Thứ Năm, 10 tháng 8, 2023

Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái về chính sách quốc phòng “bốn không”

     Các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên mọi lĩnh vực; trong đó, có lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Gần đây, nhân sự kiện chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga đang diễn ra ở Ukraine, chúng tìm mọi cách lại xuyên tạc chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam.

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã và đang tìm mọi cách xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ về bản chất chính sách quốc phòng nước ta. Với nhan đề “Nga thiếu may mắn vì Ukraine không chọn “chính sách 4 không” của Trân Văn đăng trên Tiếng Dân News, ngày 04/3/2022... Họ đã viết: “Nếu Ukraine xác lập chính sách quốc phòng “ba không”: “Không tham gia liên minh quân sự”. “Không liên kết với nước này để chống nước kia”. “Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác” và đến năm 2019, long trọng bổ sung thêm một “không” nữa vào “Bạch thư Quốc phòng”: “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” như Việt Nam, vị thế chính trị của Ukraine sẽ không như mọi người đã thấy suốt thời gian qua”. Viết vậy, nhưng Trân Văn suy diễn: “Khi phải làm hàng xóm với một quốc gia vừa nuôi tham vọng chi phối, dẫn dắt các lân bang... một dân tộc quật cường như dân Ukraine chắc chắn sẽ không bao giờ chấp nhận bất cứ đảng nào, chính phủ nào định ra và đeo đuổi “chính sách ba không”, thậm chí tạo thêm một... “không” chỉ để duy trì... “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho đảng của mình, chính phủ của mình, chứ không phải giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”(!).

Thưa Trân Văn, chính sách quốc phòng “ba không”, rồi “bốn không” của Việt Nam là để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nói đến Tổ quốc có thể khái quát là sự hợp thành của hai phương diện: tự nhiên lịch sử và chính trị - xã hội. Nếu thiếu một trong hai phương diện trên thì chưa phải Tổ quốc hoàn chỉnh. Đúng thế! Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về phương diện tự nhiên lịch sử của đất nước ta vẫn còn nguyên đó, thực dân Pháp có “bê” được vùng đất, trời, biển của Việt Nam về lắp ghép với vùng đất, trời... của nước Pháp đâu mà nhân dân ta vẫn nói là nước mất nhà tan. Vì chính quyền phong kiến Việt Nam lúc đó chỉ là bù nhìn, làm tay sai cho thực dân Pháp mà thôi... 

Mặt khác, nếu không có phương diện tự nhiên lịch sử, thì dù có đầy đủ bộ máy nhà nước thì họ cũng đâu có Tổ quốc. Trên thực tế, một số tổ chức lưu vong có thâm thù với Đảng, Nhà nước Cộng sản Việt Nam luôn tìm cách nhằm lật đổ chế độ, như: Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời (từ 1990 đến nay), do Đào Minh Quân lãnh đạo; Việt Nam Quốc dân Đảng (1927 đến nay), do Trần Tử Thanh, Trần Thắng lãnh đạo; Đại Việt Cách mạng Đảng (1965 đến nay) do Trần Dzũng Minh Dân, Nguyễn Văn Lung lãnh đạo; Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (1982 đến nay) do Hoàng Cơ Minh, Đỗ Hoàng Điềm, Lý Thái Hùng, Hồng Thuận lãnh đạo,... dù các tổ chức này có bộ máy, nhưng họ đâu có Tổ quốc. Vì họ làm gì có vùng đất, vùng trời, biển... nào để mà làm chủ. Thế mà, Trân Văn lại cho rằng: “...định ra và đeo đuổi “chính sách ba không”, thậm chí tạo thêm một... “không” chỉ để duy trì... “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho đảng của mình, chính phủ của mình, chứ không phải giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”! Xin nhắc lại, chính sách quốc phòng “ba không”, rồi “bốn không” của Việt Nam là để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên cả hai phương diện: tự nhiên lịch sử và chính trị - xã hội; không thể chỉ bảo vệ “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho Đảng và Chính phủ mà không “giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”. Vì hai mặt này thống nhất biện chứng với nhau tạo nên Tổ quốc; nên không thể chỉ có mặt này mà không có mặt kia và ngược lại.

Việc cố tình lờ đi tính lịch sử của chính sách quốc phòng Việt Nam nói trên của Trân Văn để y hòng “buộc tội” cho việc “sai lầm” của chính sách này. Đây là việc làm không khách quan với chủ ý xấu của kẻ tiểu nhân. Nhân đây xin nhắc lại chính sách quốc phòng “ba không” lần đầu tiên xuất hiện trong sách trắng quốc phòng của Việt Nam năm 1998 và sau đó, tái xuất hiện trong sách trắng quốc phòng các năm: 2004 và 2009. Chính sách này cũng được nêu ra trong Luật Quốc phòng của Việt Nam, được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2019. Chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam (từ ba không thêm một không: “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”) xuất hiện trong sách trắng quốc phòng năm 2019. Nguyên tắc này không mâu thuẫn với mục đích hiện đại hóa quân đội cũng như nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang Việt Nam, đó là bảo vệ đất nước, kể cả bằng cách sử dụng vũ lực khi cần thiết. Nếu đất nước có chiến tranh, người Việt Nam buộc phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ hòa bình. Chúng ta kiên định chính sách quốc phòng "Không liên kết với nước này chống nước kia". Việt Nam không liên minh quân sự, đồng thời mở rộng quan hệ đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng nhằm mở rộng sự ủng hộ quốc tế, phát triển năng lực nhận thức, hiểu biết của chúng ta.

Thực tế cho thấy, đối với nước nhỏ trước những nước lớn, thế lực lớn đan xen thì phải khôn khéo trong chính sách đối ngoại, làm sao để dân tộc mình giữ được mối quan hệ tốt với các nước, đặc biệt là với các nước lớn, để tận dụng tốt thời cơ phát triển đất nước. Chính sách quốc phòng “ba không”, “bốn không” của Việt Nam là nhằm mục đích đó.

