Thứ Ba, 15 tháng 8, 2023

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, XUYÊN TẠC BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN CỦA ĐẢNG

  

          Ngay sau khi ra đời và phát triển cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn là tiêu điểm của cuộc đấu tranh tư tưởng - chính trị quyết liệt. Tâm điểm của cuộc đấu tranh đó trước hết là sứ mệnh lịch của giai cấp công nhân (GCCN) và bản chất GCCN của Đảng Cộng sản.

          1. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta - tâm điểm xuyên tạc chống phá của các thế lực thù địch

          Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch phản động tăng cường chống phá trên mặt trận tư tưởng, lý luận, trong đó có sự xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tung ra rất nhiều luận điệu, trong đó tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau đây:

          Một là, chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là Đảng mang bản chất GCCN, mà là Đảng của nông dân và trí thức. Bởi vì, nhìn vào đội ngũ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam chủ yếu là nông dân và trí thức, còn GCCN chiếm số lượng rất nhỏ bé. Cho nên, Đảng có rất ít tính công nhân, mà mang đậm dấu ấn của tiểu tư sản. Hơn nữa, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội phong kiến, nên GCCN và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.

          Hai là, với cách diễn đạt về bản chất GCCN của Đảng như trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) là hạ thấp bản chất GCCN của Đảng, là trượt sang quan điểm “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”.

          Ba là, trong điều kiện đổi mới và phát triển kinh tế thị trường, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã làm cho Đảng biến chất, không còn mang bản chất GCCN.

          Sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực này trước đây chỉ về mặt lý thuyết, nên tác hại của nó chỉ diễn ra trên lĩnh vực tư tưởng. Sau khi GCCN đã giành được chính quyền, sự xuyên tạc, chống phá này đã được tiến hành một cách toàn diện và tác hại của nó diễn ra trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Vậy, sự thật có đúng như các quan điểm trên không?

          Trước hết, phải khẳng định rằng, trong điều kiện khoa học đang ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí thức đóng vai trò càng quan trọng là điều đương nhiên không cần bàn cãi. Ngay khi khoa học còn chậm phát triển, thì trí thức cũng đã đóng vai trò quan trọng trong mọi chế độ. Tuy nhiên, để từ đó tuyệt đối hóa vai trò của trí thức, hạ thấp sứ mệnh lịch sử của GCCN là hoàn toàn sai lầm cả lý luận lẫn thực tiễn.

          Thực tiễn cho thấy, GCCN Việt Nam vừa có đặc điểm của GCCN quốc tế, vừa có đặc điểm đặc thù của dân tộc, chủ yếu xuất thân từ nông dân, chịu áp bức bóc lột của chế độ thực dân và phong kiến. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có người nói: Giai cấp công nhân Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo được cách mạng. Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được hay là không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp”(1).  

          Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù đa số những người lãnh đạo là trí thức, nhưng điều đó không có nghĩa là trí thức lãnh đạo và Đảng biến chất giai cấp. Xét về phương thức lao động cá nhân, thì có những người lãnh đạo và quản lý là trí thức. Nhưng họ không lãnh đạo với tư cách là đại diện cho trí thức, mà họ đang thực hiện công việc đó theo hệ tư tưởng và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản. Lãnh đạo ở đây với tư cách là ý thức hệ chứ không phải thông qua những con người thừa hành cụ thể. Hoạt động quản lý và hoạt động lãnh đạo là hai hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động đều mang những đặc trưng riêng. Nếu lãnh đạo bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định và chính đảng của nó, thì hoạt động quản lý là lao động trí óc. Hay nói cách khác hoạt động lãnh đạo bắt nguồn từ địa vị chính trị, kinh tế - xã hội của giai cấp quyết định, còn quản lý thì bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội: lao động quản lý hay lao động thừa hành. Do đó, có thể khẳng định rằng, hoạt động quản lý là vô cùng quan trọng, song trong quan hệ với hoạt động lãnh đạo, thì lãnh đạo quyết định quản lý; bởi vì, lãnh đạo quyết định phương hướng phát triển của các giai đoạn quản lý. Vì vậy, không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của trí thức và trí thức thay thế GCCN lãnh đạo cách mạng.

          Thứ hai, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”(2). Cách diễn đạt này là hoàn toàn đúng đắn, chứ không hề hạ thấp hay từ bỏ bản chất GCCN của Đảng, trượt sang “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”… như quan điểm của một số người. Bởi vì, về lý luận, đây không phải là lần đầu tiên Đảng ta khẳng định điều này. Trước đó, trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951) đã khẳng định: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”(3). Trong bài nói chuyện ở Trường Cán bộ Công đoàn (1-1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”(4). Việc khẳng định bản chất GCCN của Đảng được thể hiện ở chỗ: nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; nguyên tắc tổ chức sinh hoạt của Đảng là tập trung dân chủ, liên hệ mật thiết với nhân dân, đoàn kết thống nhất trong Đảng, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển.

          Về thực tiễn, không có bất kỳ một đảng chính trị nào ra đời, tồn tại và phát triển đều không mang bản chất của một giai cấp nhất định. Chính bản chất giai cấp của đảng quy định đảng đó đại diện cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp nào trong xã hội. Còn GCCN có sứ mệnh xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, xây dựng chế độ XHCN, đại biểu cho lợi ích của giai cấp và đại đa số nhân dân lao động. Khác với sự ra đời của Đảng Cộng sản ở các nước tư bản - đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân. Điều kiện, đặc điểm ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam có tính đặc thù - đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Điều đó đã khẳng định, ngay từ khi ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của GCCN, đồng thời đại biểu cho lợi ích của GCCN, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

          Với cách diễn đạt như trên vừa thể hiện bản chất GCCN của Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa nói lên nét đặc thù của Đảng theo sự phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh, vừa phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng, tình cảm của nhân dân - với tên gọi trìu mến Đảng ta

          Trong điều kiện hiện nay, Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; chủ động hội nhập quốc tế; cùng với quá trình đó là nêu cao tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì càng cần quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng trong việc diễn đạt bản chất GCCN của Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng ta là một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta. Cách diễn đạt bản chất GCCN của Đảng như vậy, đòi hỏi Đảng chẳng những phải trung thành với GCCN, nâng cao lập trường, tư tưởng của GCCN, mà còn phải học tập, kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tăng cường đoàn kết, tập hợp nhân dân, phấn đấu vì lợi ích của cả giai cấp và dân tộc.

          Thứ ba, hiện nay, có một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số đảng viên, cán bộ chủ chốt, cấp cao yếu kém về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; một số có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu và xa dân…trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính… Đây là thực tế đau lòng, đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Đảng cũng thừa nhận rằng, đó là một nguy cơ lớn, liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ. Điều này là trái với bản chất GCCN của Đảng, đã từng được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin cảnh tỉnh về nguy cơ của một đảng cầm quyền là dễ dẫn đến kiêu ngạo, quan liêu, xa rời quần chúng.

          Nhìn lại giai đoạn 1989-1991 ở một số nước XHCN cho thấy rằng, GCCN khi đã giành được chính quyền, nhưng do không quan tâm xây dựng đảng trong sạch vững mạnh, bảo đảm tính tiên phong của GCCN nên đã làm cho đội ngũ phân hóa phức tạp; một bộ phận đảng viên mơ hồ về lập trường GCCN; dễ dàng ngã theo phái cơ hội chủ nghĩa. Một số khác gần như là một đẳng cấp có đặc quyền, đặc lợi, xa rời quần chúng và bị quần chúng xa lánh. Vì vậy, nhiều đảng đã mất tín nhiệm với GCCN, với nhân dân, và trước sự tấn công của kẻ thù, một số đảng đi đến chia rẽ và tan rã.

          Việc một bộ phận cán bộ, đảng viên vi phạm, thì tự họ đã tự đánh mất bản chất GCCN của đảng viên, có ảnh hưởng nhất định đối với Đảng, nhưng cũng không vì thế mà quy kết là Đảng đánh mất bản chất GCCN, và theo quy luật họ sẽ bị đào thải nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Đó là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Chính vì vậy, trong hai nhiệm kỳ gần đây, Đảng ta ban hành liên tiếp các Nghị quyết chuyên đề liên quan đến những vấn đề cấp bách xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện mới. Đây là những biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt, kịp thời nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm trong những năm qua đã được các cơ quan của Đảng và Nhà nước tiến hành nghiêm túc, bài bản, hiệu quả, không có ngoại lệ, không có vùng cấm, được nhân dân và dư luận xã hội đánh giá cao.

