Thứ Tư, 23 tháng 8, 2023

 CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG PHƯƠNG THỨC, THỦ ĐOẠN MỚI CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG LƯU VONG TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 


Trong thời gian qua, các đối tượng phản động, lưu vong lợi dụng mạng internet để gia tăng các hình thức chống phá Đảng và Nhà nước ta, các hoạt động như: thành lập hệ thống kênh YouTube để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đây là hoạt động có tổ chức, được đào tạo chuyên nghiệp với những thủ đoạn nguy hiểm.
 
LẬP NHIỀU KÊNH YOUTUBE XẤU ĐỘC, XUYÊN TẠC 

Tính đến tháng 7/2023, theo số liệu thống kê của Datareportal, Việt Nam đã có 63 triệu tài khoản, trong đó hơn 100.000 kênh kiếm tiền từ quảng cáo (kênh có hơn 1.000 người theo dõi) với nhiều chủ đề từ giải trí, ẩm thực, vlog… Hiện tại doanh thu quảng cáo của YouTube tại thị trường Việt Nam ước tính đã lên đến hơn 500 triệu USD – đây là một thị trường phát triển tiềm năng, có nhiều người xem.

Các tổ chức, đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước trước đây sử dụng ở các nền tảng mạng xã hội khác nhận thấy tiềm năng to lớn trước sự phát triển này và lượng người xem ở Việt Nam lớn nên đã xây dựng hàng loạt kênh YouTube với sự tổ chức, đào tạo làm truyền thông chuyên nghiệp, đồng thời còn lôi kéo, móc nối với các thành phần bất hảo trong nước. Trong số những tổ chức, đối tượng đó, nổi bật nhất là nhóm người Thượng lưu vong ở Thái Lan, chúng biết cách khai thác hiệu quả nền tảng này để vừa tuyên truyền chống phá Nhà nước. vừa khai thác để làm công cụ kinh tế, tài chính phục vụ cho hoạt động chống phá lâu dài.

Hình thành từ cuối năm 2019, được đánh dấu với các kênh chuyên tổng hợp tin tức có địa chỉ đặt kênh ở Thái Lan, Hoa Kỳ, Thụy Điển… nhưng lại đưa tin tức bằng tiếng Việt nhằm khai thác lượng người xem và tuyên truyền chống phá Việt Nam. Dấu mốc ban đầu của tổ chức này là kênh “MOV Giai điệu cuộc sống”, lúc đầu kênh chuyên khai thác chủ đề giải trí của giới showbiz Việt Nam vốn dĩ thu hút lượng người xem rất đông. Kênh “MOV Giai điệu cuộc sống” ban đầu cũng nằm lọt thỏm trong số hàng ngàn kênh khai thác chủ đề này, tuy nhiên bắt đầu lộ bản chất khi lợi dụng vụ việc lùm xùm trong chuyện bà Nguyễn Phương Hằng tố cáo công tác từ thiện của một số ca sĩ, nghệ sĩ nổi tiếng. Có được ảnh hưởng rộng, kênh này bắt đầu đưa những hình ảnh được cắt ghép và nội dung xuyên tạc, bịa đặt về lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Một lượng lớn người xem hóng tin vụ việc nhưng lại thiếu sự kiểm chứng đã đăng ký kênh này mang lại doanh thu quảng cáo lớn cho kênh. Tuy nhiên, do đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc và bịa đặt nên kênh “MOV Giai điệu cuộc sống” đã bị sập do vi phạm nguyên tắc cộng đồng của YouTube.

Dù vậy, khi đã hiểu được thị hiếu người xem và có kinh nghiệm sau lần bị xóa kênh trên nền tảng này, chúng bắt đầu “đẻ” ra hàng loạt các kênh mới như Vietvoice, TOV, HOV Tiếng nói Việt, KSD News, Life News… để tiếp tục tuyên truyền và lách luật kiểm soát của YouTube một cách có tổ chức. Với số lượng khoảng hơn 20 kênh như kể trên, chúng đã đăng lại những nội dung đã bị xóa bỏ ở kênh “MOV Giai điệu cuộc sống” trước đó và tiếp tục sản xuất nội dung xuyên tạc khai thác chủ đề này. Đáng nói, những kênh này đều đặt địa chỉ ở Thái Lan hoặc Hoa Kỳ với số lượng người theo dõi hàng vạn. Mặc dù đặt địa chỉ ở nước ngoài nhưng người Việt trong nước vẫn xem được, do thuật toán của YouTube gợi ý cho người xem vì biết nắm bắt khai thác trend (xu hướng) các chủ đề được dư luận quan tâm như lùm xùm từ thiện của giới showbiz; các vụ án về tham nhũng lớn đang bị điều tra, xét xử ở Việt Nam.

Phương thức thủ đoạn quen thuộc của chúng là bịa đặt một nội dung từ bài viết cho đến hình ảnh cắt ghép lồng vào video, hình ảnh thu nhỏ (thumbnail), giật tít và biết sử dụng kỹ thuật SEO (tối ưu hóa từ khóa tìm kiếm) nhằm thu hút tối đa người xem. Điển hình là khi bà Nguyễn Phương Hằng bị bắt, chúng bắt đầu bịa đặt xuyên tạc trắng trợn về nhiều cá nhân lãnh đạo của TP Hồ Chí Minh và còn vu khống, tấn công vào người thân của các vị này để khai thác lượt xem, gây rối loạn thông tin trong dân chúng. Theo ghi nhận, hệ thống kênh này mỗi ngày sản xuất ít nhất 2 video xuyên tạc, thu hút hàng trăm triệu lượt xem, kéo theo doanh thu từ hệ thống kênh lên đến hơn 40.000 USD/tháng và tổng số lượng video chỉ về nội dung xuyên tạc này đã lên đến hơn 2.000 video.

Đặc điểm chung của những kênh này là trong phần giới thiệu kênh, các đối tượng để cùng một nội dung với luận điệu là “Không cố tình công kích, nhạo báng bất kỳ cá nhân hay tổ chức, đảng phái nào”. Chúng cũng cố tình đặt tên nhái theo các kênh chính thống trong nước như TOV, HOV, TV News, Vietnam Today, Bản tin an ninh 24h… với logo, có đoạn video mở đầu được tổ chức chuyên nghiệp để đội lốt đây là kênh truyền thông “chính thống” đánh lừa người xem.

Thực tế đã có những hội nhóm, cá nhân trên các nền tảng xã hội khác đã dẫn link và chia sẻ thông tin làm sai lệch ngày một lan rộng. Ngoài ra, chúng còn cóp nhặt những bài viết từ trong nước rồi “xào nấu”, lồng vào đó những nội dung xuyên tạc theo ý muốn. Đồng thời, các đối tượng còn lấy nguồn thông tin các báo đài nước ngoài như BBC, VOA, RFA… rồi video hóa để tuyên truyền vào trong nước nhằm thu hút người xem. Chưa kể, chúng còn lập các trang Facebook chia sẻ những nội dung trên nền tảng YouTube nhằm tăng lượt tương tác để lan truyền thông tin xấu độc này nhiều hơn và tăng doanh thu kiếm tiền. 

Điều nguy hại là ngoài những nội dung trên, các đối tượng còn xây dựng một số kênh nhưng khai thác chủ đề về tin tức chiến sự Ukraine – Nga, tình hình Trung Quốc, Hoa Kỳ và biển Đông với các nội dung bịa đặt, xuyên tạc, kích động chia rẽ mối quan hệ Việt Nam và các nước khác, đồng thời gây hoang mang dư luận trong nước về đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Theo thống kê đã có hơn 5.000 video thể loại này, chúng tập trung khai thác người xem ở Việt Nam, thích tin tức giật gân, ngoài việc kiếm tiền ra thì mục đích chúng sẽ nuôi kênh để sau đó có thể biến đổi nó thành một kênh chống phá trực tiếp ở Việt Nam.

Đồng thời, chúng cũng cho ra đời hàng loạt kênh ngoại vi có nội dung “sạch” đặt địa chỉ ở Việt Nam, đặt những cái tên nhái với cái đuôi “24h”, “News”, sử dụng logo, xây dựng diện mạo nhìn qua giống như là các kênh YouTube của báo đài, tổ chức truyền thông trong nước hòng đánh lừa người xem. Ở những kênh này thì chúng video hóa từ bài viết trên báo chí chính thống, không tấn công xuyên tạc Nhà nước mà vẫn ca ngợi lãnh đạo Đảng, Nhà nước và có kiểm soát nội dung. Ngoài ra, chúng còn xây dựng kênh khai thác mảng chủ đề về phong cách sống, đạo đức, tôn giáo… với bề ngoài đội lốt là một kênh bình thường. Mục tiêu của chúng là xây dựng những kênh có nội dung “an toàn, chính xác” để khai thác tiền quảng cáo ổn định vì chúng biết rằng những kênh chuyên nội dung xuyên tạc, bịa đặt thông tin có thể bị xóa, ngăn chặn, rủi ro cao.