Mới đây, trả lời phỏng vấn của Báo Tuổi trẻ về chiến dịch quân sự đặc biệt giữa Nga và Ukraine, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã nhấn mạnh: Chúng ta không thể đứng ngoài sự việc này, bởi trước hết Nga và Ukraine đều là bạn của Việt Nam, những bên can dự vào đều là đối tác của chúng ta. Việt Nam chúng ta có 3 thế mạnh để có thể tham gia, đóng góp giúp tạo lập lại hòa bình. Thứ nhất, chúng ta đã chiến thắng trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, để kiến lập nền hòa bình bền vững cho đất nước. Thứ hai, chúng ta cũng có kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nhưng vẫn giữ được hòa bình. Trong hơn 1/4 thế kỷ qua, sóng gió như vậy nhưng Việt Nam giữ vững được toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, giữ được độc lập tự chủ và những gì chúng ta đang có, đồng thời giữ được hòa bình. Thứ ba, chúng ta có quan hệ đa phương rộng rãi với hầu hết các quốc gia, các tổ chức quốc tế.

Cho nên, quốc gia muốn yên ổn và phát triển phải giữ được sự độc lập, tự chủ, không lệ thuộc nước nào, không là đồng minh với nước này để chống lại nước kia, không có những hành động gây ảnh hưởng tới an ninh cho quốc gia khác, bình thường hóa với tất cả các nước, coi các nước đều là đối tác, nếu có hành động tạo sự căng thẳng với một nước lớn nào đó thì rất nguy hiểm. Vì thế, trong quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta luôn giữ vững quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển, không để đụng độ, va chạm xảy ra làm ảnh hưởng đến môi trường hòa bình phát triển đất nước. Chính sách quốc phòng “ba không”, “bốn không” của Việt Nam cũng nhằm mục đích đó, cớ sao lại suy diễn nhằm mục đích xấu?./.

Sự sai trái của luận điểm “chế độ một đảng không chống được tham nhũng”

     Để xuyên tạc, phủ nhận những tiến bộ trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền cho luận điểm “chế độ một đảng cầm quyền không thể chống được tham nhũng”(!). Đây là luận điểm rất sai trái, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Những năm qua, với quan điểm “phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh này. Với tinh thần kiên quyết, kiên trì, công khai, minh bạch, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tiến hành một cách bài bản, đạt được những kết quả tích cực.

Tuy nhiên, thực hiện mưu đồ chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch đã lợi dụng các trang mạng xã hội và kênh truyền thông không thiện chí với Việt Nam để lan truyền những thông tin xuyên tạc, bóp méo tình hình chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta. Một mặt, họ cho rằng các hoạt động phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay “chỉ là để mị dân”, hay “Đảng Cộng sản Việt Nam không thật sự quyết tâm chống tham nhũng”(!). Mặt khác, trước kết quả phòng, chống tham nhũng thời gian qua, nhiều tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, hoặc xử lý hình sự do tham nhũng, họ lại cho rằng “tham nhũng là sản phẩm của chế độ chính trị ở Việt Nam”(!) và “Việt Nam càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng nhiều, bởi đó là căn bệnh kinh niên của thể chế chính trị một đảng cầm quyền”(!). Từ đây, họ kêu gọi phải thay đổi thể chế chính trị, thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì mới có thể chống được tham nhũng. Cổ súy cho khuynh hướng này, ngày 24/6/2022, Đài Á châu tự do (RFA) đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: thay đổi thể chế” xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta; trong đó, họ nêu câu hỏi mang tính kích động chính trị, rằng: “Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không?”(!). Từ đó đưa ra “lời khuyên”: Việt Nam nên từ bỏ chế độ chính trị hiện hành để chuyển sang chế độ tư bản chủ nghĩa mới chống được tham nhũng. Những luận điểm kiểu này thực sự nguy hiểm, dễ làm cho người dân lầm tưởng tham nhũng gắn liền với thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa và do chế độ một đảng cầm quyền gây ra; qua đó, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và gây nên nguy cơ bất ổn về chính trị trong xã hội.

Cần khẳng định dứt khoát rằng, luận điểm coi tham nhũng là “căn bệnh kinh niên” của chế độ xã hội chủ nghĩa, của chế độ một đảng cầm quyền và “chế độ một đảng không chống được tham nhũng” là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, một mặt, tệ nạn tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực; ở đâu có quyền lực, ở đó có nguy cơ xảy ra tham nhũng, một khi quyền lực bị lạm dụng. Tham nhũng là “căn bệnh” của nhà nước, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra; có nhà nước là có tham nhũng, không phân biệt nhà nước đó là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, đi theo thể chế chính trị đa đảng hay một đảng. Mặt khác, nếu quyền lực được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện, thì quyền lực sẽ không thể bị lạm dụng; người có quyền lực sẽ “không thể,” “không dám”, “không muốn” và “không cần” tham nhũng, tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa. Do đó, chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng và cũng không phải là không thể chống được tham nhũng. Trên phương diện thực tiễn, ở các nước theo chế độ tư bản chủ nghĩa, duy trì chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn tồn tại; thậm chí một số nguyên thủ quốc gia (như ở: Tunisia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippin, Indonesia, Pakixtan, Brazil,…) cũng dính vào tội tham nhũng. Mới đây, Phó Tổng thống Argentina, 01 Phó Chủ tịch Nghị viện châu Âu cũng bị cáo buộc dính vào tham nhũng. Chẳng thế mà Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) hằng năm đều công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) trong khu vực công, để cung cấp cái nhìn tổng quát về mức độ tham nhũng tương đối của 180 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó, chủ yếu là các nước, vùng lãnh thổ đi theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện chế độ đa đảng. Nhìn vào bảng xếp hạng CPI năm 2021 (công bố đầu năm 2022) có thể thấy rất rõ quốc gia nào cũng có tham nhũng, khác nhau chỉ ở mức độ nghiêm trọng, bởi không có quốc gia nào đạt được điểm 100 (tức là không có tham nhũng). Những nước đứng đầu bảng xếp hạng CPI là Đan Mạch, Phần Lan và New Zealand, cũng chỉ đạt 88 điểm, nghĩa là vẫn có tham nhũng. Còn những nước đứng cuối bảng là Somalia, Syria và Nam Sudan chỉ đạt từ 11 đến 13 điểm, đều là các nước theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Bảng xếp hạng còn cho biết trong 10 năm qua (kể từ năm 2012), 23 quốc gia và vùng lãnh thổ đã giảm đáng kể về chỉ số CPI, trong đó có các nước như Australia, Canada và Mỹ. Điều đó cho thấy tham nhũng ở những nước này trong 10 năm qua có xu hướng gia tăng.