          Không che dấu khuyết điểm, nhưng cũng phải khẳng định rằng, trước những khó khăn, thách thức lớn ở trong nước, những biến động bất lợi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trước sự chống phá của các thế lực thù địch, Đảng ta vẫn giữ vững bản chất khoa học và cách mạng của GCCN, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên trì đổi mới, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đại đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo trong công tác, lao động, rèn luyện phẩm chất, năng lực có bước trưởng thành đáng kể, đóng vai trò nòng cốt, đi đầu trong công cuộc đổi mới, góp phần thành quả xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

          2. Một số giải pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong tình hình mới

          Để đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng, trong thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng cần quan tâm một số nội dung sau:

          Thứ nhất, tiếp tục tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc về bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của GCCN Việt Nam trong tiến trình lịch sử, nhất là trong giai đoạn Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. GCCN Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xã hội đi đầu trong phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp ngân sách chủ yếu cho nhà nước, làm chủ khoa học- công nghệ. Mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc bản chất GCCN của Đảng ta. Đây là nền tảng quyết định bản chất cách mạng và khoa học, sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, quyết định đến vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng ta. Giữ vững và tăng cường bản chất GCCN của Đảng là yếu tố nội sinh để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên “miễn dịch”, tự phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả.

          Hơn lúc nào hết mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức rõ âm mưu thủ đoạn, chiêu trò gian xảo của các thế lực thù địch xuyên tạc sứ mệnh lịch sử của GCCN, bản chất GCCN của Đảng để làm lung lay niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Từ đó, khơi dậy niềm tự hào, vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Phủ nhận bản chất GCCN thực chất là phủ nhận Đảng từ bản chất, theo đó cũng đồng nghĩa phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đây là mưu toan, kịch bản nham hiểm của các thế lực thù địch cần nhận diện và chủ động đấu tranh phản bác kịp thời, có hiệu quả.

          Thứ hai, tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về GCCN, bản chất GCCN của Đảng.

          Cần đi sâu nghiên cứu tổng kết bổ sung phát triển lý luận về GCCN Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay như xác định nội hàm, thành phần tham gia vào GCCN Việt Nam, nhất là trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng. Do đó, số lượng công nhân tham gia vào các doanh nghiệp này ngày càng nhiều. Hơn nữa, quan điểm của Đảng ta xác định rõ trong hợp tác đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Trước sự vận động của thực tiễn, định nghĩa về GCCN Việt Nam trong Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) đã có những điểm không còn phù hợp, do đó cần bổ sung nội hàm để phù hợp với giai đoạn mới. Đồng thời, bổ sung làm sâu sắc nội dung bản chất GCCN của Đảng ta như mối quan hệ giữa số lượng GCCN với nền tảng tư tưởng của Đảng; giữa thành phần xuất thân của đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ trí thức với lập trường quan điểm, tư tưởng của GCCN. Có như vậy mới góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nêu cao trách nhiệm trong việc phát huy bản chất GCCN của Đảng; mặt khác, có luận cứ xác đáng để các chủ thể tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả, cũng như không tạo kẻ hở để các thế lực thù địch vin cớ lợi dụng xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng ta.

          Khi tổng kết nghiên cứu về GCCN Việt Nam, cần tham khảo chỉ dẫn của Ăng-ghen dự báo vô sản hóa trí thức, một bộ phận trí thức sẽ bổ sung vào lực lượng GCCN. Trong thư “Gửi đại học quốc tế các sinh viên XHCN”, lần đầu tiên Ph.Ăng-ghen đã khẳng định khái niệm “giai cấp vô sản trí thức” là bộ phận hợp thành của GCCN hiện đại và chỉ rõ chính GCCN ấy là lực lượng duy nhất hoàn thành sự nghiệp giải phóng GCCN, xây dựng thành công CNXH trong tương lai. Do yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn cũng như xu hướng một bộ phận đội ngũ trí thức của nước ta được bổ sung cho GCCN trong những năm đến là xu thế tất yếu.

          Thứ ba, xây dựng cơ chế phối hợp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng.

          Cơ chế phối hợp đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam là các quy định, quy chế của Đảng, Nhà nước nhằm xác định mục tiêu, nội dung, phương thức tổ chức lực lượng và những chế tài cụ thể tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta nói chung, bản chất GCCN của Đảng nói riêng. Tập trung lãnh đạo hệ thống chính trị, các cơ quan, lực lượng tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo tinh thần Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị khóa XII, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, Ban Tuyên giáo Trung ương là lực lượng nòng cốt, cơ quan chủ trì phối hợp. Căn cứ vào tính chất, nội dung, phương thức thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch phản động cũng như thế mạnh của từng cơ quan, ngành mà Ban Tuyên giáo Trung ương chủ động tham mưu phân công phối hợp để đấu tranh phản bác sát hợp với từng đối tượng. Chẳng hạn, lâu nay Đài Truyền hình Việt Nam có chương trình “Đối diện” tham gia đấu tranh phản bác tạo hiệu ứng xã hội mạnh mẽ. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ngoài những công trình khoa học, đã tổ chức thành công Cuộc thi viết chính luận khoa học bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới (lần thứ nhất). Mấu chốt của vấn đề là phải xác lập được cơ chế phối hợp đấu tranh phản bác tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tích cực tham gia, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tình hình mới.

          Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng.

          Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là yêu cầu nội tại của Đảng ta hiện nay. Đây là nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng liên quan đến vận mệnh của Đảng, vận mệnh của chế độ XHCN. Đại hội XIII nhận định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng,…; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(5). Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải coi trọng trên cả năm mặt nhưng trong đó tập trung chỉnh đốn về tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Bởi cán bộ, đảng viên là "tế bào" cấu thành tổ chức đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trong bối cảnh mới hiện nay khi các thế lực thù địch đang gia tăng chống phá Đảng, Nhà nước ta đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên định nền tảng tư tưởng, đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức của Đảng, gương mẫu nói đi đôi với làm, thanh liêm về nhân cách, hết lòng tận tụy phục vụ nhân dân; xác định rõ trách nhiệm bổn phận của mình đối với sự phát triển của Đảng, của dân tộc.

          Ngoài việc coi trọng tu dưỡng rèn luyện “tự soi” “tự sửa” của mỗi đảng viên, các tổ chức đảng cần tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình... Cần thấy rằng, ý nghĩa to lớn của xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ làm cho Đảng luôn ở tầm cao của văn hóa, của “đạo đức, văn minh” thì Đảng càng cầm quyền có hiệu quả, càng trường tồn vai trò lãnh đạo đối với dân tộc. Mặt khác, là điều kiện để tăng “sức đề kháng” của Đảng trước những hiện tượng phản văn hóa, xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch phản động.

          Thứ năm, tập trung xây dựng GCCN Việt Nam có phẩm chất năng lực, trí tuệ, có khát vọng cống hiến.

          Cần nhận thức sâu sắc rằng, GCCN Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là chủ thể của công cuộc đổi mới, tiên phong đi đầu trong xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hơn 92 năm từ khi Đảng ra đời cho đến nay, vai trò lịch sử của GCCN Việt Nam đã được lịch sử kiểm chứng và khẳng định là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn mang bản chất GCCN, chứ không thể mang bản chất của giai cấp nào khác. Do đó, đầu tư để xây dựng GCCN là đầu tư cho sự phát triển bền vững, đúng hướng, xứng tầm với vị thế của giai cấp tiên phong. Xuất từ vai trò to lớn của GCCN Việt Nam, Đại hội XIII xác định mục tiêu “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(6). Bởi vậy, đặt ra cho Đảng, Nhà nước phải tăng cường trí thức hóa GCCN; coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng cho GCCN nhận rõ vai trò, sứ mệnh to lớn của mình. Tập trung chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, nhà ở, thu nhập và các vấn đề an sinh xã hội cho GCCN để họ ổn định cuộc sống “an cư lạc nghiệp” tái sản xuất sức lao động, chuyên tâm với vai trò, sứ mệnh lịch sử cao cả của mình./.

