Thứ Năm, 24 tháng 8, 2023

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG KHÔNG PHẢI LÀ " SỰ ĂN MAY"!

         Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả tất yếu của một quá trình chuẩn bị lâu dài, trải qua 3 cuộc vận động cách mạng lớn để khi tình thế trực tiếp xuất hiện, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, toàn thể nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên làm cuộc cách mạng lật đổ ách thống trị của phát xít Nhật và tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân!
Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo, tạo thế, tạo lực và nắm bắt đúng thời cơ mà chỉ trong vòng hai tuần (từ ngày 14 đến 28-8-1945), cuộc tổng khởi nghĩa đã nổ ra và giành thắng lợi trên phạm vi cả nước. Sự thật lịch sử là như vậy. Ấy thế mà gần 8 thập niên trôi qua kể từ khi diễn ra sự kiện này, vẫn còn có những ý kiến cho rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam bùng nổ và thành công nhanh chóng chẳng qua là một “sự ăn may” do khách quan mang lại, nhờ vào cái gọi là “khoảng trống quyền lực” và nhờ vào việc “quân đội Nhật Bản đã đầu hàng quân Đồng minh”... Trong số đó, có người chưa hiểu thấu đáo, nhưng cũng có người cố tình không hiểu nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, hạ thấp vai trò của quần chúng nhân dân trong cuộc cách mạng vĩ đại này, làm lu mờ ý nghĩa to lớn của nó. Vậy đâu là sự thật lịch sử?

Trước hết, cần phải khẳng định, trong khoảng thời gian từ khi quân Nhật làm cuộc đảo chính lật đổ Pháp (9-3-1945) đến ngày Hà Nội tổng khởi nghĩa thành công (19-8-1945), ở Việt Nam không hề tồn tại một “khoảng trống quyền lực” nào cả.

Như nhiều người đã biết, ngay sau cuộc đảo chính lật đổ quân Pháp, Tập đoàn quân 38 của Nhật đã nhanh chóng thiết lập bộ máy thống trị giành quyền kiểm soát trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và Đông Dương. Các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng... đều đặt dưới sự kiểm soát của quân Nhật. Chính phủ Trần Trọng Kim-một bộ máy chính quyền do Nhật dựng lên-tuy không nắm thực quyền nhưng vẫn là một chính phủ đầy đủ ban bệ. Chính phủ này cho đến ngày 17-8 vẫn còn cử người liên lạc, “mặc cả” với Việt Minh đòi chia sẻ quyền lực.

Trước đó, ngày 14-8, một ngày sau khi Ủy ban khởi nghĩa phát đi bản Quân lệnh số 1, Chính phủ Trần Trọng Kim còn ra tuyên bố “Nhất quyết không chịu lùi một bước trước một khó khăn nào để làm tròn sứ mệnh...” và họ cam đoan “vẫn hợp tác chặt chẽ với nhà đương cục Nhật”(1). Ngay trong ngày 19-8, tại Hà Nội vẫn còn diễn ra một cuộc “dàn xếp thỏa hiệp” giữa chính phủ Trần Trọng Kim với chỉ huy Tập đoàn quân 38 của Nhật. Tuy nhiên sự thỏa hiệp đó bất thành.

"Mau lẹ, kịp thời nổ ra đúng lúc phải nổ. Đó là đặc điểm nổi bật của Cách mạng tháng Tám năm 1945" - Đồng chí Trường Chinh
Để tăng thêm phần thuyết phục, có người lý giải nguyên nhân dẫn đến “khoảng trống quyền lực” ở Việt Nam thời điểm này là do “Chính sách của đồng minh đối với Đông Dương trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 8-1945 là ngu dốt và quên lãng; còn chính sách của Pháp thì bối rối và bất lực”(2). Thực tế có phải vậy?

Qua các nguồn tư liệu cho thấy, lúc bấy giờ cả Anh, Mỹ và Pháp đều thừa hiểu sớm muộn gì thì phát xít Nhật cũng lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương. Mặc dù vậy, họ đều không thể làm gì được để xoay chuyển tình thế vì lúc bấy giờ cả Anh và Mỹ còn có những tính toán và theo đuổi mục tiêu khác quan trọng hơn. Vào thời điểm này (sau ngày 9-3) trên thực tế đồng minh chưa đủ sức để có thể đánh bại được đạo quân Nhật ở Đông Dương. Còn phía Pháp thì “lực bất tòng tâm”. Sau đảo chính, phần lớn quân Pháp bị Nhật bắt và giải giáp, một số chạy thoát được sang Lào thì rệu rã, giảm sút nhuệ khí. Pháp gần như không còn có vai trò đáng kể ở Việt Nam kể từ sau sự kiện ngày 9-3. Đến tận ngày 17-8, Pháp mới quyết định bổ nhiệm D’Argenlieu làm Cao ủy và Leclerc làm Tổng chỉ huy chuẩn bị đưa quân trở lại Đông Dương và tới ngày 12-9, khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời được 10 ngày thì đơn vị quân Pháp đầu tiên mới theo gót quân Anh tới Sài Gòn. Có thể nói, đối tượng chính của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là phát xít Nhật và bộ máy chính quyền tay sai do Nhật dựng lên chứ không phải là Pháp.

Chưa dừng lại ở những luận điểm nêu trên, một số người còn cho rằng Cách mạng Tháng Tám đã bùng nổ sau khi Nhật Bản chấp nhận đầu hàng không điều kiện các lực lượng Đồng minh chống phát xít và quân đội Nhật ở Việt Nam đã mất nhuệ khí, không còn chống cự.

Sự thật không phải như vậy, mà thực tế là: 12 giờ ngày 15-8, qua đài Tokyo, Nhật hoàng Hirohito đọc chiếu chỉ “xin chấp nhận bản Tuyên bố Postdam ngày 26-7”. Điều đáng nói đây chưa phải là một tuyên bố chấp nhận “đầu hàng vô điều kiện”, mà mới chỉ là một đề nghị ngừng bắn. Hơn nữa, bản chiếu chỉ đó cũng chưa được chuyển đạt tới cho Tập đoàn quân 38 của Nhật ở Đông Dương.

Theo ông Lê Trọng Nghĩa (Ủy viên Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội năm 1945, sau này là Cục trưởng Cục Quân báo), người được giao trực tiếp đi gặp Đại sứ Nhật Bản Tsukamoto vào tối 19-8-1945 thì phải đến ngày 21-8, tức là hai ngày sau khi Tổng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội, chỉ huy Tập đoàn quân 38 của Nhật ở Việt Nam mới nhận được lệnh “đình chỉ chiến tranh”. Khi chiếc máy bay chở Thiếu tá Patti, chỉ huy đội “tiền trạm” của quân đồng minh vừa vào tới vùng trời Hà Nội định đáp xuống sân bay Bạch Mai thì bị lực lượng phòng không của Nhật nã đạn buộc phải quay trở lại Côn Minh.

Ngày 22-8, chiếc máy bay này tiếp tục đáp xuống sân bay Gia Lâm trong khi các sĩ quan Nhật tại đây vẫn chưa nhận được chỉ thị gì cả. Trước đó, trong các ngày 17, 18-8, tại Hà Nội, quân Nhật vẫn rất hung hăng, xe tăng, các chốt kiểm soát vẫn luôn sẵn sàng nã đạn gây tình hình rất căng thẳng. Tại nhiều địa phương đã nổ ra những cuộc đụng độ giữa các đơn vị Việt Nam Giải phóng quân và LLVT cách mạng Việt Nam với quân Nhật...

Điểm qua một số sự kiện như trên để thấy rằng Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam nổ ra và thành công trong bối cảnh quân đội Nhật Bản ở Đông Dương vẫn chưa đầu hàng các lực lượng Đồng minh chống phát xít và đạo quân phương Nam của Nhật ở Đông Dương tuy có suy giảm về tinh thần nhưng thực lực vẫn còn đang sung sức.

Thời cơ tổng khởi nghĩa chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng đó là “thời cơ vàng” mà Đảng ta, đứng đầu là Bác Hồ đã kịp thời chớp lấy, lãnh đạo toàn dân dốc toàn lực tung ra đòn quyết định giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh nhất. Tổng khởi nghĩa nổ ra vào thời điểm khi mà ở trong nước, cao trào kháng Nhật, cứu nước đã phát triển lên đến đỉnh cao, chỉ huy Tập đoàn quân 38 của Nhật tuy chưa nhận được lệnh ngừng bắn nhưng tỏ ra bối rối trước diễn biến của tình hình; chính quyền tay sai hoang mang và tỏ ra bất lực; quân Nhật ở Đông Dương tuy còn đông và trang bị mạnh nhưng nhuệ khí và tinh thần chiến đấu đã suy giảm; quân đội Anh, Pháp, Tưởng thì chưa kịp kéo vào.