Thực tiễn ở nước ta cũng cho thấy, ngay từ những ngày đầu thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết liệt lên án những biểu hiện của sự tha hóa quyền lực nhà nước trong không ít cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Người coi tham ô, tham nhũng là thứ “giặc nội xâm”. Người viết: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”1. Người yêu cầu: “chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”2, phải kiên quyết đấu tranh, quét sạch. Với cương vị là Đảng cầm quyền, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta chưa bao giờ buông lỏng nhiệm vụ chống tham nhũng, tiêu cực. Tại Đại hội VII, Đảng ta đã khẳng định tham nhũng, tiêu cực là một trong bốn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, cần phải quyết liệt xóa bỏ. Để công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng có bước đột phá, Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) của Đảng đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Với cơ chế đó, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện bài bản, quyết liệt, đồng bộ, có bước đột phá, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong cuộc đấu tranh này với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

Để khắc phục những sơ hở, bất cập trước đây làm phát sinh tiêu cực, tham nhũng, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện bước đi rất bài bản bằng việc ban hành và đưa vào tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, quy định của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực3, nhằm “nhốt” quyền lực vào trong “lồng” cơ chế. Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng đã được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện một cách quyết liệt, công khai, minh bạch. Theo tổng kết của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, trong giai đoạn 2012 - 2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 04 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 6/2022, đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (cao gấp 04 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII); trong đó, có 08 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, 20 sĩ quan cấp tướng. Hoạt động phòng, chống tham nhũng từng bước được mở rộng ra cả khu vực ngoài nhà nước và sang cả lĩnh vực chống tiêu cực. Nhờ đó, tình trạng tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố thêm niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta.

Những kết quả cụ thể đó đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao; đồng thời, là bằng chứng thuyết phục bác bỏ mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực xấu, thù địch. Con số 93% người dân được hỏi trong cuộc điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành thời gian qua, bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã nói lên điều đó. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam còn nhận được sự ghi nhận, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế. Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, trong một thập kỷ qua, Việt Nam đã tăng hơn 30 bậc về chỉ số CPI, năm 2021 tăng 03 bậc trong bảng xếp hạng so với năm 2020. Cơ quan đầu mối quốc gia của Tổ chức Minh bạch quốc tế tại Việt Nam là Hướng tới Minh bạch (TT) cũng khẳng định: “Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể trong phòng, chống tham nhũng nhờ nỗ lực to lớn của Đảng và Nhà nước”. Trước những kết quả mang tính đột phá trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam, đại diện nhiều doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam cũng có những đánh giá tích cực. Ông Thomas Bo Pedersen, Tổng Giám đốc Công ty Mascot Việt Nam và Lào nhận xét: “Điều này cho thấy Đảng và Chính phủ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực rất quyết liệt và theo một cách có hệ thống. Tôi cho rằng, đây là động thái đúng đắn và cho tôi hy vọng rằng tham nhũng, tiêu cực sẽ không diễn ra khi thấy Đảng và Chính phủ xử lý tham nhũng, tiêu cực quyết liệt như thế cũng như nhìn thấy hậu quả nếu tham nhũng, tiêu cực”. Ông Kenneth Atkinson, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Anh quốc tại Việt Nam (BritCham Vietnam) nhấn mạnh: “Tôi cho rằng những hành động mạnh mẽ này của Việt Nam rất đáng hoan nghênh, đặc biệt lần này là với ngay cả những quan chức cấp cao. Đây là một động thái tích cực và hy vọng rằng sẽ được duy trì”.

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội, gắn liền với quyền lực nhà nước, nên không thể xóa tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn. Đó là điều mà cả thế giới đều nhận thấy. Ở nước ta, mặc dù cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với ý chí, quyết tâm và trách nhiệm cao; với tinh thần đấu tranh không “ngừng”, không “nghỉ” như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; với sự nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta chắc chắn sẽ đạt được kết quả cao hơn nữa. Tham nhũng, tiêu cực nhất định sẽ bị ngăn chặn, đẩy lùi; những luận điệu sai trái cho rằng “Đảng ta không có quyết tâm chống tham nhũng”, hoặc “cơ chế một đảng lãnh đạo cầm quyền không chống được tham nhũng” nhất định sẽ không còn chỗ đứng.

Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phòng chống tham nhũng

     Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao. Hiện nay, Nhà nước đã đưa ra rất nhiều nguồn ngân sách quốc gia nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ phát triển đất nước, phát triển xã hội. Tuy nhiên, mặt trái của sự gia tăng phát triển là vấn đề tham nhũng xuất hiện ngày càng nhiều. Vậy Vậy quan điểm của Đảng và Nhà nước về phòng chống tham nhũng như thế nào?

Thực trạng của vấn đề tham nhũng ở nước ta hiện nay: 

Tham nhũng là vấn đề diễn ra khá phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Ở từng địa phương, vấn đề tham nhũng vấn thường xuyên diễn ra. Người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi cá nhân. Tài sản tham nhũng thường là các tài sản có được từ các khoản ngân sách quốc gia. Các tài sản đó đáng nhẽ phải được phục vụ các hoạt động mang tính cộng đồng, đầu tư cho các chính sách, kế hoạch chung của Nhà nước.

