Thứ Năm, 8 tháng 6, 2023

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

     Bảo vệ chính trị nội bộ là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; có ý nghĩa sống còn đối với sinh mệnh của Đảng, sự sống còn của chế độ và lợi ích quốc gia-dân tộc. Đảng ta xác định: Bảo vệ chính trị nội bộ chính là bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Thực hiện chính đường lối đổi mới, mở cửa, tiềm lực và sức mạnh tổng hợp của  nước ta đã ở vị thế chưa từng có trong lịch sử. Nền kinh tế phát triển ổn định, an ninh quốc phòng, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, Việt Nam có quan hệ rộng rãi với các nước, các tổ chức quốc tế, là thành viên có uy tín và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa, uy tín lãnh đạo của Đảng được củng cố, tăng cường. Tuy nhiên, cần phải bảo vệ vững chắc chính trị nội bộ thì phát triển đất nước mới bền vững.

 Bảo vệ vững chắc chính trị nội bộ. Rà soát, bổ sung và bảo đảm việc chấp hành nghiêm các quy định, quy chế, quy trình công tác của cấp ủy, tổ chức Đảng và chính quyền các cấp về quản lý cán bộ, đảng viên, phát ngôn của đảng viên, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ. Phát huy vai trò của tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu trong phát hiện, kiến nghị xử lý kịp thời, nghiêm minh theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với số đảng viên vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm, kỷ luật phát ngôn và vi phạm nguyên tắc Đảng, những cán bộ đảng viên có suy thoái về tư tưởng tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Cung cấp thông tin, vận động, tranh thủ, đồng thời coi trọng củng cố chứng cứ, xử lý theo quy định của pháp luật đối với số văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư, cán bộ hưu trí có tư tưởng bất mãn, nhất là số đã “tự chuyển hóa” thành đối tượng phản động hoặc bị đối tượng phản động lôi kéo, lợi dụng. Thường xuyên củng cố tổ chức đảng, chính quyền cơ sở, nhất là những nơi có “điểm nóng”, giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp trong nội bộ, liên quan đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp, đình công, lãn công.

Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Công an nhân dân với Quân đội nhân dân, các bộ, ban, ngành, địa phương trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng và củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc gắn với nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm trao đổi, phối hợp thường xuyên giữa các ban, bộ, ngành liên quan trong phân tích, đánh giá, xử lý thông tin về cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tại Đông Nam Á, Biển Đông và trên trường quốc tế.

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp, biện pháp cụ thể, khả thi để nâng cao hơn nữa trình độ nhận thức, hiểu biết về vị trí, vai trò, nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Ba là, chấp hành nghiêm và thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định của Đảng, Nhà nước, quân đội về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhất là các quy định về bảo mật, không để lộ, lọt, mất thông tin; không viết bài, đưa tin, phát ngôn sai quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội và trong quân đội; thực hiện nghiêm Quy định số 126-QĐ/TW ngày 28/2/2018 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về quy định những điều đảng viên không được làm. Thực hiện tốt các phương châm trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm không bỏ sót những người có năng lực, trình độ trong quá trình thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA, ỨNG PHÓ NGUY CƠ ĐE DOẠ AN NINH KINH TẾ

 

Xác định rõ quan điểm “Bảo vệ an ninh kinh tế là bảo vệ an ninh quốc gia”, dưới sự lãnh đạo thường xuyên của Trung ương Đảng, mà trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, công tác bảo vệ an ninh kinh tế được quan tâm chỉ đạo từ trong đàm phán gia nhập các tổ chức, diễn đàn kinh tế khu vực và thế giới, cũng như quá trình ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nhằm tạo những tiền đề cơ bản để hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa luôn bảo đảm nguyên tắc giữ vững độc lập, tự chủ, vận hành theo quy luật khách quan; từng bước đổi mới, hoàn thiện thể chế phù hợp, không ngừng đa dạng hóa, đa phương hóa với các quan hệ hợp tác quốc tế trong phát triển kinh tế-xã hội, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể

Thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn trong giai đoạn hiên nay là vấn đề cần thiết trong sự nghiệp cách mạng xây dưng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới.

Vì vậy, công tác bảo vệ an ninh kinh tế hiện nay cần tập trung đảm bảo vững chắc sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa; làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch thông qua kinh tế để chuyển hóa chính trị. Kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thu hẹp dần khoảng cách giầu nghèo; những hạn chế tiêu cực của nền kinh tế thị trường, chống tham nhũng, lãng phí, buôn lậu, là vấn đề cần thiết, mang tính cấp bách trong giai đoạn hiện nay.