Phải một tuần sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, ngày 9-9 phái đoàn tiền trạm của Trung Hoa Dân quốc do Tiêu Văn dẫn đầu mới tới Hà Nội, sau đó, ngày 14-9 là bộ sậu của Lư Hán và tới ngày 28-9-1945, lễ đầu hàng của quân đội Nhật Bản mới chính thức diễn ra tại Hà Nội. Đây là thời cơ ngàn năm có một cho Tổng khởi nghĩa. Bởi nếu Tổng khởi nghĩa nổ ra sớm hơn, khi Nhật chưa chấp nhận bản Tuyên bố Postdam của đồng minh thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Nhưng nếu nổ ra muộn hơn, khi quân Anh, Pháp và Tưởng đã kéo vào núp dưới cái ô “giải giáp quân Nhật” thì thời cơ thuận lợi nhất có thể sẽ trôi qua. Không phải ngẫu nhiên mà lúc này, lãnh tụ Hồ Chí Minh mặc dù đang ốm nặng vẫn cố gượng dậy căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập.

"Trong các cuộc cách mạng cộng sản, cách mạng của những người Việt Nam nổi lên như là một trong những cuộc cách mạng có sức sống và làm đảo lộn nhiều nhất"-Stein Tonnesson, học giả người Na Uy.
Cách mạng Tháng Tám diễn ra và kết thúc nhanh gọn trên phạm vi cả nước. Có được điều kỳ diệu đó “căn bản là do lực lượng chính trị của nhân dân đã kịp thời nắm lấy cơ hội thuận lợi nhất, khởi nghĩa giành chính quyền nhà nước. Nhưng nếu Đảng ta trước đó không xây dựng LLVT và thành lập các khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị, và phong trào đấu tranh chính trị, và khi điều kiện đã chín muồi, không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng không thể mau chóng giành được thắng lợi”(3).

Quá trình tạo thế, tạo lực để đón thời cơ đã được Đảng ta chuẩn bị từ rất sớm, ngay từ Hội nghị Trung ương 6 (1939), Hội nghị Trung ương 7 (1940) và đặc biệt là Hội nghị Trung ương 8 (1941)-hội nghị hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu. Với nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8, công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang trở thành nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng và toàn dân Việt Nam. Mặt trận Việt Minh ra đời. Việc xây dựng LLVT được định hình cụ thể cùng với việc xây dựng và mở rộng các căn cứ địa cách mạng... Tất cả đều nhằm sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của tình thế, để không bỏ lỡ thời cơ chiến lược một khi nó xuất hiện.

Như vậy, có thể khẳng định, nhờ có một quá trình chuẩn bị chu đáo, tạo thế, tạo lực cho cách mạng, khi tình thế biến chuyển, thời cơ xuất hiện, Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời nắm bắt thời cơ, phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa mới là nhân tố chính đưa đến thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chứ tuyệt nhiên không phải là một “sự ăn may”, “do yếu tố khách quan mang lại” như một số ý kiến đã ngộ nhận./.
(1) Trần Quang Huy: “19/8-Cách mạng Tháng Tám là sáng tạo”, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, H.1995.
(2) Stein Tonnesson: The Vietnamese Revolution à 1945: Roosevell, Ho Chi Minh and De Gaulle in a world at War (Cách mạng Việt Nam năm 1945-Roosevell, Hồ Chí Minh và De Gaulle trong một thế giới chiến tranh), Nxb London-New Delhi 1991.
(3) Văn kiện quân sự của Đảng, NXB Quân đội nhân dân, H.1969.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 24 THÁNG 8 NĂM 1958!

         “Giữ gìn trật tự, trị an tốt thì dân mới an cư lạc nghiệp. Muốn giữ gìn trật tự, an ninh tốt, phải dựa vào nhân dân để ngăn ngừa bọn làm trái phép”!
     Lời huấn thị của Bác tại buổi nói chuyện với cán bộ và đại biểu nhân dân các dân tộc tỉnh Lào Cai, ngày 24/8/1958.
     Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự ổn định chính trị, xã hội, môi trường hoà bình, hợp tác, tạo thế và lực cho sự phát triển của đất nước, cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu xuyên suốt của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác. Do vậy, cần phải phát huy sức mạnh cả hệ thống chính trị, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; vai trò làm chủ, sức mạnh tiềm tàng của Nhân dân, thực sự là “tai mắt”, là chỗ dựa tin cậy để các lực lượng chức năng (nòng cốt là Công an Nhân dân) đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch và tội phạm, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, cuộc sống của Nhân dân.
     Thấu triệt lời Bác dạy, Quân đội Nhân dân Việt Nam bên cạnh việc quán triệt và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, đã chủ động, tích cực phối hợp với Công an Nhân dân giữ vững an ninh chính trị, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống theo đúng tinh thần Nghị định số 03/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phong; tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển ổn định, bền vững đất nước; giữ gìn cuộc sống bình yên của Nhân dân. Cán bộ, chiến sỹ toàn quân luôn khắc ghi và làm đúng lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật khi quan hệ với Nhân dân; hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả Phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, Phong trào “Quân đội chung tay vì người nghèo- không để ai bị bỏ lại phía sau”; tích cực giúp dân xóa đói, giảm nghèo… thiết thực góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong tình hình mới./.
Môi trường ST.

