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng; học sinh trung học phổ thông; nhân dân trong tỉnh và những người quan tâm đến Đồng Tháp. Ngoài ra, Trường đang tiến hành thực hiện Đề tài: Những nhân tố ảnh hưởng đến sự vận động của hệ thống chính trị các cấp ở Tỉnh Đồng Tháp.

Trong thời gian qua, cán bộ và giảng viên các phòng, khoa của Trường đã tích cực triển khai, thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học và đưa vào ứng dụng 4 đề tài khoa học cấp cơ sở.

Hoạt động nghiên cứu thực tế của cán bộ, giảng viên được tổ chức, tiến hành và duy trì thường xuyên. Thông qua nghiên cứu thực tế đã giúp cho cán bộ, giảng viên nắm bắt được tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa ở địa phương, các kỹ năng xử lý tình huống nảy sinh trong thực tế. Nhiều giảng viên chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện nghiêm túc việc nghiên cứu thực tế ở cơ sở.

Hàng năm, Ban Giám hiệu đã chỉ đạo Phòng Quản lý đào tạo - nghiên cứu khoa học phối hợp với các phòng, khoa nhà trường và các đơn vị, sở, ban, ngành đoàn thể trong tỉnh tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học. Nội dung, chủ đề của các hội thảo tập trung bám sát chức năng, nhiệm vụ nhà trường, các sự kiện lịch sử của đất nước, thực tiễn đời sống xã hội ở địa phương nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra, cung cấp những luận cứ khoa học, bổ sung kiến thức lý luận, thực tiễn vào bài giảng cho đội ngũ giảng viên.

Viết bài đăng báo và xuất bản Nội san là hoạt động khoa học quan trọng, thường xuyên của cán bộ, giảng viên của nhà trường nhằm công bố kết quả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, qua đó trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, nâng cao khả năng nghiên cứu tổng hợp, gắn lý luận với thực tiễn. Đảng uỷ, Ban Giám hiệu nhà trường luôn chỉ đạo thực hiện viết bài, biên tập, in và phát hành Nội san nhân dịp kỷ niệm các ngày Lễ, sự kiện chính trị hàng năm. Các bài viết đã phản ánh khá toàn diện kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và các hoạt động, lĩnh vực công tác của nhà trường và của địa phương.

Đồng thời, cán bộ, giảng viên của nhà trường thường xuyên viết bài đăng các báo, tạp chí ở Trung ương và địa phương như: Tạp chí Lý luận chính trị, Tạp chí Xây dựng Đảng, Thông tin công tác các trường chính trị, Thông tin khoa học và công nghệ tỉnh Đồng Tháp... Ngoài ra, cán bộ, giảng viên của nhà trường tham gia viết trên 185 bài trên Website Trường...

Tuy nhiên, trong những năm qua, công tác nghiên cứu khoa học của Trường vẫn còn không ít khó khăn, hạn chế như:

Hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn tại Trường chưa đạt được hiệu quả, số lượng công trình nghiên cứu khoa học các cấp chưa nhiều; Năng lực nghiên cứu của một số giảng viên còn hạn chế, như ít tham gia thực hiện đề tài khoa học, viết bài tham luận, bài đăng trên tạp chí và ngại đi nghiên cứu thực tế...

Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế là: Thứ nhất, một số giảng viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học. Số giảng viên có khả năng và kinh nghiệm nghiên cứu đa phần là lãnh đạo, quản lý đơn vị nên quỹ thời gian dành cho nghiên cứu thường không nhiều; các giảng viên trẻ có tâm huyết, đam mê nghiên cứu nhưng chưa có kinh nghiệm nên phần nào ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu khoa học; Thứ hai, thiếu tính năng động, chủ động trong việc tìm kiếm các thông tin liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học; Thứ ba, kinh phí dành cho công tác nghiên cứu khoa học tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng chưa tương xứng với chất xám vì tính chất của hoạt động nghiên cứu khoa học.

Từ thực tiễn, để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học về tổng kết thực tiễn của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Chính trị, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường phải bám sát sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, công tác nghiên cứu khoa học. Để có cơ sở định hướng công tác nghiên cứu khoa học về tổng kết thực tiễn ở địa phương đạt hiệu quả hơn.

Hai là, nhà trường cần tăng cường công tác phối hợp với các sở, ban ngành, các đoàn thể, các huyện, thành phố đối với hoạt động nghiên cứu khoa học. Khuyến khích giảng viên nêu ý tưởng, đề tài nghiên cứu, chủ đề hội thảo khoa học để góp phần phục vụ trực tiếp, hiệu quả cho công tác đào tạo, bồi dưỡng, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương.

Ba là, để nâng cao chất lượng khoa học của đề tài khoa học các cấp, những bài báo cáo thực tế, tham luận hội thảo, bài báo khoa học, đề xuất mô hình “báo cáo chuyên đề” trong hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường. Cụ thể: Đầu năm học, trưởng đơn vị (khoa, phòng của trường) xây dựng kế hoạch sinh hoạt chuyên môn, phân công giảng viên báo cáo chuyên đề theo từng tháng - việc phân công cần căn cứ vào lĩnh vực nghiên cứu, chuyên môn của giảng viên hoặc để giảng viên đăng ký chuyên đề báo cáo. Khi họp chuyên môn hàng tháng, giảng viên được phân công có nhiệm vụ:

Bước 1 (B1): Từ ngày 1 - 5 hàng tháng, người được phân công báo cáo gửi chuyên đề đến các thành viên trực thuộc đơn vị để đọc và nghiên cứu. Người được báo cáo chuyên đề cần chuẩn bị kỹ lưỡng và viết chuyên đề báo cáo dưới dạng 1 bài báo khoa học.

Bước 2 (B2): Từ ngày 6 - 14 hàng tháng thực hiện tổ chức góp ý báo cáo chuyên đề. Việc góp ý phải trên tinh thần cùng nhau đạt được mục đích chung là lĩnh hội tri thức và tập trung vào các nội dung cụ thể như: nội dung, phương pháp nghiên cứu; phạm vi, đối tượng nghiên cứu; tính cấp thiết của báo cáo.

Bước 3 (B3): Ngày 15 hàng tháng, người báo cáo thực hiện việc báo cáo chuyên đề, tiếp nhận ý kiến các thành viên trong đơn vị, đồng thời có thể phản biện lại các ý kiến đó. Đóng góp và phản biện phải mang tính khoa học, logic và lý luận.

Bước 4 (B4): Từ ngày 16 - 30 hằng tháng (cuối tháng), người báo cáo có nhiệm vụ chỉnh sửa theo ý kiến đóng góp của các thành viên trong đơn vị (nếu có), viết tóm tắt bằng tiếng Việt và Anh theo một thể thức bài báo khoa học nhằm gửi bài báo đến tạp chí liên quan.

Bước 5 (B5): Sau khi chỉnh sửa, bổ sung hoàn chỉnh, người báo cáo gửi lại chuyên đề cho thư ký đơn vị để lưu giữ và cá nhân tự gửi cho các tạp chí liên quan để công bố hoạt động nghiên cứu khoa học của mình. Thời gian gửi lại báo cáo chuyên đề là đầu tháng sau khi báo cáo (từ tháng 1- tháng 5 sau khi báo cáo).

Hoạt động nghiên cứu khoa học của đơn vị được luân chuyển xoay vòng sang các thành viên trong đơn vị.

Ở một cơ sở giáo dục đại học, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên có hai nhiệm vụ trọng tâm không thể tách rời đó là: giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Giảng dạy sẽ giúp cho hoạt động nghiên cứu khoa học được nâng cao hơn bởi vì thông qua hoạt động giảng dạy người thầy sẽ thấy được “vấn đề nghiên cứu”, những khó khăn, vướng mắc, khoảng trống trong bài giảng, từ đó tìm ra hướng nghiên cứu, giải quyết vấn đề để có những bài giảng sinh động, chất lượng cao, giúp học viên hiểu rõ vấn đề hơn. Hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ nâng cao được trình độ chuyên môn của giảng viên; nghiên cứu khoa học giảng viên sẽ tìm tòi, phát hiện những tri thức mới. Như vậy, hoạt động giảng dạy và nghiên cứu có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại và hỗ trợ cho nhau.

Bốn là, nhằm vận dụng những kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên vào công tác giảng dạy, Phòng Nghiên cứu khoa học - Thông tin tư liệu cần thường xuyên sơ kết, tổng kết đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học (hàng năm hoặc 3 năm) của đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường. Trên cơ sở đó, thông qua hội đồng khoa học nhà trường xét duyệt những công trình khoa học được công bố có giá trị; đồng thời, công nhận những kết quả nghiên cứu, biên soạn và công bố những công trình khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn của đội ngũ cán bộ, giảng viên. Đây chính là nguồn tư liệu phục vụ việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy của học viên, giảng viên.