Hiện nay, các thế lực thù địch thông qua các hoạt động đầu tư, liên doanh, liên kết để đẩy mạnh phát triển khu vực kinh tế tư nhân, làm biến đổi dần cơ sở kinh tế - xã hội của chủ nghĩa xã hội ở nước ta; dùng sức mạnh kinh tế để thực hiện ý đồ chuyển hóa chế độ chính trị. Do đó, hoạt động đối ngoại, thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại nhằm mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế là vấn đề rất cần thiết. Do vây, phải tiến hành đồng bộ các hoạt động, có chiều sâu và hiệu quả một cách bền vững. Tăng cường tham mưu với Đảng, Nhà nước trong quá trình xây dựng, hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính sách, giải pháp toàn diện về bảo đảm an ninh kinh tế khi đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết và mở rộng hợp tác quốc tế; chủ động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế từ xa, từ ngoài biên giới lãnh thổ; nâng cao hiệu quả công tác thẩm định, đánh giá, giám sát về an ninh, trật tự đối với các chương trình, đề án, dự án đầu tư nước ngoài, có yếu tố nước ngoài; kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vi phạm pháp luật cũng như hoạt động gây phương hại, đe dọa gây phương hại đến an ninh kinh tế, an ninh quốc gia.

 

Nhận diện chiêu trò mới lợi dụng ChatGPT để xuyên tạc, chống phá

 

Mới đây, trên một số diễn đàn, trang mạng xã hội như Facebook, Youtube, Twitter… của một số tổ chức, hội nhóm phản động, truyền thông hải ngoại thiếu thiện chí đã lộ rõ bản chất giảo hoạt khi xuất hiện nhiều bài viết kèm theo hình ảnh với những luận điệu sai trái, xuyên tạc để nói xấu, xúc phạm lãnh tụ, hạ bệ Đảng và Nhà nước thông qua ứng dụng ChatGPT.

Các thế lực thù địch tung bài xuyên tạc: “Dân dùng ngay ChatGPT đặt những câu hỏi về Bác và Đảng”. Những câu hỏi được các thế lực này cố tình đặt ra để hỏi ChatGPT như: “Ai là cha già dân tộc Việt Nam?"; "Ai đã cho ta một mùa Xuân đầy ước vọng?"; "Ai đã cho ta sáng mắt sáng lòng?…”, rồi sau đó quy kết đó “là những câu hỏi được người dân trong nước đưa ra qua ChatGPT những ngày qua”.

Sau khi đặt những câu hỏi như vậy, họ hả hê thay mặt ứng dụng Chat GPT đưa ra đáp án: “Không có người được chỉ định là cha già dân tộc Việt Nam"; "Không có một người hoặc tổ chức nào cung cấp cho chúng ta một mùa Xuân đầy ước vọng"; "Không có ai cụ thể đã cho bạn sáng mắt sáng lòng…”. Từ đó, các thế lực này cho rằng: “Câu trả lời mà ChatGPT đưa ra được cho là khác hoàn toàn với những gì người dân trong nước được nghe lâu nay”. Vậy đó có phải sự thật? ChatGPT có phải là ứng dụng toàn năng? Thực chất đằng sau chiêu trò đó là gì?

Không thể bôi lem hiện thực

Trước hết, việc đặt ra câu hỏi cho Chat GPT và đưa ra những luận điệu xuyên tạc về lãnh tụ của dân tộc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam là những toan tính có chủ ý với động cơ đen tối của của các thế lực thù địch nhằm làm giảm sút, lung lay niềm tin, tình yêu của Nhân dân đối với Đảng, với Bác Hồ.

Sinh thời, Bác Hồ chưa bao giờ tự nhận là vị cha già của dân tộc nhưng đối với Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại và Nhân dân vì kính yêu Bác đã trìu mến gọi Bác là “Cha già dân tộc”, hình ảnh của Người được tôn kính, lưu giữ trong trái tim mỗi người Việt Nam. Hình tượng “người Cha” của Bác đã hòa vào nền văn hóa nghệ thuật của dân tộc. Trong bài thơ “Sáng tháng Năm”, nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Người là Cha, là Bác, là Anh/ Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”, hay bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” của nhà thơ Minh Huệ đã gọi Người là “Người Cha mái tóc bạc/ Đốt lửa cho anh nằm” … Những công lao to lớn của Người đã được dân tộc ta tôn vinh là “người Cha già kính yêu” và dù đã đi xa hơn nửa thế kỷ nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Đó là tấm lòng, sự tri ân sâu sắc của cả dân tộc đối với Người. Sự thật ấy không thể nào phủ nhận được.

Cũng giống như hình tượng ẩn dụ Đảng chính là mùa xuân của đất nước, thể hiện niềm tin và hy vọng của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tương lai của đất nước. Điều này được chứng minh qua lịch sử 93 năm ra đời, đồng hành, gắn bó cùng dân tộc, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, gian nan, thử thách để ghi dấu những mốc son chói lọi của đất nước, dân tộc. Không thể có bất kỳ lực lượng, tổ chức nào đủ uy tín, năng lực để thay thế vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng. Chính những cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước kia, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay Nhân dân ta thường dùng những câu nói, bài hát với tình cảm hết sức thân thương, trân trọng như “Đảng cho ta mùa Xuân đầy ước vọng”, “Đảng cho ta sáng mắt, sáng lòng”. Đây cũng là sự thật mà dù dùng bao nhiêu thủ đoạn, gian xảo đến mấy cũng không thể bôi lem.