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC


Công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS); cổ vũ, động viên họ thực hiện chính sách; đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội...
Trong bối cảnh hiện nay, công tác này càng cần được quan tâm và có những giải pháp kịp thời để nâng cao chất lượng nhằm đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống đồng bào nhanh và hiệu quả hơn nữa.
1. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta luôn chú trọng đến vùng đồng bào các dân tộc, miền núi và đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối về vấn đề dân tộc. Những chủ trương, đường lối mới về vấn đề dân tộc được tuyên truyền rộng rãi trong xã hội, nhất là vùng đồng bào DTTS, được đồng bào các dân tộc đón nhận, ủng hộ và tích cực tổ chức thực hiện; đạt được nhiều kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và an ninh - quốc phòng. Đặc biệt, giai đoạn từ năm 2001 đến nay, công tác thông tin, tuyên truyền được đầu tư mạnh mẽ, có nhiều lực lượng tham gia từ đội ngũ cán bộ cơ sở đến đội ngũ già làng, trưởng bản, người uy tín, chức sắc, chức việc tôn giáo; từ bộ đội, công an đến giáo viên, nhân viên y tế ở cơ sở…
Trong các loại hình tuyên truyền, báo chí là một trong những phương thức quan trọng nhất. Với việc cấp phát báo in và radio miễn phí cho đồng bào ở một số vùng, lắp đặt các trạm phát thanh, phát sóng truyền hình, mạng Internet... hầu hết người dân ở vùng đồng bào DTTS có điều kiện tiếp cận với các loại hình báo chí, đọc sách, nghe đài, xem tivi, đọc báo điện tử, trang thông tin điện tử trên máy tính hoặc điện thoại thông minh. Hệ thống đài truyền thanh cấp huyện và cấp xã bên cạnh việc tiếp sóng đài trung ương, đài tỉnh còn có chương trình phát thanh riêng, phát ngày 2 đến 3 lần vào sáng sớm, trưa và chiều tối, cung cấp nhiều thông tin thiết yếu đến đồng bào; phát huy vai trò là phương tiện, công cụ hữu hiệu phục vụ hoạt động thông tin, tuyên truyền ở cơ sở; góp phần phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương.
Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền miệng đã thực sự trở thành một trong những kênh thông tin quan trọng, có hiệu quả trong công tác tuyên truyền. Các báo cáo viên, tuyên truyền viên ở vùng đồng bào DTTS đã bám sát cơ sở, từng bước đổi mới phương thức thông tin phù hợp với trình độ nhận thức và nhu cầu của người dân. Các sự kiện chính trị, những vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương được đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở thông tin một cách đổi mới, sáng tạo, có tính thuyết phục hơn đối với người dân.
Hình thức chiếu phim lưu động vẫn đang là một kênh thông tin, tuyên truyền mang lại hiệu quả truyền thông tích cực ở vùng đồng bào DTTS. Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chính sách đặc thù hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến phim tới vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn”; các đội chiếu phim lưu động của các địa phương đã thực hiện 1.176 buổi chiếu phim trên màn hình rộng; bình quân mỗi đội chiếu phim lưu động phục vụ gần 120 buổi/năm với nội dung phim đa dạng, phong phú, nguồn phim được đổi mới, thuyết minh bằng cả tiếng kinh và tiếng đồng bào DTTS (Mường, Mông, Khmer…).
Nhiều địa phương, nhất là ở vùng Tây Bắc đã triển khai thực hiện Ðề án Phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng. Các dịch vụ thư viện đã được đổi mới đa dạng hóa, liên kết với trung tâm văn hóa, thể thao, trung tâm học tập cộng đồng, điểm bưu điện - văn hóa xã. Hệ thống thư viện lưu động được mở rộng, một số nơi có xe ô tô thư viện lưu động đa phương tiện tới các điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng trên địa bàn. Trung bình mỗi tháng thư viện lưu động triển khai phục vụ sách báo và thông tin lưu động tới một điểm, đã thu hút hàng nghìn lượt người tới đọc sách và truy cập thông tin trên Internet thông qua xuất bản phẩm, nhiều chính sách, pháp luật cũng như các mô hình phát triển sản xuất hay đã đến gần hơn với đồng bào.
Chính sách hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng mạng lưới viễn thông hiện đại và cung cấp các dịch vụ Internet công ích đến với người dân, hỗ trợ đầu thu kỹ thuật số cho các hộ nghèo, cận nghèo... đã góp phần đẩy mạnh công tác truyền thông và nâng cao mức thụ hưởng văn hóa cho đồng bào DTTS. Các cơ quan truyền thông đại chúng tổ chức sản xuất nhiều phim tài liệu, chuyên đề, in băng đĩa về phong tục, tập quán, lễ hội, bản sắc văn hóa của các dân tộc; xuất bản phẩm, tờ rơi, tờ gấp... được phát hành tới thư viện huyện, các xã đặc biệt khó khăn vùng biên giới, các trường phổ thông dân tộc bán trú, nội trú.
2. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tuyên truyền về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về dân tộc vẫn còn một số khó khăn, hạn chế như:
Hiệu quả cung cấp, phổ biến thông tin đến vùng đồng bào DTTS của cơ quan báo chí, truyền thông hiện nay chưa cao. Các tin, bài, chương trình phát thanh, truyền hình phản ánh về đồng bào DTTS tăng về số lượng nhưng chất lượng nội dung còn nhiều hạn chế. Hình ảnh đồng bào DTTS xuất hiện trên báo chí, truyền thông đa số là những hình ảnh nghèo đói, lạc hậu, thiếu hiểu biết về pháp luật. Còn có những bài viết theo khuynh hướng thần bí hóa, lãng mạn hóa hoặc bi kịch hóa, dẫn đến việc hiểu sai lệch về phong tục, tập quán của đồng bào. Trong khi đó, những tấm gương đồng bào DTTS năng động vươn lên trong cuộc sống, thoát nghèo, làm giàu chưa được khai thác nhiều.
Các chương trình phát thanh, truyền hình về đồng bào DTTS nhiều về số lượng, nhưng nội dung nặng về tuyên truyền chính sách, khô cứng, dài dòng, ít chọn lọc, chưa biên tập lại cho phù hợp với trình độ nhận thức, nhu cầu thông tin của đồng bào DTTS. Nhiều ảnh báo chí còn thiếu tính thời sự, chất lượng chưa cao, chưa thực sự đặc sắc và phong phú; các chuyên trang, chuyên mục cũng chưa thể hiện được bản sắc của đồng bào dân tộc; thể loại trình bày còn đơn điệu, chủ yếu là dạng bài phản ánh, rất hiếm bài bình luận, điều tra, phóng sự...
Việc không nắm bắt, hiểu rõ, sâu sắc đời sống văn hóa của người DTTS, cản trở ngôn ngữ, nguồn tin hạn chế, địa bàn xa xôi, hiểm trở… là những nguyên dodẫn đến tác nghiệp báo chí khó khăn trong việc thu thập, khai thác thông tin từ thực tế cuộc sống, sinh hoạt của đồng bào DTTS. Công tác định hướng thông tin, tuyên truyền trong các chương trình chưa được chú trọng, một số vấn đề trong đời sống xã hội của đồng bào DTTS như y tế, giáo dục chưa được đề cập nhiều. Công tác thông tin, tuyên truyền trực tiếp chưa phát huy được hết vai trò, tầm quan trọng. Điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế, nhiều nơi thiếu nhà văn hóa, sân chơi thể thao, trang thiết bị cần thiết để phát triển sinh hoạt cộng đồng nên các cuộc họp thôn, bản, ấp phải họp ở nhà riêng, không theo định kỳ, làm cho các sinh hoạt cộng đồng thưa dần. Một số nhà văn hóa thôn, bản ít thu hút được người dân đến do công tác quản lý, sử dụng không tốt, sách, báo không được cấp đầy đủ, không cập nhật thường xuyên. Việc tuyên truyền, thuyết phục của một số già làng, trưởng bản, người có uy tín, tuyên truyền viên cơ sở chưa phát huy được hiệu quả. Các hình thức tuyên truyền cổ động trực quan như panô, áp phích, khẩu hiệu, băng đĩa, phim ảnh… còn ít được áp dụng.
Tỉ lệ tin, bài trên các báo của Trung ương về đồng bào DTTS còn ít (chỉ chiếm khoảng 5 đến 10%); trong đó những bài phản ánh về nguồn lực, tiềm năng của địa phương, thu hút đầu tư, du lịch, bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của đồng bào còn thiếu chiều sâu. Các tin, bài, hình ảnh về người DTTS khai thác còn đơn giản, mờ nhạt; bài viết về di sản văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của đồng bào chưa sâu, chưa có tính định hướng cho cộng đồng trong việc nhận thức về gìn giữ tinh hoa văn hóa và những vấn đề cần phát huy trong điều kiện mới. Có rất ít bài viết phản ánh giá trị của luật tục, nhất là những nội dung văn hóa răn dạy con người sống tu dưỡng đạo đức, thương yêu nhau... Những bài viết về bảo vệ môi trường, chống nạn khai thác bừa bãi tài nguyên, phá rừng... chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức. Việc quảng bá tiềm năng, cơ hội hợp tác, đầu tư mới chỉ ở dạng đưa tin, ít đi vào phân tích, bình luận, so sánh về lợi thế của vùng đồng bào DTTS. Quảng bá du lịch địa phương đã xuất hiện nhiều trên báo chí, truyền thông, nhưng chất lượng chưa cao, nội dung còn đơn điệu. Bên cạnh đó, những bài viết phân tích chính sách, phản biện và tư vấn chính sách, hiến kế phát triển kinh tế - xã hội của các chuyên gia, nhà khoa học, nhất là liên quan đến phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS chưa nhiều.
3. Để nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc trong thời gian tới, cần tập trung vào một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đối với công tác tuyên truyền, quán triệt, triển khai và thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với vùng đồng bào DTTS. Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc đang đặt ra nhiều yêu cầu cấp bách; chính vì vậy, mọi quyết định lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp phải bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống của đồng bào DTTS, phù hợp nguyện vọng chính đáng của đồng bào DTTS thì chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc mới đi vào cuộc sống một cách thiết thực, hiệu quả.
Thứ hai, công tác tuyên truyền cần bám sát thực tiễn đời sống, diễn biến tư tưởng, tâm trạng của đồng bào; các cơ quan báo chí, truyền thông cần tăng cường đưa phóng viên, biên tập viên, cán bộ làm truyền thông xuống cơ sở, thâm nhập thực tế để tìm hiểu, khai thác thông tin, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào, phát hiện những mô hình hay, nhân tố mới, điển hình tiên tiến để tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng, hướng dẫn đồng bào học hỏi, vận dụng linh hoạt trong lao động, sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, làm tốt nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân. Có như vậy mới có thể làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến đồng bào các DTTS.
Thứ ba, nội dung tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng đến đồng bào DTTS cần phải ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với trình độ nhận thức của đồng bào, phù hợp bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của từng DTTS để đồng bào dễ vận dụng, làm theo. Hình thức thể hiện phải hấp dẫn, lôi cuốn; các tranh, ảnh phải rõ chủ đề, bố cục chặt chẽ, chú thích đầy đủ các thông tin cần thiết.
Thứ tư, tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cần lồng ghép với tuyên truyền, phổ biến những vấn đề thiết thực của đời sống hằng ngày như: Việc làm, thu nhập, đất đai, chăm sóc sức khỏe, giáo dục dục - đào tạo, an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, khuyến nông, khuyến lâm, bảo vệ môi trường, vệ sinh phòng bệnh, phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội v.v…với các dẫn chứng cụ thể, sinh động, gần gũi, thiết thực.
Thứ năm, cán bộ truyền thông, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí cần phải am hiểu phong tục, tập quán, thói quen sinh hoạt của đồng bào DTTS. Mỗi DTTS có những nét văn hóa, phong tục, tập quán riêng; vì vậy, cán bộ truyền thông, phóng viên, biên tập viên phải tìm hiểu, nắm rõ để phân tích đúng, sai một cách thấu tình, đạt lý, chỉ ra đâu là các hủ tục, tập quán lạc hậu; trên cơ sở đó tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học, kiến thức pháp luật cho đồng bào. Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ tuyên giáo, cán bộ truyền thông, phóng viên, biên tập viên nâng cao trình độ, kỹ năng tác nghiệp và sự hiểu biết về phong tục, tập quán của đồng bào DTTS phải được tổ chức thường xuyên, từ đó khơi dậy tính sáng tạo trong mỗi tác phẩm báo chí, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung.
Thứ sáu, các cơ quan báo chí, truyền thông cần quan tâm xây dựng lực lượng cộng tác viên là người sinh sống trên địa bàn vùng đồng bào DTTS, trong đó chú ý xây dựng cộng tác viên là người DTTS. Trong xây dựng lực lượng cộng tác viên cần sử dụng những người có kinh nghiệm, uy tín trong cộng đồng, những người hiểu rõ phong tục, tập quán của đồng bào, nắm bắt được những đặc điểm tâm lý, diễn biến tư tưởng của đồng bào.
Thứ bảy, phát huy vai trò người có uy tín, các chức sắc, chức việc tôn giáo, già làng, trưởng bản… Họ chính là cầu nối giữa Đảng, chính quyền với người dân ở vùng đồng bào DTTS; là người có vai trò ảnh hưởng lớn đến đồng bào; tích cực, gương mẫu đi đầu trong tuyên truyền, thực hiện và vận động đồng bào hưởng ứng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; đấu tranh phòng, chống các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần tích cực trong xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc.
Thứ tám, chú trọng đấu tranh với các thông tin, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn đời sống đồng bào DTTS; nâng cao nhận thức, ý thức nhằm tăng cường “sức đề kháng” của cán bộ, đảng viên đồng bào DTTS trước âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc./.
Tạp chí Tuyên giáo