Đáng chú ý là chúng có liên kết với người Việt trong nước để mua bán, chuyển nhượng, nhất là một số kênh có chủ đề Vlog, săn bắn hái lượm, ẩm thực mà chủ sở hữu cũ là người dân tộc ở Tây Bắc và Tây Nam Bộ để tái sử dụng. Một số trường hợp kênh bị tắt chế độ kiếm tiền, quảng cáo nhưng chưa bị xóa kênh, chúng sẽ “tẩy trắng” bằng cách gỡ hết tất cả video, thay đổi hình ảnh và tên kênh rồi nằm im để qua thời gian kiểm duyệt của YouTube thì bắt đầu đăng lại video có nội dung “sạch”. Hoặc là chuyển đổi chủ sở hữu kênh, các trường hợp ghi nhận như Vietnam Today, Hóng biến Tv…
NHỮNG KẺ ĐỨNG ĐẰNG SAU HỆ THỐNG KÊNH YOUTUBE ĐỘC HẠI 

Điểm đáng chú ý, các tài khoản có thể định danh con người thật vào tương tác trong hệ thống kênh này là một số cá nhân, tổ chức người Việt Nam đang sống ở Thái Lan. Những người này tham gia vào tổ chức có tên gọi là “Người Thượng vì Công lý” (MSFJ, Montagnards Stand For Justice) do đối tượng Y Quynh Bdap cầm đầu. Đối tượng Y Quynh Bdap sở hữu riêng một kênh YouTube “Dak Lak News”, hằng ngày Y Quynh Bdap vẫn tiếp tục tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam bằng hai thứ tiếng Ede và tiếng Việt. Sau vụ tấn công khủng bố ở Đắk Lắk, Y Quynh Bdap tiếp tục xuyên tạc rằng chính quyền Việt Nam không có chứng cứ thuyết phục về hành vi vi phạm của các đối tượng khủng bố và biến kênh này thành một kênh chuyên tuyên truyền về tin tức phản động, lôi kéo nhiều người dân tộc thiểu số ở trong nước vào tương tác.  

Trong số những người đọc hệ thống kênh xuyên tạc này thì một “giọng đọc vàng” chuyên đọc mảng nội dung tin tức xuyên tạc, bịa đặt là Lê Văn Thương. Lê Văn Thương (SN 1988) trước đó đã bị Công an tỉnh Quảng Ngãi truy nã về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, đã bỏ trốn khỏi địa phương vào năm 2018, hiện đang sống lưu vong ở Thái Lan. Trước đây tên này thường xuất hiện trên kênh riêng là “TOV Tiếng nói Việt” đặt kênh ở Thụy Điển, cũng bình luận xuyên tạc chém gió như bao nhà “đấu tranh dân chủ” hải ngoại khác nhưng không có nhiều lượt xem. Nhưng kể từ khi tham gia hệ thống kênh độc hại này, Thương không còn chường mặt lên kênh như mọi lần và chỉ đứng đằng sau đọc tin tức bịa đặt. Sở dĩ y được mệnh danh là “giọng đọc vàng” do số lượng video đọc ước tính lên đến 3.000 video. Các nội dung video do Thương đọc được tái sử dụng trên hệ thống kênh có tên Saigonpost, Việt Voice, Giới Thạo Tin, Life News trong hệ thống. Ngoài ra, đối tượng Thái Văn Đường (chủ kênh Đường Văn Thái) cũng có sự tương tác với hệ thống kênh YouTube xấu độc kể trên. Thái Văn Đường trước đây lưu vong ở Thái Lan và hiện đã bị bắt. Thời gian đầu, kênh của Đường rất ít tương tác nhưng kể từ khi tiếp xúc với các đối tượng này thì kênh của Đường “thay da đổi thịt”, được các nick ảo chuyên đi “rải” bình luận cho hệ thống kênh xấu độc này cũng vào tương tác hòng để được thuật toán YouTube đề xuất, kiếm view, kiếm doanh thu từ quảng cáo. Những thông tin sai lệch từ kênh của Đường bắt đầu có lượng người xem khủng, doanh thu có tháng lên đến 10.000 USD.  

Có thể thấy rằng, hệ thống sử dụng kênh YouTube để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước ta đã được hình thành có tổ chức, được đào tạo chuyên nghiệp nhưng có sự khác biệt với các tổ chức khác là chúng biết khai thác nhiều chủ đề, xây dựng kênh ngoại vi, kênh “sạch” để tạo nguồn doanh thu ổn định. Tinh vi hơn là biết “tẩy trắng” kênh, tái sử dụng nội dung video, móc nối với các đối tượng trong nước để chuyển nhượng, tái sử dụng kênh, biết áp dụng các phương thức kỹ thuật để lách sự kiểm soát của YouTube và tăng đề xuất đến người dùng. Với lượng doanh thu lớn, ổn định từ quảng cáo YouTube, các đối tượng này đã có nguồn tiền kiếm sống, tiếp tục hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam và lôi kéo bà con theo chúng. 

Các đối tượng này không những vi phạm luật pháp Việt Nam mà còn vi phạm luật pháp của nước sở tại khi đang sử dụng lãnh thổ, phương tiện cơ sở hạ tầng truyền thông của các nước này để tuyên truyền chống phá không chỉ nước Việt Nam mà còn các quốc gia khác. Đây thực sự là các đường dây, tổ chức tội phạm mạng xuyên biên giới, trong khi nền tảng mạng xã hội YouTube hiện nay có nhiều lỗ hổng, bất cập và các cơ quan phụ trách và báo chí truyền thông chính thống trong nước cũng không đủ nguồn lực để kiểm soát hết nội dung bị ăn cắp cũng như báo cáo các video vi phạm. Cư dân mạng trong nước và kiều bào ở hải ngoại cần phải tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc kể trên và cùng chung tay gắn cờ vi phạm với những video, kênh có nội dung thông tin sai lệch, xuyên tạc nhằm ngăn chặn sự lan truyền của thông tin độc hại.

Chữa bệnh “Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người”

          “Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người” được người xưa đúc kết nhằm phê phán thói xấu soi mói người khác trong khi chính mình có rất nhiều tật xấu mà không chịu sửa đổi; ngụ ý khuyên mọi người nên sửa mình trước, mình có thực sự tốt thì phê bình, nhắc nhở người khác mới hiệu quả. Ngược lại, nếu người không tốt mà lại lên lớp, phê bình người khác thì sẽ phản tác dụng. Lịch sử đã chứng minh, quy luật tồn tại, phát triển và nguyên tắc sinh hoạt của Đảng là tự phê bình gắn với phê bình. Bất kỳ tổ chức nào, nếu chỉ có phê bình mà không có tự phê bình thì chắc chắn sẽ suy yếu, mất đoàn kết, tan rã. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Phê bình mình cũng như phê bình người, phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, thâm độc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người”. Người thường đặt mệnh đề “tự phê bình” lên trước, với hàm ý “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, bản thân phải gương mẫu mới nói được người khác.

         Để không mắc bệnh “Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người”, trước hết, các cấp ủy, tổ chức đảng phải tăng cường giáo dục, nhắc nhở, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức thật sâu sắc, đầy đủ hàm ý của lời răn dạy này; quán triệt, thực hiện đúng nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Đồng thời, phải duy trì thực hiện nghiêm túc các chế độ, nguyên tắc sinh hoạt đảng; có biện pháp nhắc nhở, định hướng, yêu cầu đảng viên nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình. Đặc biệt, cấp ủy, thủ trưởng cấp trên phải thường xuyên quan tâm kiểm tra, giám sát, có biện pháp để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, yêu cầu cán bộ chủ trì, chủ chốt cấp dưới phải thực hiện đúng nguyên tắc tự phê bình gắn với phê bình, bảo đảm chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, thực sự nêu gương trước quần chúng. Việc thực hành nêu gương phải được đặc biệt chú trọng, bảo đảm nói đi đôi với làm, người đứng đầu làm trước, nêu gương trước. 

        Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm, cán bộ không nêu gương, tung tin đồn xuyên tạc, nói xấu người khác hoặc gửi đơn thư tố cáo sai sự thật, nặc danh, mạo danh…Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức cần quan tâm xây dựng môi trường làm việc, sinh hoạt văn hóa, văn minh, đoàn kết; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch những nội dung công việc, chế độ, chính sách theo đúng quy định để tạo sự đồng thuận, thông suốt về tư tưởng, không còn những “khoảng tối”, mập mờ tạo cơ hội cho tính xấu nảy sinh. 

Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước

     Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước, xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả

    Để hiện thực hóa khát vọng phát triển cùng với những mục tiêu quan trọng của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”, đối với mục tiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả cần được xem xét tổng thể, toàn diện, từ tổng kết lý luận và thực tiễn đến đề xuất phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới. Trên cơ sở đó, để tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, triển khai thực hiện nghiêm, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 6 khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, cần thống nhất nhận thức và hành động về cải cách hành chính trong toàn hệ thống chính trị. Theo đó, tiếp tục thực hiện một số giải pháp sau:

    Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cải cách hành chính. Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cải cách hành chính thể hiện thông qua việc quyết định các mục tiêu, quan điểm, chủ trương và giải pháp lớn về cải cách hành chính; lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục bảo đảm sự nhận thức sâu sắc và thống nhất hành động trong các tổ chức đảng, trong cán bộ, đảng viên và sự đồng thuận, ủng hộ của người dân, xã hội về công tác cải cách hành chính. Tăng cường lãnh đạo, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, uốn nắn kịp thời việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác cải cách hành chính. Các cấp ủy lãnh đạo cơ quan chính quyền xây dựng chương trình, kế hoạch cải cách hành chính, thông qua kết quả cải cách hành chính để xem xét, đánh giá, sử dụng cán bộ, đảng viên. Tiếp tục đổi mới phương thức làm việc và sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ và cơ quan hành chính địa phương các cấp trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng như trong triển khai công tác cải cách hành chính. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp về đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030; lấy kết quả cải cách hành chính hằng năm là tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của cơ quan, đơn vị; nâng cao chất lượng chỉ đạo, điều hành của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; coi trọng công tác thi đua, khen thưởng gắn với kết quả, hiệu quả cải cách hành chính.

    Hai là, xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi, dễ tiếp cận, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật trên tất cả lĩnh vực, trọng tâm là hoàn thiện thể chế, pháp luật về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị; phát huy dân chủ, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan tâm tới chất lượng xây dựng hệ thống văn bản pháp luật theo hướng tạo môi trường pháp lý bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, khuyến khích đổi mới sáng tạo, cạnh tranh lành mạnh của các thành phần kinh tế trên cơ sở tuân thủ pháp luật. 

    Ba là, đẩy mạnh cải cách TTHC góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động cung ứng dịch vụ công của bộ máy hành chính nhà nước trong bối cảnh hội nhập sâu rộng của nền kinh tế. Ðơn giản hóa TTHC, cắt bỏ thủ tục không cần thiết, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, cản trở cạnh tranh lành mạnh; tăng cường rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa quy trình, quy định TTHC, điều kiện kinh doanh, bảo đảm thực chất, hiệu quả trên cơ sở lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm của cải cách, đồng thời áp dụng hiệu quả dịch vụ công trực tuyến. Tập trung ưu tiên nguồn lực để đẩy mạnh triển khai số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC. Ban hành các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả triển khai 25 dịch vụ công thiết yếu liên quan đến người dân theo Đề án 06. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông.

    Bốn là, tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tổ chức các bộ, cơ quan ở Trung ương, các cơ quan chuyên môn ở địa phương đa ngành, đa lĩnh vực, số lượng hợp lý. Phát huy đầy đủ vị trí, vai trò của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội; xác định rõ thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Ðổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tập trung quản lý phát triển; bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân. Hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với các địa bàn đô thị, nông thôn, miền núi, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; giảm cấp chính quyền phù hợp ở một số địa phương; xây dựng mô hình quản trị chính quyền địa phương phù hợp với từng địa bàn, gắn với yêu cầu phát triển các vùng, khu kinh tế. Ðẩy mạnh phân cấp, phân quyền khoa học, hợp lý, đi đôi với nâng cao trách nhiệm, gắn với bảo đảm nguồn lực, năng lực thực hiện pháp luật cho các địa phương và các bộ. Tiếp tục cải cách, sắp xếp lại đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, bảo đảm chất lượng, hoạt động hiệu quả. Thực hiện việc chuyển giao các chức năng, nội dung công việc không thuộc chức năng của hệ thống hành chính cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ, tổ chức sự nghiệp dịch vụ công, tổ chức, doanh nghiệp khu vực tư nhân đảm nhiệm ngày càng nhiều hơn theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa.

    Năm là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về một nền công vụ minh bạch, trách nhiệm, công bằng và liêm chính. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ và có đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm, tiêu chuẩn nghiệp vụ, tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức, viên chức dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao bằng sản phẩm cụ thể và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Áp dụng khoa học – công nghệ hiện đại, chuyển đổi số trong xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác đánh giá công chức theo kết quả thực thi công vụ. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Nâng cao chất lượng phục vụ người dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên tinh thần lắng nghe, cầu thị, trách nhiệm, hết lòng phục vụ người dân, tổ chức…, đồng thời sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, kỷ luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, không còn uy tín với nhân dân.

    Sáu là, đẩy mạnh triển khai chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử hướng tới Chính phủ số, Chính quyền số, nền kinh tế số và xã hội số theo lộ trình của Chính phủ, bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện thực tiễn của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Trong đó, khẩn trương hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật phục vụ phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống hạ tầng, nền tảng số, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu ngành, cơ sở dữ liệu địa phương đồng bộ, liên thông. Phát triển dữ liệu mở, cơ sở dữ liệu và các nền tảng số để bảo đảm sử dụng thống nhất, đồng bộ trên phạm vi toàn quốc và tại mỗi địa phương. Mở rộng, phát triển và nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp. Phát triển hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Phát triển các ứng dụng, dịch vụ nghiệp vụ, chuyên ngành phục vụ nội bộ và kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin trong và ngoài bộ, ngành, địa phương; ứng dụng, dịch vụ phục vụ người dân, doanh nghiệp, bảo đảm mỗi người dân cần nhìn thấy rõ và thụ hưởng kết quả cụ thể của chuyển đổi số./.

Cải cách hành chính góp phần xây dựng một nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả

     Cải cách hành chính góp phần xây dựng một nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả

    Thứ nhất, cải cách thể chế trong thời gian qua được xác định là  trọng tâm cải cách, một trong ba đột phá chiến lược để phát triển đất nước, từng bước cụ thể hóa mục tiêu, quan điểm của Đảng về phấn đấu cơ bản hoàn thành đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Thể chế về tổ chức bộ máy hành chính; công chức, viên chức; về mối quan hệ giữa nhà nước với người dân được tập trung xây dựng, hoàn thiện. Theo đó, một số lượng lớn nghị định hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh đã được ban hành; chất lượng xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được nâng cao, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật. Cải cách thể chế với những kết quả cụ thể về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật trong thời gian qua, nhất là từ khi thi hành Hiến pháp năm 2013 góp phần quan trọng hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả.

     Thứ hai, trong nhiều năm qua, cải cách thủ tục hành chính (TTHC) được xác định là một khâu trọng tâm, đột phá và được triển khai mạnh mẽ ở tất cả cấp hành chính theo hướng đơn giản hóa, tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng cho phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm lợi ích chính đáng và quyền làm chủ của nhân dân. Việc triển khai thực thi phương án đơn giản hóa TTHC; cắt giảm điều kiện kinh doanh và hoạt động kiểm tra chuyên ngành; phân cấp thẩm quyền giải quyết TTHC bước đầu đạt được nhiều kết quả tích cực. TTHC thường xuyên được rà soát, đơn giản hóa, đánh giá tác động, chuẩn hóa; công bố, niêm yết, công khai. Việc đổi mới thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC theo hướng số hóa, không phụ thuộc vào địa giới hành chính được chú trọng, bước đầu có kết quả. Theo đó, 53/63 địa phương đã thực hiện hợp nhất Cổng Dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh, thành phố. Hệ thống thông tin giải quyết TTHC duy nhất, đồng thời cung cấp, tích hợp nhiều tiện ích thông minh, giúp cho việc tiếp nhận hồ sơ, giải quyết TTHC ngày càng nhanh chóng, thuận tiện. Nhiều đề án về cải cách TTHC được đề xuất và triển khai thực hiện, đạt được những kết quả tích cực. Các nội dung gắn kết đồng bộ giữa cải cách TTHC và xây dựng Chính phủ điện tử cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận với cơ quan hành chính nhà nước.

