Thứ Năm, 24 tháng 8, 2023

Nhận diện băng nhóm lật sử “Viện sử tặc - Tai họa khôn lường”

         Tất cả những sách giáo khoa từ sách tiếng Việt, lịch sử trong thời gian qua đều bị giặc sử câu kết hướng lái. Giặc sử, giặc giáo dục, giặc truyền thông câu kết với nhau thực hiện âm mưu DBHB.

Một mạng lưới rộng rãi, chính vì vậy mà chúng thao túng và cô lập những nhà sử học chân chính. 300 nhà sử học được Phan Huy Lê mời viết sử và tham khảo thực chất chỉ là bình phong cho " khách quan" mà thôi.

Thâm hiểm hơn, chúng đã mời cả đại tướng Võ Nguyên Giáp làm chủ tịch danh dự (một cái chức hữu danh vô thực) điều đó chứng tỏ chúng đã có cả một âm mưu sắp xếp từ trước!

Những tưởng dùng chiêu bẩn bằng cách bôi nhọ danh hiệu Anh hùng Lê Văn Tám, Lê tặc sử có thể tiến tới cùng bọn Việt gian – Phản bội lật đổ được chế độ...

Nhưng trước sự kháng cự của những người Việt yêu nước, Lê tặc sử bị thất bại nhục nhã.

Chưa từ bỏ dã tâm phục thù cho anh trai Thủ tướng Ngụy quyền Sài Gòn của mình, kẻ bị chết nhục trong tù vì quá khứ khát máu và vai trò tay sai hèn hạ cho thực dân, đế quốc trong các chính quyền bù nhìn Sài Gòn, Lê bèn chuyển sang cách lật đổ Chính quyền Nhân dân bằng thủ đoạn “học thuật”. Đó là bắt đầu xuyên tạc lịch sử đau thương nhưng oai hùng của nhân dân ta.

- Biến cái chính nghĩa thành phi nghĩa,

- Biến cái bất lương thành lương thiện,

- Biến cái Ngụy thành cái chân...

Bộ sử 15 tập do Trần Đức Cường làm chủ biên, có sự chỉ đạo rõ của Lê là phải tìm mọi cách từng bước làm sống lại chính quyền bù nhìn Sài Gòn bằng cách ngụy lịch sử.!?

Trong bộ sử này chúng đòi không được gọi chính quyền bù nhìn là Ngụy quyền. Những người yêu nước chân chính bước đầu bị thất bại vì bộ sử giả này đã được xuất bản.

Tiếp theo là bộ quốc sử 25 tập do Phan Huy Lê làm tổng chủ biên, chủ nhiệm đề án bộ QS 25 tập, dù Lê đã chết, ban viết sử vẫn không bầu ra được người thay Lê làm tổng chủ biên bộ Quốc sử 25 tập đầy tai tiếng này.!?

Người ta tự hỏi, tại sao Ban biên tập bộ sử không bầu ra được một người khác thay thế Phan Huy Lê ?

Có phải vì ông ta là người quá tài năng và “bất khả thay thế” hay không ?

Thực ra không phải vậy, có lẽ có chuyện mờ ám nào đấy trong tổ chức những người phụ trách chính viết bộ sử này, khả năng có 3 nguyên nhân xảy ra:

1/ Lê đã tổ chức và thông qua một cơ cấu duy nhất do mình làm Tổng chủ biên và có sự tài trợ bất minh nào đó của một “bóng đen” bên ngoài biên giới có liên hệ mật thiết với nhóm người phụ trách chính để viết bộ Quốc sử này…và mặc định là mãi mãi Lê là Tổng chủ biên không được thay thế (Do đó việc bộ QS 25 tập phải từ bỏ gọi chính quyền tay sai Sài Gòn và quân đội của nó là Ngụy quyền, Ngụy quân đã được mặc định và được mặc cả bằng “giá trị - Tiền” thông qua Lê).

2/ Trước mặt những người làm phó cho Lê như Trần Đức Cường, Vũ Minh Giang, Nguyễn Quang Ngọc v.v…thì Lê là “pho tượng đồng” về "trí tuệ và nhân cách", bởi vì xét cho cùng Giang, Cường, Ngọc …đều là những người kém cỏi, xa rời thực tế cách mạng khắc nghiệt mà nhân dân ta đã trải qua trong hai cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại vừa qua…

Giang, Cường, Ngọc chỉ là những chiếc bóng núp dưới chân của Phan Huy Lê và cũng được "đào tạo trong lò sử" của sử tặc Phan Huy Lê và nhờ có Lê chúng mới có tiếng, có miếng, nay chất hèn hạ còn vương trên các bộ mặt này nên chúng không dám bước ra ánh sáng !

3/ Vì sự kèn cựa, tranh chấp địa vị và vật chất trong việc ăn chia kinh phí của bộ Quốc sử nên các ông mang danh phó Tổng chủ biên cho Lê nay hằm hè không thống nhất bầu ra một Tổng chủ biên mới cho dù Lê đã chết được nửa năm rồi…

Điều sâu xa hơn là Phan Huy Lê đã gieo rắc nọc độc của mình qua suốt các thế hệ sinh viên mà y giảng dạy, nọc độc của Lê không còn nghi ngờ gì nữa đã ngấm vào xương tủy của Trần Đức Cường, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hà và nhiều người khác. Bởi vì khi bước vào ngành sử những trái tim và bộ óc còn trinh trắng của họ đã ngay lập tức bị nọc độc của Lê truyền cho, biến những người này thành con rối viết sử, âm thầm tuân lệnh Lê giày xéo lên đất nước qua bộ sử xuyên tạc sự thật của mình…

Nhận thức được âm mưu nguy hiểm của tên tặc sử Phan Huy Lê, chúng ta phải ra sức chiến đấu để tống khứ thứ nọc độc vừa man rợ vừa hèn hạ của Lê ra khỏi các thế hệ trẻ của chúng ta !

Phan Huy Lê đã chết nhưng hắn đã kịp đào tạo một lớp đàn em trung thành với lý tưởng phản động của nó. Chúng vẫn âm thầm gieo rắc tư tưởng cào bằng lịch sử vào các thế hệ sinh viên học si.

Rồi đây các em cũng trở thành những giáo sư tiến sĩ sử học dưới sự dẫn dắt của lò SỬ TẶC thì sẽ ra sao? Các em vô tình đã tiếp thu tư tưởng của giặc. Các em cũng trở thành sử tặc mà không hề hay biết.! Sẽ không còn bất kỳ ai là sử học chân chính.!?

TAI HỌA KHÔN LƯỜNG !!!./.

CẢNH GIÁC VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 Thời gian qua, lợi dụng môi trường internet và truyền thông xã hội, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền”; “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”; “phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì đất nước mới phát triển”...

Thông qua những quan điểm, luận điểm này, chúng đã bộc lộ dã tâm, mưu đồ đen tối là xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta phải thoái lui, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để đưa đất nước theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản; từ đó gây tâm lý hoài nghi, dao động, giảm sút niềm tin trong nhân dân, đặc biệt là niềm tin vào vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là những quan điểm, luận điểm hết sức phản động, sai lầm, phi khoa học, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn, chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá; nhiều nhận xét là chủ quan, vô căn cứ.

Đây là một loại luận điệu hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Thực chất những luận điệu này là gì nếu không phải là muốn đa nguyên, đa đảng, chia quyền lãnh đạo dẫn tới tiếm quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Mục đích của chúng là phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà nước đó có. Có nước một đảng vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển; có nước nhiều đảng vẫn kém phát triển, vẫn mất dân chủ. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia-dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân, vì nước mà hành động, chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo.

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo chính trị, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Từ khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta đấu tranh dành những thắng lợi vĩ đại: Đưa đất nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành nước một nước độc lập; đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ thành người tự do; đất nước tiến vững chắc trên con đường đã chọn - Độc lập dân tộc gắn liền Chủ nghĩa xã hội.

Những thành tựu của gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

"DỄ TRĂM LẦN KHÔNG DÂN CŨNG CHỊU, KHÓ VẠN LẦN DÂN LIỆU CŨNG XONG"

 Trong tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh có thể nói chữ “dân” có giá trị thiêng liêng và bền vững. Đời Bác chỉ xoay quanh chữ “dân” và chữ “nước”. Ta bắt đầu từ tên của Bác, Bác sống 79 mùa Xuân mà Bác dùng 175 tên, Bác lấy tên Nguyễn Ái Quốc từ thời ra đi tìm đường cứu nước. Trải qua 30 năm tìm đường cứu nước, đi vòng quanh thế giới gần 40 nước khác nhau để rồi trở về lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Bác lấy tên Nguyễn Ái Dân. Ái Quốc nghĩa là yêu nước, Ái Dân là yêu dân, “yêu nước là phải yêu dân”, đấy chính là triết lý sâu xa mà Bác đã truyền lại cho chúng ta ngày nay như một lẽ sống.

