Thứ Năm, 24 tháng 8, 2023

CẦN XỬ LÝ NGHIÊM KẺ GIẢ DANH TU SĨ

 

Mới đây, cộng đồng mạng dấy lên hình ảnh một người mặc áo tu sĩ Phật giáo bị cơ quan chức năng triệu tập về trụ sở công an vì có nghi vấn sử dụng chất cấm tại một quán bar. Nhiều người không khỏi bức xúc, cho rằng những hình ảnh trên đang làm xấu hình ảnh của Phật giáo.

Xác minh thông tin đây là Nguyễn Minh Phúc (sinh năm 1983, ngụ tại nhà số 174/13A ấp Láng Cát, xã Tân Phú Trung (tự xưng là “chùa Hoằng Pháp Trung ương”). Phúc nhiều lần khoe trên mạng được tặng thưởng nhiều huân chương, bằng khen của lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ… và tự xưng là “Đại đức Thích Tâm Phúc”, "trụ trì chùa Hoằng Pháp Trung ương"...

Tuy nhiên, qua xác minh, các giấy tờ do Phúc đưa lên như chứng điệp thọ giới, giấy chứng nhận Tăng Ni, quyết định bổ nhiệm trụ trì “chùa Hoằng Pháp Trung ương”… mang tên “Đại đức Thích Tâm Phúc” (Nguyễn Minh Phúc) được ghép, sao chụp ảnh chữ ký của lãnh đạo và khuôn dấu của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN... Thậm chí, kể cả bằng khen hay huy chương mà Phúc “được tặng thưởng” cũng đều do y làm giả.

Một kẻ giả mạo, làm xấu hình ảnh tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam là một hành vi cần phải xử lý nghiêm minh. Hi vọng Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các cơ quan chức năng có biện pháp xử lý nghiêm đối với những hành vi của Nguyễn Minh Phúc./.

SUY NGHĨ CỦA TUỔI TRẺ HÔM NAY VỀ NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ (27/7/1947 –27/7/2023)

 Có lẽ hiếm nơi nào trên thế giới mà di chứng chiến tranh để lại nhiều như ở Việt Nam. Dù bất cứ nơi đâu, từ phố phường chật hẹp đến làng quê “cò bay thẳng cánh” đều có những nghĩa trang liệt sỹ ken dày mộ chí. Phần lớn trong số những người ngã xuống mới mười tám đôi mươi, lứa tuổi đẹp nhất cuộc đời. Họ bước vào cuộc chiến với tâm thế của những anh hùng, họ biết đặt cái khát khao giành độc lập, tự do lên trên sinh mạng của chính mình. Nhờ thế, đất nước Việt Nam được định hình trên bản đồ thế giới cũng từ tinh thần hy sinh cao cả ấy.

Chiến tranh đã đi qua nhiều năm nhưng những hậu quả và dư âm của nó còn sót lại vẫn rất lớn lao và khốc liệt, ghi dấu mãi mãi trong tâm trí mỗi thế hệ người dân Việt Nam, ngày 27/7 lại đang đến gần, đó là ngày mà nhân dân cả nước đã giành riêng để tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống hy sinh vì đất nước, vì độc lập tự do. Các anh ra đi vì những mục tiêu cao đẹp và ngã xuống hào hùng, bàn tay của giặc đã tàn phá dày xéo đất nước nhưng không bao giờ làm thay đổi được bản chất của con người Việt Nam. “Uống nước nhớ nguồn”, đó là đạo lý tốt đẹp của dân tộc, và chúng ta có được hòa bình độc lập như ngày hôm nay chính là nhờ một phần lớn công lao của các thế hệ đi trước. Hãy cùng tưởng niệm các anh hùng dân tộc.

Không ai chọn cho mình cách c.hết, cũng không ai muốn mình phải c.hết và không có cái c.hết nào có ý nghĩa bằng được sống. Nhưng khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng bị đ.e dọa, của cải, ruộng nương làng mạc bị xâm chiếm thì lựa chọn cái c.hết để đất nước được trường tồn là một lựa chọn vinh quang và cao cả. Mỗi một thân x.ác nằm xuống, mỗi một phần thi thể mất đi là một ánh hào quang soi sáng hơn con đường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đó là những dòng chữ bằng vàng khắc sâu vào lịch sử 4 nghìn năm dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc.