    Thứ ba, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước được triển khai quyết liệt, đồng bộ, trong đó tập trung vào các nội dung, như rà soát, kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy; phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương; tinh giản biên chế; thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập. Việc kiện toàn cơ cấu tổ chức của Chính phủ, hình thành bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, việc rà soát, điều chỉnh chức năng, tổ chức bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ được thực hiện mạnh mẽ theo hướng phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của từng cấp, đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan thuộc Chính phủ phù hợp với mô hình quản trị hiện đại và thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Qua thực tiễn triển khai, tổ chức bộ máy hành chính, cơ cấu tổ chức Chính phủ khóa sau tinh gọn, hợp lý hơn khóa trước; số lượng cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ngày càng giảm dần qua các nhiệm kỳ Chính phủ. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả vừa qua đạt được những kết quả đáng ghi nhận(6). Có thể nói, việc rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy góp phần khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ cấp trung gian, bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật chuyên ngành và phân công của Chính phủ. Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện được sắp xếp, kiện toàn, cơ bản theo đúng quy định, bước đầu đã tính đến đặc điểm của đơn vị hành chính ở nông thôn, đô thị, hải đảo. Một số nội dung mới đã và đang được triển khai thực hiện theo các nghị quyết của Quốc hội, như về thí điểm mô hình tổ chức chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội; về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng; về sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc Thành phố Hồ Chí Minh và thành lập thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Việc tinh giản biên chế và giải quyết nhân sự dôi dư sau khi sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính cũng đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

    Thứ tư, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm. Thể chế về công vụ, công chức, viên chức được bổ sung, hoàn thiện, đổi mới trên cơ sở Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức. Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức cơ bản được thực hiện nghiêm; việc bố trí công chức bảo đảm theo vị trí việc làm và tiêu chuẩn ngạch công chức, viên chức tương ứng với bản mô tả công việc, khung năng lực của các vị trí từng bước được thực hiện. Một số nội dung cải cách, đổi mới bước đầu đạt kết quả, như việc tuyển dụng công chức có ứng dụng công nghệ thông tin; việc thu hút những người có tài năng vào làm việc trong các cơ quan nhà nước; việc thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào chức danh lãnh đạo, quản lý. Công tác đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức có sự đổi mới; rà soát cắt giảm các chứng chỉ bồi dưỡng theo yêu cầu. Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức đã được khai trương, đi vào hoạt động.

    Thứ năm, thể chế, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tài chính công, như quản lý nợ công, sắp xếp cổ phần hóa doanh nghiệp, quản lý tài chính, ngân sách, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp khoa học – công nghệ có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc triển khai chính sách xã hội hóa trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục và đào tạo, y tế… từng bước nâng cao được chất lượng hoạt động, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục, y tế cho người dân. Việc thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ quan hành chính, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập đạt được những kết quả tích cực.

    Thứ sáu, cơ chế, chính sách về phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số từng bước được hoàn thiện, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, trục liên thông văn bản quốc gia, Cổng Dịch vụ công Quốc gia, Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ… được triển khai thực hiện hiệu quả, góp phần hình thành nên cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết TTHC cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Các bộ, ngành, địa phương tập trung đẩy mạnh đầu tư, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, triển khai xây dựng nhiều phần mềm, cơ sở dữ liệu, các nền tảng, phần mềm ứng dụng. Cung cấp dịch vụ công trực tuyến tiếp tục có cải thiện, như năm 2022, tỷ lệ dịch vụ công có đủ điều kiện được đưa lên cung cấp trực tuyến mức độ 4 đạt 100%, tăng 4% so với năm 2021; tỷ lệ hồ sơ TTHC được xử lý trực tuyến trên tổng số hồ sơ TTHC đạt 52,80%, tăng 17,50% so với năm 2021; đã cơ bản hoàn thành đưa 21/25 dịch vụ công thiết yếu (theo Đề án 06) thực hiện trên môi trường điện tử và được tích hợp, cung cấp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia.

    Thứ bảy, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp thường xuyên đối thoại, lắng nghe phản ánh, kiến nghị của người dân, cộng đồng doanh nghiệp. Điều này cho thấy quyết tâm xây dựng một nền hành chính năng động, trách nhiệm của bộ máy hành chính nhà nước các cấp. Các công cụ theo dõi, đánh giá cải cách hành chính, như Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index), Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS); đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế công, giáo dục công… được triển khai thực hiện, qua đó thể hiện rõ nét tinh thần xây dựng một nền hành chính dân chủ, phục vụ, hướng tới lợi ích của người dân và xã hội.

    Có thể thấy, thời gian qua, công tác cải cách hành chính đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo chuyển biến tích cực trong hoạt động của nền hành chính, nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định, cần được quan tâm giải quyết. Tổ chức thực hiện pháp luật một số lĩnh vực chưa nghiêm, chưa hiệu quả; cải cách TTHC vẫn chưa thực sự là động lực góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; tổ chức bộ máy hành chính còn cồng kềnh, tầng nấc, hoạt động kém hiệu quả; chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có nơi chưa đồng đều, thậm chí còn yếu; một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức khi giải quyết công việc liên quan đến tổ chức và người dân chưa làm hết trách nhiệm, còn có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực; việc xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, xã hội số còn chưa đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương. Những hạn chế này cần được tiếp tục nghiên cứu, xử lý mạnh mẽ, triệt để trong quá trình thực hiện cải cách hành chính thời gian tới, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu cải cách hành chính trên từng nội dung cụ thể trong giai đoạn 2021 – 2030.

BẠN CẦN BIẾT: BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRƯỚC NGUY CƠ "CÁCH MẠNG MÀU" Ở VIỆT NAM!

         “Cách mạng màu” đã và đang có những nguy cơ tiềm tàng tác động đến chính trị và đời sống xã hội Việt Nam. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên, cùng với những tồn tại, hạn chế của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội đất nước... đã tạo điều kiện để các thế lực thù địch, phản động mưu đồ thực hiện “sắc màu chính trị”. Từ những nguy cơ tiềm tàng này đặt ra những thách thức cần kịp thời có các giải pháp nhằm nâng cao công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước nguy cơ “cách mạng màu” ở Việt Nam.

Những thách thức có thể dẫn đến nguy cơ “cách mạng màu” diễn ra

Để thực hiện được “cách mạng màu”, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục lợi dụng tình hình quốc tế, khu vực và trong nước để đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Trong đó, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng một số vấn đề xã hội và thổi phồng lên để xuyên tạc, chống phá. Hiện nay, ở Việt Nam nổi lên một số vấn đề chính trị, xã hội được đặt ra là những thách thức tạo điều kiện để các đối tượng trong và ngoài nước có thể móc nối, kích động dẫn đến nguy cơ “cách mạng màu” có thể diễn ra.

Trước hết, vấn đề chính trị đang được các đối tượng lợi dụng để tấn công xuyên tạc đó là công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và một số vấn đề như dân chủ, nhân quyền… Đối tượng mà các thế lực thù địch, phản động hướng đến để “tấn công” rất đa dạng, trong đó trực diện hướng vào một bộ phận nhân dân và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hệ thống chính trị ở Việt Nam.

Đơn cử, trong thời gian vừa qua, một số đơn vị, địa phương thực hiện thi hành kỷ luật một số tập thể và một số cá nhân do buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để xảy ra sai phạm mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã chỉ ra trong các kỳ họp. Các thế lực thù địch, phản động cho rằng, những vụ việc này “đều cần phải được điều tra một cách triệt để và minh bạch”. Một số vụ việc chúng còn quy chụp cho rằng là bao che cán bộ sai phạm, không xử lí nghiêm minh mà chỉ mang hình thức “kỷ luật mềm”… Với các thủ đoạn này, các thế lực thù địch, phản động đang cố gắng tạo ra những bất ổn về chính trị. Chúng tạo ra những thông tin xấu độc để lan truyền, gây tò mò, hoang mang và dễ gây hiểu nhầm đối với sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước...

Thứ hai, thách thức về những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên là điều kiện để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để thực hiện “cách mạng màu”. Như thông tin đã phân tích ở các bài trước, các cuộc "cách mạng màu" dẫn đến sự sụp đổ chế độ chính trị ở một số nước SNG và các nước Trung Đông, Bắc Phi cho thấy nguyên do sâu xa từ sự suy thoái, biến chất, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ban lãnh đạo đương nhiệm khiến nhân dân mất lòng tin, chống đối. Ở Việt Nam, chúng tận dụng "sức mạnh" của dư luận, mạng xã hội, những trang thông tin cá nhân chưa được kiểm soát để ráo riết tung tin về những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Mục tiêu của chúng là làm cho nhân dân mất niềm tin với cán bộ, đảng viên và từ đó, tìm mọi thủ đoạn để thổi bùng lên những mâu thuẫn, nhằm gây bất ổn xã hội, tạo cơ hội cho thực hiện "cách mạng màu".