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC, NÓI XẤU CÁN BỘ QUÂN ĐỘI

 

Lợi dụng việc một số cán bộ quân đội vi phạm kỷ luật, pháp luật, thời gian qua trên mạng xã hội lan truyền nhiều thông tin sai trái, bóp méo, xuyên tạc nói xấu đội ngũ cán bộ quân đội. Với trò “vơ đũa cả nắm”, bằng cách cắt xén tư liệu, dựng chuyện, bóp méo thông tin, suy diễn một chiều, “nhào nặn” thật - giả lẫn lộn, kẻ xấu lợi dụng một số vụ án liên quan đến cán bộ quân đội để xuyên tạc bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, làm suy giảm uy tín quân đội, kích động chia rẽ mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa quân đội với nhân dân. Những thông tin sai trái ấy không thể đánh lừa được dư luận, bởi lẽ đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta luôn cảnh giác, bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt trong việc chọn lọc và tiếp nhận thông tin. Tuy nhiên, ở một góc độ nào đó, những thông tin sai trái, bịa đặt kia đã gieo rắc sự hoài nghi trong nhân dân, đặc biệt là trong một bộ phận “cư dân mạng” nhận thức hạn chế, nhẹ dạ, cả tin, thiếu tin tưởng vào bản lĩnh, lòng trung thành, tinh thần tận trung với nước, tận hiếu với dân của đội ngũ cán bộ quân đội.
Sự quan tâm của người dân đến sự trưởng, lớn mạnh và cả những hạn chế, khuyết điểm, nhất là trong việc chấp hành kỷ luật, pháp luật của đội ngũ cán bộ quân đội cũng là điều dễ hiểu. Bởi lẽ có quan tâm đến sự trưởng thành, lớn mạnh của quân đội, có quan tâm đến chất lượng đội ngũ cán bộ quân đội thì nhân dân mới có nhu cầu thông tin và tỏ ra lo lắng trước những sự việc, vụ việc liên quan đến cán bộ quân đội. Thế nhưng, bên cạnh những thông tin tích cực góp phần định hướng dư luận, một thực tế đang diễn ra là các thế lực thù địch, những phần tử phản động, cơ hội chính trị gia tăng các hoạt động chống phá quân đội. Nắm bắt được nhu cầu thông tin cao của người dân về công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ quân đội, các thế lực thù địch, phản động tung lên mạng đủ các loại thông tin bịa đặt, suy diễn, nhận định hồ đồ, vô căn cứ về đội ngũ cán bộ quân đội nói chung và một số cán bộ cụ thể nói riêng nhằm mục đích gây rối, làm nhiễu loạn thông tin, chia rẽ nội bộ và làm phai mờ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.
Cần phải khẳng định rằng, sự phát triển của đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết định sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quán triệt tư tưởng của Người, qua từng thời kỳ cách mạng, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta xác định xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” thì trước hết và nòng cốt phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, bởi đây là nhân tố quyết định sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.
Thực tế những năm qua cho thấy, đội ngũ cán bộ trong quân đội có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng; phẩm chất đạo đức trong sáng; phong cách, năng lực lãnh đạo, quản lý, chỉ huy tốt; có tư duy đổi mới, sáng tạo; có tầm nhìn chiến lược, phương pháp làm việc khoa học; có khả năng phân tích và xử lý các tình huống; tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, được cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tin tưởng, yêu mến.
Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận trong quân đội có một số cán bộ vi phạm kỷ luật, pháp luật. Nhưng cần phải thức rằng, những khuyết điểm, sai phạm của một số cá nhân trong quân đội chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. Chúng ta không thể “thấy cây mà không thấy rừng”, không thể lấy cái cá thể để suy diễn, quy chụp cái tổng thể. Không thể chủ quan, phiến diện dựa vào khuyết điểm, sai phạm của một vài cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ quân đội và công tác cán bộ.
Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, trước hết chúng ta phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục làm sao để người dân hiểu sâu hơn về bản chất, truyền thống quân đội từ đó có thể tự phòng vệ trước luồng thông tin tiếp nhận, biết đâu là thông tin độc hại và thông tin hữu ích. Mặt khác, cán bộ, đảng viên và người dân, trước hết là cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải luôn đề cao cảnh giác để kịp thời nhận diện, vạch trần, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ quân đội. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động triệt để khai thác ưu thế của công nghệ thông tin, Internet, mạng xã hội đến chống phá, do vậy, chúng ta cần tích cực, chủ động cung cấp thông tin chính thống về quân đội và đội ngũ cán bộ quân đội đến nhân dân. Kịp thời cung cấp thông tin chính thống là cách tốt nhất để không tạo ra khoảng trống cho sự tồn tại của các luận điệu bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt. Cung cấp thông tin một cách kịp thời, thường xuyên, chính xác, đầy đủ là sự phản bác có hiệu quả nhất đối với những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Trách nhiệm của mỗi chúng ta là phải kịp thời lên tiếng, đấu tranh, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, bịa đặt, kiên quyết không để kẻ xấu coi thường kỷ cương phép nước, bôi nhọ uy tín, danh dự của cán bộ quân đội và cá nhân các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, gây hoang mang dư luận, gây nghi kỵ, chia rẽ đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng không tốt đến đội ngũ cán bộ và công tác bộ trong quân đội. Đối với những trường hợp đăng phát những thông tin đăng sai sự thật, mang tính vu khống, bôi nhọ cán bộ quân đội nhất quyết phải làm rõ và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật./.
ST

PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ “NỘI CHIẾN”

 


          Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ và tay sai có phải là cuộc “nội chiến” giữa hai miền Nam - Bắc do xung đột về ý thức hệ như những luận điệu xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị? Thực tiễn lịch sử khẳng định, đây là cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai nhằm giành độc lập, tự do cho dân tộc, thống nhất đất nước. Không ai có thể bác bỏ được.

           Một số quan điểm sai trái, thù địch về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

          Có thể điểm lại một số luận điệu xuyên tạc chủ yếu sau của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị:

          - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hiếu chiến, muốn gây chiến tranh thôn tính miền Nam, từ đó, đổ lỗi 21 năm chiến tranh với hàng triệu người của hai miền thiệt mạng là lỗi của bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

          - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là “tay sai” của Liên Xô, Trung Quốc. Kháng chiến chống Mỹ là thực hiện mưu đồ của Liên Xô, Trung Quốc “muốn đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.

          - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một “con bài” trong cuộc “mặc cả” giữa các nước lớn là Liên Xô, Trung Quốc và Mỹ.

          - Việt Nam chỉ là chiến trường thử nghiệm vũ khí của Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc.

          - Nếu Việt Nam Cộng hòa được xem là con rối, là bù nhìn, là ngụy, do Hoa Kỳ giật dây thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng chỉ là “con rối” trong tay Liên Xô, Trung Quốc...

          - Chiến tranh Việt Nam là cuộc nội chiến tương tàn giữa hai miền Nam - Bắc do sự khác biệt về lý tưởng cộng sản và không cộng sản; trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, người Mỹ không hề muốn cai trị người Việt Nam, người Mỹ can thiệp vào Việt Nam là vì “thế giới tự do”.

          Với sự phát triển của công nghệ thông tin, những luận điệu trên đang tràn lan trên internet, được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị rêu rao lặp đi lặp lại, âm mưu lừa bịp, xuyên tạc để phục vụ mưu đồ đen tối của chúng.

          Thực tế lịch sử khẳng định, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975 không phải là “nội chiến”, mà là cuộc chiến tranh yêu nước, nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn nội bộ dân tộc Việt Nam.

           Chiến tranh xâm lược Việt Nam 1954 - 1975 trước hết và căn bản khởi phát từ lợi ích bên trong của đế quốc Mỹ, từ chiến lược toàn cầu của Mỹ mà căn nguyên sâu xa là xuất phát từ bản chất chế độ chính trị cường quyền

          Với mưu đồ xâm lược, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết (tháng 7-1954), đế quốc Mỹ đã thực hiện phá hoại công cuộc hòa bình, thống nhất nước Việt Nam. R.S. Mắc Na-ma-ra, cựu Bộ trưởng Quốc phòng, một trong những kiến trúc sư hàng đầu của Mỹ về chiến tranh Việt Nam, đã nhắc đến quan điểm của Ai-xen-hao được thể hiện qua diễn văn của J.F. Ken-nơ-đi (công bố năm 1956), rằng “Việt Nam là hòn đá tảng của Thế giới tự do ở Đông Nam Á. Đó là con đẻ của chúng ta. Chúng ta không thể từ bỏ nó, không thể phớt lờ những nhu cầu của nó”. Trong bối cảnh lịch sử mới, Việt Nam có vị trí quan trọng đối với Mỹ: Nơi thử thách vai trò, sức mạnh to lớn của một đế quốc hàng đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, là sự tiếp tục và cao nhất chính sách thực dân mới của Mỹ, thực hiện “Học thuyết Truman” (năm 1947) nhằm bảo đảm “an ninh quốc gia” và “bao vây chủ nghĩa cộng sản”. Một nhà nghiên cứu trong bài viết “Chiến tranh Việt Nam là gì?”, đăng trên báo The New York Times, ngày 26-3-2018, đưa ra nhận xét: “Cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam không phải là một cuộc xung đột cục bộ, cô lập, không liên quan đến an ninh quốc gia của Mỹ, mà là một cuộc chiến không thể tách rời với ưu tiên cao nhất của quốc gia - cuộc chiến chống Cộng sản trên toàn cầu trong chiến tranh lạnh”; “các nhà hoạch định chính sách cảnh báo rằng nếu miền Nam Việt Nam rơi vào tay chủ nghĩa Cộng sản, các nước láng giềng chắc chắn sẽ lần lượt gục ngã, lần lượt như một hàng quân cờ domino”.