Việc tham nhũng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích chung của quốc gia và quyền lợi riêng của các cá nhân. Tham nhũng diễn ra thường xuyên, khiến việc đầu tư vào các hoạt động mang tính cộng đồng, các công trình xây dựng phục vụ lợi ích nhân dân bị hạn chế hoặc không đảm bảo chất lượng. Tài sản mà người có chức vụ, quyền hạn tham nhũng là tài sản công. Tài sản tham nhũng càng nhiều, thì lợi ích của người dân càng bị hạn chế.

Thực tế, dịch vụ công đang được Nhà nước ngày càng đẩy mạnh. Dịch vụ công phục vụ lợi ích thiết yếu cho mọi người dân. Do đó, nếu người có chức vụ, quyền hạn tham nhũng, các dịch vụ công sẽ không được đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ, đúng chất lượng để phục vụ nhu cầu sống của người dân. điều này khiến đời sống người dân bị giảm sút, quyền con người mà Nhà nước muốn bảo vệ không được đảm bảo. Cùng với đó, tham nhũng dẫn đến tình trạng bất ổn dân cư, gây hoang mang, phẫn nộ cho người dân. Từ đó, mục đích phát triển dân cư, an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước sẽ không được đảm bảo thực hiện một cách trọn vẹn.

Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phòng chống tham nhũng:

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta ngày càng đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng. Các quan điểm của Đảng và Nhà nước về phòng chống tham nhũng được thể hiện cụ thể qua từng Nghị quyết, Đại hội. Cụ thể như sau:

+ Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ đất nước. Theo đó, Nghị quyết số 14-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15-5-1996 nêu rõ: Đấu tranh chống tham nhũng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta hiện nay. Nó góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng Đảng và bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền dân chủ của nhân dân… 

+ Đấu tranh chống tham nhũng là cuộc đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tùy tiện, vô nguyên tắc của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Đây là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội và cần thành lập các ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng ở Trung ương và địa phương đủ mạnh, có thực quyền, hoạt động có hiệu quả.

+ Đảng và Nhà nước nêu rõ, hoạt động chống tham nhũng là việc ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời, phải củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính. 

+ Công tác chống tham nhũng mà Đảng và Nhà nước đề ra được thực hiện dưới các giải pháp cụ thể như: tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức và nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng; thực hiện tốt công tác truyền thông về phòng, chống tham nhũng; xây dựng, kiện toàn các cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng được thành lập theo Luật phòng, chống tham nhũng; tăng cường giám sát của nhân dân và cơ quan dân cử; tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, Đảng và Nhà nước cũng chỉ ra rõ là các cơ quan ban ngành phải tập trung rà soát, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách; thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí. 

Thực tế hiện nay, để cụ thể hóa quan điểm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống pháp luật làm cơ sở pháp lý trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Cơ sở pháp luật này được xem là thước đo, định hướng hoạt động trong công tác xử lý hành vi tham nhũng. Các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và cả hệ thống chính trị, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã và đang thực hiện theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phòng chống tham nhũng. Những hoạt động này đã giúp quá trình phòng chống tham nhũng có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức, hành động và đạt được những kết quả bước đầu, nhất là trong phòng ngừa, công khai, minh bạch hóa, cải cách thủ tục hành chính, quản lý tài sản công. 

Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về phòng chống tham nhũng có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác xử lý tham nhũng, bảo vệ quyền lợi của người dân và phát triển kinh tế đất nước, phát triển xã hội. Những quan điểm trên mang tính định hướng cho công tác quản lý hoạt động phòng chống tham nhũng ở nước ta. Đồng thời, nó cũng mang tính răn đe cao cho những cá nhân, tổ chức đã và đang thực hiện tham nhũng.

Các nguồn tiền từ ngân sách quốc gia đều nhằm mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế đất nước, phục vụ đời sống nhân dân. Do đó, hành vi tham nhũng xâm phạm trực tiếp đến những lợi ích chung của cộng đồng này. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước là cơ sở cho hoạt động đấu tranh phòng chống tham nhũng. Đây được xem là kim chỉ nam định hướng hành động, giúp cơ quan chức năng có thẩm quyền định rõ hướng đi trong công tác phòng chống tham nhũng.

Phòng, chống “diễn biến hòa bình”: Tự tách làm hai

 

Sau buổi sinh hoạt chi bộ về, ông Thế mời ông Toán vào nhà uống nước. Rót chén trà cho người bạn già cùng thôn, ông Thế chậm rãi nói:

Đối ngoại quốc phòng nhằm mục tiêu vì hòa bình, hợp tác và phát triển

 

Giúp dư luận trong và ngoài nước hiểu rõ bản chất, mục đích của công tác đối ngoại quốc phòng, nhất là trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, là cách để chúng ta phản bác lại các quan điểm sai lệch hoặc cố tình "bóp méo" đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước cũng như chính sách quốc phòng của Việt Nam.

Hiểu đúng bản chất quyền lực tối thượng ở Việt Nam là phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc

 

Gần 80 năm qua, kể từ ngày lập quốc theo chế độ mới đến nay, việc thực thi quyền lực nhà nước của chúng ta ngày càng đúng đắn, tốt đẹp hơn, vì sự tối thượng là phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Do đó, nếu “nhà dân chủ” nào không hiểu bản chất vấn đề, cố ý đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, đánh tráo khái niệm giữa sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ với mục tiêu, bản chất thực thi quyền lực tối cao thuộc về nhân dân của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, là điều đáng phải phê phán.