Có thể thấy rõ trong thời gian vừa qua, các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng những vụ việc được xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật, như vụ án: Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao, Công ty Việt Á, Công ty AIC, Vạn Thịnh Phát, Tân Hoàng Minh, FLC… để xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng. Chúng rêu rao công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là không hiệu quả; xuyên tạc và cho rằng công cuộc “đốt lò” lúc cháy lúc không, chỉ đốt được "củi nhỏ", còn "củi gộc" thì bao che, dung túng. Các thế lực phản động, thù địch rêu rao rằng ở Việt Nam tham nhũng là “quốc nạn” và việc phòng, chống tham nhũng chỉ là “chữa ung thư bằng thuốc nhức đầu”. Chúng tìm mọi cách ngụy biện rằng muốn cho đất nước minh bạch và phát triển thì phải có nhiều đảng chính trị giám sát lẫn nhau, phải thực hiện “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực. Những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động này nhằm mục tiêu giảm uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; lợi dụng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, tham nhũng để cổ xúy và hướng lái cho sự hình thành chế độ đa đảng, tam quyền phân lập.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động đã cấu kết với lực lượng trong nước thực hiện những thủ đoạn có quy mô ngày càng rộng, phức tạp, kéo dài, có tổ chức tinh vi và chuyên nghiệp. Một mặt, chúng cố thổi phồng lên những yếu kém, sai phạm của cán bộ, đảng viên, mặt khác, chúng không ngừng rêu rao rằng chế độ xã hội chủ nghĩa không có dân chủ, mà có chăng thì chỉ là “dân chủ giả hiệu”.

Mới đây, vụ “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” diễn ra vào rạng sáng 11/6/2023 khi một nhóm đối tượng trang bị v.ũ kh.í tấn công vào trụ sở UBND xã Ea Tiêu và xã Ea Ktur thuộc huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk bằng các hành vi mất nhân tính đã làm 9 ng.ười ch.ết, 2 người bị thương, nhiều tài sản bị đốt phá. Sau khi vụ án xảy ra, trên nhiều kênh thông tin báo chí nước ngoài, các trang mạng hải ngoại, trang mạng cá nhân của các đối tượng thù địch, chống đối đã tung ra nhiều thông tin sai sự thật, các hình ảnh được dàn dựng, cắt ghép… Một số bài viết cố tình đánh tráo bản chất, hướng vụ án sang nguyên do khác nhằm kích động tâm lý kỳ thị dân tộc, gây chia rẽ giữa đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. Từ vụ việc này cho thấy, các thế lực thù địch, phản động sẽ không từ mọi thủ đoạn để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại nền tảng cách mạng, gây ra sự bất ổn chính trị, đồng thời tạo cớ để kêu gọi các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội… trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhằm mưu đồ thực hiện “cách mạng màu”. Các thế lực thù địch, phản động dùng chiêu bài phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cho rằng kinh tế thị trường là sản phẩm của tư bản, là tự do cạnh tranh bị chi phối bởi một “bàn tay vô hình” của những tập đoàn kinh tế lớn, hướng người ta đến các quyết định về các vấn đề kinh tế cơ bản không cần đến sự can thiệp của nhà nước. Nhất là từ sau đại dịch COVID-19, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam gặp khó khăn do biến động chung của thị trường thế giới, những hội nhóm “núp bóng yêu nước” này điên cuồng đăng tải những thông tin về kinh tế ảm đạm, lạm phát tăng cao, độc quyền giá điện, độc quyền xăng dầu… Những thủ đoạn đê hèn, dơ bẩn của chúng không thể chấp nhận được xét cả về phương diện chính trị, kinh tế và đạo đức; là cái nhìn phiến diện của những kẻ cố tình xuyên tạc Việt Nam, đi ngược lại lợi ích dân tộc, quốc gia, cố tình bóp méo, xuyên tạc sự thật. Mục đích những quan điểm sai lệch, phiến diện nhằm phủ nhận thành tựu phát triển kinh tế nhanh và bền vững trong trạng thái “bình thường mới”, phủ nhận kết quả thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh COVID-19, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta... để cố hướng kinh tế nước ta theo con đường kinh tế tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh dẫn đến chệch hướng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế.

Những năm vừa qua, ở nước ta đã xuất hiện một số vụ việc cho thấy rằng, thế lực thù địch và phản động không ngừng sử dụng các chiêu thức "cách mạng màu" để tấn công vào công cuộc xây dựng và phát triển của nước ta. Chúng lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng mạng xã hội, Internet cùng những hạn chế trong nhận thức, hiểu biết của một bộ phận không nhỏ quần chúng để xúi giục nhân dân biểu tình. Đơn cử như, lấy danh nghĩa bảo vệ môi trường để thực hiện cái gọi là “cách mạng cây”; kêu gọi “xuống đường tổng biểu tình” năm 2018 tại một số tỉnh, thành phố liên quan đến việc Quốc hội nước ta chuẩn bị thông qua và ban hành Luật An ninh mạng và Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt...

Mặt khác, chúng lợi dụng nguy cơ xảy ra lợi ích nhóm trong các vấn đề chính trị, xã hội như công tác cán bộ, bổ nhiệm, sắp xếp cán bộ…, vấn đề trong quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý dự án đầu tư, nhất là đầu tư công, quản lý đất đai, tài sản, bất động sản, trong quản lý việc cấp các loại giấy phép, tham mưu đường lối, chính sách… để nhằm làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa theo con đường “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, rất nguy hiểm cho sự phát triển của đất nước và quyền làm chủ của nhân dân.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp, chống lại mọi âm mưu “cách mạng màu” ở Việt Nam

Những cái gọi là “luận cứ” và những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, xuyên tạc đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra với quy mô và tính chất ngày càng phức tạp hơn. Chúng không bao giờ từ bỏ dã tâm phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trước những thách thức về nguy cơ "cách mạng màu" đặt ra yêu cầu cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới hiện nay.

Thứ nhất cần phải nhận diện đầy đủ và sâu sắc, kiên quyết đấu tranh phòng, chống các biểu hiện thúc đẩy "cách mạng màu" ở Việt Nam. Trong đó, nâng cao khả năng nhận diện của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân về chủ thể, phương thức, bản chất, mục đích, nguy cơ và hệ quả của "cách mạng màu". Cụ thể hơn là chủ động nắm bắt, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài "cách mạng màu" để chống phá cách mạng nước ta. Trong đó, cần thiết phải nhận diện và đưa ra âm mưu “cách mạng màu” từ những đặc điểm, ngôn từ, cách diễn đạt, nguồn địa chỉ thông tin, video, so sánh kiểm chứng đúng - sai, thật - giả trên các trang mạng khác nhau, xác định đường liên kết tên miền của Việt Nam hay nước ngoài… giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân đánh giá chính xác được vấn đề, nhất là mạng xã hội mà các thế lực thù địch dùng làm phương tiện triển khai "cách mạng màu".

Giải pháp đặt ra là phải giáo dục rộng rãi trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” của các thế lực thù địch, phản động. Thông qua các kênh thông tin đại chúng để nâng cao cảnh giác cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, chú trọng chất lượng thông tin và truyền thông xã hội giúp cho người dân hiểu rõ, nhận diện đúng bản chất, nguy cơ và thủ đoạn của "cách mạng màu". Quản lý phát huy hiệu quả vai trò của báo chí và các binh chủng thông tin, tuyên truyền góp phần thông tin nhanh nhạy, chính xác, đầy đủ đến nhân dân và định hướng đúng dư luận, tích cực trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay. Cần chú ý tập trung đến công tác giáo dục, bồi dưỡng và tập huấn cho đội ngũ phóng viên báo chí, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và nhất là thế hệ trẻ như học sinh, sinh viên được trang bị kiến thức cần thiết về nhận diện "cách mạng màu", về kỹ năng xử lý và tham gia đấu tranh phòng, chống những nguy cơ "cách mạng màu" cũng như những thông tin xấu, độc trên mạng xã hội hiện nay. Các cơ quan báo chí, truyền thông tích cực, thường xuyên đấu tranh phòng, chống, phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, đẩy mạnh phòng ngừa “từ sớm, từ xa” trước những thách thức và nguy cơ về "cách mạng màu" ở Việt Nam. Đồng thời, cần nghiêm khắc đấu tranh phê phán những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác trong một bộ phận nhân dân, học sinh, sinh viên trước âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm của "cách mạng màu"...
  