Hãy tỉnh táo khi dùng ChatGPT

Quay trở lại ứng dụng ChatGPT, tháng 11/2022, công ty chuyên nghiên cứu trí tuệ nhân tạo (AI) có trụ sở tại San Francisco, bang California (Mỹ) cho ra mắt sản phẩm thử nghiệm chatbot ChatGPT, mô phỏng cuộc trò chuyện giữa người với người. Đây là một chương trình máy tính sử dụng AI và xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) để hiểu các câu hỏi của khách hàng đồng thời tự động trả lời.

Người dùng chỉ điền cụm từ “ChatGPT” trên Google thì trong 0,4 giây đã cho ra gần 660 triệu kết quả. Đây là ứng dụng có số người dùng phát triển nhanh nhất trong lịch sử bởi chỉ trong 2 tháng có mặt trên thị trường đã có tới hơn 100 triệu người dùng. Ước tính, trung bình mỗi ngày có 13 triệu người sử dụng ChatGPT. Sản phẩm công nghệ này đã phá vỡ kỷ lục mà không một ứng dụng nào trước đó làm được, cho thấy sức hút vô cùng mạnh mẽ của nó. Đây là ứng dụng có những tiện ích nhất định đối với người dùng, là một phần mềm được ứng dụng công nghệ và AI đang trong quá trình thử nghiệm thu thập dữ liệu bằng nhiều nguồn, nhiều thứ tiếng khác nhau.

Không chỉ là công cụ để trò chuyện thông thường, ChatGPT còn thành thạo nhiều việc phức tạp hơn, chẳng hạn viết hoặc sửa mã (code) máy tính, viết bài đăng email, báo cáo theo yêu cầu, thậm chí viết cả luận văn, kịch bản cho chương trình truyền hình hay làm thơ, soạn nhạc. Đặc biệt, có khả năng cắt ghép, tổng hợp những nguồn thông tin sẵn có trên các trang điện tử, sách, báo, văn bản, Wikipedia... xuất hiện trên Internet để đưa ra phản hồi, đáp ứng được câu hỏi của người sử dụng đưa vào ChatGPT. Nó có khả năng trả lời một cách uyển chuyển, dùng câu từ biểu cảm gắn kết với những tình huống khác nhau khi trả lời các câu hỏi do người dùng cung cấp.

Theo các chuyên gia, ở nhiều nước, ChatGPT chưa được ra mắt như một công cụ chính thức bởi nó liên quan đến vấn đề đạo đức và trách nhiệm khi những thông tin trả lời sai lệch, không chính xác, vi phạm các chuẩn mực. Hơn nữa, ChatGPT chỉ là ứng dụng ảo, không thể thay thế cảm xúc con người. Bởi vậy, nó không thể đại diện cho ý chí, tình cảm của dân tộc Việt Nam đối với Bác Hồ kính yêu, Đảng quang vinh, càng không thể nhân danh người dân Việt Nam để đặt ra những câu hỏi như vậy, đây chỉ là một công cụ để kẻ xấu sử dụng chống phá.

ChatGPT là ứng dụng thông minh, nhưng dù thông minh đến đâu suy đến cùng cũng là sản phẩm do con người sáng tạo ra, hoàn toàn không có lý trí và tình cảm, người dùng cũng không nên tin tưởng hoàn toàn vào kết quả mà nó đưa ra và cần kiểm tra chính xác thông tin trước khi sử dụng. ChatGPT có thể trả lời sai, thiên lệch, hoặc gây nhầm lẫn vì chỉ dựa trên dữ liệu huấn luyện mà không có kiểm soát đảm bảo chất lượng, tính đúng đắn của thông tin. Chính những người sáng lập ra ứng dụng này cũng nói về các nhược điểm như thiếu sự sáng tạo một cách đúng nghĩa, chỉ trả lời chung chung mà không cá nhân hóa và thiếu sự xác thực, thiếu dẫn nguồn...

ChatGPT không có trách nhiệm với các thông tin mà nó trả lời, chính kẻ sử dụng ứng dụng này để xuyên tạc, chống phá mới phải chịu trách nhiệm. Qua câu trả lời, người ta cũng thấy rõ đó là câu trả lời "vô hồn", chưa thể hiểu được các biện pháp tu từ trong ngôn ngữ Việt hoặc thực sự phớt lờ nghĩa bóng.

Điều mấu chốt ở đây, ChatGPT vô tình trở thành kẽ hở, “mảnh đất” để các thế lực thù địch lợi dụng, khai thác phục vụ cho mưu đồ xấu, các thế lực thù địch đã cố tình lập lờ và “nhân danh ChatGPT” để đưa ra những định kiến chủ quan, phủ nhận thực tế, đánh giá phiến diện, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Có thể thấy rằng, những tiện ích mà ChatGPT đem đến đã được chứng minh trên thực tế. Tuy nhiên, bằng chiêu trò lợi dụng thành tựu của khoa học công nghệ, những kẻ giảo hoạt đã lạm dụng để cung cấp cho ChatGPT những thông tin sai lệch nhằm phục vụ ý đồ đen tối. Khi đó, lúc người sử dụng đặt yêu cầu cho ChatGPT thì rủi ro mà nó gây ra là lừa đảo, truyền bá thông tin xuyên tạc, rất nguy hiểm nếu người dùng tin, sử dụng và hành động theo những thông tin sai trái ấy.