TINH THẦN NGÀY QUỐC KHÁNH 2/9 ĐỜI ĐỜI BẤT DIỆT


Tuyên ngôn Độc lập bất hủ 2-9-1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới, lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình đã trở thành công dân của một nước tự do và độc lập. Cũng với Tuyên ngôn 2-9, nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đã nhìn thấy con đường mà mình dân tộc mình có thể lựa chọn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Cuối tháng 1- 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo Cách mạng trong giai đoạn chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám do Hồ Chí Minh chủ trì, đã khẳng định rằng cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc, theo tinh thần dân chủ mới; và chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới sẽ là của chung của toàn thể dân tộc.
Năm 1945, tình hình trong nước biến chuyển rất mau lẹ. Tháng 8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Quân Đồng minh chuẩn bị kéo vào nước ta để giải giáp vũ khí của Nhật. Thực dân Pháp cũng đang ráo riết chuẩn bị quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Tình thế lúc này là vô cùng khẩn cấp, nhưng cũng là thời cơ ngàn năm có một, nếu để trôi qua thì sẽ không bao giờ trở lại. Cần phải chớp thời cơ, dũng cảm và kiên quyết, kịp thời tổng khởi nghĩa giành chính quyền, chiếm thế thượng phong trước các thế lực đang nhăm nhe thôn tính Việt Nam, xác lập địa vị làm chủ đất nước của chính quyền nhân dân trước khi Đồng minh kéo vào nước ta và thực dân Pháp quay trở lại. Với nhãn quan cách mạng vô cùng sáng suốt, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Lúc này dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải giành cho bằng được nền độc lập cho Tổ quốc.
Trong hai ngày 16 và 17-8-1945, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Tổng bộ Việt Minh tổ chức khai mạc Quốc dân Đại hội Tân Trào. Đại hội đã thông qua chủ trương phát động tổng khởi nghĩa trong toàn quốc. Đại hội cũng thông qua nhiều chính sách lớn về đối nội, đối ngoại; thành lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, bao gồm 15 thành viên, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch.
Với sự lãnh đạo tài tình của Hồ Chí Minh, Tổng khởi nghĩa Mùa thu tháng Tám 1945 đã giành thắng lợi vang dội, xoá bỏ ách thống trị của phong kiến, thực dân; quyền làm chủ đất nước lần đầu tiên được trao về tay nhân dân lao động.
Sau khởi nghĩa, Uỷ ban dân tộc giải phóng đã đã bổ sung thêm nhiều nhân sỹ, trí thức có tâm huyết và tinh thần yêu nước, thành lập Chính phủ Lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Ngày 2-9-1945, trên lễ đài lớn tại quảng trường Ba Đình lịch sử, trước cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân, bao gồm hàng trăm ngàn đồng bào Hà Nội và cả nước đổ về tụ hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời, đã trang trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, tuyên bố với quốc dân đồng bào cả nước và toàn thể nhân loại trên thế giới, bắt đầu từ nay Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra đời. Tuyên ngôn nhấn mạnh: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Tất cả các quyền đó đều là những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi dân tộc trên thế giới. Tuyên ngôn khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng Minh chống phát xit mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập!
"...Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.”
Tuyên ngôn Độc lập bất hủ 2-9-1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới, lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình đã trở thành công dân của một nước tự do và độc lập. Cũng với Tuyên ngôn 2-9, nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đã nhìn thấy con đường mà mình dân tộc mình có thể lựa chọn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Và cũng bắt đầu từ Tuyên ngôn 2-9, người dân Việt Nam bắt đầu một cuộc sống mới. Phấn khởi và tự hào, tất cả mọi công dân Việt Nam bắt tay vào sự nghiệp đấu tranh đầy gian khổ hy sinh, không tiếc của cải và cả xương máu của mình, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. 69 năm qua là cả một quá trình phấn đấu hy sinh không gì so sánh nổi của cả dân tộc để bảo vệ và xây dựng nên Tổ quốc Việt Nam hôm nay.
Ngày nay đất nước ta đã lớn mạnh hơn gấp nhiều lần; Việt Nam đã trở thành một quốc gia có uy tín trên trường quốc tế. Kỷ niệm 69 năm ngày Quốc khánh 2-9, mỗi người Việt Nam dù đang bất kỳ nơi đâu, ngay trong lòng đất mẹ hoặc ở xa Tổ quốc, cũng không khỏi xúc động bồi hồi, khi nhớ lại khí thế đầy hào hùng, sôi sục và náo nức của những ngày đầu cách mạng, đặc biệt là ngày Quốc khánh 2-9-1945 lịch sử, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cất lên giọng nói ấm áp của Người, đọc Tuyên ngôn 2-9, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Và trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, tinh thần của ngày Quốc khánh 2-9 sẽ đời đời bất diệt./.
Đảng Cộng sản Việt Nam

HẾT LÒNG VÌ NƯỚC, VÌ DÂN

 