Thứ hai, cùng với việc nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của "cách mạng màu" là việc trang bị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấm nhuần sâu sắc nền tảng tư tưởng của Đảng; tin tưởng, kiên định, giữ vững con đường cách mạng và thành tựu đổi mới, hội nhập, phát triển của đất nước ta. Trong đó, phải thường xuyên nắm bắt và bồi dưỡng công tác tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là vấn đề có ý nghĩa căn cơ lâu dài, mang tầm chiến lược trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi nguy cơ gây tổn thất cho cách mạng. Cụ thể, tiếp tục thực hiện Kết luận 01-KL/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và quán triệt, triển khai, thực hiện hiệu quả các Nghị quyết Trung ương; tiếp tục lan tỏa việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thường xuyên và thiết thực; thúc đẩy việc rèn luyện đạo đức, bản lĩnh, “tự soi” và “tự sửa” hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, bền bỉ rèn luyện hằng ngày trong công việc cũng như trong cuộc sống…

Theo GS.TS. Hoàng Chí Bảo (Giảng viên cao cấp Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh): “Mỗi cán bộ, đảng viên và nhất là thế hệ trẻ cần học Bác Hồ là học nói đi đôi với làm, học đạo đức cách mạng, học nêu gương, học phong cách quần chúng, học tác phong làm việc khoa học và dân chủ… Học đi đôi với thực hành đều đặn để trở thành cán bộ liêm chính, đời tư trong sáng”.

Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu, học tập lý luận chính trị. Các cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị chủ động học tập, quán triệt, trau dồi, nghiên cứu và thấm nhuần sâu sắc nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” nhằm xây dựng luận cứ khoa học, bồi dưỡng thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng, đặc biệt là thế hệ trẻ trong việc củng cố niềm tin và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta; đồng thời, chủ động, tích cực phê phán quan điểm lệch lạc, đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái và thù địch. Đây cũng là biện pháp ngăn ngừa đối với những biểu hiện xa rời lý tưởng cách mạng của cán bộ, đảng viên, của thế hệ trẻ; đồng thời qua đó góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị và trách nhiệm với Đảng, với đất nước.

Cùng với việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu, học tập lý luận chính trị, cần chú trọng công tác tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận sáng tạo, đáp ứng đúng quy luật phát triển của dân tộc và thời đại. Trọng tâm, tăng cường tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, sâu rộng, thiết thực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân theo hướng gợi mở những giá trị vận dụng, phát triển sáng tạo hiện nay.

Theo TS. Nhị Lê, nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, cần phải "thực hiện đồng bộ 4 kiên định mà Đại hội XIII của Đảng nói đến là: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Phải thực sự đổi mới tư duy, mở tầm viễn kiến, nắm lấy quy luật và hợp lòng dân”. Cụ thể, tăng cường công tác nghiên cứu, phát triển lý luận góp phần “kiến tạo nền móng” dẫn đường cho sự phát triển thực tiễn, nâng cao niềm tin của nhân dân vào sự tất thắng của sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thứ ba, thực hiện đồng bộ giải pháp thường xuyên là ổn định và an sinh xã hội, nâng cao đời sống và trình độ dân trí, gắn liền với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Điều này trở thành “liều thuốc” hữu hiệu và căn cơ trong việc chống lại mọi âm mưu và thách thức "cách mạng màu" ở Việt Nam. Trong đó, chú trọng hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm, quan tâm thúc đẩy ba động lực tăng trưởng phát triển là đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng... Như PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng: “Chú trọng các chính sách kích thích phát triển kinh tế gắn với quan tâm đặc biệt đến chính sách xã hội, chính sách đối với con người, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững; phát triển hài hòa giữa kinh tế với xã hội, không vì tăng trưởng kinh tế mà coi nhẹ tiến bộ, công bằng xã hội, phải tạo điều kiện cho con người được thụ hưởng mọi thành tựu của phát triển, cuộc sống của con người được cải thiện đồng thời với tiến trình xây dựng, phát triển kinh tế”. Việc bảo đảm an sinh xã hội, sinh kế cho người dân, thúc đẩy sản xuất, giải quyết thất nghiệp sẽ kiểm soát nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn xã hội và những thách thức an ninh phi truyền thống, phòng ngừa được kích động tâm lý xã hội gây mất an ninh, trật tự xã hội, qua đó góp phần chống lại âm mưu "cách mạng màu".

Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền đa kênh, đa phương tiện, chú trọng chất lượng thông tin và truyền thông xã hội giúp cho người dân hiểu rõ, nhận diện đúng bản chất và nguy cơ về "cách mạng màu "- Ảnh: Phạm Cường. 
Thứ tư, tiếp tục đổi mới công tác cán bộ gắn với việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta xác định công tác cán bộ là nhiệm vụ “then chốt của vấn đề then chốt”; cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Vì vậy, ý thức được những nguy cơ và thách thức lớn đối với Đảng cầm quyền là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực trong hệ thống chính trị, Đảng ta đã đặt ra yêu cầu phải thường xuyên đổi mới công tác cán bộ theo quy trình chặt chẽ, có đánh giá tín nhiệm; chú trọng đạo đức và năng lực lãnh đạo, quản lý; khuyến khích cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần chỉ rõ: Kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm đủ các tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức vào đội ngũ cán bộ đương chức và cán bộ quy hoạch cấp chiến lược. Xử lý nghiêm, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật của Nhà nước đối với cán bộ vi phạm, những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm” trong công tác cán bộ và cũng không để bị lợi ích nào cám dỗ, không để bị chi phối bởi quan hệ cá nhân, thân quen không trong sáng. Kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ, gây mất đoàn kết nội bộ, kể cả khi đã chuyển công tác.

Vì vậy, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng, quy hoạch đội ngũ cán bộ, kết hợp nhiều hình thức và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng thông qua thực tiễn công tác, học tập, rèn luyện... của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đánh giá cán bộ, sử dụng những cán bộ đủ tiêu chuẩn với việc kiên quyết đưa ra khỏi cương vị lãnh đạo, quản lý những cán bộ không đáp ứng về phẩm chất và năng lực ở những nơi trì trệ, yếu kém, mất đoàn kết kéo dài. Đồng thời, thực hiện tốt việc luân chuyển cán bộ, chú trọng thực hiện tốt Quy định số 110-QĐ/TW ngày 06/7/2023 của Ban Bí thư về luân chuyển cán bộ trong ngành Kiểm tra Đảng; cùng với đó thực hiện hiệu quả Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

Đặc biệt, tiếp tục quán triệt chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực về 8 bài học quý báu, có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, 5 nhiệm vụ, giải pháp để công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đạt những bước tiến mới, quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn. Phát huy cao độ trách nhiệm chính trị của Ban Chỉ đạo Trung ương và Ban Chỉ đạo các ban, ngành, địa phương về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Từ đó đề ra các nhiệm vụ, giải pháp hướng tới mục tiêu “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực.

Thứ năm, cùng với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, đảm bảo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, cần phải không ngừng chú trọng xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại (có lực lượng tiến thẳng lên hiện đại), xây dựng vững mạnh lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, lực lượng an ninh nhân dân ở cơ sở. Đây vừa là lực lượng trực tiếp, vừa là một bộ phận của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, do Đảng lãnh đạo, là công cụ chủ yếu bảo vệ Đảng, chính quyền, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”. Trong thời gian qua, chúng ta “Tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang”. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và phương hướng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc mà Đại hội XII của Đảng xác định. Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; nỗ lực ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; ứng phó có hiệu quả với các tình huống, các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế sự gia tăng tội phạm..., góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao tiềm lực, uy tín, vị thế quốc tế của đất nước.

Có thể khẳng định rằng, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, luôn đề cao cảnh giác và thực hiện các giải pháp nhằm kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn để tiến hành “cách mạng màu” ở Việt Nam, không có liều thuốc nào hữu hiệu bằng việc tự đề kháng và ngăn ngừa nguyên nhân, thách thức từ sớm, từ xa. Trong đó, cần loại bỏ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, xử lý các cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Khi làm tốt việc này, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng, chính quyền sẽ tăng lên. Họ sẽ không dễ bị lôi kéo, kích động. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; giữ vững bản lĩnh chính trị, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên; học và làm theo Bác ở những điều thiết thực nhất, việc gì có lợi cho dân hết sức làm; rèn luyện lối sống giản dị, đời tư trong sáng, cống hiến hết mình, vượt qua mọi cám dỗ vật chất, danh lợi, kiên quyết, bản lĩnh, tỉnh táo, sáng suốt trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao... Đặc biệt, cán bộ, đảng viên cũng như mỗi người dân Việt Nam tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, góp sức xây dựng đất nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"./.
Theo báo ĐCS Việt Nam.
Yêu nước ST.

TIN BUỒN: PHÓ THỦ TƯỚNG LÊ VĂN THÀNH TỪ TRẦN!