Trong hàng trăm luận điểm về “dân chủ” của Bác thì chữ “dân” là điểm xuất phát; trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không có gì mạnh mẽ bằng lực lượng đoàn kết của dân. Nói về dân, ông cha ta đã tổng kết “chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, có dân thì có tất cả, mà mất dân là mất hết”. Hồ Chí Minh là người thực hành xuất sắc chân lý cao cả đó.  Theo Bác, cái gì tốt và có lợi cho dân cái đó là chân lý, phục vụ nhân dân là phục tùng 1 chân lý cao nhất, là đầy tớ, công bộc cho dân là lựa chọn 1 lẽ sống cao thượng nhất.  Đời Bác có thể nói là 1 minh chứng hoàn hảo cho những giá trị tinh thần thiêng liêng đó.

Đến những giây phút cuối cùng của đời Bác, Bác còn hỏi về dân, về đời sống của dân. Một chi tiết cảm động khi Bác nằm trên gường bệnh, trời Hà Nội oi nồng trong cơn giông bão, trong khi chiến tranh ác liệt, ta thương Bác nên mang cho Bác chiếc quạt, Bác bảo: Bác ở đây là đủ mát rồi, trong vườn Bác có đủ cây cối, đồng bào ta suốt ngày trên đồng ruộng, nắng nôi như thế lấy đâu ra quạt. Hãy mang chiếc quạt này cho các chú thương binh ở trại điều dưỡng... Bác thương dân đến như thế đấy. Hay Bác tiêu dùng hàng ngày như 1 người dân đạm bạc sống khắc khổ, tiết kiệm đến khắc khổ. Bác dạy chúng ta “mỗi đồng tiền, bát gạo mà chúng đang tiêu dùng đều từ mồ hôi của dân mà ra, thương dân thì phải tiết kiệm. Lãng phí, coi thường dân và tham ô tham nhũng, là có tội với dân”. Đặc biệt, tư tưởng của Bác gắn liền với đạo đức, phương pháp và phong cách. Và đời bác là con người thực hành, trong đó thực hành dân chủ, thực hành dân vận, thực hành đại đoàn kết dân tộc đều xuất phát từ chữ “dân”. Bác khẳng định vai trò, sứ mệnh của dân trong sự nghiệp phát triển của mình. Bác nhắc lại câu ca dao mà đồng bào ta thường nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Có dân giúp sức, ủng hộ và tin tưởng là bí quyết trường tồn của chúng ta.

Từ ngày đầu dựng nước đến 2 cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ. Đến tận giây phút cuối cùng, Bác từ chối nhận Huân chương và Bác khiêm nhường nói rằng: Vì Bác chưa hoàn thành nhiệm vụ, Bác chưa xứng đáng. Bác đợi miền Nam giải phóng xong, đồng bào miền Nam gắn Huân chương cho Bác cũng chưa muộn. Thế nên  chúng ta hiểu tại sao khi Bác mất nhân nhân trong Nam, ngoài Bắc, cả đồng bào nước ngoài thương tiếc vô cùng vì Bác sống mãi trong lòng dân. Chính vì đề cao chữ “dân” như thế, nên Bác luôn căn dặn cán bộ: Không làm điều gì trái ý dân; lo việc hàng ngày cho dân...

Hiện nay, còn nhiều nguyên nhân mà chúng ta chưa làm cho dân hài lòng, nhất là vấn đề lợi ích, chăm lo cho cuộc sống hàng ngày của nhân nhân và đặc biệt là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa khó khăn như ở Hà Giang. Theo GS, TS Hoàng Chí Bảo, để làm theo được tư tưởng vì dân của Bác, trước hết chúng ta phải chăm lo đời sống, công ăn việc làm cho dân. Làm cho dân đủ ăn, đủ mặc, rồi mới tiến tới phát triển khá giả hơn. Cùng với đó, phải chăm lo, bồi dưỡng học vấn, văn hóa cho nhân dân, nhất là những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để họ tiến kịp với vùng xuôi, tiến kịp với mặt bằng xã hội và thế giới. Đặc biệt, phải xây dựng đội ngũ cán bộ vì dân, có trình độ, phẩm chất, đạo đức tốt, bởi cán bộ mà chưa thực sự xứng đáng với dân, thậm chí còn hư hỏng, suy thoái thì chỉ làm mất lòng tin ở dân. Cho nên có thể nói sức mạnh tiềm lực của quốc gia còn phản ánh vai trò “dân chủ, đoàn kết và đồng thuận” trong nhân dân. Hiện nay, Đảng ta đang ra sức thực hiện các nhiệm vụ mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra, đó là phát triển kinh tế, phát triển văn hóa kết hợp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy lùi được quan liêu, tham nhũng, phòng ngừa được sự suy thoái đạo đức thì dân sẽ một lòng đi theo Đảng. Ngay cả khi Đảng gặp khó khăn nhân dân vẫn một lòng đi theo Đảng, niềm tin đó vẫn không giảm sút. Mấu chốt của vấn đề là xây dựng đội ngũ cán bộ toàn tâm, toàn ý vì dân, vì nước. Đấy chính là những gì tốt nhất để chúng ta thực sự học tập và làm theo tư tưởng của Bác.



Cảnh giác với những hành vi bôi nhọ, nói xấu cán bộ, lực lượng CAND

 

Sự việc liên quan đến việc bắt cóc một đứa trẻ và cái kết bi hài khi chuyện "bắn nhầm dê" trước đây đã trở thành cái cớ để cười và mỉa mai cho nhiều người.

Có vẻ nhiều người vì bị phạt hành chính do vi phạm luật giao thông rồi từ đó ác cảm với lực lượng Công an mà quên rằng ai là người giải cứu cháu bé thành công, để có cuộc sống bình yên ngày hôm nay, máu của các đồng chí Công an vẫn đổ. Trong vụ việc giải cứu cháu bé và truy bắt nghi phạm có hơn 200 cán bộ Công an cùng nhau tham gia vào cuộc giải cứu, và kết quả cuối cùng vẫn là sự an toàn của cháu bé. Nhưng điều đáng nói ở đây lại là việc quy tội và bôi nhọ cả ngành cảnh sát thay vì lòng biết ơn cần nói ra.

Chúng ta cần nhớ rằng cán bộ công an không phải lúc nào cũng hoàn hảo. Trong mọi tổ chức, cơ quan, hay hệ thống, luôn có khả năng xảy ra sai sót. Nhưng điều quan trọng là cách chúng ta đối diện và xử lý những sai sót đó. Trong trường hợp này, chúng ta đã thấy sự quyết liệt và minh bạch của cơ quan chức năng trong việc xác minh và công bố thông tin vụ việc. Hành động này không chỉ thể hiện tính chuyên nghiệp mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với quyền lợi và sự an toàn của công dân.

Nhìn vào các sự kiện gần đây, chúng ta không thể phủ nhận rằng các cán bộ công an luôn là những người hàng ngày đặt mạng sống của họ vào tình thế nguy hiểm để bảo vệ an ninh và trật tự xã hội. Vụ việc gần đây ở đèo Bảo Lộc và nhiều vụ việc khác đã chứng minh rõ rằng họ không ngừng đóng góp và hy sinh cho mục tiêu cao cả đó.

Không nên lấy một sai sót cá nhân để bôi xấu một lực lượng hay tổ chức. Thay vào đó, hãy đánh giá bằng toàn bộ diễn biến và ngữ cảnh, và tôn trọng những nỗ lực và hy sinh của những người đã dày công đứng ra bảo vệ cộng đồng./.

Cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn lợi dụng uy tín của Quân đội để lừa đảo


         Thời gian gần đây một số đối tượng đã lợi dụng uy tín của Quân đội, giả danh cán bộ Quân đội để lừa đảo, xuyên tạc, bóp méo sự thật… Hình thức, thủ đoạn của những đối tượng này rất đa dạng, phức tạp, như: gọi điện, nhắn tin, sử dụng mạng xã hội Facebook, Zalo để quảng cáo bán sách, bán thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng, dịch vụ làm đẹp, đặt tiệc, đặt mua hàng…điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Quân đội ta.

Hầu hết những đối tượng này là lợi dụng hình ảnh, uy tín của Quân đội để tạo dựng lòng tin, lừa đảo người bị hại. Vậy, thủ đoạn của chúng là gì? Đầu tiên đối tượng tìm hiểu, và dùng tài khoản Zalo, facebook có hình mặc quân phục, dùng điện thoại gọi đến các nhà hàng, dịch vụ nấu ăn, dịch vụ tiệc cưới, giả danh là cán bộ thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ CHQS tỉnh, Ban CHQS huyện… đặt bàn tiệc mời khách, rồi chủ động chuyển khoản một số tiền để tạo niềm tin, sau đó tiếp tục nhờ mua giúp rượu, sâm loại hiếm để làm quà biếu, hứa khi đến sẽ trả lại tiền. Khi nhà hàng, dịch vụ không tìm được nguồn hàng, kẻ giả danh sẽ hướng dẫn liên hệ với người có nguồn hàng (đồng bọn của đối tượng)… và sẽ được trả phần trăm cao; khi nhà hàng, dịch vụ chuyển tiền cọc, tiền mua hàng qua số tài khoản được cung cấp thì những kẻ lừa đảo cắt liên lạc, khóa tài khoản, chiếm đoạt số tiền đó.

Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, từ tháng 5/2023 đến tháng 7/2023, chúng đã gây ra 08 vụ lừa đảo: thành phố Đà Lạt (02 vụ), huyện Lâm Hà (01 vụ), huyện Đạ Tẻh (03 vụ), huyện Đơn Dương (01 vụ), huyện Di Linh (01 vụ); các nạn nhân đã bị lừa, bị chiếm đoạt từ hàng chục đến hàng trăm triệu đồng.

Gần đây nhất, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh vụ việc lừa đảo bằng hình thức "gọi điện đặt hàng" nhưng với sự cảnh giác của người dân đối tượng không thực hiện được hành vi của mình: Khoảng 19.00 ngày 05/8/2023, đối tượng tên Bình tự xưng là cán bộ Phòng Hậu cần/Bộ CHQS tỉnh, điện thoại cho chị Thủy là chủ cửa hàng bán chả lụa Minh Thủy ở ấp Bình Trung, xã Bình Minh, Tp.Tây Ninh đặt mua 15kg chả lụa; tiếp theo tên Bình nhờ mua hộ 200 ổ bánh mì và xin số tài khoản của chị Thuỷ và đã chuyển khoản cho chị Thủy số tiền là 600.000đ. Sau đó, Bình nhờ chị Thủy mua hộ thêm thịt hộp tại tiệm của ông Cường và nhờ chuyển vào tài khoản ông Cường số tiền là 6.000.000đ (số tài khoản do Bình cung cấp), hẹn khi nào giao chả lụa thì Bình sẽ trả tiền chả lụa và số tiền mua thịt hộp. Nhưng khi chị Thủy chuyển tiền phát hiện tên tài khoản là Mai Thị Kiều nên thấy nghi vấn, chị đã điện thoại cho cán bộ Bộ CHQS tỉnh để xác minh. Qua xác minh chị Thủy biết Bình không phải là cán bộ Phòng Hậu cần/Bộ CHQS tỉnh do vậy hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên chưa thực hiện được.

Ngoài ra chúng còn sử dụng mạng xã hội (Zalo, Messenger…) giả danh sĩ quan Quân đội để bán thuốc, bán sách… hoặc hù dọa tống tiền gia đình có con em đang thực hiện nghĩa vụ quân sự. Chúng giả danh là cán bộ chỉ huy đơn vị, đang quản lý con em thực hiện nghĩa vụ quân sự, đơn vị bị hư hỏng, mất trang thiết bị, hoặc vật chất của đơn vị do con em mình gây ra và yêu cầu người thân phải chuyển tiền để khắc phục hậu quả, nếu không khắc phục kịp thời thì sẽ bị truy tố và chịu các hình thức kỷ luật, với chiêu thức đó đã có rất nhiều người là nạn nhân của kẻ xấu.

Các đối tượng thường khoe có mối quan hệ rộng, quen biết nhiều lãnh đạo ở Trung ương, địa phương và có khả năng xin biên chế, “chạy dự án”, “chạy việc”, … Sau khi lấy được lòng tin, những đối tượng này sẽ yêu cầu người dân đưa tiền để “giải quyết quan hệ”, để “chạy việc”...rồi chiếm đoạt luôn số tiền này. Nhận thấy việc giải danh cán bộ Quân đội để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản gần đây trở nên khá phổ biến, gần như trở thành một xu hướng mới, vậy bài học rút ra là:

Đối với cán bộ, chiến sĩ LLVT luôn quán triệt và chấp hành nghiêm các văn bản, quy định của cấp trên về sử dụng các mạng xã hội, không sử dụng hoặc đưa các hình ảnh mặc quân phục lên các trang mạng xã hội vì dễ bị kể xấu lợi dụng. Thực hiện nghiêm Thông tư 101/2014/TT-BQP ngày 22/8/2014 của Bộ Quốc phòng về việc Ban hành quy chế quản lý, cung cấp dịch vụ internet trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Quán triệt Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Chỉ thị số 47 ngày 08/01/2016 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội.

Vậy, chúng ta hãy luôn đề cao cảnh giác để mình, người thân và những người xung quanh không trở thành nạn nhân của các đối tượng xấu, hãy cùng chung tay ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng giả danh cán bộ Quân đội, Công an để lừa đảo, bôi nhọ, bóp méo sự thật…hãy lan tỏa những thông điệp, hình ảnh đẹp về người lính, vì có họ đất nước ta mới bình yên hơn, hạnh phúc hơn./.

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” THỜI KỲ MỚI

 Văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là sự hòa quyện giữa giá trị văn hóa dân tộc và thời đại; sự tiếp thu, phát triển tinh hoa văn hóa, con người Việt Nam; là đặc trưng văn hóa quân sự của Quân đội cách mạng, kết tinh những giá trị văn hóa-chính trị-đạo đức của “Bộ đội Cụ Hồ”, trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, văn hóa "Bộ đội Cụ Hồ" được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ giữ gìn, phát triển, xây đắp nên bản chất, truyền thống vẻ vang của QĐND Việt Nam: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Vì vậy, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa "Bộ đội Cụ Hồ" vừa là yêu cầu khách quan, vừa là niềm vinh dự, tự hào, tình cảm và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta trong thời kỳ mới.

Thực tiễn xây dựng QĐND Việt Nam gần 80 năm qua, khẳng định: Văn hóa "Bộ đội Cụ Hồ" đã góp phần tạo nên bản sắc truyền thống tốt đẹp của Quân đội anh hùng-lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân.

Trong thời kỳ mới, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện sâu sắc trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, rõ nhất là trong triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (nay là Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”); Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW; Chỉ thị số 788-CT/QUTW ngày 26-12-2013 về phát động Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” (nay là Chỉ thị số 855-CT/QUTW ngày 12-8-2019 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”); Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Trong đó, Nghị quyết số 847- NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương đã khái quát 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới: Thứ nhất, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Thứ hai, có đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy. Thứ ba, tích cực huấn luyện, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn; có phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao; gương mẫu trong công tác, sinh hoạt; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thứ tư, có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, dám đương đầu với khó khăn, thử thách; giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý, phê bình với tinh thần cầu thị. Kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của Quân đội; thực hiện tốt 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật của quân nhân trong QĐND Việt Nam. Thứ năm, chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt; lắng nghe, tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Có tinh thần đoàn kết, mở rộng và tăng cường đối ngoại quốc phòng, góp phần tích cực tham gia gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định chính trị trong khu vực và thế giới.

Các nội dung đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là cơ sở để Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và cấp ủy, chỉ huy các cấp xác định chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa "Bộ đội Cụ Hồ" trong tình hình mới; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, Đồng thời, là chuẩn mực đạo đức cách mạng để cán bộ, đảng viên trong Quân đội tự soi, tự sửa, phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Trước đây cũng như hiện nay, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, “Bộ đội Cụ Hồ” đều kiên định, vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Với chức năng là đội quân công tác, “Bộ đội Cụ Hồ” đã chủ động, tích cực “tham gia xây dựng, củng cố cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, xóa đói giảm nghèo bền vững... làm sâu sắc hơn mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Quân đội với nhân dân, góp phần tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa”. Đồng thời, phát huy giá trị văn hóa "Bộ đội Cụ Hồ" trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế: Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, thảm họa... được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng tỏa sáng, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu xây dựng bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, năng lực công tác, đạo đức, lối sống của người quân nhân cách mạng. Nhiều tấm gương dũng cảm trong chiến đấu, hy sinh bảo vệ chủ quyền, biên giới, biển, đảo; trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn; nhiều tập thể, cá nhân không quản ngại khó khăn, gian khổ, gắn bó với vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các cuộc vận động cách mạng, các phong trào và nhiệm vụ chính trị của địa phương; được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Có thể khẳng định: Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”-nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, niềm vinh dự, tự hào và là động lực mạnh mẽ, thôi thúc cán bộ, chiến sĩ không ngừng phấn đấu, rèn luyện, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tuy nhiên, nghiêm túc nhìn nhận, trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, còn “một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” chưa cao;... có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, Quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của Quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”.

Để giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thực sự trở thành động lực quan trọng trong thực hiện mục tiêu: Xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại, đến năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; toàn quân cần quán triệt và thực hiện tốt các giải pháp sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự chỉ đạo của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị, tiếp tục khơi dậy, lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới

Cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên các cấp cần xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, đưa nội dung phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ của cấp ủy, tổ chức đảng. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, nghiên cứu, cụ thể hóa đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới sát đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ cơ quan, đơn vị, kịp thời giải quyết có hiệu quả những vấn đề nảy sinh, xử lý nghiêm minh các vụ việc vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, vi phạm đạo đức, tư cách quân nhân, tư cách người cán bộ, đảng viên, góp phần giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống Quân đội, các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Tăng cường chỉ đạo của chính ủy, chính trị viên và đội ngũ cán bộ trong phát huy các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” ở các cơ quan, đơn vị. Căn cứ chức trách, nhiệm vụ, cương vị công tác được giao, đội ngũ chính ủy, chính trị viên, cán bộ đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị cần quan tâm chỉ đạo cơ quan, đơn vị quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên và nghị quyết của cấp mình về phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, đặc biệt là xây dựng kế hoạch công tác Đảng, công tác chính trị trong phát huy các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” gắn với hoạt động của đơn vị nhất là thực hiện Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Phát huy tốt vai trò của cơ quan chính trị các cấp trong theo dõi, hướng dẫn các đơn vị tổ chức phát huy các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, kịp thời phát hiện, đề xuất với cấp ủy những chủ trương, biện pháp giải quyết hiệu quả những vấn đề nảy sinh.