          Từ năm 1950, Mỹ chính thức can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Phái bộ cố vấn viện trợ quân sự Đông Dương (MAAG) của Mỹ bắt đầu viện trợ quân sự cho Pháp, từ 52 tỷ phrăng lên tới 751 tỷ phrăng năm 1954, chiếm 73,9% chi phí chiến tranh(4). Tiếp đó, Mỹ nhanh chóng gạt Pháp, trực tiếp tiến hành tổ chức quân đội, chính quyền mới, tiến hành bầu cử riêng rẽ ở miền Nam Việt Nam (đầu năm 1955), lập ra cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa”, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ.

          Chính giới Mỹ đã đặt “vấn đề Việt Nam” vào trong luận thuyết của “chiến tranh lạnh”. Dùng biện pháp chiến tranh để thôn tính miền Nam Việt Nam, Mỹ không chỉ nhằm áp đặt ách thống trị chủ nghĩa thực dân mới, mà còn nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc. Ngoài ra, Mỹ còn tính toán tới lợi ích kinh tế mà các tập đoàn tư bản công nghiệp, tài chính hùng mạnh của Mỹ thu được qua cuộc chiến này; đồng thời, tính toán tới sự răn đe đối với Liên Xô, Trung Quốc và phong trào giải phóng dân tộc. Mục tiêu chiến lược toàn cầu và lợi ích của giới tư bản Mỹ, vì vậy, là các nhân tố quyết định hành động chiến tranh và thúc đẩy chiều hướng leo thang chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

          Đế quốc Mỹ (và cả thực dân Pháp trước đó) tìm cách lôi kéo đồng minh, đẩy mạnh xây dựng quân đội và chính quyền tay sai, vừa mua chuộc, lôi kéo (rêu rao Mỹ chỉ là đồng minh), vừa uy hiếp và khi cần thì cũng không ngần ngại tổ chức đảo chính, thủ tiêu những chính trị gia không vâng lời, nhằm giữ quyền lãnh đạo của mình... Mặt khác, Mỹ coi trọng việc xây dựng cơ sở xã hội, dựa vào các thế lực thù địch, những phần tử phản động đội lốt tôn giáo, vừa tạo chỗ đứng, tạo thế hợp pháp ở bên trong để che giấu bộ mặt thực dân, vừa tích cực tổ chức huấn luyện đội quân viễn chinh, lập các căn cứ, khối liên minh quân sự ở bên ngoài... Khi tất cả các thủ đoạn không đạt được mục tiêu đề ra, hoặc kém hiệu quả, Mỹ đẩy tới hành động quân sự, dùng biện pháp chiến tranh là chủ yếu. Tháng 2-1962, Mỹ thành lập Bộ tư lệnh viện trợ Hoa Kỳ ở Việt Nam, đến tháng 7-1965, đổi thành Bộ tư lệnh lục quân Hoa Kỳ tại Việt Nam, trực tiếp chỉ huy đội quân viễn chinh Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân đồng minh trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mỹ đã tiêu tốn vào cuộc chiến 676 tỷ USD; cử 6,6 triệu lượt quân tham chiến; huy động 70% lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân, 60% không quân; trên 72 nghìn quân các nước đồng minh Mỹ tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Với những vũ khí mới nhất, với khối lượng lớn bom đạn, chất độc hóa học, chất độc da cam, quân đội Mỹ đã tiến hành càn quét, đốt phá, và giết hại nhiều dân thường. Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã tiến hành 19.905 phi vụ, phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học. Cùng với việc đưa quân vào miền Nam, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại vô cùng khốc liệt đối với miền Bắc Việt Nam.

          Đế quốc Mỹ áp đặt phương thức thống trị thực dân kiểu mới, giấu mặt, cai trị trá hình, nuôi dưỡng và dựng lên chính quyền bù nhìn từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu. Từ năm 1955 đến năm 1961, đế quốc Mỹ đã viện trợ cho chính quyền miền Nam Việt Nam 7 tỷ USD. Những năm 1955 - 1956, Mỹ chi 414 triệu USD xây dựng các lực lượng thường trực quân đội Việt Nam Cộng hòa gồm 170.000 người và lực lượng cảnh sát với 75.000 người. 80% ngân sách quân sự của chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ viện trợ. Trong giai đoạn 1962 - 1974, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa 21.336 triệu USD (bao gồm cả viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự).

          Một thực tế rõ ràng là, tuy Mỹ coi lực lượng tay sai ở miền Nam Việt Nam là những người “quốc gia chủ nghĩa”, nhưng chưa bao giờ thực sự coi trọng những lực lượng này. Mỹ chỉ xem họ như những quân cờ trên bàn cờ chiến lược của mình. Một khi quân cờ nào không còn hữu dụng nữa thì Mỹ sẵn sàng thay thế, vứt bỏ họ. Một học giả Mỹ đánh giá: “Quan hệ đồng minh Mỹ - Diệm là một sản phẩm của tính toán địa chính trị của Mỹ thời chiến tranh lạnh”, và “việc Mỹ can thiệp sâu vào Đông Dương xuất phát từ các quan ngại về sự bành trướng Xô-viết”. Ngay những quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn cũng nhận thức được thân phận làm tay sai cho Mỹ của mình, và nhận ra cuộc chiến này là cuộc chiến của người Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam: “Ông Mỹ luôn luôn đứng ra làm sân khấu, làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê”. Giới chóp bu của chế độ Sài Gòn chỉ được tự do trong giới hạn mà Mỹ cho phép. Cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa” là chính quyền do người Mỹ dựng lên, nuôi dưỡng và điều khiển để phục vụ cho chiến tranh xâm lược. Ngay cả sau năm 1973, khi quân đội Mỹ và đồng minh phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, thì mục tiêu phục vụ cho quyền lợi của người Mỹ của chính quyền và quân đội Sài Gòn ở miền Nam vẫn không hề thay đổi. Tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu - lực lượng tưởng chừng được Mỹ ủng hộ nhất quán nhất, cuối cùng cũng cay đắng thừa nhận trong phát biểu từ chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 21-4-1975, rằng: Mỹ là một đồng minh “thất hứa, thiếu công bằng, thiếu chính nghĩa, vô nhân đạo đối với một đồng minh đang chịu đau khổ, trốn tránh trách nhiệm của một đại cường quốc”. Một nghiên cứu nước ngoài chỉ rõ: “Nếu không có sự can thiệp của Mỹ, thật khó có thể tưởng tượng rằng miền Nam Việt Nam đã ra đời hoặc nếu có thì sẽ tồn tại được bao lâu”.

          Từ tất cả những điều đã trình bày trên đây, có thể thấy rõ rằng, đế quốc Mỹ đã chống lại sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam, chống lại tất cả những ai ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và mong muốn độc lập, hòa bình, thống nhất của Việt Nam. Rõ ràng, đế quốc Mỹ đã chà đạp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, và vì thế, trở thành đối tượng đấu tranh trước hết trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam.

          Tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam

          Cuộc đấu tranh nhằm thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 là cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đồng thời đấu tranh nhằm loại bỏ những thế lực đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc và nguyện vọng nhân dân. Trên bình diện quốc tế, đó là một bộ phận của cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nhằm khẳng định và bảo vệ quyền tự quyết của dân tộc mình. Trong bối cảnh của cuộc “chiến tranh lạnh”, cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam là một bộ phận của cuộc đối đầu quyết liệt giữa phe tư bản chủ nghĩa và phe xã hội chủ nghĩa.

          Nhằm đạt mục tiêu hòa bình, thống nhất đất nước, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhân dân Việt Nam đã nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tháng 6-1955, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với chính quyền Sài Gòn, nhưng không được đáp ứng. Tháng 7-1956, sau khi yêu cầu đàm phán không được chính quyền Ngô Đình Diệm trả lời, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu các đồng chủ tịch Hội nghị Giơ-ne-vơ tổ chức một cuộc hội nghị mới. Các yêu cầu đàm phán với chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục được phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì nêu lên, nhưng đều bị từ chối.

          Chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man các phong trào hòa bình, bắt bớ, truy bức, giết hại những người yêu nước ở khắp miền Nam, từ năm 1954 đến năm 1959, 466.000 người cộng sản và người yêu nước bị bắt, 400.000 người bị tù đày và có 68.000 người bị giết hại. Một báo cáo của Việt Nam Cộng hòa năm 1960 đưa ra con số những người cộng sản bị bắt giữ từ năm 1954 là 48.200 người; một công bố năm 1961 ghi nhận tổng số người bị bắt giữ và thiệt mạng dưới bàn tay lực lượng an ninh chính quyền Sài Gòn lên tới trên 60.000 người.

          Đối diện với tình hình trong nước, quốc tế vô cùng khó khăn, phức tạp, những năm 1954 - 1959, Đảng Lao động Việt Nam vẫn kiên trì đấu tranh bằng phương pháp hòa bình để thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định hòa bình, thống nhất nước nhà là nguyện vọng tha thiết, phải tranh thủ mọi thời cơ để thống nhất một cách hòa bình. Đấu tranh vũ trang chỉ buộc phải thực hiện khi không còn con đường nào khác. Quyết tâm thực hiện thống nhất đất nước được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960): “Dân tộc ta là một, nước Việt Nam là một. Nhân dân ta nhất định sẽ vượt tất cả mọi khó khăn và thực hiện kỳ được “thống nhất đất nước, Nam, Bắc một nhà”.

          Trong bối cảnh phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bất đồng, xuất hiện chủ nghĩa xét lại, tâm lý sợ Mỹ, ngại đối đầu với Mỹ, biểu hiện ở xu hướng hòa hoãn, chung sống hòa bình, thủ tiêu đấu tranh vũ trang..., Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân trên cả hai miền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự nghiệp chính nghĩa bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là động lực cơ bản có sức cuốn hút mạnh mẽ và tập hợp lực lượng rộng lớn - toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tạo thành khối đoàn kết thống nhất trong cuộc đấu tranh chung.

          Ở miền Nam, năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Tháng 6-1969, tại Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Đây là cơ quan quyền lực tập trung cao nhất đại diện cho cách mạng miền Nam, là thể hiện ý chí của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đại diện cho ý chí, nguyện vọng thống nhất của toàn thể nhân dân miền Nam Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam. Chính phủ có nhiệm vụ đoàn kết nhân dân miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ, lật đổ chính quyền tay sai, đưa miền Nam Việt Nam phát triển theo con đường độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, phồn vinh, tiến tới thống nhất đất nước. Chính phủ cách mạng lâm thời là một đối trọng với chính quyền Sài Gòn tại Hội nghị Pa-ri, làm thất bại âm mưu xưng danh “đại diện hợp pháp duy nhất” cho miền Nam của Mỹ và chính quyền tay sai. Dưới ngọn cờ chính nghĩa của Chính phủ cách mạng lâm thời, các phong trào vận động nhân dân, trí thức đã kết thành một sức mạnh rộng lớn, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, vì một mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đến cuối năm 1972, Chính phủ cách mạng lâm thời được 30 nước trên thế giới chính thức công nhận, với tư cách là đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam.

          Dù phải chịu tác động bởi mâu thuẫn, bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế khi đó, nhưng Việt Nam vẫn giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; xử lý các mối quan hệ một cách đúng đắn, mềm dẻo; coi trọng, kiên trì vấn đề đoàn kết quốc tế. Quan điểm nhất quán của Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tranh thủ sự ủng hộ và viện trợ cao nhất của các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, nhưng không lôi kéo các nước xã hội chủ nghĩa vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Từ khoảng giữa năm 1972, viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam đều bị cắt giảm mạnh. Việt Nam nhận thức được sự chuyển dịch trong quan hệ tam giác giữa ba cường quốc là Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc. Trong khi khai thác mặt tích cực của các nước ủng hộ công cuộc kháng chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn đề cao cảnh giác, hạn chế tối đa mặt tiêu cực trong mối quan hệ đó. Vì thế, khi hai nước lớn giảm dần sự viện trợ, Việt Nam vẫn kiên quyết giữ vững mục tiêu của mình.

          Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ hơn sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, vạch trần tội ác xâm lược của kẻ thù được che giấu dưới mọi hình thức, để thức tỉnh lương tri nhân loại tiến bộ. Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược, hình thành từ cuối năm 1964, đã nhanh chóng mở rộng, phát triển mạnh mẽ từ khi đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam và tiến hành dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc. Đó là lực lượng chính trị hùng hậu, đã tác động sâu sắc đến chính sách và thái độ hiếu chiến của nhiều chính phủ trên thế giới đối với vấn đề chiến tranh Việt Nam. Chưa bao giờ trên thế giới xuất hiện một phong trào ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của một dân tộc lại có quy mô rộng lớn như phong trào quốc tế ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước.

          Việc Mỹ áp đặt chế độ thống trị thuộc địa kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, gây chiến tranh tàn phá đất nước Việt Nam, là cuộc chiến tranh xâm lược đối với một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và trực tiếp là từ hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc Việt Nam.

          Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhận được sự ủng hộ, giúp sức của Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, các lực lượng dân chủ, tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, nhưng đó thực sự là cuộc chiến đấu của chính bản thân nhân dân Việt Nam, không có sự tham gia trực tiếp của nước ngoài. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước là thắng lợi của tư duy chiến lược độc lập, tự chủ, sáng tạo, của sách lược ứng xử khôn khéo, kiên quyết và hiệu quả của Đảng Lao động Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

          Lịch sử cuộc chiến tranh đã lùi xa, việc nhận thức đúng bản chất của nó cho phép mỗi người dân Việt Nam, dù trước đây đứng ở phía bên nào của cuộc chiến, cũng có quyền tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Những ai cho rằng trong cuộc trường chinh giải phóng, thống nhất, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam có yếu tố “nội chiến” thì thực chất, đó chỉ là sự cố tình đánh tráo khái niệm, ngoảnh mặt làm ngơ trước sự thật lịch sử, sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức lịch sử, xuyên tạc một trong những trang lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc./.

MƯU ĐỒ NÚP BÓNG “CHĂM LO, BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG”

 