     Phó Thủ tướng Lê Văn Thành từ trần vào hồi 20h20 ngày 22/8 tại nhà riêng ở Hải Phòng, hưởng thọ 61 tuổi.
Theo tin từ Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương, ông Lê Văn Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, sau thời gian lâm bệnh, mặc dù được Đảng, Nhà nước, tập thể các giáo sư, bác sỹ tận tình cứu chữa, gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng do bệnh nặng, ông đã từ trần vào hồi 20h20 ngày 22/8 tại nhà riêng, số 217 phố Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Lễ viếng, Lễ truy điệu, Lễ an táng Phó Thủ tướng Lê Văn Thành sẽ được thông báo sau./.
Yêu nước ST.

CHỈ CÓ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI MỚI ĐEM LẠI ẤM NO, TỰ DO, HẠNH PHÚC THỰC SỰ CHO CON NGƯỜI!

     Trong quá trình nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Đến hôm nay, chủ nghĩa xã hội mới đang trong quá trình xây dựng, cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa giành được thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi thế giới. Tuy nhiên, như C.Mác khẳng định: “chủ nghĩa cộng sản là hình thức kiên quyết của tương lai sắp đến”. “Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Bởi đó là con đường duy nhất đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân lao động và cả xã hội loài người./.
Yêu nước ST.

VIỆT NAM: LÀ BẠN, LÀ ĐỐI TÁC TIN CẬY CỦA TẤT CẢ CÁC NƯỚC TRÊN CƠ SỞ TÔN TRỌNG THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CỦA NHAU VÌ HÒA BÌNH - THỊNH VƯỢNG - ĐỘC LẬP DÂN TỘC, TIẾN BỘ CỦA NHÂN LOẠI!

     Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa trả lời báo chí về việc nâng cấp mối quan hệ với Mỹ rằng: "Hai bên đang trao đổi các biện pháp để tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Việt - Mỹ theo hướng ổn định, thực chất, lâu dài, hướng tới tầm quan hệ mới khi điều kiện phù hợp, đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại khu vực cũng như trên thế giới". 

Tới đây Việt Nam dự kiến sẽ đón Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sang thăm Việt Nam vào cuối tháng 8 hoặc đầu tháng 9/2023; đón Tổng thống Mỹ Joe Biden từ 10 đến 11/9/2023 và Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng sẽ dự kiến ghé thăm Việt Nam vào khoảng tháng 10 hoặc tháng 11/2023. 

Việt Nam luôn hoan nghênh các chuyến thăm của các nhà lãnh đạo Trung - Mỹ - Nga và đó là niềm vinh dự của Việt Nam khi được đón các cường quốc hàng đầu thế giới đến thăm và tăng cường ngoại giao.

Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các quốc gia. Việt Nam luôn hướng theo lẽ phải của nhân loại: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều phải được Hòa Bình - Thịnh vượng - Độc lập dân tộc.

Đặc biệt Việt Nam không liên minh quân sự với bất kỳ quốc gia nào và cũng không theo nước này để chống lại nước khác! Ai, quốc gia nào chấp nhận điều đó đều đủ điều kiện là đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam, là những người bạn đúng nghĩa của Việt Nam!./.

Yêu nước ST.

BẠN CẦN BIẾT: CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM!

     Nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do". Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.

Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh". Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta một lần nữa khẳng định: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử".

Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...

Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện...

Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển. Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo nhận thức của chúng ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ).

Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hoá nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Chúng ta xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.

Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hoà với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội. Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo./.
Theo Báo nhân dân.
Môi trường ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 23 THÁNG 8 NĂM 1925!

     “Nghĩa vụ một người dân là phải yêu Tổ quốc”!
     Lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong bài “Hãy yêu thương nhau và cùng nhau đoàn kết”, Người viết tại Quảng Châu, Trung Quốc, đăng trên Báo Thanh niên, số 9, ngày 23 tháng 8 năm 1925. Đây là giai đoạn phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân đang diễn ra mạnh mẽ, rộng khắp trên thế giới cũng như ở Đông Dương.
     Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua những chặng đường đầy gian lao thử thách, nhưng vẫn trường tồn và phát triển bởi đã rèn đúc nên bản lĩnh vững vàng, mang đậm tính cách và khí phách của dân tộc, hình thành và hun đúc nên truyền thống yêu nước Việt Nam. Truyền thống ấy đã thấm sâu vào trong mỗi người dân, tạo nên tâm hồn, bản lĩnh và trí tuệ của các thế hệ người Việt và sức mạnh to lớn của dân tộc để chiến đấu, chiến thắng thiên tai, địch họa. Lời kêu gọi của Hồ Chí Minh đã tập hợp, quy tụ người Việt Nam không phân biệt đàn ông, đàn bà, già, trẻ, đảng phái, tôn giáo, dân tộc… đoàn kết, đấu tranh chống thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
     Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn mài sắc lý tưởng chiến đấu, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; đề cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; đoàn kết nội bộ tốt, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, gắn bó máu thịt với nhân dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy phản ánh bản chất cách mạng và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân./.
Môi trường ST.

TRỊ TẬN GỐC CĂN BỆNH SỢ TRÁCH NHIỆM!

     Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, hoàn thiện đội ngũ cán bộ. Muốn cho Đảng được vững bền, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đến thắng lợi phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Tuy nhiên, để quét sạch chủ nghĩa cá nhân, diệt trừ tận gốc căn bệnh cá nhân chủ nghĩa là vấn đề không đơn giản bởi lẽ căn bệnh này rất dễ nhiễm, dễ lây lan và khó chữa trị, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay. Do đó cần quyết tâm rất lớn của cả hệ thống chính trị cũng như mỗi cá nhân trong xã hội.

Bệnh sợ trách nhiệm là một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, có nguồn gốc từ chính chủ nghĩa cá nhân. Thực chất của căn bệnh này chính là sợ bị liên lụy, sợ bị quy trách nhiệm, sợ bị ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân. Những người mắc căn bệnh này đã “để chủ nghĩa cá nhân chớm nở”, “họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng”.

Chính vì luôn luôn tính toán cho lợi ích cá nhân, bo bo “bảo vệ” lấy cái cá nhân của mình mà mất cả dũng khí đấu tranh, thiếu hẳn “tinh thần trách nhiệm nghiêm túc”, không dám đương đầu trước khó khăn, không dám nghĩ, không dám làm, làm việc cầm chừng cho “đủ bổn phận”, cốt sao không phạm phải khuyết điểm gì lớn; rụt rè, do dự khi giải quyết công việc, không quyết đoán những việc thuộc phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình.

Vì sợ bị liên lụy, sợ bị gánh trách nhiệm, sợ bị ảnh hưởng đến lợi ích của bản thân nên những cán bộ mắc căn bệnh này sẽ tìm đủ mọi cách, viện đủ mọi lý do hợp lý nhất để né tránh, đùn đẩy công việc, thoái thác trách nhiệm cho người khác. Cũng vì sợ trách nhiệm nên thậm chí nhiều cán bộ còn có suy nghĩ làm ít sai ít, làm nhiều sai nhiều, không làm không sai; hoặc, thà không làm và bị phê bình do không nhiệt tình, không có trách nhiệm với công việc còn hơn làm rồi bị gánh trách nhiệm, bị kỷ luật, xét xử, mất cả địa vị và lợi ích, cho nên chọn giải pháp an toàn là không làm, không đề xuất, không quyết, hoặc “đá bóng”, đùn đẩy trách nhiệm cho người khác, bộ phận khác, cơ quan khác,...

Điều đáng lo ngại là căn bệnh sợ trách nhiệm đang có chiều hướng diễn ra khá phổ biến và ngày càng gia tăng trong đội ngũ cán bộ, lan rộng ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trên phạm vi cả nước, khiến nhiều công việc bị trì trệ, ách tắc, nhiều nguồn lực của đất nước không được phát huy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế-xã hội, kìm hãm tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta.

Chấn chỉnh, khắc phục tình trạng cán bộ né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm
Ở nhiều nơi, tình trạng cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám làm, không dám quyết, đùn đẩy trách nhiệm qua lại giữa các bộ phận khiến nhiều công việc bị đình trệ, người dân và doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Hàng loạt các dự án, công trình đầu tư bị kéo dài tiến độ hoặc bị ngưng trệ chỉ vì chậm được duyệt, cấp phép. Trong lĩnh vực đầu tư công, nhiều công trình trọng điểm bị chậm tiến độ, tốc độ giải ngân tại một số địa phương, bộ, ngành rất thấp...

Cũng do cán bộ sợ trách nhiệm, chần chừ, né tránh, không quyết, không làm nên dẫn tới tình trạng tốc độ tăng trưởng kinh tế của nhiều địa phương, ngành, lĩnh vực, kể cả những nơi được đánh giá là có thế mạnh, mũi nhọn kinh tế gần như đứng im, thậm chí âm trong quý I/2023 trong khi các nguồn lực, tiềm lực phát triển kinh tế của đất nước hiện còn rất lớn.