Lịch sử cách mạng hào hùng của dân tộc ta khắc ghi tên tuổi của nhiều chiến sĩ cộng sản, những người lãnh đạo, những nhà quân sự tài năng, đức độ, bản lĩnh. Một trong những nhà quân sự tài năng, đức độ, bản lĩnh đó là Trung tướng Nguyễn Bình.
Hội thảo “Trung tướng Nguyễn Bình - Nhà quân sự tài năng, đức độ” được Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 7 vừa qua nhân kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Trung tướng Nguyễn Bình (30/7/1908-30/7/2023). Một lần nữa, chân dung về người Trung tướng đầy tài năng quê ở Hưng Yên nhưng có nhiều đóng góp cho cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền nam được các nhà khoa học, chuyên gia phân tích, đánh giá một cách cặn kẽ, sâu sắc.
Nguyễn Bình là người cộng sản chân chính ngay từ khi chưa là đảng viên, một tài năng quân sự bẩm sinh, người chỉ huy có tư chất đặc biệt. Ông luôn đi theo con đường lý tưởng cách mạng chân chính, không những nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao mà còn chủ động vận động quần chúng nhân dân theo Việt Minh. Từ năm 1944, khi về hoạt động tại Hà Nội, Hải Phòng, ông xuống cả Hưng Yên, Đông Triều, Quảng Yên, Hòn Gai… để tìm mua vũ khí, xây dựng cơ sở Việt Minh. Ông còn vận động tướng tá, binh sĩ trong quân đội Nhật chuyển hướng theo cách mạng.
Với tư duy chiến lược, tầm nhìn xa, trông rộng của một chiến sĩ cách mạng trưởng thành từ thực tiễn đấu tranh, từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Trung tướng Nguyễn Bình nhanh chóng chuẩn bị vũ trang, xây dựng căn cứ du kích Đông Triều. Cùng với Chí Linh, Mạo Khê, Tràng Bạch, “Đệ tứ chiến khu Đông Triều” (hay còn gọi là Chiến khu Trần Hưng Đạo) chính thức ra đời. Đây là căn cứ địa có ý nghĩa và tầm quan trọng về nhiều mặt trong giai đoạn tiền khởi nghĩa và trong Cách mạng Tháng Tám ở vùng duyên hải Đông Bắc Tổ quốc.
Tháng 10 năm 1945, trước âm mưu và hành động gây hấn của thực dân Pháp hòng quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, tình hình cực kỳ khó khăn trong buổi đầu của cuộc kháng chiến ở miền nam, Trung tướng Nguyễn Bình được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy cử vào chỉ huy cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.
Nhận thấy các lực lượng vũ trang Nam Bộ có nhiều tổ chức phức tạp, không có sự chỉ huy thống nhất, ảnh hưởng đến sự nghiệp kháng chiến, ngày 20 /11/1945, ông lấy tư cách là phái viên của Chính phủ Trung ương đã mời tất cả chỉ huy các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ về họp tại An Phú Xã, thống nhất đặt tên các đơn vị thành chi đội, ông là Tư lệnh Quân giải phóng Nam Bộ.
Đặc biệt, Trung tướng Nguyễn Bình là người sáng tạo những cách đánh độc đáo, với lực lượng độc đáo, vị tướng với tư duy quân sự mang đậm chất của chiến tranh nhân dân. Khi vào Nam Bộ, ở cương vị mới, với tư cách là Phái viên quân sự của Trung ương, rồi sau đó là Tư lệnh Quân giải phóng Nam Bộ, Trung tướng Nguyễn Bình đã vận dụng sáng tạo quan điểm chiến tranh nhân dân trong giải quyết những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với cuộc kháng chiến ở Nam Bộ như: thống nhất các lực lượng vũ trang, tăng cường quan hệ quân với dân trong xây dựng, chiến đấu; tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang tập trung đồng thời tổ chức, xây dựng các Ban công tác thành - tiền thân của lực lượng biệt động thành, tạo sự gắn kết giữa hai lực lượng này; xây dựng các chiến khu, các căn cứ địa, xây dựng căn cứ lòng dân ở Nam Bộ; chú trọng công tác đào tạo cán bộ, thành lập Trường Quân chính Khu 7… Những quyết định đó không chỉ mang tầm chiến lược mà còn có ý nghĩa và giá trị thực tiễn sâu sắc đối với tiến trình phát triển cách mạng ở Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Thiếu tướng, PGS, TS Vũ Quang Đạo, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Việt Nam cho biết, Nguyễn Bình là một tài năng quân sự thiên bẩm, tuy không có điều kiện học hành bài bản, chưa từng học qua một trường quân sự nào, nhưng bằng tư duy, bằng thực tiễn gắn bó với phong trào cách mạng, gắn bó với dân, ông luôn nhìn nhận đúng về sức mạnh của quần chúng nhân dân, của lực lượng vũ trang cách mạng.
Trung tướng Nguyễn Bình là vị tướng luôn gần dân, sáng tạo trong công tác vận động quần chúng làm cách mạng, là người có uy tín trong mọi tầng lớp nhân dân. Ông không chỉ có uy tín với công nhân, nông dân, mà giới trí thức cũng rất mến mộ và sẵn sàng theo ông ủng hộ, tham gia kháng chiến. Trung tướng Nguyễn Bình vừa chỉ đạo công tác quân sự, chấn chỉnh và xây dựng lực lượng vũ trang, vừa chỉ đạo vừa trực tiếp tham gia công tác vận động quần chúng, nhất là giới trí thức. Mặc dù địch vây ráp, ông vẫn thường xuyên vào thành phố, trực tiếp gặp gỡ các trí thức để vận động họ tham gia kháng chiến. Ông cho rằng nếu ngồi ở chiến khu mà mời họ ra thì sẽ ít hiệu quả, biện pháp tốt nhất là vào Sài Gòn, trực tiếp gặp gỡ họ thì việc vận động sẽ thuận lợi hơn.
Theo đồng chí Lê Thành Công, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tây Ninh, trong sáu năm đảm nhận trọng trách chỉ huy công cuộc kháng chiến ở Nam Bộ (từ tháng 10/1945-9/1951), Trung tướng Nguyễn Bình đã “tận lực, tận tâm”, “vì dân, vì nước” mà “tận diệt quân thù”, đã hoàn thành vẻ vang sứ mệnh tập hợp, tổ chức, thống lĩnh các đơn vị vũ trang Nam Bộ. Trung tướng Nguyễn Bình là người đặt nền tạo các binh chủng tinh nhuệ, qua đó xây dựng lực lượng vũ trang miền nam ngày càng lớn mạnh, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, chiến đấu ngày càng hiệu quả, khiến kẻ địch phải lo sợ./.
Báo Nhân Dân