Do vậy, đối với người dùng khi sử dụng ChatGPT và những ứng dụng tương tự như vậy, khi đặt những câu hỏi và khi có câu trả lời, chỉ xem đó là những vấn đề cần tham khảo, phải có sự đối chứng, kiểm nghiệm, xác thực thông tin, lựa chọn những nguồn tin chính thống, đáng tin cậy. Đồng thời, cảnh giác, tỉnh táo, tránh mắc vào những cạm bẫy bởi “ma trận” tin giả, bịa đặt, xấu độc do những kẻ giảo hoạt giăng ra./.

Lật tẩy luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng

 

Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua. Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Thực tiễn lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. 

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...

Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta.

LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch tập trung chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các luận điệu xuyên tạc cho rằng: “mô hình kinh tế nầy là giả tạo, nhất là việc Đảng có thể dùng chủ nghĩa xã hội để định hướng kinh tế thị trường... như thế là trái với quy luật khách quan, rất cần phải được loại bỏ khỏi hiến pháp”. Thực chất đây là một luận điểm chống phá với mưu đồ hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận bản chất tốt đẹp, tính tất yếu khách quan trong xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bởi vì:

Như chúng ta biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ảnh trình độ phát triển của văn minh nhân loại. Kinh tế thị trường đã hình thành từ xã hội nô lệ, trong xã hội phong kiến có sự phát triển nhất định, đến xã hội tư bản chủ nghĩa kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, đem lại sự giàu có cho các nền kinh tế thị trường hiện đại. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra, loài người nhất thiết phải trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu lịch sử, song hiện nay kinh tế thị trường đang có những bước phát triển thích nghi với sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, cùng với sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, để xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, đòi hỏi các nền kinh tế phải trải qua kinh tế thị trường. Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc điểm, điều kiện của mỗi nước để vận dụng và phát triển kinh tế thị trường, trên cơ sở quy luật vận động chung của kinh tế thị trường, theo định hướng riêng của mỗi nước.

Ở Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách chống phá. Theo đó, mô hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp chỉ đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh. Do đó, để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho đi lên chủ nghĩa xã hội, cần phải trải qua thời kỳ quá độ với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen. Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986), trên cơ sở đổi mới tư duy, nắm bắt đúng quy luật vận động khách quan của kinh tế thị trường, xu thế phát triển tất yếu của thời đại, vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào điều kiện cụ thể Việt Nam; Đảng ta đề ra chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp. Đại hội VII, VIII của Đảng đều xác định xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; và từ Đại hội IX của Đảng đến nay, cũng như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đều xác định: Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp năm 2013 hiến định: Nền kinh tế Việt Nam là nền “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Có thể khẳng định lý luận về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện; đó là nền kinh tế thị trường hiện đại; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; với tính ưu việt được thể hiện cả trong sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối; gắn phát triển kinh tế với xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; đó là mục tiêu tốt đẹp mà xã hội loài người đang hướng tới và phấn đấu đạt được.

Chúng tã đã thấy thực tiễn quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hơn 36 năm qua đã chứng minh, từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu to lớn và toàn diện về mọi mặt; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản bảo đảm, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao. Tổng kết 35 năm đổi mới (1986 - 2020), Việt Nam từ một nước có nền kinh tế kém phát triển, có thu nhập thấp, đã trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh; kinh tế Việt Nam phát triển liên tục từ 1986 đến 2020 với tốc độ trung bình khoảng 7% mỗi năm; thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần. Năm 2021, do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, trong khi nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới tăng trưởng thấp, song Việt Nam vẫn đạt tăng trưởng 2,56%. Năm 2022, Việt Nam lấy lại đà tăng trưởng 8,02%. Đời sống nhân dân được nâng lên, các chính sách an sinh xã hội bảo đảm tốt; chính trị - xã hội đất nước ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững.v.v.

Tóm lại hhững thành tựu đó đã chứng minh đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quy luật vận động khách quan của kinh tế thị trường, xu thế phát triển tất yếu của thời đại và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Cho nên, những luận điệu xuyên tạc mà các thế lực thù địch đưa ra là hoàn toàn xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, chống phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy mỗi chúng ta cần tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang đi, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu sai trái, phủ nhận phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa./.