Đất nước đã hòa bình, nhưng chiến tranh chưa hẳn đã lùi xa, hàng ngày hàng giờ các thế lực thù địch, phản động lưu vong vẫn nhăm nhe chia cắt đất nước, những loại tội phạm nguy hiểm vẫn chực chờ cơ hội, thiên tai lũ lụt vẫn hoành hành.

Thấu hiểu những hy sinh to lớn đó, Bác Hồ đã viết: “M.áu đào của các liệt sỹ đã nhuộm lá cờ cách mạng càng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sỹ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”. Cho nên đối với “những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng”, và Người giải thích: “Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy, mọi người phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sỹ để vượt qua tất cả khó khăn, gian khổ hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sỹ đã để lại”.

“Ngày 27/7 đã đi vào lịch sử đất nước như một dấu ấn nhắc nhở mọi người về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc Việt Nam.

Vì Tổ quốc, vì Nhân dân, rất nhiều người con của dân tộc, trong đó có những con người tuổi đời mới mười chín, đôi mươi như là Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc…đã để lại phía sau hạnh phúc riêng tư, những trang sách, giảng đường… sẵn sàng lên đường đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Để đất nước được giải phóng, được thống nhất như ngày hôm nay, rất nhiều người đã anh dũng hy sinh hay để lại một phần thân thể ở chiến trường. Họ sống và chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “tất cả vì Tổ quốc thống nhất ”.

Xin được gửi lời tri ân thành kính tới các thế hệ đã chiến đấu vì độc lập tự do, vì sự bình yên cho Tổ quốc hôm nay. Sống trong cảnh hòa bình, được cất tiếng hát ca sẽ không quên mảnh đất dưới chân mình đã thấm đượm mồ hôi, xương m.áu của cha anh đi trước, và xin nguyện sống xứng đáng với những kỳ vọng của các thế hệ đi trước.

Hồn thiêng dân tộc đã che chở cho đất nước luôn thái bình, cầu mong những phần mộ liệt sỹ thất lạc tìm thấy và an nghỉ, xin chúc những bác thương binh đều có cuộc sống ổn định và được đền đáp xứng đáng khi đã cống hiến tuổi xuân cho đất nước. Kính chúc các mẹ Việt Nam anh hùng luôn mạnh khỏe. Chúng ta phải luôn trân trọng giá trị hòa bình ngày hôm nay 76 mùa thu đi qua là 76 mùa tri ân, ngày 27/7 trở thành ngày mà những người còn sống mãi mãi không được quên, không thể quên. Mặt khác, phải thể hiện lòng tri ân một cách thiết thực, hiệu quả thường xuyên, coi việc mình làm cho thân nhân liệt sỹ, thương binh là làm thay những người con ưu tú đã hy sinh vì Tổ quốc, vì mình, vì cả dân tộc Việt Nam. Mỗi một người trẻ hôm nay hãy sống sao cho xứng đáng với sự ra đi của các anh, hãy tự răn mình bằng những việc làm hữu ích cho non sông đất nước.

Chính vì vậy việc tri ân đối với những người, những gia đình có công với cách mạng không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân chúng ta, những con người đang được sống trong một đất nước hòa bình nhờ công sức, xương m.áu cha, anh đổ xuống, mà đó còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Đó là thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta./.

BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA BỐI CẢNH MỚI

             Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trước những tác động của bối cảnh mới không chỉ nhằm khẳng định đặc trưng, thuộc tính thể hiện sự ưu việt của nó so với các học thuyết lý luận khác trong lịch sử, mà còn là mệnh lệnh, yêu cầu sống còn đối với những người cộng sản chân chính.

Chủ nghĩa Mác - Lênin là thành tựu nổi bật và vĩ đại của trí tuệ loài người về lý luận phát triển xã hội trong lịch sử thế giới cận đại và hiện đại. Sức sống và ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được chứng minh bằng các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống áp bức bóc lột, vì một xã hội công bằng, tiến bộ, mà đỉnh cao là thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Đối với cách mạng Việt Nam, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định chủ nghĩa Mác - Lênin là cốt, là gốc, là nền tảng tư tưởng. “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.