Căn cứ vào chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, người chỉ huy các cấp cần tăng cường chỉ đạo các cơ quan chức năng thường xuyên kiểm tra các đơn vị thuộc quyền chấp hành điều lệnh, điều lệ, các quy chế, quy định, chế độ, nền nếp. Nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh “mẫu mực, tiêu biểu”. Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết việc phát huy các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích trong phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, tuyên truyền nhân rộng những mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả, lan tỏa sâu rộng trong cơ quan, đơn vị.

Tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của cơ quan chính trị các cấp. Chủ động tham mưu giúp cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới sát đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ, có những biện pháp đột phá khắc phục khâu yếu, mặt yếu, làm chuyển biến mạnh mẽ tình hình cơ quan, đơn vị. Thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc tổ chức thực hiện các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của cấp trên, nhất là phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” bảo đảm nghiêm túc, chặt chẽ, hiệu quả.

Hai là, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, quần chúng trong phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới

Mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ nhận thức đúng bản chất, truyền thống, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới để tiếp tục phát huy; làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ lan tỏa các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong cơ quan, đơn vị.

Tập trung nâng cao nhận thức về bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong Quân đội. Trong đó, trọng tâm là Kết luận số 76-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”; Chỉ thị số 855-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; Kết luận số 1172-KL/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về tiếp tục tăng cường lãnh đạo công tác văn hóa nghệ thuật trong Quân đội thời kỳ mới; Kế hoạch số 1349/KH-CT của Tổng cục Chính trị về thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 trong QĐND Việt Nam.

Các cơ quan, đơn vị cần bám sát nghị quyết, kết luận, quy định của Trung ương, Quân ủy Trung ương, sự chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị về đặc điểm tình hình, nhiệm vụ cơ quan, đơn vị; chủ động xây dựng các chuyên đề giáo dục chính trị, sinh hoạt tư tưởng, giáo dục pháp luật cho các đối tượng cán bộ, chiến sĩ. Tập trung làm sâu sắc giá trị, đặc trưng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, giáo dục pháp luật, kỷ luật, nhất là những nội dung mới ban hành, nội dung liên quan đến hoạt động của bộ đội. Hình thức, biện pháp giáo dục, tuyên truyền theo hướng mở rộng đối tượng tham gia, hình thức linh hoạt, phù hợp, tăng cường hội nghị chuyên đề làm sâu sắc giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” như tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ; đổi mới sinh hoạt chính trị, diễn đàn, tọa đàm, hội thảo khoa học, phản ánh đúng tâm tư, tình cảm, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, phát huy vai trò của cơ quan báo chí, truyền thông, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên và các thiết chế văn hóa đơn vị cơ sở, đi đôi với đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ số tuyên truyền có hiệu quả...

Cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chỉ huy, cơ quan, đơn vị các cấp cần nêu cao tinh thần tự soi, tự sửa, gương mẫu chấp hành nghị quyết, kết luận, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo và dám đương đầu với khó khăn, thử thách. Mẫu mực về phẩm chất đạo đức, lối sống, lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”; nêu cao ý thức xây dựng mối đoàn kết, thống nhất trong cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Chủ động tuyên truyền về mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả, gương người tốt, việc tốt; kịp thời phê bình, uốn nắn những nhận thức sai trái, lệch lạc, thiếu gương mẫu, nói không đi đôi với làm, bệnh hình thức, qua đó kịp thời rút kinh nghiệm, khắc phục.

Cùng với đó, cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tổ chức tuyên truyền, giáo dục bộ đội về xây dựng mối quan hệ gần gũi, thân thiết giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cán bộ với chiến sĩ, trên cơ sở điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của Quân đội, tôn trọng lẫn nhau, chung sức, đồng lòng để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ. Đẩy mạnh Phong trào “Cán bộ, chiến sĩ Quân đội thi đua thực hiện văn hóa công sở, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, phát huy vai trò làm chủ của quân nhân, viên chức, người lao động trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ quan, đơn vị. Duy trì nghiêm kỷ luật và thực hiện tốt quy chế dân chủ trong cơ quan, đơn vị, tạo sự thống nhất cao về chính trị, quân sự và chế độ, tiêu chuẩn được hưởng của cán bộ, chiến sĩ. Chăm lo xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội gắn với Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; chú trọng xây dựng văn hóa ở cấp ủy, tổ chức đảng, văn hóa các cơ quan, đơn vị, các lĩnh vực, ngành, các tổ chức trong Quân đội mang đặc trưng văn hóa quân sự; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, nhất là các đơn vị đóng quân nơi biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, đơn vị làm nhiệm vụ đặc thù; tạo niềm tin, sức lan tỏa mạnh mẽ trong Quân đội và toàn xã hội. Phát huy vai trò và hiệu quả của cơ quan báo chí, đơn vị văn hóa nghệ thuật, đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc

Để phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”, kết hợp chặt chẽ với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc bằng nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, hiệu quả”.

Tiếp tục tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, sáng tạo cuộc vận động với thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, đạt hiệu quả thiết thực. Làm cho cuộc vận động trở thành việc làm thường xuyên, tạo chuyển biến mạnh mẽ, sâu rộng về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước, sự yêu mến của nhân dân.

Cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện nội dung xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” theo phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”. Cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ trì các cấp phải gương mẫu đi đầu thực hiện bằng những nội dung, biện pháp cụ thể, thiết thực. Các tổ chức quần chúng đẩy mạnh hoạt động, xung kích, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác của cán bộ, hội viên, đoàn viên, bảo đảm cho nội dung xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới đi vào cuộc sống, hoạt động của các tổ chức, lực lượng, phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, nhất là những việc mới, việc khó, đòi hỏi ý chí, nghị lực cao. Tập trung thực hiện có hiệu quả 5 đặc trưng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, đồng thời kiên quyết đấu tranh với 10 biểu hiện chủ nghĩa cá nhân đã được xác định trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương.

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, sự chỉ đạo, quản lý của người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng gắn với thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động ở tất cả các loại hình đơn vị, tạo phong trào hành động cách mạng sâu rộng, đều khắp. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, khai thác có hiệu quả các nguồn lực, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào thi đua. Quan tâm xây dựng, tôn vinh và nhân rộng những điển hình tiên tiến, những điển hình mới, cách làm hay, sáng tạo, trong phong trào thi đua, để phẩm chất cao đẹp, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trở thành lẽ sống, phương châm hành động của cán bộ, chiến sĩ toàn quân và tỏa sáng trong đời sống xã hội.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội

Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, “nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, phòng, chống có hiệu quả tác động tiêu cực từ mặt trái cơ chế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”. Tiếp tục triển khai thực hiện cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa, hình thành những tập thể quân nhân phấn đấu, rèn luyện, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới và tiếp tục cụ thể hóa mô hình, tiêu chí “Đơn vị văn hóa”. Hằng năm, cấp ủy các cấp cần xác định rõ mục tiêu, chủ trương, biện pháp lãnh đạo, xây dựng chương trình hành động xây dựng môi trường văn hóa sát đặc điểm, tình hình đơn vị. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, quần chúng trong toàn quân về ý nghĩa, tầm quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp đổi mới, văn hóa trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng môi trường văn hóa với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, với Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở địa phương để tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã xác định. Coi trọng gắn kết giữa thực hiện các chuẩn mực con người Việt Nam mới, “Đơn vị văn hóa” với đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng xây dựng điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt.

Tổ chức, triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả Quyết định số 3672/QĐ-BQP ngày 24-11-2020 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý chặt chẽ các hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật, báo chí Quân đội; động viên và phát huy tiềm năng, sức mạnh tinh thần, trí tuệ của cán bộ, chiến sĩ, văn nghệ sĩ Quân đội, các tổ chức quần chúng trong xây dựng môi trường văn hóa của đơn vị. Các cơ quan báo chí, đơn vị văn hóa-nghệ thuật Quân đội tăng cường nghiên cứu, sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật, tính chính trị cao, tôn vinh hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” cả trong thời kỳ chiến tranh cách mạng và công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay; góp phần ngăn ngừa các sản phẩm văn hóa xấu, độc thẩm thấu vào đơn vị, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần trong Quân đội theo đúng đường lối văn hóa của Đảng. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan văn hóa, thiết chế văn hóa các cấp trong Quân đội; thực hiện có hiệu quả các nội dung phối hợp hoạt động giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Công an, các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình, các cơ quan văn hóa của Trung ương và địa phương để đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Tiếp tục thực hiện Thông tư số 138/2020/TT-BQP ngày 10-11-2020 của Bộ Quốc phòng “Quy định chế độ, định mức, tiêu chuẩn đời sống văn hóa, tinh thần trong QĐND Việt Nam”. Chú trọng tôn tạo, xây dựng các di tích gắn với lịch sử truyền thống, của đơn vị để giáo dục bộ đội, góp phần giữ gìn, phát huy bản chất, truyền thống của Quân đội, của đơn vị, các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện những đơn vị làm tốt, mô hình hiệu quả để phát huy và nhân rộng; kịp thời chấn chỉnh những đơn vị làm chưa tốt, biểu hiện hình thức, hiệu quả thấp; đồng thời, phê phán nhận thức lệch lạc, thiếu trách nhiệm trong xây dựng môi trường văn hóa quân sự.