 

Phản bác luận điệu chống phá về bảo vệ chủ quyền biển, đảo

 

Biển Đông có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trên nhiều lĩnh vực, cũng như tồn tại nhiều phức tạp, tạo sự quan tâm đối với các quốc gia trong khu vực và thế giới, trong đó có hệ thống hàng hải quốc tế cùng những “vấn đề” về chủ quyền, lãnh thổ, nên nơi đây đã, đang là tâm điểm cạnh tranh và gây ảnh hưởng của các quốc gia trong và ngoài khu vực, nhất là các nước lớn. Cũng chính vì lẽ đó, nhiều thập niên gần đây, vùng biển này luôn là “vấn đề nóng” trên bàn cờ chính trị của khu vực. Đối với nước ta, lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động đã tung ra không ít thông tin sai sự thật, hòng xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; trong đó, họ nêu những “đề xuất”, “kiến nghị” đòi thay đổi chính sách ngoại giao của Việt Nam về chủ quyền biển, đảo. Đặc biệt, khi tình hình trên Biển Đông có “điểm nóng”, thì ngay lập tức, trên các tờ báo, đài phát thanh phản động ở nước ngoài, như: BBC, Đài châu Á tự do (RFA), các trang mạng xã hội, như: Facebook, YouTube, Twitter, Zalo,… tăng cường phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc về vấn đề này.

Luận điệu mà họ thường rêu rao là Đảng, Nhà nước Việt Nam “nhu nhược”, “làm ngơ” trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; rằng, “chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc quân sự thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”; sức mạnh của Hải quân Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”, v.v. Do đó, Việt Nam cần liên minh quân sự với các nước lớn có tiềm lực quân sự, quốc phòng mạnh, mới bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo quốc gia (!).

Cần khẳng định rằng, những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, bịa đặt; mục đích của họ nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, chính trị trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước. Bởi, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định: Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc bằng đường lối, quan điểm nhất quán, đúng đắn, hợp quy luật, hiệu quả.

Về bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Ngay sau khi đất nước thống nhất, nắm bắt việc Liên hợp quốc đang trong quá trình thảo luận, xây dựng Công ước về Luật Biển và nội dung liên quan, ngày 12/5/1977, Việt Nam đã ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Tiếp đó, ngày 12/11/1982, Chính phủ ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Đây là những cơ sở pháp lý hết sức quan trọng để Việt Nam tiến hành đàm phán giải quyết vấn đề phân định vùng biển chồng lấn với các quốc gia có liên quan trong giai đoạn sau này. Cụ thể: Việt Nam đã ký Hiệp định về phân định ranh giới biển với Thái Lan vào ngày 09/8/1997 và hiệp định này chính thức có hiệu lực kể từ ngày 26/02/1998. Đây là hiệp định phân định biển đầu tiên mà Việt Nam ký kết với các quốc gia láng giềng và cũng là hiệp định phân định biển đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á sau khi Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 chính thức có hiệu lực vào ngày 16/11/1994. Cùng với hiệp định này, Việt Nam và Thái Lan cũng đã có thỏa thuận về việc tuần tra chung giữa hải quân hai nước vào năm 1998, góp phần quan trọng vào việc duy trì an ninh, trật tự, ổn định vùng biển giáp ranh giữa hai nước. Đối với Vịnh Bắc Bộ, ngày 25/12/2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ; theo đó, về diện tích tổng thể: Việt Nam đạt 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc đạt 46,77% diện tích Vịnh. Ngày 26/6/2003, sau 25 năm đàm phán, Việt Nam và Inđônêxia đã ký Hiệp định phân định thềm lục địa chồng lấn giữa hai nước và hiệp định chính thức có hiệu lực từ ngày 29/5/2007. Những hiệp định trên mang ý nghĩa quan trọng, góp phần khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; đồng thời, tạo thuận lợi cho việc quản lý, khai thác các vùng biển và thúc đẩy hợp tác với các nước láng giềng. Đây là một minh chứng cho thấy, Đảng, Chính phủ, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, chủ động, kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Trong thực tế, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta ngay lập tức thể hiện quan điểm kiên quyết phản đối những hành động xâm phạm của nước ngoài, quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Đồng thời, thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao để lên án những hành vi vi phạm chủ quyền trên biển, đảo Việt Nam. Cùng với đó, Việt Nam luôn chủ động, tích cực và kiên trì giải quyết từng bước những bất đồng tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan, nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hòa bình, an ninh khu vực; tăng cường vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Bằng trải nghiệm xương máu trong lịch sử về hậu quả của chiến tranh, chúng ta cực lực phản đối chiến tranh, xung đột dưới bất cứ hình thức nào. Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng nói chung, liên quan đến biển, đảo nói riêng bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, pháp luật quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Đồng thời, sẵn sàng về lực lượng, phương án, kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đây là biện pháp thể hiện sự khôn khéo, mềm dẻo về sách lược, nhưng rất kiên quyết về nguyên tắc của Đảng và Nhà nước ta để đạt được mục tiêu đề ra, chứ không phải là “nhu nhược, hèn nhát”, “làm ngơ về Biển Đông” như những rêu rao xuyên tạc của các thế lực phản động, cơ hội chính trị.