Năm là, đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, kỹ năng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn. Đồng thời, mỗi giảng viên cần tích cực, sáng tạo trong quá trình nghiên cứu thực tế, nắm bắt kịp thời tình hình kinh tế - xã hội địa phương. Giảng viên cần lựa chọn những chủ đề phù hợp với chương trình môn học đang đảm nhiệm, tập trung vào chương trình đề án phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh, có cơ sở để khảo sát, đánh giá sát với vấn đề thực tiễn đang diễn ra ở địa phương. Từ đó, đề xuất những giải pháp có tính khả thi, góp phần xử lý có hiệu quả những hạn chế, khó khăn đang diễn ra tại địa phương, đơn vị.

Ngoài ra, giảng viên cần chủ động khai thác thông tin chính thống trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, internet,...) để có thông tin đa chiều, rộng lớn đã được chọn lọc, phân tích. Đây là nguồn thông tin quan trọng giúp giảng viên có thêm nguồn dữ liệu bổ sung, phục vụ nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn.

 

Sáu là, nhà trường cần có cơ chế động viên, khích lệ hoạt động nghiên cứu khoa học đầu tư, hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn một cách có hiệu quả nhất. Thường xuyên chăm lo bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực khoa học của nhà trường, theo đó các đơn vị khoa, phòng rà soát đội ngũ cán bộ phát hiện các cán bộ, giảng viên có năng lực nghiên cứu để bồi dưỡng, chia sẽ, giúp đỡ, từng bước phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên vững vàng về chuyên môn, có năng lực nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Nguồn: TS Lê Minh Hiếu

TS Nguyễn Phước Tài

Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp


NHÌN LẠI NỬA NHIỆM KỲ, CHÚNG TA VỮNG TIN, ĐI TỚI ĐÍCH

  1. Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII (Hội nghị giữa nhiệm kỳ) của Đảng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; là dịp để Đảng ta nhìn lại, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, cụ thể và thực tiễn những kết quả, thành tựu đã đạt được từ đầu nhiệm kỳ đến nay. Qua đó, chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại; nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; dự báo bối cảnh tình hình mới với những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trên cơ sở đó, đề ra những chủ trương, quyết sách lớn để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra trong nửa cuối nhiệm kỳ khóa XIII. Sau 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng đã thành công tốt đẹp, hoàn thành Chương trình làm việc toàn khóa của Trung ương; góp phần quan trọng vào việc củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Thế nhưng, những người có quan điểm đối lập với Đảng ta, các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị “đã sôi lên như đỉa phải vôi”, tìm mọi cách xuyên tạc, kết quả, sự thành công của Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa XIII; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Một trong những tiêu điểm họ tập trung chống phá là mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Tại sao họ lại chĩa mũi nhọn vào vấn đề này? Tại sao họ lại lu loa rằng, “ở Việt Nam không thể có độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”, vì “nó không phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại, đi ngược con đường lịch sử”, “Việt Nam phải đi theo con đường khác để tránh lặp lại vết xe đổ của Liên Xô, Đông Âu”? Theo họ, “con đường khác” là gì? Phải chăng là “quỹ đạo tư bản chủ nghĩa”, theo gương các nước G-7.
Lý lẽ của họ là, Hội nghị Trung ương Đảng giữa nhiệm kỳ khóa XIII vừa kết thúc vẫn “không có gì mới”, “Đảng vẫn bảo thủ, trì trệ”, “vì Đảng khư khư bám giữ mục tiêu độc lâp dân tộc gắn liền với CNXH”. Điều đó chứng minh “Đảng hết bài vở”, “tư duy cạn, rơi vào lối mòn”, “rập khuôn, máy móc”. Vì thế, họ ra sức chống Đảng, phủ nhận “mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”; coi đó là “sai lầm nghiêm trọng” của Việt Nam.
Nhai lại chiêu trò cũ, họ đồng thanh la ó rằng, CNXH hiện thực đã sụp đổ, thế giới ngày nay đã hoàn toàn khác xưa; nhân loại đã bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Điều đó đòi hỏi Đảng phải nhường ghế cho lực lượng cấp tiến lãnh đạo; Việt Nam phải đi theo mô thức, con đường mà chủ nghĩa tư bản (CNTB) đang đi mới dúng quy luật; Việt Nam phải học CNTB...
Từ luận đề sai lầm này, họ ra yêu sách “phải thay thế bộ máy lãnh đạo của Đảng” thì “Việt Nam mới cất cánh được”. Vào hùa với một số đối tượng quá khích, có người còn cho rằng, “ngày nào ở Việt Nam còn chịu sự thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thì chừng ấy Việt Nam còn tụt hậu, dân còn khổ cực”. Từ đó, họ đòi từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy ý thức hệ tư sản làm nền tảng để Việt Nam phát triển...
2. Tại sao sau Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng, những người có quan điểm đối lập với Đảng ta lại ra công kích, bài xích, phủ nhận những vấn đề lý luận cơ bản về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta? Vì sao họ lại ra sức xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn? Thực hư quan điểm này như thế nào?
Bản chất, chiều sâu của vấn đề là họ muốn lái nước ta đi theo con đường TBCN, có lợi cho họ. Muốn thực hiện mục tiêu đó buộc họ phải chống phá Đảng, gây áp lực lên Đảng; cho rẳng, Đảng là nguyên nhân sinh ra tai họa, nỗi khổ, đe dọa cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân ta. Quan điểm sai trái, ngang ngược, hết sức phản động của họ đã và đang tác động tiêu cực đến một một bộ phận người dân nhẹ dạ, cả tin; gây tâm lý bất bình, tâm trạng tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần - xã hội ta; làm vẩn đục bầu không khí trong lành của xã hội Việt Nam.
Sự thật là, hơn 93 năm qua, trước sau như một, Đảng ta đều nhất quán khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn, đã trở thành mục tiêu, lẽ sống của nhân dân ta. Hơn ai hết, nhân dân ta ý thức sâu sắc rằng: độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở chắc chắn nhất để bảo đảm cho độc lập dân tộc. Đây là điều căn cốt nhất, bản chất nhất của hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Nó đã ăn sâu vào trí não, tâm hồn của mỗi người dân Việt Nam yêu nước, yêu CNXH, trở thành lẽ sống cao đẹp, nguyên tắc bất di bất dịch và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt con đường cách mạng Việt Nam; đã được kiểm chứng bởi chính lịch sử chống giặc ngoại xâm, nội xâm của nhân dân ta. Bằng xương máu và ý chí quyết tâm, bằng sự đoàn kết và lòng dũng cảm, bằng danh dự và phẩm giá, nhân dân ta đã khẳng định điều ấy.
3. Rõ ràng, lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Đó là một tất yếu khách quan, không thể đảo ngược. Nó xuất phát từ mơ ước, khát vọng được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Đó là một giá trị cơ bản, quyết định sự phát triển của quốc gia - dân tộc Việt Nam.
Sự lựa chọn này đã khắc phục được những hạn chế, bất cập của ý thức hệ phong kiến và tư sản trong nhận thức và giải quyết vấn đề độc lập dân tộc. Đây là cơ sở vững chắc nhất để xóa bỏ tình trạng người bóc lột người do chế độ cũ sinh ra như các nhà kinh điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đã xác định. Vì thế, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của Đảng. Nhờ đó, nhân dân ta mới giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; mới có cơ ngơi, tiền đồ tốt đẹp và tương lai tươi sáng.
Sự thật ấy bác bỏ mọi quan điểm sai trái, thù địch, phản động; xuyên tạc đường lối đổi mới của Đảng, chê bai, nói xấu Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII và các quyết sách mà Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII đã đề ra.
Những người cố tình xuyên tạc bản chất tốt đẹp của CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam vì họ đã rơi vào chủ nghĩa cá nhân, là làm trái với chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, là đi ngược lại lợi ích của người dân và dân tộc Việt Nam. Muốn chữa “căn bệnh” này, chỉ có một thứ thuốc đặc hiệu là từ bỏ chủ nghĩa cá nhân, rũ bỏ những thành kiến, những ác cảm bởi những nhận thức sai lầm về chủ nghĩa Mác - Lênin, về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta; tiếp tục xây dựng, củng cố niềm tin tất thắng của nhân dân vào đường lối xây dựng CNXH ở nước ta.
Đó là lời kêu gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống. Đó cũng là minh chứng đầy thuyết phục để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh, bác bỏ mọi quan điểm sai trái, thù địch về xuyên tạc các quyết sách mà Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng đã đề ra./.
Nhân Văn Hà Nội - DƯƠNG PHƯƠNG DUY

NHỚ VỀ 112 NĂM HÀNH TRÌNH TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH (11/6/1911 - 11/6/2023)

 Ngày 5/6/1911, sự kiện Hồ Chí Minh, với tên gọi Văn Ba, rời bến Nhà Rồng tìm đường cứu nước, đã trở thành một dấu mốc và bước ngoặt quan trọng đối với cách mạng và dân tộc Việt Nam. 112 năm đã trôi qua, nhưng hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vẫn có ý nghĩa lịch sử và giá trị giáo dục to lớn đối với thế hệ người dân Việt Nam.