Bước sang thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; cách mạng khoa học - công nghệ (KHCN); sự bùng nổ và kết nối của thông tin; kinh tế tri thức, kinh tế số phát triển mạnh mẽ;… đã và đang là những yếu tố tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội, đòi hỏi các quốc gia phải quan tâm đổi mới, hội nhập, tìm kiếm cho mình học thuyết và mô hình phát triển phù hợp. Vì vậy, sự đấu tranh về ý thức hệ không những không mất đi mà còn gay gắt và phức tạp hơn bao giờ hết. Đặc biệt, cuộc cách mạng KHCN hiện đại đã làm biến đổi sâu sắc và toàn diện nền kinh tế thế giới, nhất là ở các nước tư bản phát triển. Sự phát triển về kinh tế dựa trên nền tảng tri thức đã tác động đến các giai tầng xã hội, đặc biệt là giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân hiện nay đã có những biến đổi cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng. Theo đó, tỷ lệ công nhân trong các ngành dịch vụ và các ngành công nghiệp có ứng dụng KHCN có chiều hướng tăng lên; trình độ người công nhân đang tăng lên đáng kể và có sự xuất hiện “công nhân toàn cầu”,... Trước những biến đổi ấy, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng: giai cấp công nhân hiện nay đang dần “teo đi” và “bị hòa tan” vào các giai cấp khác; vai trò, sứ mệnh lịch sử hiện nay không còn là của giai cấp công nhân mà thay vào đó là tầng lớp trí thức... Đây là những luận điệu biện hộ cho địa vị thống trị, bóc lột và sự tồn tại “vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản (CNTB).

Để xem xét vai trò lịch sử của một giai cấp, phải dựa trên cơ sở địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp đó, chứ không phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của bất kỳ cá nhân hoặc lực lượng xã hội nào. Trong lịch sử, chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) đã từng chiến thắng chế độ phong kiến, vì chính họ đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất mới dựa trên nền đại công nghiệp, tiến bộ hơn hẳn phương thức sản xuất lạc hậu của chế độ phong kiến. Trong các cuộc cách mạng ấy, giai cấp tư sản luôn là những người lãnh đạo. Vì thế, như một quá trình lịch sử tự nhiên, sự sụp đổ của chế độ TBCN và sự thắng lợi của xã hội cộng sản chủ nghĩa đều tất yếu như nhau. Trong xã hội tư bản, giai cấp công nhân là con đẻ của nền đại công nghiệp, là lực lượng sản xuất tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến - phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Và vì thế, lịch sử lựa chọn và quy định họ là giai cấp duy nhất có sứ mệnh xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), chủ nghĩa cộng sản.

Sau gần 500 năm phát triển, CNTB đã tạo ra lực lượng sản xuất không lồ. Song thực chất, đó là thành tựu chung của nhân loại chứ không phải sản phẩm riêng có của giai cấp tư sản, của CNTB. Sự phát triển đó đã tạo cơ sở vật chất giúp cho CNTB có thể tận dụng những thành tựu KHCN mới để kéo dài tuổi thọ. Tuy nhiên, trong lòng thế giới tư bản hiện đại, mâu thuẫn vốn có giữa lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất không những không mất đi mà có mặt còn sâu sắc hơn và lan rộng hơn. Dù có biến đổi, thích nghi thế nào, CNTB hiện đại vẫn không thể che đậy được bản chất bóc lột và phản động, trong đó có sự mở rộng đến các nước đang phát triển bằng các hình thức nô dịch kinh tế và chủ nghĩa cường quyền mới về chính trị, kinh tế và quân sự. Mâu thuẫn xã hội cơ bản giữa tư bản và lao động; giữa những người nghèo và những người giàu không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà đã phát triển ở tầm quốc tế - đó là mâu thuẫn giữa các nước nghèo và các nước giàu, giữa các nhóm nước kinh tế phát triển với nhóm nước kinh tế đang phát triển, giữa Nam với Bắc, Đông với Tây.