Về vấn đề liên minh quân sự, trước hết, cần khẳng định quan điểm “bốn không” trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là về vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc không hề mâu thuẫn với chủ trương: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”1. Thực tế minh chứng, nhờ nhất quán và thực hiện đúng đường lối đối ngoại này, Việt Nam đã tạo được sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đem lại lòng tin chiến lược - một nền tảng hết sức quan trọng cho các đối tác, các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mặc dù Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa, bạn bè, nhân dân tiến bộ trên thế giới, nhưng chúng ta vẫn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, chính nghĩa, nên đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và thời đại - một nhân tố quan trọng giúp chúng ta giành thắng lợi. Đây là một trong những bài học được rút ra trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Vì vậy, muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc và lợi ích quốc gia - dân tộc, phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào liên minh nào. Mặt khác, theo logic của vấn đề, lợi ích của việc liên minh quân sự chắc chắn phải đạt được từ hai phía: nước nhỏ có thể tránh được nguy cơ mất chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mình trước một mối đe dọa nào đó từ bên ngoài, nhưng cái giá phải trả đó là sự “thế chấp” nào đó để nhận được những “cam kết” bảo vệ từ đồng minh. Đó là “luật chơi” thường thấy trong quan hệ quốc tế hiện nay. Như vậy, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đều khẳng định, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Việt Nam là phải tự lực, tự cường, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, dựa vào sức mình là chính, song luôn tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế, nhân dân tiến bộ trên thế giới để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đây cũng là sự khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta để đập lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động. Theo đó, chúng ta chủ trương bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; trong đó, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại làm nòng cốt. Và từ năm 2010, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã xác định Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Vì thế, lực lượng Hải quân được ưu tiên đầu tư cả về vũ khí, trang thiết bị và con người. Với việc tiếp nhận, huấn luyện làm chủ và đưa vào khai thác sử dụng nhiều loại tàu, vũ khí trang thiết bị hiện đại, đến nay Hải quân nhân dân Việt Nam đã có đủ năm thành phần lực lượng: tàu mặt nước; tàu ngầm; không quân Hải quân; pháo binh - tên lửa bờ; hải quân đánh bộ, đặc công Hải quân và lực lượng phòng thủ đảo. Cùng với đó, với truyền thống xây dựng, chiến đấu, trưởng thành gần 70 năm qua và những chiến công oanh liệt trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, Bộ đội Hải quân luôn vững vàng về lập trường, kiên định về lý tưởng, có tư duy sáng tạo, quyết đánh và quyết thắng, chắc chắn sẽ là những quả đấm thép, đủ sức cùng các lực lượng bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Điều này, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc về sức mạnh, ý chí chiến đấu của lực lượng Hải quân Việt Nam.

Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ thiêng liêng; trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của cả hệ thống chính trị và phải tiến hành đồng bộ các chủ trương, giải pháp. Trong đó, cần nhận rõ, kiên trì, kiên quyết đấu tranh với những chiêu trò xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ, đúng; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ TÌNH HÌNH BIỂNĐÔNG, GÂY HOANG MANG DƯ LUẬN, BÔI NHỌ, NÓI XẤU MỐI QUAN HỆ HỮU NGHỊ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC

Hiện nay, trước diễn biến trên thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, trong đó có tình hình Biển Ðông. Điển hình là các sự kiện như: dàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông năm 2014; và mới đây nhất tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 cùng các tàu hải cảnh, tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam...Liên quan vấn đề này các thế lực phản động đã triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội để tung ra những thông tin sai sự thật nhằm xuyên tạc, chống phá vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, bôi nhọ, nói xấu mối quan hệ Việt Nam- Trung Quốc.

Trước hết, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã lập nên các tờ báo, đài phát thanh phản động ở nước ngoài như BBC, Đài châu Á tự do (RFA)..; các trang mạng xã hội như facebook, Youtube, Twitter,… để phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc tình hình, diễn biến phức tạp trên Biển Đông. Thủ đoạn quen thuộc của các thế lực thù địch là lợi dụng những “điểm nóng” trên biển Đông để bóp méo, bịa đặt, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Gây chia rẽ, bất ổn trong nước.

Các thế lực thù địch còn tán phát nhiều tài liệu, bài viết có nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ; chính sách quốc phòng của Việt Nam và khả năng chiến đấu của Quân đội, gây tâm lý bất an, hoài nghi của một bộ phận quần chúng do thiếu thông tin, do ngộ nhận; đòi “hợp tác với một nước khác để giải quyết tình hình”, từ đó đánh vào tâm lý người dân, cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước “vì phe này, phe kia” để chủ quyền biển, đảo bị xâm lấn; đưa ra luận điệu: khi đất nước chỉ có một đảng thì không có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Lợi dụng các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch rêu rao rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam “nhu nhược” trong đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; hải quân Việt Nam “hèn yếu”, “nhu nhược”...

Mục đích của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội khi lợi dụng internet và mạng xã hội để đưa các thông tin tuyên truyền sai sự thật, xuyên tạc về tình hình biển Đông là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân trong vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Do đó, các thế lực thù địch đã lợi dụng những diễn biến phức tạp trên Biển Đông để kích động một bộ phận nhân dân biểu tình, tuần hành gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, từ đó tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Mưu đồ sâu xa của các thế lực là thông qua vấn đề biển, đảo đểchống phá chế độ, gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện “diễn biến hòa bình”; chia rẽ quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước có liên quan, làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng đối đầu, bị cô lập.