RANH GIỚI TỐT - XẤU, ĐÚNG - SAI LU MỜ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Nếu biên cương quốc gia là một thực thể hữu hình, được bảo vệ bởi chủ quyền quốc gia và công pháp quốc tế, khó bị xâm phạm, lấn chiếm thì “biên cương văn hóa” là ranh giới vô hình, mong manh, rất khó quản lý và ngăn chặn sự “xâm lăng” từ bên ngoài vào. Điều đó đang tác động thường xuyên, rất nguy hiểm, khó lường đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là trong giới trẻ.
Sự tôn sùng văn hóa ngoại lai lệch chuẩn, thích thưởng thức những “rác phẩm” trên không gian mạng... đã dần hình thành lối sống dị biệt, đi ngược với văn hóa truyền thống dân tộc ở một số người trẻ hiện nay. Hệ quả từ cuộc “xâm lăng văn hóa” thời đại kỷ nguyên số không còn là nguy cơ, mà trở thành thực tế không mong đợi đối với một bộ phận chủ nhân tương lai của đất nước.
“Rác phẩm” được tô hồng và trở nên cuốn hút
Liên tiếp trong tháng 5, tháng 6 vừa qua, cơ quan chức năng những tỉnh Bắc Kạn, Hà Giang, Bắc Ninh bắt giữ và khởi tố các bị can về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy. Điểm trùng hợp là tất cả bị can trên đều ở độ tuổi thanh niên, trong số đó có đối tượng thuê máy chủ và tên miền của những nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài để xây dựng, tạo lập website rồi phát tán và thu lợi từ các video “bẩn”. Đó cũng là thực tế đáng lo ngại khi trong số tội phạm truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, phần nhiều là người trẻ, sử dụng internet và mạng xã hội để phát tán nội dung xấu độc, lệch chuẩn. Nguyên nhân phạm tội-vì tiền thì đã rõ. Thế nhưng ngọn nguồn của hành vi bất chấp pháp luật, coi thường văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục dân tộc, chính là ở chỗ không ít khán thính giả trẻ tuổi đam mê thưởng thức những “rác phẩm” văn hóa đã vô tình tiếp tay cho các đối tượng đi tìm nguồn cung.
Quyền tự do lưu hành, quảng bá, phổ biến các sáng tạo văn hóa-nghệ thuật trên không gian mạng hiện nay dẫn tới tình trạng vàng thau lẫn lộn, tràn lan các sản phẩm độc hại. Văn học, phim, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn trên mạng; mỹ thuật, hội họa, nhiếp ảnh, trò chơi trực tuyến... đang tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhân cách thanh thiếu niên. Trong số đó, rất nhiều tác phẩm xứng đáng được gọi là “rác phẩm”: Những phim ngắn khai thác cảnh nóng, khiêu dâm, bạo lực, giang hồ xăm trổ, những MV âm nhạc chủ yếu để "câu view", "câu like". Nhan nhản clip có nội dung tục tĩu, phản cảm trên mạng xã hội thu hút hàng triệu lượt khán giả trẻ.
Nhiều chuyên gia lo lắng khi các bộ phim “đình đám” thu hút người trẻ trên mạng thường có mô típ “3S”: Sex-sốc-sến, hoặc công thức “giang hồ+bạo lực+hài nhảm”. Điều đó góp phần “nghiệp dư hóa”, “bình dân hóa” công việc sáng tạo văn hóa-nghệ thuật, ảnh hưởng đến sự phát triển đúng hướng và lành mạnh của văn hóa nước nhà, đồng thời tạo nên một thế hệ công chúng có gu thẩm mỹ nghèo nàn, què quặt, tầm thường, về lâu dài sẽ ảnh đến nền tảng tinh thần, tầm vóc của văn hóa dân tộc. Điều nguy hại nữa là ảnh hưởng đến lý tưởng, mục đích sống của thế hệ trẻ, khuyến khích một lối sống hưởng thụ, chạy theo vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần.
Một thực trạng hết sức lo ngại là các hành vi phản cảm, ứng xử vô văn hóa, hiện tượng ném đá hội đồng, anh hùng bàn phím... ngày càng phổ biến và thu hút một bộ phận người trẻ tham gia “like”, chia sẻ, hùa theo “comment bẩn”. Rồi ngôn ngữ mạng (ngôn ngữ thời @, ngôn ngữ tuổi teen, tiếng ta “đá” tiếng Tây...) đang ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiếng Việt. Một bộ phận thanh niên hấp thụ lối sống phương Tây một cách thái quá, chỉ chuộng nghe nhạc ngoại, phim ngoại và sính những trang phục nước ngoài. Có những bạn trẻ sống gấp, theo kiểu hưởng thụ, không muốn cống hiến, lao động nhưng lại đòi hỏi để thỏa mãn nhu cầu vật chất. Đáng buồn là một số thanh niên sau khi tiếp thu mớ kiến thức hỗn độn và văn hóa lai căng, nhố nhăng trên không gian mạng rồi quay lại chê bai mọi thứ của đất nước, các giá trị truyền thống của cha ông, của dân tộc, cho rằng những điều đó là lạc hậu, trì trệ.
Trong lĩnh vực giải trí, một số người trẻ bị cuốn hút và mải mê chạy theo những trào lưu du nhập từ nước ngoài, từ phim điện ảnh, phim truyền hình, các video ngắn, vlog, game streaming (chơi và tường thuật game trực tuyến), các video “chơi khăm” (prank), hình chế (meme)... Có bạn trẻ hùa theo những trào lưu độc dị khiến người khác không khỏi giật mình, như hát cùng dao kéo, chụp ảnh quái đản, “hot boy” giả gái, nuôi thú độc...
Trong xu thế hội nhập quốc tế, giới trẻ chủ động lựa chọn, tiếp thu tinh hoa văn hóa của các nước trên thế giới để làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy vậy, trong quá trình đó vẫn tồn tại hiện tượng tiếp nhận xô bồ mọi thứ gọi là “tân kỳ” của văn hóa ngoại lai mà không phân biệt hay-dở, tốt-xấu để đi đến chỗ lai căng, mất gốc về văn hóa. Sự thiếu chọn lọc thể hiện ở khía cạnh lạm dụng trong việc tiếp thu các sản phẩm văn hóa giải trí. Đó là sự lạm dụng trong các chương trình giải trí và quảng cáo trên những phương tiện truyền thông; lạm dụng hình thức biểu diễn của một số loại hình văn hóa đại chúng; lạm dụng việc tổ chức lễ hội; lạm dụng ca từ, hình ảnh trong những bài hát một cách sống sượng, phản cảm.
Trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Đảng ta từng cảnh báo: Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ... đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Đề cập đến hậu quả của các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai xâm nhập vào nước ta, Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 27-7-2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội” nêu vấn đề: Nhiều sản phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài đã xâm nhập vào nước ta bằng nhiều con đường, tác động rất xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thế hệ thanh thiếu niên; làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc.
Chúng ta hoàn toàn có thể coi không gian mạng là một môi trường văn hóa, bởi ở đó, các cá nhân thực hiện giao tiếp, thiết lập quan hệ, xây dựng những mạng lưới và tiến hành tương tác xã hội... Trên môi trường đó diễn ra những hoạt động văn hóa vô cùng sôi động với các tác phẩm văn hóa-nghệ thuật được phổ biến nhanh chóng, những hình thức hưởng thụ văn hóa rất cởi mở, đa dạng. Các sản phẩm văn hóa giải trí có xu hướng phát triển mạnh mẽ, thu hút nhu cầu tiếp nhận của cộng đồng, trong đó giới trẻ là đối tượng tiếp nhận chủ yếu. Đáng buồn là những sự méo mó, lệch chuẩn lại được tô hồng qua lăng kính nghệ thuật và trở nên cuốn hút với một bộ phận người trẻ. Càng làm những hành động phản văn hóa càng dễ kiếm tiền, càng thành công, càng được tung hô. Ranh giới tốt-xấu, đúng-sai bị lu mờ trên không gian mạng khi một số bạn trẻ chưa đủ nhận thức và bản lĩnh để phân biệt, hoặc cố tình phớt lờ điều đó.
"Idol" nhố nhăng dẫn dắt lối sống lệch chuẩn
Sự chi phối, ảnh hưởng của tư tưởng ngoại lai dẫn đến hiện tượng cuồng thần tượng của giới trẻ đã trở nên nhức nhối trong một thời gian dài. Từ việc hấp thụ sản phẩm, lối sống của những "Idol" (thần tượng) nhố nhăng khiến một bộ phận người trẻ không phân biệt được đâu là hay-dở, phi văn hóa.
Trong các nền tảng mạng xã hội thông dụng ở Việt Nam, có một điểm chung là việc sử dụng thuật toán phân phối để tạo nên nội dung xu hướng (chạy theo những thứ đang “hot”, được nhiều người quan tâm). Điều này dẫn đến những nội dung xu hướng độc hại phát tán đến giới trẻ rất nhanh và trên diện rộng. Các chuyên gia truyền thông cảnh báo, điều rất nghịch cảnh hiện nay là một bộ phận người trẻ không thích xem các vấn đề về lịch sử, xã hội, văn hóa, nhưng lại hứng thú và tung hô những người giỏi chửi bới, lừa đảo, nói xấu nhau trên mạng.
Hiện nay, trên các nền tảng mạng xã hội, ai có nhiều người theo dõi, nhiều lượt “thích” sẽ được đặt tên là “Idol”. Mạng xã hội tạo cơ hội để ai cũng có thể trở thành nhà sáng tạo nội dung, ai cũng có thể trở nên “nổi tiếng” và thành “KOL” (người có sức ảnh hưởng). Bản thân những người làm ở các công ty truyền thông, quản lý một số lượng lớn người làm nội dung số cũng thừa nhận đang có một bộ phận bạn trẻ chọn con đường trở nên nổi tiếng, thành “Idol”, thành “KOL” bằng cách tạo ra những nội dung độc hại. Vì lượt xem, lượt chia sẻ mà cuối cùng đều được quy thành tiền mà xuất hiện những bạn trẻ liên tục tạo nên các nội dung vô bổ, xu hướng độc hại để thu hút người dùng, từ nhảy múa khoe thân đến quảng cáo cờ bạc, phim ảnh dung tục; từ miệt thị người khác, kích động vùng miền đến tung hô những giá trị đi ngược lại với xã hội, thậm chí phản văn hóa, phi giáo dục. Có các nội dung còn khuyến khích con người làm những điều kỳ quặc, trái với lẽ thường, gây nguy hiểm đến tính mạng. Hiện tượng thanh niên Ngô Bá Khá (biệt danh là “Khá Bảnh”) dù đã bị kết án hơn 10 năm tù vì tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc nhưng đến nay vẫn được một số bạn trẻ nhắc đến như một thần tượng với những video clip quái dị trên mạng xã hội.
Có những “thần tượng” mạng được một số bạn trẻ phong là “thánh ăn” bởi dám “dũng cảm” từ bỏ quyền làm người khi tự nhốt mình trong chuồng và ăn giống như một con vật. Hay có những “giang hồ” mạng với lý lịch phức tạp, được biết đến với nhiều hành vi ngông cuồng, bạo lực, thậm chí từng có tiền án, tiền sự nhưng các buổi phát sóng trực tiếp của những người này lại thu hút đến vài trăm nghìn lượt theo dõi, bình luận, trở thành “KOL” trong một bộ phận người trẻ. Có cả những “thần tượng” dẫn dắt lối sống với quan điểm không cần đi học, đi làm, muốn kiếm tiền thì đơn giản là hẹn hò qua mạng để nhận người bao nuôi. Cụm từ “sugar baby” hàm ý nói về những cô gái được trả tiền để bao nuôi, lại được sáng tác thành sản phẩm âm nhạc và không ít bạn trẻ lan truyền trên mạng xã hội.
Những thần tượng nhố nhăng trên mạng ảo đang trở thành xu hướng dẫn tới nguy cơ bùng phát lối sống lệch chuẩn trong giới trẻ. Những thần tượng lệch chuẩn này là ai? Là những người tự xưng “Idol” mà chẳng cần thực lực chuyên môn; những “chiến thần chê bai” hay “thánh ăn”, “thánh chửi” với biểu hiện chung là ảo tưởng sức mạnh, “ngáo” quyền lực tự huyễn hoặc mình có quyền sinh quyền sát, là chuyên gia trong mọi lĩnh vực và có quyền đánh giá mọi thứ. Hay là những “KOL” tôn sùng cuộc sống vật chất mà bất chấp đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Những “Idol” đó còn có cả người nổi tiếng, hoạt động nghệ thuật sôi nổi nhưng lên mạng là chửi bới, đe dọa, xúc phạm, miệt thị, công kích lẫn nhau, thậm chí vi phạm pháp luật.
Lĩnh vực âm nhạc cũng chứng kiến nạn du nhập ồ ạt, thiếu chọn lọc. Một số nhóm nhạc nước ngoài gây “sốt” trong giới trẻ, đặc biệt là tuổi teen, chỉ bởi ngoại hình và vũ điệu đẹp mắt mà chẳng cần hiểu ca từ hay yếu tố nghệ thuật ra sao. Chính điều này đã cổ xúy cho xu hướng coi trọng yếu tố nhìn nhiều hơn nghe, đề cao tính giải trí hơn tính nghệ thuật trong lối cảm thụ âm nhạc của người trẻ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân xuất hiện một số người trẻ Việt Nam tự xưng là ca sĩ với những bài hát “nhạc chợ” nhảm nhí cùng màn biểu diễn khoe thân phản cảm. Sự tiếp nhận ồ ạt âm nhạc quốc tế vào thị trường Việt Nam của một bộ phận người trẻ phần nào làm méo mó đời sống âm nhạc trong nước, tạo nên lớp váng màu mè bắt mắt của những “Idol” mạng mà ẩn sau đó không biết bao nhiêu là sạn.
Từ thực trạng cuồng những thần tượng nhố nhăng khiến nhiều giá trị văn hóa truyền thống bị một bộ phận người trẻ coi thường, thậm chí chế giễu, thuần phong mỹ tục đứng trước nguy cơ bị chà đạp, đạo đức có nguy cơ băng hoại, tệ nạn xã hội gia tăng trong thanh thiếu niên.
Phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ những tồn tại: Tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại còn hạn chế; chưa coi trọng đúng mức và có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc; nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, không có chọn lọc (nói nặng ra là "vô văn hóa", "phản văn hóa")./.
Báo QĐND
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'A in t V You Tube B f f'


RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VIÊN TRONG TÌNH HÌNH MỚI


Văn kiện Ðại hội XIII của Ðảng nêu rõ: “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày”.
Ðặt ra yêu cầu này bởi quá trình đẩy mạnh phát triển đất nước đòi hỏi Ðảng phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Ðảng. Muốn vậy, phải xây dựng, củng cố đội ngũ của Ðảng thật sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao vai trò, trách nhiệm và uy tín đảng viên.
Trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Ðảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài “Cái làm nên uy tín đảng viên”, trong đó có nhận định rằng: Ðã một thời gian dài, người cộng sản chiếm được uy tín tuyệt đối trong nhân dân, dưới mắt của nhiều người, người cộng sản là một mẫu mực tuyệt vời, một con người rất đẹp, đáng yêu, đáng phục.
Thế mà những năm gần đây, hình ảnh người cộng sản dường như không còn sức hấp dẫn, dường như đã bị phai mờ. Vì sao như vậy? Tác giả cho rằng có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân sâu xa nhất, cơ bản nhất, chính là ở bản thân đội ngũ đảng viên: “Trước bước phát triển mới của cách mạng, bên cạnh số đông đảng viên vững vàng, không bị đồng tiền và danh vọng cám dỗ làm hoen ố phẩm chất, có một bộ phận đảng viên đã không giữ được vai trò tiên phong, gương mẫu của mình, tự thủ tiêu vai trò của mình, thậm chí có một số người thoái hóa, hư hỏng, không còn xứng đáng với tư cách và danh hiệu đảng viên. Có những người mang danh cộng sản hoặc nhân danh cộng sản, lợi dụng uy tín của Ðảng, lợi dụng lòng tin của nhân dân đối với Ðảng để làm những điều xấu xa, trái với đạo lý... Chính những người này đã làm hại thanh danh, uy tín của Ðảng, làm giảm lòng tin của quần chúng đối với Ðảng”.
Nhận định ấy phản ánh thực tế hiện nay. Ðất nước đang trong giai đoạn cách mạng mới, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, thực sự tiên phong, gương mẫu.
Thế nhưng qua công tác kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật đảng, qua các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực đã và đang được tiến hành điều tra, xử lý cho thấy có một bộ phận cán bộ, đảng viên không giữ gìn đạo đức cách mạng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sử dụng chức vụ, quyền hạn được giao để tư lợi hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi, gây thiệt hại lớn về tài sản nhà nước, làm cho nhân dân vô cùng bất bình. Những người này không chỉ làm mất uy tín cá nhân mà còn làm ảnh hưởng đến uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung; ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào đường lối đổi mới, phát triển của Ðảng và Nhà nước.
Do đó, cùng với đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn ngừa những biểu hiện suy thoái trong đội ngũ, Ðảng ta yêu cầu nâng cao đạo đức cách mạng trong tình hình mới. Ðể làm được điều đó thì phải đề ra được các chuẩn mực đạo đức cách mạng làm căn cứ tu dưỡng, rèn luyện cho cán bộ, đảng viên.
Về vấn đề này, trong bài viết “Cái làm nên uy tín đảng viên”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng có 5 vấn đề quan trọng nhất thể hiện được vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên, làm nên uy tín đảng viên. Ðó cũng chính là những phẩm chất đạo đức cách mạng cao quý của người đảng viên. Cụ thể: Ðảng viên phải có thái độ đúng đắn, tích cực đối với công cuộc đổi mới, đi đầu thực hiện đổi mới, kiên định lập trường cách mạng của giai cấp công nhân trung thành với lý tưởng cộng sản, đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, vững vàng, không dao động trước bất kỳ khó khăn, thử thách nào.
Ðảng viên phải có kiến thức, có năng lực thực hiện công cuộc đổi mới. Ðây là một cuộc vận động cách mạng toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ cơ cấu kinh tế đến cơ chế quản lý, từ chế độ kinh tế đến hệ thống chính trị. Ðảng viên phải nỗ lực phấn đấu làm hết sức mình, bằng lao động sáng tạo và có chất lượng cao của mình, góp phần xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu, làm giàu cho đất nước, cho nhân dân, trong đó có bản thân. Ðảng viên phải có quan hệ tốt với quần chúng-một yêu cầu rất cần thiết đối với người đảng viên trong điều kiện Ðảng lãnh đạo chính quyền; quyết định sự tín nhiệm của nhân dân đối với đảng viên, cũng có nghĩa quyết định uy tín của Ðảng trong quần chúng.
Ðảng viên phải có ý thức tổ chức kỷ luật, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất của Ðảng trên cơ sở thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong Ðảng. Sức mạnh của Ðảng là ở tính thống nhất: Thống nhất ý chí, thống nhất quan điểm, thống nhất hành động. Nguyên tắc bảo đảm sự thống nhất của Ðảng là nguyên tắc tập trung dân chủ. Vì vậy, mọi cán bộ, đảng viên, bất cứ ở cương vị nào đều phải tôn trọng và chấp hành đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Bài báo được viết cách đây hơn 30 năm, nhưng những vấn đề đặt ra vẫn còn nguyên tính thời sự, góp phần nâng cao nhận thức chính trị cho mỗi người đảng viên; đồng thời gợi mở, định hình phương hướng thực hiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với nhiệm vụ cụ thể của từng ngành, từng lĩnh vực và tình hình thực tiễn ở địa phương, cơ sở trong giai đoạn hiện nay./.
Theo Báo Nhân dân

THẤM NHUẦN BÀI HỌC LỊCH SỬ VÔ GIÁ

 

Lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân - bài học kinh nghiệm mà Ðảng ta đã đúc kết được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích làm sâu sắc thêm trong bài viết “Bài học lịch sử vô giá” (tập hợp trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Ðảng và nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”).
Bài viết đăng trên Tạp chí Cộng sản năm 1987 có ý nghĩa về công tác tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân vào thời điểm toàn Ðảng, toàn dân ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, phải đối diện với rất nhiều khó khăn, thử thách. Ðến nay, đất nước đã trải qua gần 40 năm đổi mới, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, nhưng bài viết với những vấn đề nêu ra vẫn còn nguyên tính thời sự, đáng để chúng ta học tập, quán triệt.
Trong bài viết, tác giả phản ánh: Ðảng luôn coi việc bảo đảm và cải thiện đời sống nhân dân là trách nhiệm to lớn thường xuyên của mình. Tuy vậy, phải thừa nhận rằng có những chính sách còn chưa thật đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng, trình độ của nhân dân; có những địa phương, những cơ sở chưa quan tâm đúng mức và chưa có biện pháp thật tích cực để phát triển sản xuất, bảo đảm đời sống nhân dân.
Trong khi ở nhiều nơi, đời sống nhân dân còn khó khăn, nhiều yêu cầu thiết yếu của quần chúng chưa được bảo đảm, thì có những cán bộ, đảng viên, chỉ lo thu vén cá nhân, xoay xở làm giàu, ăn uống chè chén bê tha; thậm chí có người vô trách nhiệm với nhân dân, nhẫn tâm trước những khó khăn, đau khổ của quần chúng. Một số người còn lợi dụng chức quyền để đục khoét, vơ vét của cải của Nhà nước, của tập thể, trở thành những con sâu mọt tệ hại của xã hội...
Có lẽ đây là điều mất mát lớn nhất trong tình cảm của quần chúng, là điều quần chúng cảm thấy xót xa, buồn phiền nhất. Tiếp đó, tác giả khẳng định: Trong điều kiện ngày nay, nếu không chăm lo một cách cụ thể, thiết thực đời sống của nhân dân thì dù có nói bao nhiêu về quan điểm quần chúng, về quyền làm chủ tập thể của quần chúng cũng đều là vô nghĩa và không có sức thuyết phục.
Liên hệ thực tiễn hiện nay, đất nước phải đối diện với nhiều khó khăn do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19 và khủng hoảng địa chính trị trên thế giới, đòi hỏi cán bộ lãnh đạo, quản lý các ngành, các cấp phải quyết liệt triển khai các biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện, nâng cao đời sống của nhân dân, thế nhưng lại có tình trạng cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám quyết, không dám làm, đùn đẩy, né tránh nhiệm vụ.
Có nơi, có lúc ở cấp cơ sở xuất hiện những vấn đề cấp bách, sự việc ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống nhân dân cần phải được khẩn trương xử lý, nhưng lãnh đạo địa phương không dám quyết định, mà chờ ý kiến chỉ đạo của cấp trên, dẫn đến tiến độ công việc trì trệ, nhân dân bất bình. Có những khu vực, địa bàn tồn tại vấn đề bức xúc, nhưng lãnh đạo không sâu sát thực tiễn, không nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của người dân, không quyết liệt chỉ đạo xem xét, giải quyết thấu đáo, triệt để dẫn đến những khiếu kiện vượt cấp, kéo dài.
Bên cạnh đó, tình trạng cán bộ, đảng viên vi phạm, bị xử lý kỷ luật; tình hình xử lý các vụ án nói chung và các vụ án tham nhũng, tiêu cực nói riêng liên quan đến nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Ðáng chú ý, gần đây, quần chúng nhân dân theo dõi quá trình xét xử vụ án “chuyến bay giải cứu” đều rất đau lòng trước một bộ phận cán bộ thoái hóa, biến chất, nhẫn tâm, vô cảm trước những khó khăn, mất mát của người dân trong hoàn cảnh dịch bệnh phức tạp.
Tại Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ diễn ra tháng 5 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: Việc tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách, thực thi công vụ vẫn là khâu yếu; kỷ luật, kỷ cương ở nhiều nơi chưa nghiêm, thậm chí còn có hiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; cái gì có lợi thì kéo về cho cơ quan, đơn vị và cá nhân mình; cái gì khó khăn thì đùn đẩy ra xã hội, cho cơ quan khác, người khác...
Trở lại bài viết “Bài học lịch sử vô giá”, tác giả khẳng định: “Nói quần chúng giảm sút lòng tin đối với Ðảng không phải là giảm sút lòng tin đối với lý tưởng, sự nghiệp của Ðảng, mà là đối với những cán bộ, đảng viên đã hư hỏng, sa đọa, đối với những tổ chức đảng đã rệu rã, không còn sức chiến đấu”. Do vậy: “Một vấn đề hết sức quan trọng là phải khẩn trương làm trong sạch đội ngũ của Ðảng, khắc phục các hiện tượng sa sút, thoái hóa về phẩm chất, lối sống của cán bộ, đảng viên.
Phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên là vấn đề có ảnh hưởng quyết định đến uy tín, danh dự của Ðảng, tác động trực tiếp đến mối liên hệ giữa Ðảng và quần chúng. Quần chúng nhìn nhận, đánh giá Ðảng nhiều khi thông qua phẩm chất, tư cách, lối sống của cán bộ, đảng viên”.
Chúng ta có thể thấy tinh thần của quan điểm này trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Ðảng và hệ thống chính trị, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà Ðảng ta đang đẩy mạnh thực hiện dưới sự chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Có thể nói, bài viết với những lập luận sắc sảo, chặt chẽ, càng đọc càng thấy thấm thía trong bối cảnh hiện nay, rất cần được cán bộ, đảng viên nghiên cứu thấm nhuần trong quá trình rèn luyện và công tác./.
Theo Báo Nhân dân