Trước thềm Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam diễn ra vào cuối năm nay, các thế lực thù địch, cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đang ra sức xuyên tạc, kích động, lôi kéo người lao động đòi quyền lập trong doanh nghiệp của mình cái gọi là “tổ chức đại diện người lao động”, “công đoàn độc lập” nhằm xóa bỏ công đoàn cơ sở, phủ nhận vai trò của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, chống phá Đảng, Nhà nước, gây bất ổn xã hội.
Những năm qua, dù nhân danh “tổ chức đại diện người lao động”, nhưng trong thực tế các hội đoàn này không hề quan tâm đến đời sống của công nhân, viên chức.
Suốt thời gian đại dịch Covid-19 bùng phát tại nhiều địa phương cũng như thời gian sau đó thay vì thực hiện các hoạt động nhằm hỗ trợ lực lượng công nhân như mục tiêu vẫn thường rêu rao, các hội nhóm này chỉ xuất hiện trên không gian mạng, ra sức đưa ra những nội dung sai sự thật, bịa đặt nhằm gây hoang mang lo sợ trong xã hội, gây bất ổn kinh tế hoặc kích động những người lao động nhẹ dạ, cả tin.
Thực tế cho thấy tất cả chính sách hỗ trợ sinh hoạt cho người lao động, nhất là những người bị mất việc làm, giảm thu nhập đều đến từ nỗ lực của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Các tổ chức chống phá này cố tình chối bỏ sự thật không thể phủ nhận là Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị xã hội ra đời từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân chưa giành được chính quyền. Trải qua chặng đường lịch sử, Công đoàn Việt Nam đã phát triển và trưởng thành nhanh chóng, xứng đáng là tổ chức đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của công nhân, viên chức, lao động và trên hết vì lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Điều đáng nói, các đối tượng chống phá cố tình dàn dựng những video clip có nội dung, bôi đen về tình cảnh người lao động Việt Nam; tuyên bố thành lập kêu gọi tham gia “công đoàn độc lập” bất chấp mọi quy định của pháp luật.
Để hư trương thanh thế, các tổ chức này thường xuyên cộng tác với những tờ báo, blog, diễn đàn mạng xã hội có khuynh hướng chống cộng qua đó tung ra luận điệu “nghiệp đoàn độc lập là giải pháp” cho các vấn đề của người lao động hiện nay, đồng thời đưa ra yêu sách “nghiệp đoàn độc lập” thay thế công đoàn cơ sở làm đại diện cho công nhân Việt Nam tại doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, lợi dụng tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động, các hội nhóm chống phá, phản động liên tục tung ra các tin đồn thất thiệt, sai sự thật gây hoang mang trong lực lượng lao động, nhất là những công nhân bị giảm thu nhập, mất việc làm.
Trên hệ thống fanpage, website của mình, các đối tượng thường xuyên đăng tải những trường hợp mâu thuẫn nhỏ, lẻ giữa công nhân và chủ doanh nghiệp ở một số địa phương, từ đó cố tình hướng lái dư luận rằng đây là những “phong trào bãi công” có tổ chức và quy mô lớn.
Từ việc tung tin sai sự thật gây hoang mang dư luận, các phần tử chống phá thường xuyên lôi kéo, kích động công nhân tham gia “công đoàn độc lập”, kêu gọi bạo động theo mô hình phong trào “Áo gilê vàng” diễn ra tại Pháp. Để đạt được ý đồ trên, các tổ chức này luôn tận dụng mọi thời cơ nhằm tiếp cận người lao động đang làm việc ở trong và ngoài nước, đặc biệt là bộ phận công nhân đang có một số vấn đề vướng mắc với doanh nghiệp.
Về nguồn gốc, chiêu trò thành lập “công đoàn độc lập” bắt đầu rộ lên vào đầu những năm 2000, “ăn theo” các phong trào dân sự của các hội, nhóm phản động. Hầu hết tổ chức “công đoàn độc lập” đều do phần tử người Việt lưu vong lập ra, có trụ sở chính đặt tại nước ngoài.
Chúng thường xuyên móc nối với các đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước và nước ngoài thành lập mạng lưới tổ chức “ma”, nối dài “vòi bạch tuộc” thâm nhập vào hệ thống nhà máy, phân xưởng ở Việt Nam.
Điển hình, có thể kể đến cái gọi là “ủy ban nhân quyền Việt Nam”, “liên minh dân chủ nhân quyền Việt Nam” của Nguyễn Văn Đài (đối tượng có nhiều tiền án về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hiện đang sống lưu vong tại nước ngoài).
Tuy nhiên hành động sai trái của Nguyễn Văn Đài cùng đồng bọn không hề nhận được sự hưởng ứng của người lao động và sớm bị cơ quan chức năng phát giác. Khi ra nước ngoài “tị nạn”, Nguyễn Văn Đài cũng nhanh chóng bỏ rơi “tổ chức công nhân và nhân quyền” do chính mình “sáng lập”.
Từ rất nhiều vụ việc trong thực tế, bản chất của cái gọi là “công đoàn độc lập”, “nghiệp đoàn độc lập” đã bị lực lượng chức năng vạch trần. Đó là núp dưới vỏ bọc tổ chức “bảo vệ quyền lợi người lao động”, các hội nhóm chống phá tiến hành nhiều hoạt động gây chia rẽ, làm suy yếu mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cùng các công đoàn trực thuộc với các công nhân, viên chức, người lao động trên cả nước; chống phá Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Thực tế cho thấy những đối tượng sáng lập, điều hành cái gọi là “công đoàn độc lập”, “nghiệp đoàn độc lập” thời gian qua không hề quan tâm đến lợi ích của công nhân, viên chức, người lao động Việt Nam mà chỉ nhằm mục đích lợi dụng, biến họ thành công cụ chống phá Nhà nước và doanh nghiệp.
Không ít người lao động vì thiếu hiểu biết nhẹ dạ, cả tin vào “miếng bánh vẽ” do chúng vạch ra để rồi thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật phải chịu những bản án nghiêm khắc của tòa án.
Từ phía mình, các tổ chức nêu trên cũng vội vàng rũ bỏ trách nhiệm, mối liên quan với người lao động có hành vi phạm pháp song song với hoạt động vu cáo chính quyền đàn áp công nhân. Vì lẽ này, sau một khoảng thời gian “khua chiêng, gõ mõ”, một số lượng lớn tổ chức “công đoàn độc lập” đã tuyên bố tự giải tán hoặc im hơi, lặng tiếng khi phần lớn người lao động Việt Nam đã nhận ra bộ mặt thật của chúng.
Thực trạng này hoàn toàn khác xa với mục tiêu trên và thực tế chăm lo bảo vệ người lao động của đất nước ta hiện nay.
Trên thực tế từ đầu năm 2023 đến nay kinh tế toàn cầu có dấu hiệu suy thoái do hậu quả lâu dài của đại dịch Covid-19 cũng như những căng thẳng, bất ổn chính trị, xung đột trên thế giới, là một quốc gia có nền kinh tế có độ mở cửa thị trường lớn, Việt Nam không thể nằm ngoài vòng xoáy tác động tiêu cực này.
Tuy vậy, bất chấp những thách thức hiện nay, kinh tế Việt Nam vẫn cho thấy nhiều điểm sáng khi duy trì được sự tăng trưởng, kiểm soát được lạm phát và hạn chế tỷ lệ thất nghiệp.
Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm, nền kinh tế đã chứng kiến 60.200 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn nhưng lại có 113.600 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Không chỉ vậy, tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng thiếu việc làm ở nước ta chỉ là 2,5%, ở mức thấp so với mặt bằng chung trên thế giới. Tính riêng trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chỉ xếp sau Thái Lan trong công tác bảo đảm việc làm cho người lao động.
Giữa bối cảnh kinh tế đất nước tiếp tục phải đối diện với nhiều khó khăn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ, công tác chăm lo, ổn định đời sống, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động vẫn luôn là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ.
Trong đó, vai trò Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cùng các đơn vị trực thuộc ngày càng được khẳng định. Hoạt động công đoàn tại nhiều địa phương ngày càng đổi mới với nhiều phương thức hiệu quả, thích ứng tình hình mới nhằm giải quyết kịp thời, đầy đủ những nguyện vọng chính đáng cho người lao động.
Các công đoàn cơ sở cũng theo sát vấn đề bảo đảm quyền lợi về bảo hiểm xã hội của người lao động trong các đơn vị, doanh nghiệp đang nợ đóng bảo hiểm xã hội, nhất là các doanh nghiệp phá sản, bị rút giấy phép kinh doanh hoặc không còn người đại diện theo pháp luật. Các tổ chức công đoàn đã đại diện người lao động trực tiếp đề đạt nhiều ý kiến, giải pháp đúng đắn, hỗ trợ cuộc sống cho công nhân bị giảm thu nhập, mất việc làm...
Nhận thấy ý thức chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội của một số đơn vị sử dụng lao động chưa cao, liên đoàn lao động nhiều tỉnh, thành phố đã đề xuất cho phép công đoàn các cấp được khởi kiện doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội. Từ đây thể hiện sự quyết tâm của công đoàn cơ sở trong việc hỗ trợ hàng triệu người lao động chưa được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Không chỉ bảo đảm việc làm và thu nhập, liên đoàn lao động nhiều tỉnh, thành phố cùng các đơn vị liên quan cũng rất nỗ lực trong việc đáp ứng nhu cầu nhà ở xã hội đối với công nhân làm việc trên địa bàn với các nhóm nhiệm vụ: rà soát nhu cầu nhà ở xã hội đối với công nhân, triển khai dự án nhà ở xã hội song song với việc giám sát, khắc phục nguyên nhân chậm tiến độ một số dự án nhà ở xã hội.
Đến nay đã có 36 tỉnh, thành phố giới thiệu quỹ đất cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, tái khẳng định mục tiêu 1 triệu căn hộ cho công nhân sớm trở thành hiện thực...
Hiện nay, việc các nhóm đối tượng xấu, đặc biệt là những phần tử lưu vong trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài núp bóng dưới cái gọi là “công đoàn độc lập” để chống phá chế độ đang có những diễn biến phức tạp, khó lường.
Bởi vậy, cùng với việc siết chặt quản lý của chính quyền địa phương các cấp, tổ chức, cơ quan liên quan đội ngũ viên chức, công nhân, người lao động cần hết sức tỉnh táo, nêu cao tinh thần cảnh giác, tuyệt đối không tham gia các tổ chức bất hợp pháp.
Bên cạnh đó các lực lượng chức năng cũng cần nhanh chóng có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu, xử lý nghiêm những đối tượng lợi dụng quyền tự do dân chủ để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, gây tổn hại đến người lao động, gây bất ổn xã hội.
St

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT NHẰM NGĂN NGỪA THAM NHŨNG, LỢI ÍCH NHÓM