Đơn cử như trong lĩnh vực y tế, do sợ trách nhiệm, sợ làm sai, sợ bị kỷ luật nên nhiều tỉnh, thành phố, địa phương, cơ sở y tế đã không dám đấu thầu, đấu giá mua sắm thiết bị máy móc, trang thiết bị, vật tư y tế, sinh phẩm, thuốc, dẫn đến tình trạng rất nhiều cơ sở y tế, bệnh viện, kể cả ở những bệnh viện lớn tuyến đầu bị thiếu thuốc, thiếu trang thiết bị khám chữa bệnh, nhiều bệnh nhân nặng phải chờ chực dài ngày để được phẫu thuật, chữa bệnh.

Có thể thấy căn bệnh sợ trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ hiện nay đã ở mức đáng báo động, nguy cơ gây nên những hệ lụy rất đáng lo ngại, không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, kìm hãm tiến trình phát triển đất nước mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống, tâm tư, tình cảm và niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nhận thấy được tính chất nghiêm trọng và mức độ nguy hại của sự gia tăng căn bệnh sợ trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, quy định nhằm chỉ đạo xử lý mạnh hơn, quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, nhanh chóng đẩy lùi, khắc phục căn bệnh sợ trách nhiệm, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và đòi hỏi của công cuộc phát triển đất nước.

Ngày 19/4/2023, Thủ tướng Chính phủ có Công điện số 280/CĐ-TTg về chấn chỉnh, tăng cường trách nhiệm trong xử lý công việc của các bộ, cơ quan, địa phương, trong đó yêu cầu rõ, phải kiên quyết khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm trong xử lý công việc, không dám làm, không dám tham mưu, đề xuất, không dám chịu trách nhiệm ở các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, đồng thời tăng cường khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, chủ động sáng tạo vì lợi ích chung theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị trong Kết luận số 14-KL/TW về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung nhằm đẩy lùi căn bệnh sợ trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, công chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành, xử lý, giải quyết công việc.
Nhờ những chỉ đạo tích cực, quyết liệt của Đảng và Nhà nước, đến nay hầu khắp các tỉnh, thành phố, địa phương, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị trong cả nước đã tích cực vào cuộc, triển khai nhiều biện pháp để ngăn chặn, xử lý tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm khi giải quyết công việc, bước đầu đã ghi nhận những chuyển biến tích cực, đặc biệt là đã có những kết quả mới trong việc xem xét, xử lý trách nhiệm chính trị của người đứng đầu, trong đó có những lãnh đạo cấp cao đã xin từ chức và được Đảng xem xét cho từ chức vì lý do trách nhiệm, nhiều cán bộ đã dần thoát khỏi tâm lý e dè, sợ sai, sợ trách nhiệm,... khi thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vừa qua, “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, thậm chí sợ trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn là vấn đề rất đáng lo ngại, diễn biến phức tạp” gây nhiều hệ lụy xấu. Do đó vẫn cần thiết phải tiếp tục tăng cường tập trung chấn chỉnh, khắc phục nhanh tình trạng này, cho dù để làm được điều đó không phải là việc dễ dàng, đòi hỏi không chỉ sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước mà cả sự đồng lòng, quyết tâm hợp sức của cả hệ thống chính trị, của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương và nhân dân.

Để chữa trị tận gốc căn bệnh sợ trách nhiệm nhất thiết phải hướng vào căn nguyên, nguồn gốc của chính nó là chủ nghĩa cá nhân, tăng cường phê phán, đấu tranh, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân, tiêu diệt triệt để tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao, phụ trách những lĩnh vực nhạy cảm, có nhiều cám dỗ vật chất,…

Muốn vậy, ngoài việc phải đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững bản lĩnh chính trị, nhân cách, đạo đức cách mạng liêm chính, chí công vô tư,… của đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên; đổi mới chế độ chính sách lương thưởng, đãi ngộ đối với cán bộ, công chức để họ không cần, không muốn phải tham ô, tham nhũng, trục lợi, tư lợi;... thì rất cần thiết phải hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, yêu cầu bắt buộc đối với đội ngũ cán bộ, công chức tùy theo vị trí công tác và chức vụ đảm nhiệm, đồng thời có chế tài cụ thể, rõ hơn để xử lý nghiêm những trường hợp cán bộ có những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, luôn đặt lợi ích của bản thân lên trên, lên trước lợi ích của tập thể, cộng đồng, quốc gia; vì lợi riêng mà né tránh trách nhiệm, không tích cực thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, bê trễ công việc, đùn đẩy trách nhiệm,...

Phải quán triệt tinh thần cán bộ càng nắm giữ chức vụ cao càng phải nghiêm khắc, càng đòi hỏi trách nhiệm cao, càng phải nêu gương về sự chủ động tích cực gánh vác trách nhiệm, dám nghĩ dám làm, phát huy cao nhất năng lực, tính sáng tạo, nhiệt huyết vì công việc chung, vì lợi ích và mục tiêu chung của dân tộc...

Tăng cường kiểm tra, rà soát, phát hiện và kiên quyết xử lý mạnh tay hơn, thậm chí cho thôi chức vụ, điều chuyển, thay thế đối với những trường hợp cán bộ cố tình né tránh, sợ trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm, không hoàn thành trách nhiệm được giao theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư: Ai không làm được, không dám làm thì đứng sang một bên để người khác làm. Bên cạnh đó, cũng cần tích cực hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật... để triển khai một cách hiệu quả chủ trương bảo vệ cán bộ năng động, chủ động, tích cực, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm... nhằm loại bỏ triệt để tâm lý e ngại, sợ sai, sợ vi phạm quy định, sợ bị kỷ luật mà không dám làm, không dám quyết trong đội ngũ cán bộ. Có như vậy mới góp phần tích cực khai thông được các điểm nghẽn, ách tắc, trì trệ trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội hiện nay ở nước ta, tăng cường niềm tin của nhân dân và doanh nghiệp, tạo thêm nhiều điểm sáng mới trong tiến trình phát triển đất nước theo những mục tiêu tốt đẹp mà chúng ta đã đặt ra./.
Theo Báo Nhân dân.
Yêu nước ST.

GIÁM SÁT CÁN BỘ SAU QUY HOẠCH!

     Hiện nay, các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương đang tổ chức hội nghị giới thiệu nhân sự quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, nhiệm kỳ 2026-2031. Từ nay đến Đại hội XIV của Đảng không còn dài, đây là khoảng thời gian để từng tổ chức đảng và nhân dân giám sát chặt chẽ về phẩm chất, năng lực công tác của cán bộ sau quy hoạch. Từ đó, giúp Đảng sàng lọc, lựa chọn thật kỹ đội ngũ cán bộ chiến lược, đủ tâm, đủ tầm gánh vác trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó.

Đảng ta luôn xác định công tác cán bộ là “công việc gốc” trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Quy hoạch cán bộ là khâu quan trọng, nhiệm vụ thường xuyên của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng nhằm phát hiện sớm nguồn cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, có triển vọng phát triển để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm, tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ. Trên cơ sở các quy định, kế hoạch của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ và khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, các địa phương, cơ quan, đơn vị đã khẩn trương, nghiêm túc triển khai thực hiện giới thiệu nhân sự quy hoạch với tinh thần trách nhiệm, quyết tâm cao nhất.

Tuy nhiên, quy hoạch là “mở”, “có vào, có ra”. Hằng năm, từng cấp ủy, tổ chức đảng phải đánh giá, rà soát để kịp thời đưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ không đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện, không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng thời bổ sung vào quy hoạch những nhân tố mới từ nguồn nhân sự tại chỗ hoặc nguồn nhân sự từ nơi khác đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có triển vọng phát triển; tránh bài học đau xót về công tác cán bộ thời gian qua.

Làm được như vậy, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và nhân dân cần phát huy tinh thần, trách nhiệm, giám sát chặt chẽ cán bộ sau quy hoạch; có tiếng nói mạnh mẽ đưa ra ngoài quy hoạch những cán bộ phai nhạt lý tưởng cách mạng, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt đảng.

Thông qua thực tiễn công tác, sinh hoạt, nhân dân và cả hệ thống chính trị cần có “con mắt tinh đời”, không để lọt vào Trung ương những cán bộ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân. Mặt khác, sàng lọc thật kỹ, đưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ có tư tưởng thỏa mãn, dừng lại, trông chờ bổ nhiệm; né trách nhiệm, sợ sai; không dám nói, không dám làm, nín thở chờ thời. Song song với đó, phải kiên quyết bảo vệ những người thật sự có đức, có tài, luôn nghĩ vì nước, vì dân; năng động, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung./.
Theo Báo QĐND.
Yêu nước ST.