Năm là, tăng cường đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”

Quán triệt sậu sắc và thực hiện nghiêm túc quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, “với điều kiện và khả năng của mình hơn ai hết Quân đội phải đi đầu trong đấu tranh phản bác mạnh mẽ hơn nữa đối với những quan điểm sai trái, thù địch, không chỉ trên báo chí, mà ngay trong nội bộ cũng như ngoài xã hội, tuyệt đối không để những quan điểm sai trái xuất hiện tồn tại trong Quân đội”, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp cần nhận thức đúng vị trí, vai trò, trách nhiệm, thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”.

Tăng cường nắm bắt, đánh giá đúng thực trạng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; kịp thời có chủ trương, biện pháp lãnh đạo cụ thể, sát đúng, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Dự báo kịp thời, chính xác sự phát triển của tình hình; tích cực đấu tranh, chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, nhiều tầng, nhiều lớp, không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống. Cơ quan chính trị các cấp cần thực hiện tốt chức năng tham mưu, hướng dẫn, chỉ đạo; phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ chính trị, các tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân, chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền, cơ quan, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của Đảng trong Quân đội nói chung, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” nói riêng. Đồng thời, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành. Tăng cường kiểm tra, sơ kết, rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục khâu yếu, mặt yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở các đơn vị.

Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp tập trung xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Nhà nước và nhân dân, có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao” cho cán bộ, chiến sĩ. Đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trong xuyên tạc giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch. Tích cực trang bị những kiến thức cơ bản về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh cũng như các vấn đề khác cho bộ đội; tăng cường giáo dục về lịch sử, truyền thống của dân tộc, của Quân đội và đơn vị các giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng, thang giá trị đạo đức về “chân, thiện, mỹ”... Mặt khác, phải thường xuyên nắm, quản lý và giải quyết tốt tư tưởng của bộ đội, không để bị động, bất ngờ; “chủ động thông tin tích cực, kịp thời định hướng tư tưởng trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, góp phần nâng cao sức đề kháng, tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ”.

Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Tập trung xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nòng cốt đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Coi trọng công tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quân sự, tập trung nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phát hiện cái mới, vạch trần tính chất phản động, sai trái trong luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng tác chiến mạng, chuyên sâu đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, các lực lượng trong phát hiện, kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống “quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và những quan điểm, tư tưởng sai trái, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm phương hại đến truyền thống vẻ vang, phẩm chất cao đẹp và giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”.

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là sự kết tinh những giá trị đặc sắc của văn hóa quân sự Việt Nam, được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của QĐND Việt Nam tiếp thu, kế thừa, dày công xây đắp dưới sự lãnh đạo, tổ chức, giáo dục, rèn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phát huy và làm cho giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” được giữ vững và không ngừng tỏa sáng, góp phần xây dựng QĐND Việt nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.



Cách mạng Tháng Tám là “cướp chính quyền” hay “giành chính quyền”

 

            Thật buồn cho một người được ăn học đầy đủ và được giáo hội đào tạo trở thành người có tri thức nhưng những lời nói, hành động của cha Đặng Hữu Nam cho thấy sự hiện hữu của một con người lỗ mãng, cực đoan tôn giáo. Sau khi được về hưu sớm do nhận quyết định treo chén, cha Nam càng bộc lộ rõ bản tính hung hăng, với nhiều phát ngôn gây sốc trên mạng xã hội.

Không những vậy, với tư tưởng cực đoan tôn giáo, cho nên, những nhận định về vấn đề lịch sử của cha cũng trở nên bị méo mó. Mới đây, trên trang facebook cá nhân, cha Nam đã làm một hành động càng khiến nhiều người chê cười khi dùng từ “cướp chính quyền” để miêu tả về sự kiện “19/8” – một ngày quan trọng trong lịch sử Việt Nam.

Hằng ngày ta thường nghe nói tới từ “cướp” như “kẻ cướp”, “quân ăn cướp”, “bọn cướp nước”... Với cụm từ có dùng từ “cướp” bao hàm cử chỉ, hành động phi nghĩa, vô nhân đạo. Động từ “cướp” chỉ hành động xấu xa.

Cho nên, thưa với cha Nam, với ý nghĩa của cuộc cách mạng Tháng Tám không ai dùng thuật ngữ “cướp chính quyền” mà phải là “giành chính quyền”. Bởi vì, cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, bằng ý trí, hành động, những thế hệ cha ông đã quyết tâm, cố gắng bằng sức lực để giành lấy độc lập, tự do cho chính mình, kết thúc hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước Việt Nam. Thành công nhanh chóng và triệt để của cuộc cách mạng vĩ đại này chỉ có thể là lòng yêu nước thiết tha cháy bỏng của người dân Việt Nam khi ấy.

Vì vậy, một lần nữa, mong cha Nam hãy giữ sự trong sáng của tiếng Việt, mang danh là người có học thức, cha cần nên thận trọng với những phát ngôn của mình./.

“Giao trứng cho ác”

 

Giáo dục là quốc sách hàng đầu và là chủ đề luôn nhận được sự quan tâm đông đảo của dư luận. Có thể thấy chất lượng sách giáo khoa không chỉ ảnh hưởng đến kiến thức của học sinh mà còn tác động lớn đến tư duy, sự phát triển toàn diện và tương lai của họ và cho cả tương lai của đất nước, của chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thế nhưng trong quá trình xây dựng, biên soạn chương trình giáo dục phổ thông mới lại xuất hiện những vấn đề khá nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước, tồn vong của dân tộc.

Không hiểu tại sao Nguyễn Minh Thuyết và Trần Đình Sử là những người đòi bỏ điều 4 Hiến pháp để xóa bỏ vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng lại được tham gia vào xây dựng, biên soạn chương trình giáo dục phổ thông mới. Trần Đình Sử sử dụng mạng xã hội để công khai chửi rủa và bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng lại được giao cho vị trí quan trọng trong việc thẩm định sách giáo khoa thì liệu có khách quan? Chưa kể việc đề xuất việc hợp nhất môn học Lịch Sử và Địa Lý. Điều này khác gì loại bỏ môn học Lịch Sử khỏi môn học chính, xem nhẹ lịch sự dân tộc, truyền thống dân tộc, bỏ qua quá khứ.

Nghiêm trọng hơn, việc sửa đổi nội dung sách giáo khoa và chương trình giáo dục lại bị “lẫn” những thông điệp tiêu cực về lịch sử, hướng người học có thái độ “tiêu cực” đối với cách mạng Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam. Những tác phẩm vĩ đại về chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã bị loại bỏ, còn các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại bị làm nhòa đi bằng cách gán cho nhãn “bài đọc thêm”.

Tôi thấy quyết định của Quốc hội về việc thanh tra toàn diện các nội dung liên quan đến Cải Cách giáo dục phổ thông và biên soạn sách giáo khoa là hoàn toàn hợp lý, phù hợp và là một bước đi đúng hướng. Việc xây dựng và biên soạn chương trình phổ thông mới là rất quan trọng đến vận mệnh quốc gia, dân tộc nên cần phải cẩn thận, không được “giao trứng cho ác” và cần loại bỏ những người không đủ trách nhiệm và uy tín./.

NHẬN DIỆN "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG, AN NINH

 

Hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ diễn ra trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa... mà nó còn diễn ra trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, với các biểu hiện chính như sau:

Trước hết là sự thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay trong xã hội có một số người cho rằng: sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước có nhiều hạn chế, yếu kém, khó có khả năng bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nhất là việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, hành động vi phạm chủ quyền quốc gia trên biển thì trong tư tưởng và hành vi của những người này thể hiện sự bi quan, thiếu tin tưởng càng rõ rệt, thậm chí còn hoang mang, lo sợ. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét, xử lý các vấn đề về quốc phòng, an ninh, làm ảnh hưởng tới sức chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước.

Biểu hiện thứ hai là đòi đổi mới quốc phòng, an ninh theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này thể hiện bằng việc hướng mạnh ra nước ngoài, muốn học tập và đi theo các nước lớn, để mong chờ sự giúp đỡ từ nước ngoài về quốc phòng, an ninh. Họ mong muốn nước ngoài giúp đỡ về vũ khí trang bị, đổi mới quân đội theo hướng quân đội nhà nghề. Trong họ luôn tồn tại luồng tư tưởng “phải dựa vào một nước lớn nào đó thì mới giữ được độc lập chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này nghĩa là đã ngả sang thế lực thù địch, đến giai đoạn tiếp tay cho các thế lực thù địch phá hoại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh.