Ngày 14-8, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 126/NQ-CP về một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật nhằm ngăn ngừa tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ.
Trong thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, các địa phương đã tập trung nhiều thời gian, nguồn lực, áp dụng nhiều giải pháp để đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; bảo đảm quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; tăng trưởng hợp lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Tuy nhiên, trước yêu cầu tình hình mới, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật vẫn còn bộc lộ một số bất cập: Việc đề nghị điều chỉnh, bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm vẫn còn, với thời hạn yêu cầu soạn thảo, ban hành trong thời gian ngắn.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật nhằm ngăn ngừa tham nhũng, lợi ích nhóm
Việc xây dựng một số văn bản quy phạm pháp luật chưa đảm bảo đủ thời gian để thực hiện các quy trình, thủ tục theo quy định. Việc tiếp thu và giải trình ý kiến thẩm định, ý kiến thành viên Chính phủ chưa đầy đủ, rõ ràng, có trường hợp không tiếp thu, cũng không giải trình rõ lý do.
Một số cơ quan chưa chủ động thực hiện việc lập đề nghị xây dựng, soạn thảo văn bản, cùng với yêu cầu về thời hạn nên đề xuất áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn chưa phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc dùng hình thức văn bản khác không đúng quy định để thay thế cho việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục. Năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ, công chức có nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, dẫn đến pháp luật chậm được thực hiện và hiệu quả thấp...
Tăng cường đề xuất một văn bản để quy định chi tiết nhiều nội dung của luật, pháp lệnh, nghị quyết
Nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, phòng, chống tham nhũng, lợi ích nhóm, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương rà soát, đánh giá kết quả triển khai thực hiện sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về công tác xây dựng thể chế và tổ chức thi hành pháp luật, phát hiện các tồn tại, khó khăn.
Từ đó, có các giải pháp, biện pháp phù hợp để đẩy mạnh, tiếp tục triển khai thực hiện các chỉ đạo về xây dựng thể chế và tổ chức thi hành pháp luật ở bộ, ngành, địa phương mình. Chỉ đạo các cơ quan chủ động nghiên cứu các chủ trương, đường lối của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIII; các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, chỉ đạo từ Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, HĐND, UBND, các Điều ước quốc tế và thực tiễn thi hành pháp luật để kịp thời ban hành theo thẩm quyền hoặc đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.
Khi tham mưu, đề xuất việc ban hành văn bản phải đúng thẩm quyền về nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật; hồ sơ đề nghị xây dựng, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo đầy đủ các tài liệu theo quy định và đảm bảo chất lượng của từng tài liệu. Không trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, HĐND, UBND ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản hành chính có chứa quy phạm pháp luật.
Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi "tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm" trong công tác xây dựng pháp luật
Nhằm tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, phát hiện ngăn chặn và kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi "tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm" trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Nghị quyết yêu cầu chủ động báo cáo, xin ý kiến của các cấp ủy, tổ chức Đảng về những chính sách quan trọng, những định hướng lớn trong dự án, dự thảo văn bản.
Nâng cao năng lực, phẩm chất cho cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật thông qua việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, công chức nhằm nêu cao tinh thần cảnh giác, không để bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh nhằm cài cắm lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, làm sai lệch chủ trương chính sách, nội dung văn bản quy phạm pháp luật.
Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, cá nhân trong việc tham mưu xây dựng, ban hành văn bản trái pháp luật.
Bên cạnh đó là ưu tiên, bố trí đầy đủ nhân lực, kinh phí và các điều kiện cần thiết khác để đáp ứng đầy đủ yêu cầu của công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Nghiên cứu đề xuất các cơ chế, chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút các chuyên gia, nhà khoa học có trình độ, năng lực, kinh nghiệm thực tiễn tham gia quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật....
TTXVN

MỞ RỘNG ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ


Bảo hiểm y tế là chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của quốc gia để chăm sóc sức khỏe người dân. Do vậy việc mở rộng đối tượng tham gia và hoàn thiện chính sách nhằm bảo đảm phát triển bền vững bảo hiểm y tế cần có bước đi, lộ trình phù hợp với phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Theo thống kê của Bộ Y tế, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 92,03% số dân. Nhưng việc phát triển bền vững và vận động tỷ lệ 8% số dân còn lại tham gia bảo hiểm y tế đang là bài toán cần có lời giải...
Tỷ lệ bao phủ tăng nhưng chưa ổn định
Bà Trần Thị Trang, Quyền Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế) cho hay: Sau 31 năm triển khai chính sách bảo hiểm y tế (BHYT), đến nay Việt Nam đã trở thành một trong các quốc gia dẫn đầu về tỷ lệ người dân tham gia BHYT công cộng tại khu vực châu Á. Tính đến tháng 12/2022, toàn quốc có trên 91,067 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ 92,03% số dân.
Tổng chi từ Quỹ BHYT tăng từ 0,85 tỷ USD năm 2010 đến năm 2022 đã đạt hơn năm tỷ USD. Diện bao phủ BHYT tập trung vào các nhóm yếu thế như: nhóm người lao động; nhóm hưu trí, mất sức lao động, bảo trợ xã hội; nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ như hộ cận nghèo, học sinh, sinh viên và trên 17,5 triệu người tham gia theo hình thức hộ gia đình.
Chính sách BHYT đã góp phần giảm chi trực tiếp từ tiền túi hộ gia đình cho dịch vụ y tế, góp phần tạo nên sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt đối với nhóm người yếu thế trong xã hội. Nhiều trường hợp đã được quỹ BHYT chi trả chi phí khám, chữa bệnh trong năm lên đến hàng tỷ đồng. Chính sách BHYT đã phát huy hiệu quả vai trò chăm sóc sức khỏe ban đầu cũng như chia sẻ gánh nặng cho gia đình các bệnh nhân khi không may gặp phải ốm đau, bệnh tật.
Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Nguyễn Đức Hòa chia sẻ, tham gia BHYT, mọi người dân đều được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản bình đẳng mà không phụ thuộc vào khả năng chi trả của mình. Chất lượng khám, chữa bệnh BHYT ngày càng cải thiện, người dân được tiếp cận nhiều dịch vụ y tế hiện đại, thuốc mới, hiệu quả cao, giúp nhiều người vượt qua ốm đau, bệnh tật.
Danh mục thuốc được Quỹ BHYT chi trả khi người có thẻ BHYT khám, chữa bệnh lên tới hơn 1.000 hoạt chất hóa dược, sinh phẩm và hàng trăm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu. Trong đó, có nhiều thuốc điều trị ung thư, bệnh hiếm, bệnh máu không đông, tim mạch… Nhiều người bệnh được chỉ định sử dụng dài ngày, có thuốc dùng suốt đời cho quá trình điều trị bệnh. Danh mục thuốc BHYT hiện nay đã cơ bản đáp ứng nhu cầu điều trị đối với các bệnh hiểm nghèo.
Những người thường xuyên đau ốm như chị Nguyễn Thị Vượng, nhà ở thị trấn Đồi Ngô, Lục Ngạn (Bắc Giang) mới hiểu rõ giá trị của tấm thẻ BHYT. Chồng mất sớm, một mình phải lo cho cuộc sống của cả gia đình, nhưng hai năm nay chị Vượng bị tiểu đường và tăng huyết áp khiến sức khỏe kém, đi làm không đều, thu nhập lúc có, lúc không. Cuộc sống vất vả, nay lại thêm khoản kinh phí chi trả cho khám, điều trị bệnh đã tạo ra gánh nặng lớn đối với chị và gia đình. Nhờ tham gia BHYT, gánh nặng chi phí đã giảm rất nhiều. Chị Vượng tâm sự, BHYT đã trở thành phao cứu sinh đối với gia đình chị.
Lợi ích của người dân khi tham gia BHYT là rất lớn, tuy nhiên, hai năm 2021 và 2022 tỷ lệ bao phủ BHYT vẫn là con số “ổn định” 92,03%. Đến hết năm 2022, cả nước mới có 10 tỉnh có tỷ lệ đối tượng tham gia BHYT đạt 95%, còn hai tỉnh là Gia Lai và Bạc Liêu tỷ lệ tham gia BHYT đạt 83,8%.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ người dân tham gia BHYT chưa cao, đó là việc chưa thực hiện được quy định “BHYT là hình thức bắt buộc”; chi cho BHYT chưa thật sự đạt hiệu quả như mong muốn của người dân; chế tài chưa đủ mạnh trong xử lý các tổ chức vi phạm trong quá trình khám, chữa bệnh và thanh toán BHYT; chính sách có xu hướng thu hẹp số người được ngân sách nhà nước chi trả... Việc vận động tham gia BHYT hộ gia đình còn thấp so với tiềm năng; nhiều người bỏ tham gia BHYT vì không thấy bị đau ốm...
Mở rộng đối tượng
BHYT là chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của quốc gia để chăm sóc sức khỏe nhân dân. Do vậy, mở rộng đối tượng tham gia và hoàn thiện chính sách BHYT cần có bước đi, lộ trình phù hợp với phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Nguyễn Đức Hòa cho rằng, trong quá trình vận động phát triển đối tượng, cơ quan Bảo hiểm xã hội cần luôn chú trọng phân tích tình hình để tiếp tục nâng tỷ lệ bao phủ. Số người tham gia BHYT đạt tỷ lệ cao nhưng chưa bền vững, có thể biến động, trong đó, nhiều thành phần được ngân sách nhà nước hỗ trợ mua thẻ. Các địa phương thực hiện phương thức chỉ đạo linh hoạt, khắc phục những bất cập hiện có, tạo đòn bẩy phát triển đối tượng.
Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam kiến nghị, cần nâng mức hỗ trợ cho một số nhóm còn có tỷ lệ tham gia thấp, thiếu ổn định; hỗ trợ người mới ra khỏi nhóm đối tượng được ngân sách nhà nước đóng BHYT chuyển sang nhóm tự đóng BHYT; nghiên cứu thu gọn các nhóm đối tượng để đơn giản và thuận tiện trong tổ chức thực hiện. Mức đóng BHYT cần rõ ràng và công bằng giữa các nhóm, giữa người tuân thủ tham gia và người chậm tham gia BHYT; không khuyến khích cung ứng dịch vụ được BHYT bao phủ và không được BHYT bao phủ trên cùng một người bệnh (trừ các dịch vụ tiện ích)...
Theo bà Trần Thị Trang, giải pháp trước mắt của ngành y tế là cần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; tiếp tục đổi mới phong cách, thái độ phục vụ người bệnh; cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong khám, chữa bệnh…; kiện toàn các hướng dẫn chẩn đoán và điều trị; lựa chọn thuốc, công nghệ, vật tư sử dụng trong các hướng dẫn cần càng cụ thể càng tốt, trên nguyên tắc chi phí đi đôi với hiệu quả./.
Nhân dân
Có thể là hình ảnh về 2 người và bệnh viện