Do đó, đối với vấn đề tranh chấp trên Biển Ðông hiện nay, chúng ta phải đặc biệt cảnh giác trước chiêu bài của các phần tử phản động và thế lực thù địch. Việt Nam không thể trở thành con bài chính trị - nhất là của hai nước lớn, điều đó sẽ hết sức nguy hiểm cho lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh: âm mưu độc chiếm Biển Ðông của Trung Quốc không hề thay đổi. Ðối với giải quyết mối quan hệ với Trung Quốc hiện nay Ðảng, Nhà nước ta đã xác định: giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc. Chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc là bất di, bất dịch, bất khả xâm phạm.

Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Giữ vững mối đoàn kết với tất cả các nước. Không được để xảy ra xung đột. Không để lệ thuộc về kinh tế; không để bị cô lập về chính trị; không để bị lôi kéo đi theo nước này để chống lại nước khác; không để đối đầu về quân sự.

Quan điểm của Ðảng, Nhà nước ta về giải quyết những mâu thuẫn trên biển hiện nay là thực hiện tốt phương châm: Bốn không, bốn tránh, chín K, bốn giữ vững. Bốn không: không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Bốn tránh: tránh xung đột, tránh đối đầu, tránh bị cô lập về chính trị, tránh bị lệ thuộc về chính trị. Chín K: kiên quyết, kiên trì, khôn khéo, không khiêu khích, không mắc mưu khiêu khích, kiềm chế, không để nước ngoài lấn chiếm và không để xảy ra xung đột, đụng độ, không nổ súng trước. Bốn giữ vững: giữ vững chủ quyền quốc gia; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển; giữ vững quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt - Trung; giữ vững ổn định chính trị trong nước.

Trước vấn đề tranh chấp trên Biển Ðông hiện nay, có quan điểm cho rằng Việt Nam cần phải kiện Trung Quốc ra toà trọng tài quốc tế và phải đánh Trung Quốc. Thực ra, hiện nay Việt Nam chưa kiện, chứ không phải không kiện. Bởi, Việt Nam chủ trương đấu tranh bằng phương pháp hoà bình theo từng cấp độ, theo diễn biến của tình hình và trên cơ sở phương châm 16 chữ (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai) và 4 tốt (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) trong quan hệ với Trung Quốc. Mặt khác, Việt Nam luôn tích cực đấu tranh cả trên thực địa và ngoại giao. Khi cần thiết, chuẩn bị đầy đủ các yếu tố ta sẽ kiện, mà đã kiện là phải thắng.

Hơn bất kỳ một dân tộc nào, dân tộc ta thấu hiểu được sự mất mát đau thương của chiến tranh. Trong điều kiện hiện nay, nếu chiến tranh xảy ra sẽ là vô cùng nguy hại, sẽ là thiệt hại vô cùng lớn cả về con người và cơ sở vật chất, cả về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, ngoại giao; đặc biệt là không còn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước...

Khi chúng ta đã dùng hết mọi biện pháp hoà bình, không còn biện pháp nào khác thì chúng ta buộc phải tiến hành chiến tranh để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thố, biển đảo của Tổ quốc. Khi buộc phải đánh, chúng ta sẽ đánh và đã đánh là phải thắng.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, đất nước Việt Nam có Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có nhân dân anh hùng, có quân đội anh hùng. Việt Nam đã có Ðiện Biên Phủ trên bộ, Ðiện Biên Phủ trên không, nếu tình huống xấu nhất xảy ra (dù ta không hề muốn), chắc chắn chúng ta sẽ có Ðiện Biên Phủ trên biển. Bởi vậy, hơn lúc nào hết mỗi chúng ta cần phải nhận thức đúng đắn luôn tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện các luận điệu, thủ đoạn xuyên tạc đường lối đối ngoại để chống phá Đảng, Nhà nước ta của các thế lực, thù địch, phần tử xấu./. 

Nhận diện, đấu tranh với quan điểm phủ nhận thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới đất nước

 

Thời gian vừa qua trên Internet và các trang mạng xã hội đã có nhiều bài viết chống phá, tuyên truyền nhiều luận điệu xuyên tạc về bản chất của Đảng, Nhà nước Việt Nam, phủ nhận những thành quả của đất nước ta đạt được trong thời kỳ đổi mới. Trước hết, chúng ta cần nhận diện âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, đó là: Chúng luôn coi nhẹ, phủ nhận những thành tựu to lớn, ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới; tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc, trái với quan điểm, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta. Chúng kết hợp chống phá đường lối chính trị với chống phá trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; tập trung công kích, xuyên tạc thành tựu của đổi mới là do Đảng, Nhà nước Việt Nam "tự vẽ lên", "tự mình khen mình", chứ thực chất, theo chúng là "không có thật"; đất nước vẫn trong cảnh nghèo nàn, tụt hậu, đời sống nhân dân còn rất khó khăn, người dân nghèo thì không được thụ hưởng…

Thứ nhất, phải khẳng định tính tất yếu khách quan của đổi mới và không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới.