VÕ CHÍ CÔNG – CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG KIÊN CƯỜNG CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG KIÊN CƯỜNG, NHÀ QUÂN SỰ MƯU LƯỢC


Người chiến sĩ cách mạng kiên cường, nhà quân sự mưu lược: Võ Chí Công, tên khai sinh là Võ Toàn, sinh ngày 7/8/1912, tại xã Tam Xuân, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Được thừa hưởng dòng máu yêu nước cách mạng của gia đình, lại được nuôi dưỡng trên mảnh đất quê hương có bề dày truyền thống văn hiến, kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm, tuổi thơ của Võ Chí Công được rèn đúc trong các phong trào đấu tranh yêu nước sục sôi chống Pháp ở Trung kỳ lúc đó, và đã sớm trở thành một thanh niên yêu nước, giàu nhiệt huyết cách mạng.
Năm 1932, khi mới 19 tuổi, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương, và chỉ ít lâu sau đã trở thành người lãnh đạo chủ chốt của tổ chức Đảng ở phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Trong suốt những năm hoạt động cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa, ông liên tục bám dân, trực tiếp lãnh đạo của các cấp bộ Đảng địa phương, xây dựng và phát triển lực lượng quần chúng rộng khắp. Nhờ đó, hàng loạt cơ sở cách mạng và các tổ chức, đoàn thể yêu nước đã ra đời, tập hợp được đông đảo lực lượng nhân dân tham gia, tạo nên phong trào cách mạng sôi nổi trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936-1939) trên địa bàn các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi và nhiều tỉnh khác ở miền Trung.
Năm 1940, Võ Chí Công trực tiếp đảm nhận cương vị Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam - một địa bàn địch thường xuyên khủng bố, đánh phá ác liệt. Nhưng với tinh thần không quản hy sinh, vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, ông thường xuyên đi sâu đi sát cơ sở, kịp thời chỉ đạo phong trào cách mạng. Giữa năm 1943, ông bị mật thám Pháp bắt và bị đưa đi đày tại Buôn Ma Thuột với mức án 25 năm cấm cố. Sau khi Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), ông được trả tự do, trở về quê nhà và tham gia Uỷ ban khởi nghĩa, lãnh đạo nhân dân giành chính quyền nhanh gọn ở Quảng Nam- Đà Nẵng.
Sau Cách mạng tháng Tám, Võ Chí Công được phân công đảm trách nhiệm vụ mới, là một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Khu uỷ khu V, lãnh đạo nhân dân khu V kháng chiến chống Pháp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và Quân khu uỷ khu V, nhân dân các tỉnh duyên hải miền Trung đã kiên cường chiến đấu, chia lửa với chiến trường chính Điện Biên Phủ, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (7/1954), lập lại hoà bình ở Việt Nam.
Đầu năm 1953, Võ Chí Công được Trung ương triệu tập ra Việt Bắc tham dự Hội nghị toàn quốc của Đảng để bàn về cải cách ruộng đất. Sau đó, đồng chí được giữ lại ở miền Bắc tham gia công tác phát động quần chúng đấu tranh giảm tô, cải các ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Với tư cách là người trong cuộc, ông phê phán cách làm rập khuôn, giáo điều dựa vào kinh nghiệm nước ngoài một cách máy móc, dẫn đến những sai lầm, tổn thất cho cách mạng. Từ kinh nghiệm đau xót và bài học được rút ra, sau này cách mạng miền Nam đã tránh được nhiều tổn thất trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất và chính sách đối với nông dân ở vùng giải phóng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Liên Khu V bao gồm cả Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là chiến trường khốc liệt. Trên cương vị Bí thư Khu uỷ kiêm Chính uỷ Quân khu V, Võ Chí Công đã bám trụ kiên cường, tổ chức chỉ đạo quân và dân Khu V chiến đấu không lùi bước. Trong những ngày đen tối của cách mạng miền Nam, Trung ương Đảng đã nhận được những ý kiến nhận định, đánh giá sát thực về tình hình cách mạng miền Nam của ông.
Trên cơ sở ý kiến của Võ Chí Công, cùng với bản Đề cương về cách mạng miền Nam của Lê Duẩn, Ban Chấp hành Trung ương đã xây dựng nên Nghị quyết 15 lịch sử, tạo ra phong trào “Đồng khởi”, mở đầu thời kỳ đấu tranh vũ trang, dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ thù ở miền Nam. Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ khu V, trực tiếp là Võ Chí Công - Bí thư Khu uỷ, địa bàn khu V luôn đi đầu trong phong trào thi đua diệt Mỹ, góp phần tạo thế đứng quan trọng của ta trên chiến trường miền Nam.
Ảnh chụp cùng đồng chí Đỗ Thế Chấp tại chiến khu.
ST