NHẬN THỨC SÂU SẮC VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới là nội dung rất quan trọng trong 10 nhiệm vụ xây dựng Đảng mà Văn kiện Đại hội XIII đã đề ra. Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII kết thúc thành công tốt đẹp mới đây đã nhất trí cao ban hành Nghị quyết mới về vấn đề này.
Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị tiếp tục được tăng cường, nhất là với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân”;
Việc ban hành chủ trương, nghị quyết của Đảng đã bám sát thực tiễn, phát huy dân chủ, gắn với xây dựng kế hoạch và chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết liệt. Phong cách, lề lối làm việc của nhiều cơ quan lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở được đổi mới theo hướng bám sát thực tiễn, sâu sát cơ sở…
Mặc dù vậy, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt còn lúng túng. Biểu hiện là cơ chế kiểm soát quyền lực chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao; công tác thể chế hóa, cụ thể hóa chưa đầy đủ, chưa kịp thời thành pháp luật của Nhà nước về một số chủ trương, nghị quyết của Đảng; việc ban hành nghị quyết của một số tổ chức đảng chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi; vẫn còn tình trạng bao biện làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo của một số tổ chức đảng; còn có mặt hạn chế trong công tác giáo dục, thuyết phục nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thật sự tiên phong, gương mẫu… Tình hình nêu trên sẽ tác động mạnh, nhiều chiều đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ đó, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới”.
Sau Đại hội XIII, tại một hội thảo khoa học quốc gia về “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị - những vấn đề lý luận và thực tiễn” do Ban Tổ chức Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương và Thành ủy Đà Nẵng phối hợp tổ chức, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng nêu rõ: 92 năm qua, Đảng ta đã không ngừng nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi để đổi mới, bổ sung và hoàn thiện phương thức lãnh đạo; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu, phù hợp với những bước chuyển chiến lược trong tiến trình cách mạng Việt Nam và sự phát triển của đất nước.
Trong thời kỳ đổi mới, việc lãnh đạo, định hình, phát triển và hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam được thực hiện với ba trụ cột: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Ông Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới là nội dung rất quan trọng trong 10 nhiệm vụ xây dựng Đảng mà Văn kiện Đại hội XIII đã đề ra, nhằm đáp ứng yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo đảm đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế, phù hợp với tiến trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền và trong điều kiện bản thân Đảng và hệ thống chính trị đang tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động, khắc phục những bất cập, hạn chế, nhất là tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tham nhũng, tiêu cực...
Phát huy hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng
Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa và sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thời gian qua Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị đã triển khai tổng kết Nghị quyết một cách nghiêm túc, bài bản, công phu, khoa học, có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ, với tinh thần trách nhiệm cao của các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương, các đồng chí lão thành cách mạng, các nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
Báo cáo tổng kết trình Trung ương tại Hội nghị lần thứ 6 vừa qua đã đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X, chỉ ra những kết quả, thành tựu to lớn, toàn diện, rất ấn tượng đã đạt được; đồng thời, cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và phân tích rõ nguyên nhân. Từ đó, đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu và kiến nghị Trung ương xem xét ban hành Nghị quyết mới để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy có hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới. Đây chính là một nội dung rất quan trọng mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra.
Trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6 về nội dung tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất cao cho rằng: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Trong 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy tốt hơn vai trò, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước theo quy định của pháp luật; nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, có nhiều đóng góp tích cực vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm cho đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Nổi bật là, công tác tổng kết lý luận và thực tiễn được chú trọng, tăng cường, đã góp phần tích cực cho việc kế thừa, bổ sung, phát triển chủ trương, đường lối của Đảng và hoàn thiện luật pháp, chính sách của Nhà nước. Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã từng bước được bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội, ngày càng sát hợp, hiệu lực, hiệu quả hơn. Cơ chế họp Lãnh đạo chủ chốt hằng tháng đã trở thành nền nếp, rất có hiệu quả, góp phần làm cho sự lãnh đạo của Đảng tập trung, thống nhất, thông suốt hơn…
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tựu quan trọng đã đạt được vẫn còn không ít những hạn chế, yếu kém; tình hình đất nước, khu vực và quốc tế đã, đang và sẽ có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới, cao và phức tạp hơn. Do vậy, trên cơ sở tổng kết 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 đã nhất trí cao ban hành Nghị quyết mới về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới. Trong đó, Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải bảo đảm giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; nâng cao vai trò, trách nhiệm, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới.
Tổng Bí thư chỉ rõ, cần kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; đẩy mạnh phân công, phối hợp, phân cấp, phân quyền, gắn với nêu cao trách nhiệm của tổ chức và cá nhân, nhất là người đứng đầu; giữ vững sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, kỷ luật, kỷ cương; bảo đảm nguyên tắc quyền lực đi đôi với trách nhiệm, mọi cán bộ, đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, cơ chế, chính sách, nguyên tắc và kỷ luật của Đảng.
Để tiếp tục đổi mới thành công phương thức lãnh đạo của Đảng, Tổng Bí thư yêu cầu, phải chủ động, tích cực, có quyết tâm chính trị cao, đồng thời cần thận trọng, có bước đi vững chắc, vừa làm vừa tổng kết, rút kinh nghiệm; vấn đề đã rõ thì kiên quyết đổi mới, vấn đề cần thiết nhưng chưa rõ, còn ý kiến khác nhau thì phải nghiên cứu, thí điểm, không nóng vội nhưng cũng không bỏ qua hoặc để quá chậm, ảnh hưởng đến sự phát triển; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; kế thừa, phát huy những thành tựu, kết quả, kinh nghiệm tốt trong phương thức lãnh đạo của Đảng đã được thực tiễn chứng minh là đúng. Ở mỗi cấp, mỗi lĩnh vực phải vừa quán triệt các nguyên tắc chung, vừa phải phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ lãnh đạo của từng cấp, từng lĩnh vực và của từng loại hình cơ quan Nhà nước, từng tổ chức chính trị - xã hội.
Trên cơ sở thống nhất cao về nhận thức, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, cần phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn trong tổ chức thực hiện, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, sâu sắc nhận thức về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới, triển khai thực hiện đồng bộ cả 5 phương thức lãnh đạo của Đảng trên cơ sở đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức, cán bộ; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động; phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; đồng thời, đẩy mạnh cải cách hành chính; đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở./.
Báo Pháp luật
Có thể là hình ảnh về cái bục