Đổi mới ở Việt Nam do Đảng khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986). Đó là sự lựa chọn tất yếu nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, là bước ngoặt trong tiến trình phát triển của đất nước. Sau hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 (bổ sung phát triển năm 2011) và hơn 35 năm đổi mới đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, trở thành điểm sáng trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ; công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị được đặc biệt quan tâm, có nhiều chuyển biến tích cực; công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chuyển biến mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả nổi bật; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh không ngừng được củng cố; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả. Tất cả những điều đó cho thấy đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Hai là, đổi mới ở Việt Nam là toàn diện, đồng bộ, có nguyên tắc, có lộ trình và bước đi thích hợp.

Đổi mới toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... Đổi mới theo những nguyên tắc cơ bản như: Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện pháp phù hợp; lấy chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước ta; đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị làm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động năng động và có hiệu quả hơn; sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi của cách mạng; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, kết hợp sức mạnh của nhân dân và sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.

Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang tiến hành đổi mới mạnh mẽ, toàn diện; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Những thành tựu đó là kết tinh trí tuệ, sức lực và bản lĩnh Việt Nam; phủ nhận thành quả cách mạng Việt Nam đồng nghĩa với phủ nhận một trong những trang sử hào hùng nhất của dân tộc; phủ nhận công lao, sự hy sinh xương máu của bao thế hệ cán bộ, chiến sỹ và nhân dân ta; phủ nhận vai trò lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước của Đảng ta; đó là việc làm hoàn toàn trái với sự thật, với công lý và lẽ phải, xúc phạm quá khứ thiêng liêng của dân tộc, cần phải vạch trần, đấu tranh phê phán và bác bỏ.

Nhận diện những phương thức, thủ đoạn chống phá chế độ

 Những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không ngừng củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác này được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu.

Đặc biệt, nhờ có sự lãnh đạo nhạy bén, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán liên tiếp xảy ra.

Đó là minh chứng hết sức sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ ta, truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta; càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản nổi, để xây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh, đất nước ta tiếp tục đi lên, dân tộc ta phát triển cường thịnh, trường tồn.

Tuy nhiên, đất nước ta càng đạt được những thành tựu phát triển to lớn, các thế lực thù địch, phản động lại càng hằn học tìm mọi cách để chống phá. Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo, tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đi vào chiều sâu đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn rất mới, trước đây chưa từng có, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị tăng cường chống phá chúng ta.

Chúng thay đổi phương thức, thủ đoạn chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng một cách tinh vi và xảo quyệt hơn. Hoạt động của chúng có lúc âm thầm, lẩn khuất, có lúc công khai, trắng trợn; thường tập trung vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự kiện đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, hoặc thời điểm xảy ra các vụ, việc phức tạp, nhạy cảm.

Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn này ở chỗ, chúng tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi, hoang mang, dao động, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm lung lay niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tạo tâm lý bức xúc, chống đối trong xã hội.

Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ ý đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, luôn toan tính tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, lý luận trong đời sống chính trị - xã hội của nước ta, với âm mưu cơ bản, lâu dài và rất thâm độc là xoay chuyển quỹ đạo phát triển của đất nước ta đi chệch hướng XHCN.

Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội (Zalo, Facebook, TikTok…), các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”.

Chúng tận dụng tối đa hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài, các kênh facebook, youtube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Chúng dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống như của Đài Truyền hình Việt Nam, Truyền hình Thông tấn và một số báo, đài chính thống để đưa tin. Mánh lới của chúng là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người.

Trong thời điểm tiến hành Đại hội đảng các cấp (năm 2020, 2021), các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị càng tăng cường, ra sức nhào nặn, bóp méo thông tin, xuyên tạc, chống phá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng tập trung công kích dự thảo các văn kiện trình Đại hội, xuyên tạc rằng các văn kiện lần này vẫn là “bổn cũ viết lại”, “sao chép theo lối mòn”, không có gì mới, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại; các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đưa ra trong dự thảo văn kiện là “bất khả thi”, “không có cơ sở để thực hiện”...

Cùng với đó, chúng tấn công vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược; liên tục tung tin giả về thân thế, sự nghiệp, tài sản, “sai phạm” của lãnh đạo cấp cao; xuyên tạc công tác nhân sự của Trung ương, công tác phòng, chống tham nhũng,... hòng gây bất ổn chính trị - xã hội, gây ra những khó khăn, thách thức không nhỏ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Việc nắm bắt những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị là nhiệm vụ đầu tiên để nhận diện rõ các đối tượng này, nhất là khi chúng là những kẻ thù giấu mặt, cơ hội chính trị, lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, để từ đó, chúng ta có đối sách, phương pháp đấu tranh phù hợp, đạt hiệu quả cao.