Hồ Chí Minh lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, lúc đi học tên là Nguyễn Tất Thành, khi tham gia cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống yêu nước và cách mạng. Hoàn cảnh gia đình, quê hương, đất nước đã ảnh hưởng sâu sắc đến Nguyễn Tất Thành. Thân phụ anh là ông Nguyễn Sinh Sắc, người giỏi Nho học, đỗ Phó bảng, nhưng không chịu hợp tác với Pháp. "Thái độ bất hợp tác, ngầm chống đối thực dân, yêu nước của thân phụ đã ảnh hưởng tốt đến nhân cách của anh". Quãng đời niên thiếu đèn sách, được sự dạy dỗ của thày Vương Thúc Quý, một "sỹ tử Cần Vương" và với tư chất thông minh, Nguyễn Tất Thành được bồi đắp vốn kiến thức Nho học và chịu ảnh hưởng chí hướng yêu nước, thương dân của người cha và thầy dạy. Năm 1904, ở Nghệ Tĩnh, bọn thực dân Pháp bắt phu đắp con đường Cửa Rào đi Trấn Ninh. Do đói khát và làm việc quá nặng nhọc, nhiều người đã phải bỏ xác, gây cảnh tang tóc đau thương. Thảm kịch "Cửa Rào" gây ấn tượng mạnh, khơi dậy niềm thương yêu sâu sắc với đồng bào trong tâm trí Nguyễn Tất Thành. Những năm sau theo cha đi nhiều nơi trong vùng, Nguyễn Tất Thành được chứng kiến cuộc sống khổ cực của người dân, sự áp bức, bóc lột dã man của bọn thực dân, phong kiến, đã hình thành ở anh lòng yêu nước, thương dân, căm thù giặc sâu sắc. "Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, anh đã có chí đuổi thực dân, giải phóng đồng bào”. Cái nôi gia đình, quê hương đã hun đúc cho Nguyễn Tất Thành sớm có tinh thần yêu nước, căm thù giặc và ý chí đánh đuổi bọn thực dân.
Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế, học ở Trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba, năm sau vào học Trường Quốc học Huế. Tại đây, anh có điều kiện bổ sung vốn kiến thức Nho học, văn hóa phương Đông, tiếp thu văn hóa phương Tây. Vốn văn hóa đó giúp anh có khả năng suy xét và hoạt động có tư duy. Vào những năm này, ở Kinh thành Huế như một dòng nước xoáy, cuốn hút mọi tầng lớp tham gia hưởng ứng các phong trào yêu nước. Năm 1908, ở Huế và Trung Kỳ bùng nổ phong trào kháng thuế rầm rộ. Nguyễn Tất Thành cùng số đông học sinh Trường Quốc học tích cực tham gia phong trào, nhưng phong trào bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Thất bại của phong trào chống thuế ở Huế cũng như ở Trung Kỳ cùng các phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX, làm cho Nguyễn Tất Thành nhận rõ hơn bản chất dã man của bọn thực dân và cũng làm cho anh sớm thấy được sức mạnh đấu tranh của quần chúng khi được tổ chức.
Việt Nam là cộng đồng quốc gia dân tộc hình thành sớm, quần tụ trên mảnh đất có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã xây đắp nên nền văn hiến lâu đời, có truyền thống chống giặc ngoại xâm, đã hun đúc nên những truyền thống tốt đẹp, đặc biệt là truyền thống yêu nước. Vào giữa thế kỷ thứ XIX, đế quốc Pháp đánh chiếm nước ta, biến nước ta từ một nước phong kiến thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Trước hành động xâm lược của kẻ thù, triều đình phong kiến nhà Nguyễn từng bước dâng nước ta cho Pháp. Mặc dù vậy, các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta liên tiếp nổ ra, từ các cuộc khởi nghĩa Bình Tây ở lục tỉnh Nam Kỳ, đến các phong trào Cần Vương, Văn Thân của các sĩ phu yêu nước, rồi đến phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can, cải cách dân chủ của Phan Châu Trinh cho đến cuộc nổi dậy của Hoàng Hoa Thám và các cuộc khởi nghĩa sau đó nhưng đều bị đàn áp đẫm máu và lần lượt bị thất bại. Đến đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống Pháp ở nước ta rơi vào bế tắc, "tình hình đen tối như không có đường ra".
Từ các sự kiện trên, Nguyễn Tất Thành suy nghĩ, cân nhắc chọn cho mình con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Anh khâm phục các cụ Trương Công Định, Nguyễn Hữu Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu…, nhưng không hoàn toàn tán thành phương hướng và cách làm của các cụ. Vì vậy, anh chọn cho mình hướng đi mới, đó là tìm cách ra nước ngoài để tìm hiểu cho rõ. Quyết định này về sau Người có nói: "Nhân dân Việt Nam, trong đó có cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác lại nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thì thấy phải đi ra nước ngoài để xem cho rõ". Như vậy, quyết định ban đầu của Nguyễn Tất Thành là có mục đích và có định hướng. Với ý định đó, sau khi rời Huế vào Phan Thiết dạy học một thời gian, đầu năm 1911, anh vào Sài Gòn chuẩn bị rời Tổ quốc ra đi tìm chân lý cách mạng. Cần nói thêm rằng, trước Nguyễn Tất Thành đã có nhiều sĩ phu xuất dương đến một số nước phương Đông để cầu ngoại viện đánh đuổi thực dân Pháp. Với tư duy sắc sảo, anh sớm nhìn ra hướng đi và cách làm sai lầm ấy của họ. Vì thế, Người chọn cho mình hướng đi về phương Tây, mà trước hết là nước Pháp, nơi có trào lưu tư tưởng "Tự do, Bình đẳng, Bác ái", nhưng cũng là nước đang thống trị dân tộc ta, để tìm ra con đường và phương hướng cứu nước đúng đắn, chứ không phải để cầu ngoại viện. Quyết định này, về sau Người có nói: "Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn dấu đằng sau những chữ ấy… Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài". Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam được Nguyễn Tất Thành hấp thụ từ những năm tháng ở quê hương, đất nước. Khát vọng cứu nước, giải phóng dân tộc thôi thúc anh ra nước ngoài tìm đường cứu dân, cứu nước.
Trong lúc đất nước đang cơn khủng hoảng, thế giới bắt đầu bước vào thời kỳ sôi động, ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành, với tên gọi Văn Ba, từ bến cảng Nhà Rồng rời Tổ quốc thân yêu ra đi tìm chân lý cách mạng. Hành trang của Người không có gì ngoài tấm lòng yêu nước, đôi bàn tay lao động và ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu dân, cứu nước. Đây là sự kiện lịch sử quan trọng, là bước mở đầu cho cách mạng Việt Nam chuẩn bị đi vào con đường cách mạng vô sản, nhịp bước với thời đại, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân một cách hữu cơ từ trong bản chất giai cấp và tinh thần đấu tranh vì lợi ích dân tộc và của toàn nhân loại.
Hoạt động trong phong trào công nhân và nhân dân lao động quốc tế
Xuống tàu vượt trùng dương, Nguyễn Tất Thành chấp nhận cuộc sống của người lao động làm thuê. Đối với anh, đó chỉ là phương tiện nhằm thực hiện mục đích đã đặt ra. Động cơ thúc đẩy Người ra đi là tìm một giải pháp mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, trước hết là nước Pháp, nước có cuộc Cách mạng 1789 và Công xã Pari điển hình, nhưng cũng là nước đẻ ra chế độ thực dân đang thống trị Tổ quốc của anh. Đó là mục tiêu trực tiếp của chặng đầu cuộc hành trình của Nguyễn Tất Thành. Muốn "trở về giúp đồng bào" thì trước hết phải hiểu thật kỹ kẻ thù áp bức dân tộc mình, nhất là trên mảnh đất đã sản sinh ra nó, đồng thời phải tìm ra con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn theo đường hướng mới. Sự khác biệt giữa Nguyễn Tất Thành với những người ra nước ngoài hồi ấy là ở chỗ đó.