Thứ ba là xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước. Đây là biểu hiện phản ánh rõ ràng tính trầm trọng và nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Những người và tổ chức “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở mức độ này thường ra mặt công kích, chống đối dưới chiêu bài “phản biện” mọi chủ trương, đường lối của Đảng nói chung và về quốc phòng, an ninh nói riêng. Các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật, mọi hoạt động của LLVT... họ đều tìm cách để xuyên tạc, công kích. Mục đích cuối cùng của chiêu trò xuyên tạc là nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước và LLVT, đi đến phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và LLVT. Biểu hiện ở mức độ này có nghĩa họ đã đứng hẳn về phía thế lực thù địch, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và nhân dân Việt Nam.

Hiện nay ở nước ta đã xuất hiện một bộ phận người này, họ thường lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để ra sức công kích vào quan điểm, đường lối lãnh đạo, đối sách của Đảng về quốc phòng, an ninh. Thi thoảng họ lại tổ chức tụ tập, diễu hành, hòng kích động nhân dân, nhất là vào những dịp lễ Tết, các dịp đất nước có sự kiện lớn, hoặc mỗi khi trên Biển Đông có những biến động phức tạp. Vì vậy chúng ta cần phải nhận rõ các biểu hiện, âm mưu, thủ đoạn của họ, để kiên quyết đấu tranh, phê phán./.



“PHẢI CHỐNG THAM Ô LÃNG PHÍ. PHẢI LÀM SAO CHO TRONG QUÂN ĐỘI TA KHÔNG CÓ THAM Ô LÃNG PHÍ. PHẢI NÂNG CAO Ý THỨC VÀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG. PHẢI NÂNG CAO Ý THỨC TIẾT KIỆM”

 Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện với các đơn vị quân đội tại Quân khu 4, ngày 15/6/1957. Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Đất nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, để động viên khích lệ tinh thần học tập, lao động, chiến đấu của cả dân tộc, trong đó có lực lượng vũ trang; khi đến thăm các đơn vị quân đội tại Quân khu 4, Bác đã căn dặn: Có 3 điều khen ngợi, 4 điều phê bình, 5 điều dặn dò. Trong 05 điều dặn dò thì điều thứ tư là: “Phải chống tham ô lãng phí. Phải làm sao cho trong quân đội ta không có tham ô lãng phí. Phải nâng cao ý thức và kỷ luật lao động. Phải nâng cao ý thức tiết kiệm”.

Lời nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, không chỉ thể hiện sự quan tâm của Đảng, Bác Hồ đối với lực lượng vũ trang, mà còn thể hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong việc đấu tranh chống tham ô lãng phí, một “loại giặc” rất nguy hiểm tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi con người, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, cản trở sự phát triển bền vững của đất nước, cần phải kiên quyết đấu tranh.

Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam ra sức học tập, rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn nghiệm vụ; chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; kiên quyết đấu tranh phòng chống, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.

DỰA VÀO NHÂN DÂN ĐỂ XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta thường xuyên chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng. Trong đó, phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đại hội XIII tiếp tục xác định là nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

Sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của Đảng

Phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng là một nguyên tắc xây dựng Đảng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Bởi lẽ, Đảng ta không có mục tiêu nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Nhân dân là chỗ dựa vững chắc, là nguồn gốc sức mạnh của Đảng. Với Đảng, “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(1).

Vì thế, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm nền tảng của việc dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng là “theo đúng đường lối nhân dân”, với sáu nội dung cơ bản: “Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;/ Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;/ Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;/ Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;/ Sẵn sàng học hỏi nhân dân;/ Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo”(2).

Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của riêng Đảng, mà còn là trách nhiệm của nhân dân, bởi Đảng là của dân tộc; Đảng không có mục tiêu nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Muốn vậy, Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy dân chủ, bảo đảm phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách thực chất, hiệu quả.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn thấm nhuần và hết sức coi trọng việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Đại hội XIII của Đảng đánh giá toàn diện về phát huy vai trò của nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này trong thời gian tới, đặc biệt là sự vận dụng đầy đủ, toàn diện, sáng tạo, ngày càng sâu sắc hơn những nội dung, phương thức phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng là chủ trương xuyên suốt, nhất quán của Đảng ngay từ khi mới thành lập, là kinh nghiệm quý báu của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Các đại hội Đảng trước đây đều nêu vấn đề dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, cả trong Điều lệ Đảng và trong tổng kết bài học kinh nghiệm. Đại hội XIII của Đảng thể hiện tư duy mới và quyết tâm chính trị cao là “sửa chữa” từ trong nội bộ, để xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Đại hội yêu cầu phát huy vai trò quan trọng, sự tham gia có hiệu quả của nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, giữa các vùng, miền, địa phương; quan tâm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội. Quyết định số 23-QĐ/TW, ngày 30-7-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”, tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả thực hiện công việc, sự hài lòng, tín nhiệm và hạnh phúc của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định đặc biệt coi trọng, đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu. Đảng ta xác định 10 nhiệm vụ, giải pháp đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng(3); trong đó, nhấn mạnh việc tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả nhiệm vụ, giải pháp: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”(4).

Công tác dân vận là một nội dung rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Quan điểm Đại hội XIII của Đảng là cần nhận thức sâu sắc và rõ hơn về vai trò, nội dung của công tác dân vận; không nên hiểu dân vận chỉ là sự vận động một chiều từ phía Đảng, nhằm tác động tới quần chúng nhân dân, tuyên truyền, vận động, tổ chức nhân dân thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mà cần phải làm rõ hơn nữa vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng, ủng hộ và bảo vệ Đảng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận; có cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”(5).

Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò, tầm quan trọng của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Kết luận Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII có nội dung: “Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(6).

Quan điểm Đại hội XIII của Đảng là xây dựng Đảng gắn liền với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị. Vì vậy, việc nhân dân tham gia xây dựng Đảng cũng là góp phần quan trọng vào xây dựng Nhà nước, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhân dân phát huy được quyền làm chủ thực chất, tích cực, chủ động và tự giác tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là yêu cầu khách quan, bảo đảm củng cố, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, bản chất nhân dân của Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thực tiễn phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và một số vấn đề đặt ra hiện nay

Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo mang tính chiến lược về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về công tác dân vận và phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát, tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân thành các văn bản pháp luật và chỉ đạo tổ chức thực hiện. Những nỗ lực đó vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp, vừa thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở, để nhân dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng, thiết thực, gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, đa dạng hóa các hình thức, biện pháp để phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Cụ thể là:

Thứ nhất, Đảng dựa vào nhân dân trực tiếp tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nhân dân trực tiếp phản ánh, góp ý với cấp ủy về công tác cán bộ, chủ trương, đường lối của Đảng. Nhân dân có quyền góp ý, kiến nghị đối với tổ chức đảng và chính quyền, phát hiện yếu kém, khuyết điểm của tổ chức và cá nhân cán bộ, đảng viên, nhất là những hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”; hoặc tổ chức để nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua hoạt động của các cấp, các ngành, đối thoại, tiếp công dân, tiếp nhận và kịp thời chỉ đạo xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, giải quyết kiến nghị, phản ánh chính đáng của nhân dân, trong đó có những vấn đề liên quan đến đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Các cuộc vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện hiệu quả, đặc biệt là việc lấy ý kiến của nhân dân đối với dự thảo văn kiện đại hội đảng bộ các cấp, dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng,... đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp trên cả nước. Bầu không khí dân chủ trong Đảng, trong xã hội được mở rộng, gắn với việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và những kết quả tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí đã tạo sự tin tưởng, đồng thuận trong xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Ngày 30-7-2020, Ban Dân vận Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 21/KHBDVTW, “Về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân góp ý vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”; theo đó, Ban Dân vận Trung ương đã phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, tổ chức lấy ý kiến nhân dân, lấy ý kiến đại diện các tổ chức thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các nhân sĩ, trí thức, doanh nhân, chức sắc tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số, người Việt Nam ở nước ngoài, đội ngũ công nhân, nông dân, người lao động, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi. Điều đó cho thấy sự công phu, bài bản, trí tuệ, dân chủ và cầu thị trong xây dựng văn kiện, nghị quyết của Đại hội, thể hiện được sự gắn bó mật thiết giữa “ý Đảng” với “lòng Dân”. Các góp ý của đại diện các tầng lớp nhân dân thể hiện sự tâm huyết, thẳng thắn, tinh thần trách nhiệm cao đối với Đảng, nhân dân, đất nước. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, thể hiện tinh thần cầu thị, dân chủ ngày càng cao của Đảng, phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân tham gia vào quá trình hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Điều này thể hiện được chiều sâu của sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, giữa nhân dân với Đảng, phát huy tinh thần khối đại đoàn kết toàn dân tộc; qua đó, huy động trí tuệ toàn dân để xây dựng, hoàn thiện các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước.