Có thể là hình ảnh về 2 người

LÊ KHẢ PHIÊU – NGƯỜI LÃNH ĐẠO GẦN DÂN


Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng chí quan tâm đến nhiều giới, nhiều ngành và nhiều lĩnh vực, từ khoa học, giáo dục-đào tạo đến văn hóa, văn nghệ, báo chí, từ công tác xóa đói giảm nghèo đến giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho các thế hệ… Ở diễn đàn nào cũng thấy toát lên từ đồng chí sự nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm rất cao.
Mặc dù công việc của người lãnh đạo cao nhất của Đảng rất bộn bề, song đồng chí luôn dành thời gian đi nhiều địa phương, thăm và làm việc với nhiều cấp, ngành, để lại dấu ấn là người quan tâm, am hiểu, sâu sát.
Đến với Hà Giang - mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, một tỉnh miền núi nghèo và khó khăn nhất cả nước, đồng chí nhắc nhở “phải bảo vệ biên giới của chúng ta hòa bình, hữu nghị, ổn định để phát triển” (Bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XIII, ngày 4/12/2000).
Đối với Thành phố Hồ Chí Minh - thành phố lớn nhất, đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước, một trọng điểm trong cuộc đấu tranh để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” trong quá trình công nghiệp hóa-hiện địa hóa và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng chí chỉ rõ: “ Đối với một đảng cầm quyền, nguy cơ lớn nhất là nguy cơ suy thoái về chính trị, suy thoái về đạo đức. Kẻ thù hiểu rằng muốn xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thì phải chuyển hóa Đảng Cộng sản, làm cho Đảng Cộng sản không còn nữa, hoặc làm cho Đảng Cộng sản còn tên mà đã biến chất” (Bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh khóa VII, ngày 19/12/2000).
Vì vậy, Đảng bộ Thành phố “phải khắc phục sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, nguyên tắc và ý thức tổ chức, đạo đức lối sống, mơ hồ về bản chất dân tộc và giai cấp của cuộc đấu tranh trong giai đoạn cách mạng mới, mất cảnh giác, ảo tưởng, ỷ lại, chùn bước trước khó khăn” (Bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh khóa VII, ngày 19/12/2000).
Tất cả những điều đó đòi hỏi Đảng bộ phải được tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn với tinh thần tích cực hơn nữa, thiết thực hơn nữa, tập trung hơn nữa để giải quyết cơ bản những vấn đề nổi cộm và những vấn đề mới nảy sinh.
Với thủ đô Hà Nội, đồng chí dành sự quan tâm đặc biệt. Đồng chí yêu cầu: “Lời dạy của Bác Hồ là định hướng cơ bản, lâu dài, xuyên suốt trong toàn bộ chủ trương, chính sách, công tác và hành động đối với Đảng bộ và nhân dân Hà Nội” (Bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XIII, ngày 27/12/2000).
Vì Hà Nội là trái tim của chế độ xã hội chủ nghĩa, là thành trì xã hội chủ nghĩa của cả nước, tiêu biểu cho bản lĩnh chính trị kiên định của nhân dân ta, góp phần sáng tạo và nhân lên sức sống của đường lối chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa tỏa rộng khắp cả nước, cho nên “những quan điểm mập mờ, do dự về con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực phải được đấu tranh phê phán rõ ràng và sòng phẳng” (Bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XIII, ngày 27/12/2000).
Cuối năm 1999, các tỉnh miền Trung phải hứng chịu hai trận lụt lớn. Qua các phương tiện truyền thống, người ta thấy Tổng Bí thư sắn quần, lội bộ đi kiểm tra chống lũ, mang đến cho đồng bào, đồng chí miền Trung sự tin tưởng và ấm lòng vào Trung ương và đồng bào cả nước. Khi chưa kịp về thăm các tỉnh bị lũ, đồng chí có thư điện gửi toàn thể đồng bào và đảng bộ các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và thành phố Đà Nẵng, chia sẻ những mất mát, khó khăn…
Phát biểu tại Lễ trao Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng tặng đồng chí Lê Khả Phiêu (ngày 25/8/2019), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã trân trọng đánh giá: là cán bộ trưởng thành từ cơ sở, ông luôn có tác phong gần gũi quần chúng, sâu sát cơ sở, tôn trọng và lắng nghe cấp dưới, phát huy trí tuệ tập thể trong hoạt động lãnh đạo, tận tình giúp đỡ, truyền đạt kinh nghiệm cho lớp người đi sau. Chúng tôi luôn học tập ở ông về phương pháp, tác phong làm việc sâu sát, cụ thể và hiệu quả.
Là người lính dày dạn kinh nghiệm, đi qua các cuộc chiến tranh, kinh qua nhiều chức vụ, cho đến lúc đã nghỉ hưu, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu vẫn luôn là một người nhiệt huyết, hết mình cống hiến, có trách nhiệm với Đảng, với dân, với nước. Đúng như lời đồng chí từng bày tỏ: tuy tôi đã được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu, nhưng không có nghĩa là chỉ ăn và nghỉ, mà phải tiếp tục nghĩa vụ của người đảng viên cộng sản là làm được điều gì có lợi cho Đảng, cho nước, cho dân, khi tim còn đập thì còn cống hiến.”
ST
#HongHoaRose
Có thể là hình ảnh về 4 người

ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG NHẰM MỤC TIÊU VÌ HÒA BÌNH, HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN

 