Trong cuộc hành trình này, Nguyễn Tất Thành có điều kiện ghé qua các châu lục, được tiếp xúc ngay với công nhân, những người lao động ở những nơi đi qua. Đến đâu, Người cũng thấy hai cảnh tượng trái ngược nhau, một bên là cuộc sống khổ cực của người dân, một bên là cuộc sống xa hoa của bọn đế quốc, thực dân. Bước đầu, Người hiểu được đời sống giai cấp công nhân, nhân dân lao động, và xác định chỗ đứng của Người trong giai cấp cần lao.
Đặc biệt, trong cuộc khảo sát có một không hai này, Nguyễn Tất Thành dừng chân lâu ở 3 nước đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh, Pháp; có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu cuộc Cách mạng Mỹ năm 1776, cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước chống chủ nghĩa thực dân. Từ đó, Người rút ra những nhận xét chính xác, như sau đó không lâu, Người viết trong tác phẩm Đường cách mệnh, rằng Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp tuy nêu cao khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, nhưng không đưa lại tự do, bình đẳng, bác ái thật sự, tiếng là cộng hòa, dân chủ, nhưng thực chất là tước đọat quyền lợi của công nông trong nước và bên ngoài thì áp bức các dân tộc thuộc địa. Tuy Người khâm phục ý chí giành độc lập, tư do của nhân dân Mỹ, tinh thần đấu tranh của nhân dân Pháp, nhưng Người cho rằng, đó “đều là cách mệnh tư sản, cách mệnh không đến nơi”. Đồng thời, Người còn cho rằng, việc giải phóng các dân tộc bị áp bức không thể đi theo con đường của cách mạng Mỹ và Pháp, mà phải đi theo con đường khác. Nhận xét đó xuất phát từ tinh thần yêu nước và lập trường giai cấp vô sản.
Thực tiễn khảo sát khắp các châu lục trong thập niên thứ hai của thế kỷ XX, Nguyễn Tất Thành đã đặt mình vào chỗ đứng của giai cấp cần lao chiếm số đông ở khắp trên thế giới, đồng thời cũng thấy rõ bộ mặt thật của số ít bọn người bóc lột tập trung ở các nước đế quốc. Từ đó, Người rút ra những kết luận quan trọng: Ở đâu bọn đế quốc cũng dã man, tàn bạo, ở đâu giai cấp công nhân, những người lao động cũng bị áp bức, bóc lột nặng nề, để vào năm 1924, Người đã viết: "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản". Cũng từ thực tiễn đó đã bồi đắp quan điểm nhân văn, ý thức về sự cần thiết phải đoàn kết những người bị áp bức trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đến đây, Người đã xác định rõ ràng được rằng, sự áp bức giai cấp, áp bức dân tộc có chung một nguồn gốc là chủ nghĩa đế quốc, thực dân, các dân tộc bị áp bức phải đoàn kết đứng lên đấu tranh mới có thể giành được thắng lợi trong công cuộc giải phóng.
Nguyễn Tất Thành là người muốn độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Dịp tốt đã đến, tháng 1/1919, Hội nghị "Hòa bình" họp ở Vécxay, Nguyễn Tất Thành theo dõi diễn biến của Hội nghị, đồng thời anh quyết định thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp gửi Bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm đến Hội nghị đòi tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam và ký tên Nguyễn Ái Quốc. Bản Yêu sách đăng trên báo L'Humanité và một số báo khác. Lần đầu tiên, vấn đề tự do, dân chủ của nhân dân Việt Nam được đặt ra với một hội nghị quốc tế. Nhưng Hội nghị Vécxay là nơi bọn đế quốc chia nhau khu vực ảnh hưởng và quyền lợi sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, nên Bản Yêu sách cùng các kiến nghị không được đề cập đến. Được thực tế ấy rèn luyện, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: Những lời tuyên bố của bọn đế quốc về quyền tự quyết cho các dân tộc chỉ là trò bịp lớn. Tuy nhiên, Bản Yêu sách và tên tuổi Nguyễn Ái Quốc gây tiếng vang lớn trong nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và bạn bè quốc tế. Việc làm trên chứng tỏ Nguyễn Ái Quốc thực sự bước vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Cuộc hành trình từ Á sang Âu, từ Phi qua Mỹ trong gần 10 năm khắp các châu lục đã để lại cho người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc biết bao suy tư, trăn trở, đồng thời cũng giúp Người quan sát, tìm hiểu, rút ra những kết luận cần thiết cho cho công cuộc giải phóng dân tộc và bổ sung những hiểu biết phong phú với tầm nhìn rộng lớn về các dân tộc thuộc địa, về chủ nghĩa thực dân, đế quốc, như Người đã kết luận: “Tất cả bọn đế quốc, thực dân đều tàn bạo”. Đây là những nhận thức có tính chất nền tảng trong việc xác định đối tượng của cách mạng giải phóng dân tộc, để sau đó không lâu Người viết bản luận tội đanh thép Bản án chế độ thực dân Pháp.
Gia nhập đội quân vô sản quốc tế, hòa mình vào cuộc sống của những người lao động thuộc mọi màu da, Nguyễn Ái Quốc đã hiểu biết sâu sắc đời sống, tình cảm, năng lực, phẩm chất của họ và cũng thấy rõ sự bóc lột, thống trị tàn bạo của bọn đế quốc, thực dân; đồng thời cũng đã tạo cho Người gần gũi, yêu thương, đồng cảm với những dân tộc cùng cảnh ngộ với dân tộc Việt Nam. Người đau khổ thấy họ bị bọn đế quốc, thực dân đối xử như những "con vật châu Á" hay những "con vật da màu". Hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của giai cấp cần lao đã làm nảy nở ở Người sự đồng cảm, yêu thương sâu sắc, tình đoàn kết bền chặt với những người bị áp bức. Trên thực tế, Người đã gặp bạn đồng minh. Đó là bước tích lũy về lượng trong nhận thức tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về lập trường giai cấp, về xác định kẻ thù, về bạn đồng minh. Thực tiễn hoạt động trong phong trào công nhân quốc tế là nhân tố quan trọng hình thành con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.
Bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam
Những năm tháng sống ở Thủ đô Pari của nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào công nhân và Đảng Xã hội Pháp. Tuy nhiên, như sau này Người nói: “Tôi biết rất ít về các vấn đề chính trị, nhưng tôi muốn Tổ quốc tôi được giải phóng… Vì vậy, tôi tham gia Đảng Xã hội. Tôi biết rất ít về Cách mạng Tháng Mười và về Lênin; về cảm tính tôi thấy mình có mối tình đoàn kết với cuộc Cách mạng Nga và người lãnh đạo cuộc cách mạng ấy”. Khi ở Pari, Người được biết tin cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga đã nổ ra, nhưng do bọn đế quốc bưng bít tin tức, cho nên cũng như những người bạn Pháp, Người chưa biết rõ và cũng chưa hiểu hết được ý nghĩa thời đại của cuộc cách mạng ấy. Tình trạng đó được V.I. Lênin chỉ rõ: "Ở nước ngoài, người ta biết rất ít, ít đến kinh khủng, ít đến nực cười về cuộc cách mạng của chúng ta. Ở đấy, chế độ kiểm duyệt quân sự không cho một tý gì lọt qua cả". Nhưng với sự nhạy bén chính trị và nhiệt tình cách mạng, Nguyễn Ái Quốc biết đó là cuộc cách mạng tiến bộ và Người có ý định đi Nga. Người ủng hộ Cách mạng Tháng Mười bằng việc tham gia cuộc vận động nhân dân Pháp quyên góp giúp đỡ nhân dân Nga vượt qua nạn đói, phân phát lời hiệu triệu của Đảng Xã hội Pháp kêu gọi nhân dân Pháp chống lại cuộc can thiệp vũ trang của các nước đế quốc vào nước Nga Xô viết. Tham gia vào những hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc tìm thấy vũ khí sắc bén để đấu tranh, đó là viết bài đăng báo. Những bài báo đầu tiên của Người đăng trên báo L'Humanité, Le Paria, Le Populaire và một số báo khác, đều tập trung vào việc lên án chủ nghĩa thực dân, thực trạng bị áp bức, bóc lột ở các nước thuộc địa, phụ thuộc. Thông qua những hoạt động thực tiễn ấy mà nhận thức "cảm tính" của Nguyễn Ái Quốc về Cách mạng Tháng Mười, về nước Nga Xô viết và về Lênin ngày càng được củng cố, nâng cao.