Các hình thức góp ý với Đảng và giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng được chú trọng. Theo Kết luận số 54-KL/TW, ngày 9-5-2023, của Ban Bí thư, về “Tiếp tục thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 3-10-2017 của Ban Bí thư về tiếp tục phát huy vai trò của Nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; ở nhiều nơi đã hình thành nền nếp, thường xuyên, công khai, minh bạch việc thông tin, tổ chức để nhân dân tham gia thảo luận xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phương hướng, nhiệm vụ công tác của địa phương, cơ quan, đơn vị; động viên nhân dân tham gia giám sát hoạt động của tổ chức đảng và của cán bộ, đảng viên.

Các tỉnh ủy, thành ủy đã tổ chức đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy với nhân dân; việc xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo và những kiến nghị, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân, doanh nghiệp được quan tâm, chỉ đạo thực hiện. Nhiều vụ, việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, các biểu hiện vi phạm đạo đức công vụ, văn hóa truyền thống được báo chí, phương tiện truyền thông xã hội phát hiện, phản ánh, lên án, đã giúp các cơ quan chức năng nhanh chóng vào cuộc kiểm tra, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Việc tổ chức lấy ý kiến nhận xét của nhân dân nơi cư trú (thôn, xóm, tổ dân phố) đối với cán bộ, đảng viên trước khi kiểm điểm cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên theo định kỳ được thực hiện nghiêm túc. Cùng với việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, việc lấy phiếu tín nhiệm trong Đảng, Quốc hội, hội đồng nhân dân là cách thức hữu hiệu để nhân dân giám sát việc thực hiện trách nhiệm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo.

Thông qua hoạt động của các tổ tự quản của nhân dân ở cơ sở, ban thanh tra nhân dân, các tổ giám sát cộng đồng là cách thức quan trọng để nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để thực hiện nội dung này, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp để ngày càng phát huy mạnh mẽ vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách trực tiếp, hiệu quả. Cùng với việc ban hành Hiến pháp năm 2013, nhiều quy định đã được sửa đổi, bổ sung để phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để thực hiện nghiêm túc phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(7). Những quy định này góp phần tăng cơ hội để nhân dân góp ý xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giám sát đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức để tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Thứ hai, nhân dân gián tiếp tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua hoạt động của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và các đại biểu do nhân dân bầu; thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Nhân dân là người lựa chọn, bầu ra các đại biểu tham gia Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan dân cử. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 đã thành công tốt đẹp. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân để bầu ra những đại biểu ưu tú, tiêu biểu nhất đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, nhằm xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 có số lượng cử tri đi bầu lớn nhất từ trước đến nay, với 69.523.277 cử tri và tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu là 69.243.939 người (đạt 99,6%); cử tri cả nước đã thực hiện bầu được 3.721 đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh, 22.550 đại biểu hội đồng nhân dân cấp huyện, 239.788 đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã.

Thông qua hoạt động của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân gửi đến nghị trường Quốc hội, những vấn đề nhân dân quan tâm, bức xúc, những nội dung cần tháo gỡ về cơ chế, chính sách, pháp luật,... đã được bàn bạc, thảo luận công khai, dân chủ, xử lý phù hợp; qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội cũng như của các cơ quan dân cử.

Thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, mỗi cán bộ, đảng viên cùng nhân dân tích cực tham gia giám sát các cơ quan, tổ chức đảng trong việc thực hiện các nhiệm vụ theo đúng chức năng, quyền hạn của cơ quan, đơn vị đó; tham gia giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền, những người công tác ở lĩnh vực nhạy cảm, dễ nảy sinh vi phạm,...; qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiều mặt trong công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát việc chấp hành và tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng.

Công tác giám sát, phản biện xã hội được triển khai thực hiện đồng bộ trong toàn hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã tổ chức 16.770 đoàn giám sát, nghiên cứu, xem xét 19.264 văn bản, tham gia giám sát 28.031 cuộc; chủ trì tổ chức 5 hội nghị phản biện xã hội đối với các dự thảo luật quan trọng(9); góp ý 58 văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức 5.618 hội nghị phản biện xã hội, gửi 10.402 văn bản phản biện; tổ chức 520 hội nghị đối thoại phản biện trực tiếp. Trong năm 2022, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố ban hành 25.575 báo cáo tình hình nhân dân; tổ chức được 43.844 hội nghị lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân(10).

Một số vấn đề đặt ra trong phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng hiện nay

Trong những năm qua, mặc dù nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng và cả hệ thống chính trị trong thực hiện chủ trương dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện còn  gặp phải những khó khăn, hạn chế nhất định; vì thế, chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Một số cấp ủy, chính quyền nhận thức về vấn đề này chưa thật sự sâu sắc và đầy đủ, thậm chí có nơi còn vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, ngại tiếp xúc, đối thoại với nhân dân, thiếu trách nhiệm trong giải quyết nguyện vọng chính đáng, bức xúc của người dân. Một số cấp ủy, tổ chức đảng  chưa xử lý kịp thời hoặc giải quyết không hợp lý những vụ, việc được nhân dân phản ánh, thậm chí còn có hiện tượng bao che. Ở nhiều nơi, việc giám sát, đóng góp ý kiến của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, ví dụ như có đặt hòm thư góp ý ở cơ quan, đơn vị, nhưng nhận được rất ít hoặc không nhận được ý kiến đóng góp, kiến nghị của nhân dân.

Việc tiếp nhận, xử lý ý kiến, kiến nghị của nhân dân ở một số cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính quyền chưa thấu tình, đạt lý, dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp và kéo dài, tạo “điểm nóng”, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, thu hồi, sử dụng đất. Người dân còn có biểu hiện né tránh, e ngại trong việc góp ý, phê bình cán bộ, đảng viên, không dám tố giác hành vi tham nhũng, tiêu cực, lãng phí,...

Những hạn chế này đã được Đảng ta chỉ ra: “Vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”(11). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng nhận định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”; “Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả”(12).

Tiếp tục thực hiện hiệu quả chủ trương dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Đại hội XIII trong thời gian tới

Nhằm thực hiện hiệu quả chủ trương dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về quyền làm chủ, ý thức trách nhiệm của nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tuyên truyền sâu rộng các nội dung căn bản và cốt yếu của xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nội dung xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị. Làm rõ giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng của Đảng, gắn liền với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng và toàn xã hội, nêu cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Làm cho nhân dân nắm được hoạt động của hệ thống tổ chức đảng, cũng như về năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; hiểu rõ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và yêu cầu, tiêu chuẩn của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược.

Các cấp ủy, chính quyền cần tuyên truyền, vận động để mỗi người dân nhận thức rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của mình trong tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Mỗi người dân cần nhận thức rõ khi thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng chính là giúp cho Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, cũng là để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, dân tộc và đất nước. Khi nhận thức rõ ràng và đầy đủ, mỗi người dân sẽ nâng cao được tinh thần tự giác của mình; đồng thời, các tổ chức đảng, chính quyền các cấp có thể vận động nhân dân tham gia đóng góp, xây dựng Đảng, xây dựng và bảo vệ các thiết chế bảo đảm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân một cách thuận lợi và hiệu quả hơn.

Hai là, tiếp tục khẳng định vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của quần chúng nhân dân trong quá trình xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước; thực hành dân chủ rộng rãi, công khai, trước hết là dân chủ trong Đảng. Phát huy dân chủ phải được coi là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nhân dân tham gia hiệu quả vào công cuộc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, là cơ sở quan trọng để Đảng dựa vào nhân dân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chủ động rà soát, bổ sung, cụ thể hóa những nội dung về phát huy dân chủ được quy định trong Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của Đảng và trong hệ thống chính trị.

Ba là, xây dựng cơ chế phù hợp (cơ chế đối thoại, bàn bạc và lắng nghe ý kiến của nhân dân), tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng có hiệu quả. Đảng, Nhà nước luôn xác định “dân là gốc”, luôn tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng: “Phát huy vai trò, sự tham gia của nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, giữa các vùng, địa phương; quan tâm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng””(13).

Từng bước hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Quy chế về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các văn bản pháp luật liên quan đến quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện dân chủ ở cơ sở,... Cần phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân trong việc đánh giá, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên về thực hiện chức trách, nhiệm vụ, các nội dung liên quan đến phẩm chất, đạo đức, lối sống,...

Bốn là, Đảng, Nhà nước tiếp tục triển khai thực hiện tốt chủ trương, chính sách bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; nâng cao chất lượng đời sống mọi mặt cho người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết tốt những vấn đề bức xúc hiện nay. Việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân sẽ góp phần nâng cao hơn nữa niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; từ đó, góp phần phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân, tăng tính hiệu quả, chất lượng đóng góp của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Năm là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phải thực sự gần dân, sát dân, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, đóng vai trò quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tích cực vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, góp phần xây dựng, phát triển đất nước nhanh và bền vững trong bối cảnh mới.

Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội chủ động, tích cực, sáng tạo hơn nữa trong phát huy vai trò của nhân dân, phát huy dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là vai trò của nhân dân tham gia giám sát các cơ quan, tổ chức đảng, hệ thống chính trị thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình; tăng cường giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Tập trung giám sát, phản biện xã hội trong quá trình xây dựng chủ trương, nghị quyết, đường lối của Đảng; ban hành chính sách, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, bảo đảm sát thực tiễn, thể hiện sự hòa hợp, gắn bó giữa “ý Đảng” với “lòng Dân”, tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội.