Thứ Tư, 23 tháng 8, 2023

 NHÀ QUÂN SỰ  HẾT LÒNG VÌ NƯỚC, VÌ DÂN 


Lịch sử cách mạng hào hùng của dân tộc ta khắc ghi tên tuổi của nhiều chiến sĩ cộng sản, những người lãnh đạo, những nhà quân sự tài năng, đức độ, bản lĩnh. Một trong những nhà quân sự tài năng, đức độ, bản lĩnh đó là Trung tướng Nguyễn Bình.

Hội thảo “Trung tướng Nguyễn Bình - Nhà quân sự tài năng, đức độ” được Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 7 vừa qua nhân kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Trung tướng Nguyễn Bình (30/7/1908-30/7/2023). Một lần nữa, chân dung về người Trung tướng đầy tài năng quê ở Hưng Yên nhưng có nhiều đóng góp cho cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền nam được các nhà khoa học, chuyên gia phân tích, đánh giá một cách cặn kẽ, sâu sắc.

Nguyễn Bình là người cộng sản chân chính ngay từ khi chưa là đảng viên, một tài năng quân sự bẩm sinh, người chỉ huy có tư chất đặc biệt. Ông luôn đi theo con đường lý tưởng cách mạng chân chính, không những nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao mà còn chủ động vận động quần chúng nhân dân theo Việt Minh. Từ năm 1944, khi về hoạt động tại Hà Nội, Hải Phòng, ông xuống cả Hưng Yên, Đông Triều, Quảng Yên, Hòn Gai… để tìm mua vũ khí, xây dựng cơ sở Việt Minh. Ông còn vận động tướng tá, binh sĩ trong quân đội Nhật chuyển hướng theo cách mạng.

Với tư duy chiến lược, tầm nhìn xa, trông rộng của một chiến sĩ cách mạng trưởng thành từ thực tiễn đấu tranh, từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Trung tướng Nguyễn Bình nhanh chóng chuẩn bị vũ trang, xây dựng căn cứ du kích Đông Triều. Cùng với Chí Linh, Mạo Khê, Tràng Bạch, “Đệ tứ chiến khu Đông Triều” (hay còn gọi là Chiến khu Trần Hưng Đạo) chính thức ra đời. Đây là căn cứ địa có ý nghĩa và tầm quan trọng về nhiều mặt trong giai đoạn tiền khởi nghĩa và trong Cách mạng Tháng Tám ở vùng duyên hải Đông Bắc Tổ quốc.

Tháng 10 năm 1945, trước âm mưu và hành động gây hấn của thực dân Pháp hòng quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, tình hình cực kỳ khó khăn trong buổi đầu của cuộc kháng chiến ở miền nam, Trung tướng Nguyễn Bình được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy cử vào chỉ huy cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

Nhận thấy các lực lượng vũ trang Nam Bộ có nhiều tổ chức phức tạp, không có sự chỉ huy thống nhất, ảnh hưởng đến sự nghiệp kháng chiến, ngày 20 /11/1945, ông lấy tư cách là phái viên của Chính phủ Trung ương đã mời tất cả chỉ huy các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ về họp tại An Phú Xã, thống nhất đặt tên các đơn vị thành chi đội, ông là Tư lệnh Quân giải phóng Nam Bộ.

Đặc biệt, Trung tướng Nguyễn Bình là người sáng tạo những cách đánh độc đáo, với lực lượng độc đáo, vị tướng với tư duy quân sự mang đậm chất của chiến tranh nhân dân. Khi vào Nam Bộ, ở cương vị mới, với tư cách là Phái viên quân sự của Trung ương, rồi sau đó là Tư lệnh Quân giải phóng Nam Bộ, Trung tướng Nguyễn Bình đã vận dụng sáng tạo quan điểm chiến tranh nhân dân trong giải quyết những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với cuộc kháng chiến ở Nam Bộ như: thống nhất các lực lượng vũ trang, tăng cường quan hệ quân với dân trong xây dựng, chiến đấu; tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang tập trung đồng thời tổ chức, xây dựng các Ban công tác thành - tiền thân của lực lượng biệt động thành, tạo sự gắn kết giữa hai lực lượng này; xây dựng các chiến khu, các căn cứ địa, xây dựng căn cứ lòng dân ở Nam Bộ; chú trọng công tác đào tạo cán bộ, thành lập Trường Quân chính Khu 7… Những quyết định đó không chỉ mang tầm chiến lược mà còn có ý nghĩa và giá trị thực tiễn sâu sắc đối với tiến trình phát triển cách mạng ở Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Thiếu tướng, PGS, TS Vũ Quang Đạo, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Việt Nam cho biết, Nguyễn Bình là một tài năng quân sự thiên bẩm, tuy không có điều kiện học hành bài bản, chưa từng học qua một trường quân sự nào, nhưng bằng tư duy, bằng thực tiễn gắn bó với phong trào cách mạng, gắn bó với dân, ông luôn nhìn nhận đúng về sức mạnh của quần chúng nhân dân, của lực lượng vũ trang cách mạng.

Trung tướng Nguyễn Bình là vị tướng luôn gần dân, sáng tạo trong công tác vận động quần chúng làm cách mạng, là người có uy tín trong mọi tầng lớp nhân dân. Ông không chỉ có uy tín với công nhân, nông dân, mà giới trí thức cũng rất mến mộ và sẵn sàng theo ông ủng hộ, tham gia kháng chiến. Trung tướng Nguyễn Bình vừa chỉ đạo công tác quân sự, chấn chỉnh và xây dựng lực lượng vũ trang, vừa chỉ đạo vừa trực tiếp tham gia công tác vận động quần chúng, nhất là giới trí thức. Mặc dù địch vây ráp, ông vẫn thường xuyên vào thành phố, trực tiếp gặp gỡ các trí thức để vận động họ tham gia kháng chiến. Ông cho rằng nếu ngồi ở chiến khu mà mời họ ra thì sẽ ít hiệu quả, biện pháp tốt nhất là vào Sài Gòn, trực tiếp gặp gỡ họ thì việc vận động sẽ thuận lợi hơn.

Theo đồng chí Lê Thành Công, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tây Ninh, trong sáu năm đảm nhận trọng trách chỉ huy công cuộc kháng chiến ở Nam Bộ (từ tháng 10/1945-9/1951), Trung tướng Nguyễn Bình đã “tận lực, tận tâm”, “vì dân, vì nước” mà “tận diệt quân thù”, đã hoàn thành vẻ vang sứ mệnh tập hợp, tổ chức, thống lĩnh các đơn vị vũ trang Nam Bộ. Trung tướng Nguyễn Bình là người đặt nền tạo các binh chủng tinh nhuệ, qua đó xây dựng lực lượng vũ trang miền nam ngày càng lớn mạnh, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, chiến đấu ngày càng hiệu quả, khiến kẻ địch phải lo sợ./.