Tháng 3/1919, Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) do Lênin tổ chức, tuyên bố thành lập. Từ sau sự kiện đó, trong Đảng Xã hội Pháp diễn ra cuộc đấu tranh ngày càng gay gắt giữa những người cách mạng ủng hộ đường lối của Quốc tế III và những kẻ bảo vệ Quốc tế II đang bị bọn cơ hội lũng đoạn. Ban lãnh đạo của Đảng Xã hội Pháp chủ yếu nằm trong tay bọn cơ hội, chi phối tư tưởng và thái độ chính trị của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các đảng viên Đảng Xã hội, làm hạn chế ảnh hưởng của Quốc tế III đối với phong trào cách mạng Pháp. Tuy nhiên, xu hướng cộng sản, ủng hộ đường lối của Quốc tế III vẫn hình thành và phát triển. Tháng 4/1919, Đại hội bất thường của Đảng Xã hội Pháp họp ở Pari, những người ủng hộ Quốc tế III đề nghị Đại hội thảo luận và quyết định Đảng chính thức tham gia Quốc tế III. Nhưng đề nghị không được chấp nhận do sự phản ứng quyết liệt của bọn cơ hội trong Đảng. Đến tháng 2/1920, Đại hội lần thứ XVII Đảng Xã hội Pháp họp ở Xtrátxbua, khi bỏ phiếu quyết định rút ra khỏi Quốc tế II, có đa số phiếu thuận, thiểu số phiếu chống. Khi bỏ phiếu tham gia Quốc tế III thì thiểu số phiếu thuận, đa số phiếu chống. Tình hình đó phản ánh sự đấu tranh gay gắt trong Đảng Xã hội Pháp giữa lập trường của Quốc tế III và Quốc tế II, đồng thời lôi cuốn sự chú ý theo dõi của đông đảo nhân dân Pháp.
Diễn biến của các cuộc đấu tranh trên đây tác động đến Nguyễn Ái Quốc. Tuy chưa hiểu hết thực chất các sự kiện trước những sự biến chính trị, Người cũng tham gia vào cuộc đấu tranh theo quan điểm và nhận thức của mình. Hầu hết trong các buổi mít tinh, thảo luận, Người đều phát biểu và khéo lái những vấn đề đang thảo luận sang vấn đề dân tộc và thuộc địa. Vì như Người nói: "Trong các cuộc bàn cãi, người ta rất ít nói đến sự đoàn kết với các dân tộc thuộc địa. Nhưng đó lại là vấn đề mà tôi quan tâm hơn hết". Mặc dù "nhức đầu vì khó hiểu", nhưng trong các buổi sinh hoạt Đảng Xã hội, Người đều nêu câu hỏi: "Ai khẳng định rõ ràng là mình đoàn kết với các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức? thì người ta trả lời: Quốc tế III". Điều băn khoăn, trăn trở và quan tâm hơn cả bấy lâu nay của Người đã được giải đáp, đó là "phải đoàn kết với các dân tộc thuộc địa”. Sau khi được biết Quốc tế III ủng hộ và đoàn kết với các dân tộc thuộc địa và nhất là được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo L'Humanité ngày 16 và ngày 17/7/1920, lần đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc nhận biết một tổ chức quốc tế ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn. Bởi vì, Luận cương của Lênin đã giải quyết trọn vẹn một vấn đề rất cơ bản mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm là vấn đề dân tộc và thuộc địa được đặt trong mối quan hệ quốc tế, chỉ ra con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa. Luận cương tạo ra bước chuyển biến căn bản trong nhận thức tư tưởng về vấn đề bạn đồng minh, về xác định kẻ thù, giúp Người đi đến khẳng định: “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường nào khác, con đường cách mạng vô sản”.
Sự kiện chính trị quan trọng thu hút sự quan tâm chú ý của Nguyễn Ái Quốc là Đại hội lần thứ II của Quốc tế III. Theo dõi các văn kiện của Đại hội, Người tâm đắc với 21 điều kiện kết nạp vào Quốc tế III, đặc biệt là điều thứ 8, rằng: "Vấn đề thuộc địa và dân tộc bị áp bức, thì các đảng trong các nước mà giai cấp tư sản có thuộc địa và áp bức các dân tộc khác phải có một đường lối đặc biệt rõ ràng, minh bạch. Đảng nào muốn gia nhập Quốc tế III đều buộc phải thẳng tay vạch mặt những thủ đoạn xảo trá của bọn đế quốc nước mình trong các thuộc địa, ủng hộ trên thực tế, chứ không phải bằng lời nói mọi phong trào giải phóng ở thuộc địa". Điều đó tạo niềm tin của Nguyễn Ái Quốc vào Lênin, vào Quốc tế III, và biểu thị thái độ chính trị và quan hệ xã hội đúng đắn trong cuộc đấu tranh cách mạng hoá Đảng Xã hội Pháp.
Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc đại diện của Đông Dương, đồng thời là đại biểu duy nhất phát biểu về vấn đề thuộc địa. Phát biểu tại Đại hội, với những lời xúc động sâu sắc, sau khi lên án chế độ thống trị tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương, Người yêu cầu Đảng phải đoàn kết, ủng hộ cách mạng thuộc địa, rằng: "Tôi đến đây là để cùng với các đồng chí góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới... Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa". Lời phát biểu ngắn gọn của Người đã quán triệt tư tưởng chiến lược của Lênin về quan hệ giữa cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Khi Đại hội biểu quyết, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III và tham gia quá trình thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Quyết định sáng suốt đó của Nguyễn Ái Quốc phù hợp với trào lưu phát triển của lịch sử nhân loại, là sự kiện có ý nghĩa to lớn. Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới hiện đại, một đại biểu của dân tộc Việt Nam tham gia sáng lập đội tiền phong của giai cấp công nhân ở một nước đế quốc lớn đang áp bức dân tộc mình. Bằng việc làm đó, Nguyễn Ái Quốc nêu cao ngọn cờ đoàn kết quốc tế và ngọn cờ giải phóng dân tộc.
Được Luận cương của V.I. Lênin và đường lối của Quốc tế III soi sáng, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào công nhân và Đảng Cộng sản Pháp, sau đó, công tác tại Quốc tế III trên đất nước Liên Xô. Đến đây, ở Người, về cơ bản hình thành hệ thống luận điểm có tính lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường cách mạng vô sản; về chủ nghĩa thực dân, đế quốc; về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc; về khả năng thắng lợi trước của cách mạng thuộc địa; về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; về vị trí, vai trò của giai cấp công nhân trong cách mạng; về chủ nghĩa xã hội, v.v.. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và Quốc tế III, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam đi vào quỹ đạo của cách mạng xã hội chủ nghĩa và có ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại.
Đảng cộng sản Việt Nam