Sáu là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt là chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt đủ phẩm chất, năng lực, uy tín; thực sự trọng dân, gần dân, hiểu dân; có trách nhiệm và biết phát huy vai trò, quyền làm chủ của nhân dân, thực sự hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng cần kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tạo cơ sở chính trị - pháp lý và niềm tin vững chắc của nhân dân đối với Đảng, cùng nhân dân xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng nặng nề, phức tạp hơn trong giai đoạn phát triển mới của đất nước./.


VÌ SAO KHỐNG CHẾ TIỀN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC

 Quy định tiền đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) cao nhất bằng 20 lần lương cơ sở nhằm giảm chênh lệch lương hưu giữa lãnh đạo và người lao động, trong khu vực nhà nước và tư nhân.

Cả nước có khoảng 3,4 triệu người nhận lương hưu, trợ cấp BHXH với mức hưởng bình quân 4,6-5,6 triệu đồng mỗi tháng. Trong đó có 471 người hưởng trên 20 triệu đồng (chiếm tỷ lệ 0,013%). Người hưởng cao nhất nước hiện sống tại TP Hồ Chí Minh với mức lương hưu 124,7 triệu đồng. Nhóm hưởng cao đều là lãnh đạo công ty tư nhân, liên doanh, doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam.

Một lãnh đạo ngành bảo hiểm xã hội cho biết trước năm 2008 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 không khống chế trần đóng BHXH bắt buộc nên nhiều người chọn đóng theo thu nhập, thậm chí bằng ngoại tệ khi quy đổi ra tiền Việt tới 200 triệu đồng. Sau giai đoạn trên, những người này tiếp tục đóng ở mức tối đa nên hưởng lương hưu cao.

Không có trần đóng BHXH bắt buộc khiến mức đóng chênh lệch nhiều lần, tạo khoảng cách lớn về lương hưu giữa lãnh đạo doanh nghiệp với người lao động, khu vực nhà nước với khối tư nhân. Đặc biệt công chức, viên chức nhà nước vẫn đóng trên nền tiền lương cơ sở nhân với hệ số nên tiền lương hưu không cao.

Để rút ngắn khoảng cách trên, khi sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội 2006, các cơ quan thống nhất ra quy định khống chế trần tiền đóng BHXH hàng tháng bằng 20 lần mức lương cơ sở (hiện tại khoảng 29,8 triệu đồng).

"Khống chế trần đóng nhằm điều chỉnh chênh lệch lương hưu cao - thấp, phù hợp với thu nhập và mức sống trung bình của toàn xã hội, không phải vì lo ngại ảnh hưởng tới Quỹ Hưu trí. Vì trên thực tế, những người này cũng đã đóng khoản tiền rất cao vào quỹ", lãnh đạo ngành bảo hiểm xã hội giải thích.

Nguyên Thứ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội Phạm Minh Huân cho biết hưu trí dựa trên đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm xã hội là tầng an sinh cơ bản nên tiền đóng ở mức vừa phải để lương hưu không chênh lệch quá lớn.

Ngoài khống chế trần đóng, cơ quan quản lý khi ấy cũng nhìn ra thực tế mỗi lần điều chỉnh lương hưu với tỷ lệ chung sẽ ngày càng tạo ra khoảng cách lớn. Ông Huân lấy ví dụ nếu điều chỉnh 10% trên mặt bằng lương hưu bình quân 4 triệu đồng, tiền tăng thêm là 400.000 đồng mỗi tháng mỗi người. Nhưng với người lương hưu cao 100 triệu đồng chẳng hạn, số tiền tăng thêm là 10 triệu đồng.

Khi đó, có ý kiến đề xuất không áp dụng tỷ lệ tăng chung mà phân loại các nhóm để điều chỉnh mức khác nhau, nhóm lương hưu thấp thì tỷ lệ tăng cao và ngược lại. Nhưng bảo hiểm xã hội thực hiện theo nguyên tắc đóng - hưởng, người tham gia vào Quỹ bao nhiêu thì phải để cho họ hưởng với tỷ lệ đúng quy định. Lo ngại siết hưởng cũng gặp phản ứng của người đóng lẫn dư luận không đồng tình nên cuối cùng đề xuất bị bác bỏ.

Bên cạnh ưu điểm, việc khống chế trần đóng BHXH bắt buộc cũng tạo bất cập khi người thu nhập cao không thể đóng vượt trần để nâng tiền lương hưu mức cao dù rất mong muốn, nhất là người làm việc ngoài nhà nước, lãnh đạo doanh nghiệp hoặc người có trình độ. Vì vậy, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 có thêm chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung để người có nhu cầu đóng cao hơn được chuyển sang tầng này.

Bảo hiểm hưu trí bổ sung chính thức triển khai từ năm 2018. Cơ chế tạo lập quỹ từ sự tự nguyện đóng góp của lao động và chủ sử dụng dưới hình thức tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định. Nhà nước không hỗ trợ đóng góp, không đảm bảo về kết quả đầu tư và mức chi trả mà chỉ khuyến khích phát triển thông qua ưu đãi về thuế.

Ông Huân cho rằng hưu trí bổ sung là tài khoản cá nhân và mang tính chất tự nguyện, nên về lâu dài Nhà nước cần nới chính sách miễn thuế cho phần đóng này để khuyến khích người thu nhập cao tham gia. Khoản này có thể dùng đầu tư vào công trình lớn và đến thời điểm người đóng nghỉ hưu thì chi trả cho họ.

Bộ Tài chính hiện cấp chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ quản lý quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện cho bốn doanh nghiệp. Các công ty này đang vận hành 5 quỹ hưu trí bổ sung với 890 người tham gia, tài sản ròng 84,6 tỷ đồng. Theo Bộ Tài chính, đây là chính sách tự nguyện nên cần thời gian để doanh nghiệp lẫn lao động nắm bắt thông tin. Chính sách thuế với người tham gia đóng góp chưa thực sự ưu đãi nên triển khai chậm, chưa hấp dẫn.

Đến cuối năm 2022, Quỹ Bảo hiểm xã hội đạt 1,2 triệu tỷ đồng. Hơn 17,2 triệu người tham gia, đạt gần 38% lực lượng lao động trong độ tuổi. Cả nước hiện có hơn một triệu người nhận lương hưu từ ngân sách nhà nước với mức bình quân 4,6 triệu đồng mỗi người một tháng; hơn 2,3 triệu người nhận lương hưu từ Quỹ Bảo hiểm xã hội với tiền hưởng bình quân 5,6 triệu đồng. Dự kiến từ 1/7, lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp hàng tháng điều chỉnh tăng 12,5-20,8% tùy từng nhóm thụ hưởng./.


Kịch liệt lên án những luận điệu chống phá Đảng

         Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chưa bao giờ dừng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Đứng sau những luận điệu nhằm vẽ nên một bức tranh u tối về đất nước, đó vẫn là những cái tên, những tổ chức chẳng hề xa lạ, nơi bắt nguồn của những thông tin sai lệch, những phát ngôn thù hằn, kích động. Phía sau những luận điệu hoạt động chống phá này, có một điều không hề thay đổi và các đối tượng này cũng chẳng hề giấu giếm, đó là hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam qua việc đả kích tính chính danh, đồng thời nhồi nhét tư tưởng về đa nguyên đa đảng, hòng tiến tới thay đổi chế độ ở nước ta.

Nên nhớ rằng, từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ là một đảng cách mạng chân chính nhất, có sức hội tụ lớn nhất mọi sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, sớm trở thành đội tiên phong của giai cấp và của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến.

Trong tác phẩm "Đường Cách mệnh" Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra có ba thứ cách mệnh là: Tư bản cách mệnh, dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh. Lãnh tụ Hồ Chí Minh khẳng định: "Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản". Để thực hiện được mục tiêu đó, Hồ Chí Minh khẳng định: "Trước hết phải có Đảng Cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy".

Trải qua hơn 93 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. 15 năm sau khi thành lập, Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đánh đuổi đế quốc, thực dân, lật đổ chế độ phong kiến, lập ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á; mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam đã nghe theo lời kêu gọi của Đảng, của Bác Hồ, lên đường kháng chiến và cuối cùng đã giành được thắng lợi to lớn, đánh thắng đế quốc xâm lược và lập lại hoà bình ở miền Bắc Việt Nam. Trong hoàn cảnh đất nước tạm bị chia làm hai miền, Đảng đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Khi Mỹ đưa quân vào xâm lược ở miền Nam, tiến hành chiến tranh cục bộ đánh phá các căn cứ cách mạng ở miền Nam và mở rộng chiến tranh xâm lược ra miền Bắc (1964), Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân hai miền "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc (1975), đưa cả nước đi lên CNXH.

Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là vấn đề chiến lược có tính nguyên tắc, bởi vậy, cần kế thừa và phát triển những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kịch liệt lên án các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá Đảng./.