Giúp dư luận trong và ngoài nước hiểu rõ bản chất, mục đích của công tác đối ngoại quốc phòng, nhất là trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, là cách để chúng ta phản bác lại các quan điểm sai lệch hoặc cố tình "bóp méo" đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước cũng như chính sách quốc phòng của Việt Nam.
Trước hết, Việt Nam có quan điểm, chủ trương hết sức rõ ràng đối với chính sách đối ngoại nói chung và đối ngoại quốc phòng nói riêng. Trong đó, Đại hội XIII của Đảng đã xác định những nguyên tắc nền tảng của công tác đối ngoại thời kỳ đổi mới là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.
Đối với các vấn đề quốc tế và trong triển khai các hoạt động đối ngoại quốc phòng, Việt Nam luôn nhất quán quan điểm và dựa vào các nguyên tắc này.
Nhân nói về chính sách quốc phòng, gần đây, một số tổ chức, cá nhân phản động, bất mãn đã lợi dụng các sự kiện nóng của quốc tế và phản ứng của Việt Nam, các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Quân đội để xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam. Chẳng hạn, họ nói một cách ẩn ý rằng, trong bối cảnh cuộc xung đột Nga-Ukraine đang diễn ra, Việt Nam đẩy mạnh hợp tác quốc phòng với Nga thực chất là đi với nước này chống nước kia.
Về vấn đề này, Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã chỉ rõ chính sách quốc phòng “4 không”, đó là: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Gần đây nhất, phát biểu khi chủ trì phiên họp thứ nhất Ban chỉ đạo xây dựng Đề án tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế diễn ra ngày 2-8 vừa qua, Thủ tướng Phạm Minh Chính một lần nữa khẳng định Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách quốc phòng “4 không” nói trên.
Trước đó, chia sẻ khi đến thăm Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ (CSIS) trước thềm Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ tại Washington vào tháng 5-2022, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng nêu rõ rằng: Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, cùng thắng.
Qua đó để thấy, việc lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam đến thăm hoặc tham dự các diễn đàn, sự kiện tại Nga hay bất cứ quốc gia nào khác là nhằm tăng cường giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đồng thời đóng góp và kiến tạo hòa bình. Đây là điều hết sức bình thường, hoàn toàn phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại mà Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra, cũng như xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Sau một thời gian bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, các nội dung hợp tác dồn lại nhiều nên hoạt động thăm viếng, tiếp xúc, trao đổi và hợp tác thậm chí sẽ còn được đẩy mạnh và diễn ra sôi động hơn.
Xuyên tạc, cổ xúy cho tư tưởng Việt Nam “tham gia liên minh” hay quy chụp Việt Nam “đi với nước này chống nước kia” thực chất chỉ là quan điểm mang tính chống phá, cố tình hiểu sai bản chất vấn đề của một số cá nhân, tổ chức nhằm mục đích hạ thấp uy tín, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước.
Thực tế cũng chứng minh đối ngoại quốc phòng đã góp phần to lớn vào thực hiện kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh và xung đột. Thông qua đẩy mạnh, mở rộng quan hệ về quân sự, quốc phòng, chúng ta có thêm điều kiện để giữ vững an ninh trên bộ, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và tăng cường tiềm lực quốc phòng để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước, cùng các quốc gia và đối tác quốc tế giải quyết các thách thức an ninh chung.
Một trong những ví dụ điển hình cho những lợi ích mà đối ngoại quốc phòng mang lại đó là bảo vệ an ninh, thúc đẩy hợp tác hữu nghị ở biên giới trên bộ giữa Việt Nam và các nước láng giềng. Kể từ khi lần đầu tiên được tổ chức tại tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) và tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) vào tháng 3-2014, đến nay, Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Trung Quốc đã trải qua 7 kỳ giao lưu với nội dung ngày càng thiết thực và có chiều sâu hơn. Song song với các cuộc gặp gỡ giữa lãnh đạo quân đội hai nước ở khu vực biên giới là các hoạt động tặng quà, xây trường học, xây nhà văn hóa, khám, chữa bệnh miễn phí cho người dân hai bên... Cùng với đó, sau mỗi lần giao lưu, công tác quản lý và bảo vệ biên giới, hợp tác cửa khẩu, kinh tế-thương mại biên giới, đấu tranh phòng, chống tội phạm, tuần tra chung... cũng được đẩy mạnh.
Đó không phải là những cuộc giao lưu mang tính phô trương, hình thức hay “làm màu” như một số đối tượng rêu rao, mà đã đem lại những hiệu quả to lớn, giúp khu vực biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc duy trì ổn định, an ninh trật tự được bảo đảm, hệ thống mốc quốc giới được giữ vững; đồng thời đẩy mạnh các hoạt động hợp tác giữa nhân dân khu vực giáp biên cũng như lực lượng bảo vệ biên giới hai nước. Chẳng thế mà sau thành công của các chương trình giao lưu biên giới với Trung Quốc, vài năm trở lại đây, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã phối hợp với các nước bạn nhân rộng mô hình này thông qua việc lần lượt tổ chức Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới với Lào và Campuchia. Ngay trong năm nay sẽ diễn ra Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia cấp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lần thứ nhất và Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Trung Quốc lần thứ 8.
Rõ ràng, đối ngoại quốc phòng đã giúp biên giới không chỉ đơn thuần đóng vai trò xác định ranh giới lãnh thổ giữa Việt Nam và các nước mà trở thành không gian để hợp tác, thúc đẩy phát triển kinh tế, giao lưu nhân dân ở khu vực biên giới. Hơn thế nữa, ở từng thời điểm khác nhau, các hoạt động hợp tác, đối ngoại quốc phòng những năm qua đã góp phần quan trọng vào việc thu hẹp khác biệt, giải quyết bất đồng, “tăng nốt thăng, giảm nốt trầm” trong quan hệ ngoại giao với một số nước. Dĩ nhiên, việc phát triển các mối quan hệ quân sự, quốc phòng tới tầm mức nào còn phụ thuộc vào khả năng, nhu cầu của Việt Nam và từng quốc gia, tùy thuộc vào tình hình cụ thể.
Bất luận ai cố tình phán sai, nói lệch thế nào, các hoạt động đối ngoại quốc phòng mà Quân đội nhân dân Việt Nam đã và đang triển khai vẫn là tấm gương phản chiếu chính sách quốc phòng vì hòa bình, tự vệ, hợp tác và phát triển.
Theo qdnd.vn

ĐÂY LÀ NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐÃ TỪNG DẮT MŨI CIA!