HẢI DƯƠNG: KHẮC GHI NHỮNG LẦN BÁC HỒ VỀ THĂM

 Sinh thời, Bác Hồ đã 5 lần về thăm và làm việc với Hải Dương. Đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Dương, Người có sự quan tâm đặc biệt.

Với cương vị là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, tuy bận trăm công, nghìn việc nhưng Người vẫn dành sự quan tâm đặc biệt tới Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Dương. Hải Dương vinh dự được đón Bác Hồ về thăm 5 lần vào các năm 1946, 1957, 1959, 1962 và 1965. Mỗi lần Người về thăm đều để lại những kỷ niệm sâu đậm không bao giờ quên đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Hải Dương.
Ngày 21/10/1946, lần đầu tiên Bác Hồ về thăm Hải Dương. Sau chuyến thăm nước Pháp, từ Hải Phòng về Hà Nội bằng tàu hoả, Bác Hồ đã dừng chân vẫy chào công nhân ở ga Lai Khê (huyện Kim Thành), ga Tiền Trung (huyện Nam Sách) đang tập trung đón Bác, rồi Bác về ga Hải Dương. Tại đây Bác nói chuyện với nhân dân về tình hình và kết quả đàm phán tại Pháp, về âm mưu của giặc và những khó khăn của đất nước, cũng như quyết tâm của Chính phủ và kêu gọi toàn thể đồng bào phải nêu cao tinh thần cảnh giác, đoàn kết, chuẩn bị tinh thần, lực lượng và vũ khí, sẵn sàng chiến đấu nếu kẻ thù bội ước, để giữ bằng được độc lập, tự do cho dân tộc… Cuộc nói chuyện của Bác Hồ ngay trên sân ga tuy ngắn ngủi, nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân Hải Dương. Ai nấy đều phấn khời, quyết tâm sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương.
Ngày 31/5/1957, trên đường công tác từ Hải Phòng về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm tỉnh Hải Dương lần 2. Bác về xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, thăm một số gia đình, trong đó có gia đình cụ Vũ Văn Trung ở xóm Vũ Thượng có 3 con đi bộ đội. Tại Hội trường Tỉnh ủy, sau là trường Nguyễn Ái Quốc, nay là Bảo tàng tỉnh, Bác nói chuyện với trên 400 đại biểu là cán bộ khu, cán bộ tỉnh, bộ đội và các tầng lớp nhân dân. Người căn dặn cán bộ, bộ đội và nhân dân phải nâng cao ý chí phấn đấu với tinh thần đồng cam cộng khổ, luôn đoàn kết chặt chẽ, ra sức phấn đấu hoàn thành tốt công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất và khôi phục kinh tế để củng cố miền Bắc, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Ngày 01/4/1959, sau khi đi thăm tỉnh Hồng Quảng (nay là tỉnh Quảng Ninh) và thành phố Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm tỉnh Hải Dương lần 3. Tại trụ sở làm việc của Tỉnh uỷ (thị xã Hải Dương), nay là nhà khách Bạch Đằng, Bác nói chuyện với các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Uỷ ban Hành chính tỉnh cùng cán bộ các ban, ngành của tỉnh. Trong buổi gặp mặt thân mật này, Bác khen ngợi những thành tích đã đạt được của nhân dân và cán bộ tỉnh Hải Dương, nhất là phong trào sản xuất nông nghiệp, Bác nhắc nhở một số công việc sản xuất trong vụ Đông như cần bón thêm phân và ra sức chống hạn.
Tiếp đó là ngày 26/7/1962, Người về thăm Hải Dương. Buổi sáng Bác nói chuyện với nhân dân thị xã Hải Dương tại sân Vọng Cung (nay là Nhà hát Nhân dân). Sau đó, Người đã đến thăm xã Ứng Hòe và xã Hiệp Lực (Ninh Giang) là hai xã rất gương mẫu trong lao động sản xuất lúa gạo và có thành tích chống úng lụt khá nhất tỉnh. Tại xã Hiệp Lực, Người tham gia guồng nước chống úng cùng với bà con nông dân, căn dặn mọi người phải tích cực chống úng thắng lợi qua 2 câu lẩy Kiều: "Trăm năm trong cõi người ta. Chống úng thắng lợi mới là người ngoan". Sau khi thăm cán bộ và nhân dân xã Hiệp Lực, Người về hội trường Nhà máy Xay Ninh Giang, nói chuyện với cán bộ, công nhân và nhân dân huyện Ninh Giang. Buổi chiều, Bác về thăm Nhà máy Sứ Hải Dương (nay là Công ty Sứ). Bác thăm các phân xưởng sản xuất, tới phân xưởng vẽ hoa trên sứ, Bác nói "Sứ Việt Nam cần vẽ hoa Việt Nam", rồi cầm bút viết 5 chữ: "Phải cố gắng tiến bộ" trên một lọ hoa, dưới ký tên.
Và ngày 15/2/1965, lần thứ năm Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Hải Dương. Buổi sáng, Bác về xã Hồng Thái (Ninh Giang) - lá cờ đầu của phong trào làm thuỷ lợi toàn miền Bắc, nơi đã được nhận cờ luân lưu của Bác. Tại đây Bác đã nói chuyện với cán bộ, đảng viên và nhân dân địa phương. Bác nhắn nhở: "Đồng bào và cán bộ Hồng Thái chớ nên tự mãn với thành tích bước đầu, mà cần phải cố gắng hơn nữa". Trưa ngày 15/2/1965, Bác tới thăm xã Nam Chính (Nam Sách) - nơi có phong trào vệ sinh khá nhất tỉnh. Bác thăm hỏi đời sống nhân dân, xem các công trình vệ sinh như giếng nước, nhà tắm… của bà con và căn dặn: "Cái gì đã khá thì phải cố gắng để giỏi hơn nữa, cái gì còn kém thì phải cố gắng để tiến lên khá...". Bác mong Hải Dương có nhiều xã như Nam Chính.
Cũng trong lần về thăm này, Bác đã tới thăm Côn Sơn (Chí Linh), đọc bia chùa Côn Sơn, viết vào sổ lưu niệm, căn dặn cán bộ, nhân dân Hải Dương và các sư trụ trì chùa phải tích cực trồng cây phủ xanh di tích, làm cho di tích lịch sử văn hoá trở thành thắng cảnh du lịch của địa phương, "phải biến nơi đây thành tùng lâm đẹp đẽ".
Có thể nói, trong những lần về thăm Hải Dương, Bác đã nói chuyện, tặng huy hiệu, tặng quà biểu dương, khích lệ cán bộ, chiến sỹ và nhân dân. Bác khen ngợi những thành tích của nhân dân và cán bộ Hải Dương, đặc biệt là về sản xuất nông nghiệp và phong trào đổi công hợp tác xã. Đó là món quà tinh thần vô giá góp phần cổ vũ cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh quyết tâm vươn lên, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 5 lần vinh dự được đón Bác về thăm, đã để lại những kỷ niệm sâu sắc trong tâm trí, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân tỉnh Hải Dương, làm tăng thêm niềm tin tưởng, phấn khởi. Những lời dạy bảo ân cần, mộc mạc của Bác là những định hướng lớn cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Dương trong suốt quá trình xây dựng, phát triển đi lên từ một tỉnh thuần nông.
Khắc ghi lời Bác, nhiều năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Dương không ngừng vận dụng sáng tạo lời dạy, lời căn dặn của Người, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn khác nhau. Hải Dương hôm nay đang lỗ lực không ngừng để vươn lên hòa nhịp cùng sự đổi thay từng ngày, từng giờ của đất nước, phát huy truyền thống của một vùng đất giàu đẹp, văn hiến và anh hùng; sớm đưa Hải Dương trở thành tỉnh công nghiệp, tỉnh kiểu mẫu.
Hải Dương

NƯỚC NON VẠN DẶM

  "Nước non vạn dặm" là bộ tiểu thuyết lịch sử dự định gồm 4 tập của tác giả Nguyễn Thế Kỷ khắc họa hình tượng Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cùng những trang sử bi hùng của dân tộc từ cuối thế kỷ 19 và hơn nửa đầu thế kỷ 20. Hai tập đầu của bộ tiểu thuyết đã ra mắt độc giả cả nước.

Tập 1 có tên gọi "Nợ nước non" khắc họa hình tượng Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành và những người thân yêu từ mái tranh nghèo xứ Nghệ vào kinh đô Huế, tiếp đó là Bình Định, Phan Thiết, Sài Gòn.
Tập 2 có tên gọi "Lênh đênh bốn biển" khắc họa hình tượng Nguyễn Tất Thành, trong tên mới Nguyễn Văn Ba, rời thương cảng Sài Gòn ngày 5/6/1911 trên tàu Amiral Latouche Tréville vượt trùng khơi tìm đường cứu nước, đi trọn 30 năm từ Đông sang Tây, qua bốn biển năm châu để có chuyến trở về Tổ quốc ngày 28/1/1941.
Cả tập sách là những đoạn hội thoại để người đọc có thể nhìn rõ hơn phẩm chất vĩ đại qua những điều bình dị, thân thương của Nguyễn Tất Thành-Văn Ba-Nguyễn Ái Quốc.
Anh đã chủ đích tìm đến quê hương của những kẻ xâm lược và nô dịch đất nước mình để hiểu hơn về kẻ thù của dân tộc, tìm con đường cứu nước cứu dân.
Với các chương không quá dài và sự sáng tạo văn học đặc biệt, tập 2 bộ tiểu thuyết cho người đọc hình dung một cách sống động, chi tiết, hấp dẫn, chân thực về hành trình 30 năm của Nguyễn Ái Quốc qua biết bao quốc gia, trải biết bao công việc, gặp gỡ biết bao con người từ bình dị đến vĩ đại, những hoạt động chính trị sôi nổi của Người. Trọn vẹn trong tập 2 là hành trình của Người từ khi rời Việt Nam cho tới mùa Xuân 1941, Người trở về đất mẹ.
Tác giả Nguyễn Thế Kỷ đã biến những thông tin lịch sử khô khan thành những câu chuyện sống động gắn với cuộc đời một con người mà ngay sinh thời đã trở thành huyền thoại - Hồ Chí Minh.
Cuộc đời một con người vừa mộc mạc, bình dị, vừa vĩ đại, cao quý và thấm sâu trong đó là khát vọng, ý chí, quyết tâm tìm ra cho dân tộc một lối thoát, giành độc lập, tự do đã được khắc họa sinh động qua "Lênh đênh bốn biển".
Đọc tập 2 bộ tiểu thuyết để thấy hành trình gian lao, vất vả, trải qua bao cực nhọc nhưng cũng thấm đẫm niềm vui, hạnh phúc và những dư vị ngọt ngào của tình người, tình đời trong 30 năm "Lênh đênh bốn biển" của Nguyễn Ái Quốc.
Từ đó chúng ta trân trọng hơn những đóng góp của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cho đất nước và dân tộc Việt Nam, thấu hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh.
Có thể nói, sau khi hoàn thành, đây sẽ là bộ tiểu thuyết đồ sộ về toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Bộ tiểu thuyết không chỉ là một sản phẩm văn học đơn thuần mà hơn thế nữa, đây còn là một bộ tiểu thuyết lịch sử có giá trị cho việc tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của vị lãnh tụ yêu kính của bao thế hệ người Việt Nam - Bác Hồ.
---
PGS.TS. Trần Thị Thu Hoài

Cảnh giác thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ chính sách ngoại giao của Việt Nam

 Chính sách ngoại giao của Việt Nam được khẳng định trong các văn kiện của Đảng cũng như các chủ trương, đường lối liên quan, trong đó có những khái niệm được mô tả dễ hiểu, phù hợp đặc trưng của văn hoá Việt Nam như “chính sách ngoại giao cây tre”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước”… Trong quan hệ với các nước, Việt Nam luôn đề cao luật pháp quốc tế, sự tin cậy chính trị, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.

Thành quả nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Tiếng trống lệnh” và sức mạnh hiệu triệu

 

Trong cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC), người đứng đầu có vai trò đặc biệt quan trọng suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và nêu gương sáng để khởi phát, dẫn dắt cao trào cách mạng. Thực tế đó được minh chứng rõ nét, thuyết phục từ quá trình vận hành đánh “giặc nội xâm” ở Việt Nam thời gian qua.