Đã dắt mũi CIA cả chục năm trời, qua mặt được cả giới truyền thông báo chí tại xứ sở cờ hoa với tai vách mạch rừng, “lừa đảo” các chuyên gia từ MI6 - Cơ quan tình báo nước ngoài Vương quốc Anh (nếu ai xem Điệp viên 007 chắc chắn sẽ biết) để qua các vòng phỏng vấn nhân thân điều tra. Ông đã vô hiệu hóa hoàn toàn CIO - Phủ Đặc ủy Trung ương trực thuộc Tổng thống VNCH và che mắt hành tung trước hàng trăm nhân viên phản tình báo của Nha Kỹ thuật tình báo Quân lực VNCH. Một con người đã làm được những cái việc mà KGB - Cơ quan tình báo Liên Xô, Hoa Nam Cục - Cục tình báo TW Trung Quốc… không thể làm được.
Đơn thương độc mã hoạt động, con người này đã gửi tổng cộng khoảng 500 báo cáo thuộc hàng bí mật nhất trên thế giới từ sau Thế chiến thứ hai. Thậm chí, có những tài liệu mà cấp bậc Trung tướng của VNCH còn không thể tiếp cận và chỉ có một vài người trong bộ máy VNCH được biết. Từ những tài liệu của Ấp chiến lược đến Việt Nam hóa chiến tranh, từ trận phản công Cánh đồng Chum đến Khe Sanh, từ những tài liệu cơ mật đổ quân trong Mậu Thân 1968 rồi những sơ đồ bày binh bố trận của quân đội VNCH để đối phó với Quân Giải phóng trong những năm tháng cuối 1974 và đầu 1975.
Không ai nghĩ rằng một con người mà bề ngoài phong lưu, miệng hay ngậm thuốc, quần áo lúc nào chỉnh tề bóng loáng chất chơi, tóc vuốt vuốt giống những gã trai hư sẵn sàng cưa đổ bất cứ cô gái nào lại gần… lại là một sĩ quan tình báo kinh điển của không chỉ Việt Nam mà còn của thế giới. Trong cuộc đời tình báo, ông có nhiều người con gái ở bên cạnh, thậm chí có người chấp nhận uất ức, nhẫn nhịn thậm chí có thể hy sinh vì ông... Một chi tiết mà có lẽ các nhà làm phim Hollywood đã mượn để xây dựng hình tượng James Bond trong loạt phim 007.
Người ta thường gọi ông bằng những cái tên “điệp viên hoàn hảo”, “quý ông tình báo”, “người hủy hoại danh tiếng CIA”. Một con người mà mọi cơ quan tình báo trên thế giới đều phải nghiên cứu và đúc rút. Một sĩ quan tình báo vĩ đại đến những năm tháng già yếu nhất vẫn sẵn sàng cống hiến, tham mưu cho Tổng cục Tình báo - Quân đội Nhân dân Việt Nam trong những năm tháng Liên Xô sụp đổ…
Đó là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn.
ST



CHIẾN THẮNG KHE LAU – VANG MÃI BẢN HÙNG CA SÔNG LÔ


Trong chiến dịch Việt Bắc Thu–Đông 1947, chiến thắng Khe Lau là một trong những trận thắng giòn giã trên mặt trận sông Lô. Dòng sông Lô mãi đi vào lịch sử, minh chứng sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập.
Khe Lau là nơi giao nhau giữa sông Gâm và sông Lô thuộc địa phận xã Thắng Quân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Nơi đây còn có nhiều tên gọi khác là ngã ba Luồng, Cửa Sông hoặc Hòn Lau. Với địa hình hiểm trở, cả hai bờ sông đều có những đồi lau rậm rạp và ở gần chân núi đã tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta phục kích đánh địch.
Từ ngày 3/11/1947, quân Pháp bắt đầu rút khỏi Chiêm Hóa về thị xã Tuyên Quang bằng cả đường thủy lẫn đường bộ.
Bộ đội Trung đoàn 112 cắt rừng vượt về Yên Nguyên phối hợp cùng dân quân, du kích địa phương lập một trận địa phục kích từ chân đèo Gà tới cầu Cả. Pháo binh được điều gấp từ Yên Bình về bố trí phục kích tàu chiến địch ở Hòn Lau.
Lúc 14 giờ ngày 10/11/1947, đoàn tàu của địch gồm 2 chiếc LCT, 1 ca-nô chở 200 lính Âu-Phi từ Chiêm Hóa chạy về tới Hòn Lau. Pháo binh của ta dồn dập nhả đạn. Cả 2 chiếc LCT của địch đều bị trúng đạn, bốc cháy. Chiếc ca-nô của địch tháo chạy nhưng cũng bị trúng đạn. Lính Pháp chạy lên bờ liền bị dân quân, du kích nổ súng tiêu diệt.
Trận Khe Lau diễn ra hơn 1 giờ đồng hồ, quân ta đã tiêu diệt hơn 200 tên lính địch, bắn chìm 2 tàu chiến, 1 ca-nô. Chiến thắng Khe Lau, được đánh giá là 1 trong 10 trận đánh lớn trong chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông năm 1947.
Cố Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn Bình Ca từng khẳng định, trong chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông năm 1947, Tuyên Quang đã đóng góp vào chiến thắng trên mặt trận sông Lô bằng 2 trận đánh. Trận đầu là trận Bình Ca và trận cuối cùng là trận Khe Lau.
Bác Hồ đã nói “địch mạnh ở hai gọng kìm, ta bẻ gãy thì cái ô mà chúng chụp xuống Việt Bắc sẽ cụp thành ô rách”.
Quân và dân Tuyên Quang đã góp phần bẻ gãy cánh quân đường thủy của Pháp, đóng góp rất lớn vào chiến thắng Việt Bắc Thu-Đông năm 1947. Đập tan ý đồ chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài để đối phó với ta, góp phần đưa cuộc kháng chiến của dân tộc ta sang một thời kỳ mới. Với thắng lợi này, lực lượng vũ trang của ta ngày càng trưởng thành, căn cứ địa Việt Bắc đã trở thành biểu tượng của niềm tin và chiến thắng.
Không thực hiện được âm mưu, thực dân Pháp buộc phải rút khỏi Việt Bắc, trong quá trình rút chạy chúng bị quân ta chặn đánh tiêu hao nhiều sinh lực. Giữa tháng 12/1947, Tuyên Quang sạch bóng quân xâm lược.
Trong chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông 1947, quân và dân Tuyên Quang đã đánh 48 trận trong đó có 30 trận độc lập tác chiến, 18 trận phối hợp với bộ đội chủ lực, tiêu diệt 1.300 tên địch, bắn cháy, bắn hỏng 10 ca-nô, tàu chiến, phá hủy 1 máy bay, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng.
Quân và dân Tuyên Quang đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu hao sinh lực địch, góp phần bảo vệ an toàn, bí mật nơi ở của Bác Hồ, các cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến.
Ngày 23/12/1947, tại thị xã Tuyên Quang đã diễn ra lễ mừng chiến thắng Việt Bắc Thu-Đông 1947 và vinh dự được đồng chí Võ Nguyên Giáp – Tổng chỉ huy Quân đội nhân dân và dân quân tự vệ Việt Nam thay mặt Chính Phủ tuyên dương công trạng quân dân Việt Bắc./.
Nhân dân
Thích
Bình luận
Chia sẻ