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN INTERNET, MẠNG XÃ HỘI TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 


Hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng internet, mạng xã hội để phát tán nhiều loại thông tin sai trái, thù địch, độc hại nhằm chống phá cách mạng nước ta, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, làm giảm lòng tin của cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, tăng cường nhận diện, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá Quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay là hết sức cần thiết.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


Không gian mạng đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều lợi ích đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Mạng xã hội từng bước khẳng định vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội, đã trở thành môi trường cung cấp, chia sẻ, trao đổi, khai thác sử dụng thông tin thâm nhập vào cuộc sống của con người; trực tiếp làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi người, tác động đến sự phát triển của toàn xã hội. Bên cạnh những ưu thế của mạng xã hội đem lại cũng bộc lộ những mặt trái tác động rất lớn đến sự phát triển của toàn xã hội. Việt Nam đứng trong nhóm 20 quốc gia có số người sử dụng internet, đặc biệt là các trang mạng xã hội như: Facebook, TikTok, Zalo,… lớn nhất thế giới. Vì vậy, các thế lực thù địch và các tổ chức, cá nhân chống đối có nhiều cơ hội để lợi dụng internet, không gian mạng công khai chống đối Đảng, Nhà nước ta. Đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay là, nhiệm vụ trọng yếu, đòi hỏi mọi người phải luôn nhận thức đầy đủ những thách thức và yêu cầu của nhiệm vụ, xây dựng bản lĩnh, trách nhiệm và quyết tâm cao, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng.

CẢNH GIÁC KẺO BỊ MẤT TIỀN VỚI BỌN LỪA ĐẢO KHÁCH HÀNG


Gần đây, trên mạng xã hội facebook có nhiều lời than rằng đã bị các đối tượng xấu lừa mất tiền qua việc mua hàng tại các shop bằng các trò tinh vi, khiến cả những người thành thạo môi trường mạng xã hội cũng khó mà tránh được. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, đây thực sự là những chiêu lừa đảo rất tinh vi, có tổ chức và đã có nhiều người “dính bẫy” của chúng nhưng chúng vẫn ngang nhiên tồn tại, hoạt động. Hàng ngày, số lượt người bị lừa đảo vẫn không ngừng tăng lên.

Quân đội lực lượng nòng cốt đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động

 


 

          “Diễn biến hòa bình” là chiến lược của các nước đế quốc và thế lực phản động quốc tế, sử dụng như một phương tiện, công cụ để tấn công các nước xã hội chủ nghĩa và những quốc gia tiến bộ nhằm thay đổi thể chế chính trị, xã hội từ bên trong theo hướng có lợi cho họ, bằng biện pháp phi quân sự là chủ yếu, thực hiện chiến thắng chủ nghĩa xã hội không cần chiến tranh, chiến lược diễn biến hòa bình” là một trong 4 nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ.

Phát huy vai trò của các tổ chức thanh niên trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Các tổ chức thanh niên Việt Nam bao gồm Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên, Hội Sinh viên và các tổ chức khác của thanh niên được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật. Trong tình hình mới, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với các tổ chức thanh niên, xuất phát từ những lý do chủ yếu sau: Một là, xuất phát từ vai trò nền tảng tư tưởng của Đảng: Từ tuổi thanh niên đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã gặp chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở đây con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, trong nhiều văn kiện Đại hội cho đến Điều lệ Đảng hiện hành đã luôn xác định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn đất nước đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”. Hai là, xuất phát từ đặc điểm của thanh niên và thực trạng các tổ chức thanh niên tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng: Ở Việt Nam, thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi chiếm khoảng 30% dân số, là lực lượng có sức khỏe, trí tuệ, có tinh thần hăng hái, nhiệt tình, có khát vọng vươn lên, ham học hỏi, dễ thích nghi với môi trường xã hội… Ba là, xuất phát từ yêu cầu của Đảng đối với thanh niên và các tổ chức thanh niên trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay: Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thanh niên “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”, trong các giai đoạn cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn coi trọng vai trò của thanh niên và các tổ chức thanh niên. Âm mưu, thủ đoạn lợi dụng thanh niên của các thế lực thù địch, phản động Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Các thế lực thù địch, phản động cho rằng chủ nghĩa Mác ra đời từ năm 1848, vì vậy, trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, những nguyên lý của học thuyết này không còn đúng nữa; chủ nghĩa Mác - Lênin chứa đựng nhiều mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn... Theo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lấy học thuyết Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng là lỗi thời, giáo điều, máy móc. Đồng thời, chúng dùng mọi thủ đoạn để bôi nhọ, xuyên tạc về Hồ Chí Minh; phủ nhận và bác bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh hoặc tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin để phủ nhận cả hai, từ đó phủ nhận Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Xuyên tạc đường lối, chia rẽ tổ chức nhằm thủ tiêu vai trò lãnh đạo, tiến tới xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Trước những biến động mau lẹ, phức tạp của tình hình thế giới hiện nay, các thế lực thù địch, phản động càng ráo riết tấn công vào Cương lĩnh, đường lối của Đảng; phủ nhận Nhà nước pháp quyền XHCN, kinh tế thị trường định hướng XHCN; rêu rao rằng kinh tế nhiều thành phần thì phải có “đa nguyên”, “đa đảng”; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an; thổi phồng những sai lầm, khuyết điểm, nhất là từ việc một số đảng viên có chức có quyền nhưng thoái hóa biến chất, vi phạm pháp luật và kỷ luật Đảng… Thủ đoạn chống phá nhằm vào thanh niên ngày càng tinh vi, quyết liệt hơn. Lợi dụng sự bùng nổ của công nghệ truyền thông và tâm lý dễ cả tin, chủ quan khi tham gia mạng xã hội của thanh niên, các thế lực xấu thường xuyên tung ra những thông tin bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn; tăng cường bình luận, tuyên truyền kích động để tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng… Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng trong các tổ chức thanh niên Thời gian qua, các tổ chức thanh niên Việt Nam đã có nhiều hoạt động đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ. Các cơ quan quản lý nhà nước về thanh niên đã tăng cường quản lý và định hướng thông tin, quyết liệt chặn, lọc các thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội; ngăn chặn kịp thời các chiến dịch kích động biểu tình, bạo loạn, sử dụng internet, mạng xã hội để tung tin gây mất ổn định an ninh quốc gia. Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trong thanh niên được quan tâm với nhiều hình thức đa dạng. Công tác chính trị, tư tưởng của Đảng trong các tổ chức thanh niên có nhiều đổi mới, góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, thống nhất tư tưởng trên những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Nhìn chung, công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các tổ chức thanh niên đã đạt được một số kết quả quan trọng, khẳng định vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng trong văn hóa dân tộc; góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới. Một số giải pháp Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, tổ chức thanh niên các cấp, nhất là Đoàn Thanh niên cần quan tâm hơn nữa đến những nội dung, giải pháp cơ bản sau: Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho thanh niên về Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị; đa dạng hóa các hình thức học tập tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, quán triệt, khẳng định có tính thuyết phục trong thanh niên về con đường lên CNXH ở nước ta là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại. Thứ hai, phát huy vai trò đoàn kết, tập hợp thanh niên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo đó, các tổ chức thanh niên cần có nhiều hình thức tổ chức rộng rãi chương trình giáo dục sơ cấp, trung cấp lý luận chính trị phù hợp với các đối tượng khác nhau. Trang bị những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho thanh niên… Thứ ba, tích cực đổi mới nội dung, chương trình giáo dục bằng nhiều hình thức sáng tạo, linh hoạt để thanh niên hiểu đúng, hiểu đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, hiểu lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, từ đó có nhận thức đúng, nâng cao bản lĩnh chính trị và khả năng đề kháng, thanh lọc trước các thông tin xấu, độc. Chú trọng phổ biến, tuyên truyền trên internet, mạng xã hội và các kênh truyền thông khác những nội dung liên quan đến an ninh truyền thông, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng... Thứ tư, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, cung cấp thông tin, nội dung, phương pháp, trang bị phương tiện, công nghệ đấu tranh trên không gian mạng cho cho thanh niên, chú trọng đến những cá nhân có năng lực, nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm cao... Thứ năm, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ các tổ chức thanh niên. Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 01-CT/TWĐ của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn về “Tăng cường rèn luyện tác phong, thực hiện lề lối công tác của cán bộ đoàn” nhằm xây dựng hình ảnh người cán bộ đoàn gương mẫu về mọi mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Thứ sáu, tích cực phát hiện, nhân rộng những điển hình tiên tiến trong thanh niên, lan tỏa các thông tin tích cực theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tiếp tục triển khai có hiệu quả cuộc vận động “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đẹp” trên mạng xã hội do Ban Bí thư Trung ương Đoàn phát động từ năm 2018. Thứ bảy, mở rộng kết nối các lực lượng thanh niên công nhân, thanh niên nông thôn, miền núi, hải đảo, thanh niên học sinh, sinh viên, thanh niên công chức, viên chức, lực lượng vũ trang…, tạo thành một mặt trận rộng rãi, có tính tổ chức, kỷ luật của thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch./.

Kiên trì đấu tranh, đẩy lùi tình trạng đoàn kết xuôi chiều

Trong những năm qua, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp nhằm chấn chỉnh tình trạng đoàn kết xuôi chiều và dân chủ hình thức. Hội nghị lần thứ 4 của các nhiệm kỳ Đại hội XI, XII và XIII của Đảng ta, Trung ương đều ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng, trong đó trọng tâm là chống tham nhũng, tiêu cực. Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đánh giá rất cụ thể, rõ ràng về nguyên nhân, tác hại và những giải pháp khắc phục tình trạng “đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức”. Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương đã yêu cầu cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải “Nghiêm túc thực hành tự phê bình và phê bình; thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh; không tranh công đổ lỗi. Dũng cảm nhận khuyết điểm và trách nhiệm”. Cụ thể hơn, Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bổ sung một số quy định mới về những điều đảng viên không được làm. Trong đó, điều thứ 3 quy định đảng viên “không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; “tư duy nhiệm kỳ”, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng”. Mới đây là Quy định số 96-QĐ/TW ngày 2-2-2023 của Bộ Chính trị về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị. Trong các tiêu chí để lấy phiếu tín nhiệm, quy định nêu cụ thể về việc đánh giá “ý thức tổ chức kỷ luật, việc chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình”. Như vậy, những người dĩ hòa vi quý, né tránh đấu tranh sẽ không nhận được sự tín nhiệm của tập thể. Tuy nhiên, dù có bao nhiêu quy định, quy chế cũng không thể bao trùm lên tất thảy mọi hoạt động của Đảng và các cơ quan nhà nước, đoàn thể. Do vậy, không thể không nhắc một điều tưởng như đã quá quen thuộc, đó là, mỗi tổ chức đảng, đảng viên phải luôn nhận thức sâu sắc và hành động nhất quán theo Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng. Mọi cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm đóng góp ý kiến, cùng tập thể xây dựng nghị quyết. Phải chống bằng được thói bàng quan, chiếu lệ trong sinh hoạt đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên cần quan tâm đến tập thể, khiêm tốn, lắng nghe ý kiến, tôn trọng đồng chí, đồng nghiệp. Những điều này tưởng như ai cũng thuộc nhưng làm cho đúng, cho thực chất mới khó. Một danh nhân từng nói đại ý: Tôi từng nghĩ, người khác tôn trọng tôi là vì tôi xuất sắc. Dần dần tôi hiểu ra điều này, người khác tôn trọng tôi là vì họ rất xuất sắc. Cần nhấn mạnh vai trò gương mẫu của người đứng đầu. Thủ trưởng phải công tâm, công bằng, thật sự là trung tâm, hạt nhân đoàn kết, quy tụ được người tài, người thẳng thắn, có ý kiến khác mình. Không có thắng lợi chung chung, thành tựu chung chung. Muốn tập thể giành thắng lợi thì mỗi cá nhân phải làm tốt công việc của mình, phải dám chịu trách nhiệm. Đã cùng nhau đẩy thuyền thì phải đẩy thật, đừng “dô hò” là chính. Được như thế chính là tẩy trừ chủ nghĩa cá nhân, vì “chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù hung ác nhất” như Bác Hồ căn dặn. /.

Lật lại hồ sơ mật

Một Paris m*an r*ợ dưới lớp vỏ lịch lãm.

Chuyện rằng khi những người đàn ông Pháp bỏ chạy khỏi thủ đô Paris tháng 6/1940, để cho Đức Quốc xã mặc sức chiếm đóng và bỏ lại những người phụ nữ rơi rớt, không nơi nương tựa. Trước cái đói, bị bỏ rơi, những người phụ nữ này buộc phải đi mua vui cho lính Đức để đổi sữa cặn, thức ăn thừa.

Đến năm 1944, với sự phản công của phe Đồng Minh, quân Đức rút khỏi Pháp. Những người phụ nữ Paris từng bị đàn ông Pháp bỏ rơi đã phải chịu những hình phạt mất nhân tính nhất từng thấy trong lịch sử loài người. Họ bị đàn ông Pháp - những kẻ bỏ chạy ngày trước, nay quay ra chế giễu những người phụ nữ mà mình không thể bảo vệ. Phụ nữ Paris từng xin ăn lính Đức đều bị cạo đầu, bị nhổ nước bọt, bị lột quần áo, kéo lê trên phố và chụp ảnh để lưu giữ "nỗi nhục". 

Gì mà nước Pháp văn minh, gì mà đàn ông Pháp ga-lăng, lãng mạn, tôn trọng phụ nữ. Xét cho cùng đó là sự rởm đời của một nền tư bản hết thời nhưng cố gồng mình tỏ ra xa hoa lịch lãm.





CẢNH GIÁC VỚI HOẠT ĐỘNG TRỞ LẠI CỦA "HỘI THÁNH ĐỨC CHÚA TRỜI MẸ"

Hiện nay, giáo phái này chưa được công nhận về mặt tổ chức tại Việt Nam; giáo lý hoạt động mang tính chất tà đạo, có biểu hiện mê tín dị đoan, lợi dụng giáo lý để trục lợi cá nhân, trái với văn hóa truyền thống và thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam.

Những người tin theo Hội thánh này thường ở độ tuổi từ 18 đến 50, phần nhiều là sinh viên, phụ nữ nội trợ. 

Các đối tượng cầm đầu thường lựa chọn mục tiêu là những người gặp khó khăn, bất trắc trong cuộc sống, ốm đau, làm ăn thua lỗ để tiếp cận, dụ dỗ lôi kéo tham gia. 

Mặc dù chúng rao giảng lấy giáo lý cơ bản từ kinh thánh, nhưng biến tướng sai lệch với nhiều quan điểm cực đoan như chỉ xem trọng bản thân, coi thường người thân, gia đình.

Không ít gia đình có người thân tham gia tổ chức này đã u mê đập bỏ bát hương, bàn thờ, không thờ cúng tổ tiên, ông bà; bỏ chồng con, bỏ bê công việc, học hành, mang tiền đi phụng sự tổ chức, gây chia rẽ và mâu thuẫn trong gia đình, dòng họ…

Để có thể lôi kéo được hội viên tham gia, các đối tượng thường núp bóng dưới nhiều hình thức như trung tâm từ thiện, nhân đạo trá hình, giới thiệu khóa học phát triển tư duy, các buổi hội thảo “làm giàu”, bán hàng online, kinh doanh các mặt hàng thiết bị điện, đồ gia dụng, sản phẩm sinh hoạt gia đình, … với nhiều thủ đoạn mới như nhóm họp trên không gian mạng qua Zoom, Zalo, facebook, các điểm sinh hoạt tại các nơi công cộng, quán nước, quán cà phê hoặc nhà riêng, nhà trọ…

Phương thức hoạt động của Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ tương tự như mô hình đa cấp, được chia thành nhiều nhóm nhỏ, các điểm nhóm sinh hoạt riêng rẽ. 

Các đối tượng ban đầu chỉ là lân la làm quen, khéo léo tiếp cận tìm hiểu gia cảnh của từng người, rồi động viên chia sẻ, hướng dẫn những điều cần thiết trong cuộc sống, sau đó sẽ tìm cách thao túng tâm lý, ép người tham gia bằng sự sợ hãi bởi những lời rao giảng lệch chuẩn, gieo vào tín đồ niềm tin ngày tận thế, về sự phán xét của Đức chúa trời nếu không nghe, tin theo, về những rủi ro, những điều siêu nhiên, về sứ mệnh cao cả của hội viên để cứu rỗi linh hồn, về cuộc sống an nhàn, hạnh phúc khi theo Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ …

Nguy hiểm hơn, Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ còn tìm mọi cách để lôi kéo hội viên là những học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn, đã ảnh hưởng đến việc học tập… Sau khi lôi kéo được hội viên tham gia, các đối tượng sẽ tổ chức cho hội viên sinh hoạt trực tiếp tại các điểm nhóm (Sion) hoặc qua hệ thống Zoom. 

 Trước tình hình hoạt động phức tạp của Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, thời gian qua, lực lượng Công an tại nhiều địa phương đã triển khai nhiều biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động đạo trái pháp luật của tổ chức này; đồng thời phát hiện, bắt, xử lý nghiêm các điểm nhóm của Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, thu giữ nhiều tài liệu, tang vật có liên quan đến việc truyền đạo, sinh hoạt đạo trái pháp luật.

Có thể nhận thấy, với nhiều hành vi vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu tới người tin theo cũng như gia đình của họ và xã hội nên hoạt động của các điểm nhóm Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, dù bất kỳ dưới hình thức nào cũng cần phải được lên án và kiên quyết xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. 

Do đó, người dân cần hết sức tỉnh táo khi tiếp nhận các thông tin từ thành viên Hội thánh này, tránh bị lợi dụng, gây nhiều hệ lụy cho bản thân, gia đình và xã hội.