Bên cạnh đó, cách mạng KHCN hiện đại cùng với sự điều chỉnh thích nghi của CNTB tác động đến quan hệ sản xuất làm thay đổi về mặt hình thức địa vị của giai cấp công nhân, một bộ phận khá đông công nhân có cổ phần, cổ phiếu trong các nhà máy, xí nghiệp,... Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch rêu rao rằng: “Giai cấp công nhân không còn bản chất cách mạng nữa”; CNTB đã phát triển thành “chủ nghĩa tư bản nhân dân”,... Thực chất đây là những luận điệu xuyên tạc, thiếu căn cứ. Bởi lẽ, đây là sự phản ánh mức sống trong điều kiện mới (do tiến bộ chung của sự phát triển xã hội); đồng thời, là kết quả đấu tranh liên tục, bền bỉ của chính giai cấp công nhân suốt nhiều thế kỷ qua. Bản thân giai cấp công nhân vẫn chỉ là những lao động làm thuê cho nhà tư bản, dù đảm nhiệm cương vị nào.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, cũng như sự biến đổi cơ cấu xã hội của giai cấp công nhân đã làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện đại trong xã hội tư bản không giống như những mô tả của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin trong thế kỷ XIX, XX. Thế nhưng, dựa vào những biến đổi đó để đi đến kết luận chủ quan rằng: giai cấp công nhân không còn bản chất cách mạng nữa là sai lầm cả về chính trị và khoa học. Công nhân hiện nay dù có cổ phiếu cũng chẳng làm thay đổi được địa vị làm thuê và bị bóc lột trong xã hội tư bản. Việc mua bán cổ phiếu ở các nước tư bản đã tạo nên cái gọi là hiệu ứng của cải, làm cho “tư bản giả” ngày càng tăng lên so với thực tế. Điều này càng nói lên tính chất ăn bám của CNTB độc quyền, chứ chẳng phải CNTB đã là “CNTB nhân dân” như các học giả tư sản đã cố tình tô vẽ. “Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ... Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó”. Dù trong lòng xã hội tư bản, đời sống của người lao động đã có sự cải thiện đáng kể, song số người nghèo khổ vẫn ngày càng tăng. Sự phát triển của các tập đoàn tư bản, các công ty tư bản xuyên quốc gia cùng sự bòn rút tài nguyên và bóc lột nhân dân nhiều nước thuộc thế giới thứ ba; các cuộc chiến tranh đẫm máu chống các quốc gia có chủ quyền do chủ nghĩa đế quốc phát động... là nguyên nhân chủ yếu khiến cho hàng trăm triệu người bị đe dọa chết đói, hàng tỷ người sống trong cảnh khốn cùng, thất nghiệp,... Những thống kê về tình trạng thất nghiệp, đói nghèo, lạm phát sau đại dịch COVID-19 vừa qua là minh chứng rõ nét nhất cho tình trạng bất bình đẳng trong xã hội hiện nay...

Cách mạng KHCN hiện đại là quá trình làm cho thế giới ngày càng mang tính chỉnh thể hơn, cho nên càng làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia - dân tộc. Các quốc gia - dân tộc để hội nhập đều phải đẩy mạnh tăng cường hợp tác, giao lưu, hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực nhằm khai thác những tiềm năng, lợi thế của mình. Điều này khiến nhiều người dường như đã lãng quên vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp; một số học giả cho rằng chúng ta đang sống trong “mái nhà chung”, “thế giới phẳng” nên không còn và cũng không cần phải đấu tranh giai cấp, theo đó, lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thực sự lỗi thời (!). Chúng ta cần phải tiếp tục khẳng định rằng, vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp luôn tồn tại trong suốt quá trình tiến lên CNXH, thể hiện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, chừng nào xã hội không còn giai cấp đối kháng về lợi ích kinh tế, lập trường chính trị thì chừng đó vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp mới mất đi.

Trước sự tác động của cách mạng KHCN, giai cấp tư sản luôn dùng mọi thủ đoạn tinh vi hòng phủ nhận lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Song, thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiếp tục diễn ra theo quy luật phát triển của xã hội loài người, vẫn là cuộc đấu tranh “ai thắng ai” trên bình diện quốc tế cũng như trong điều kiện cụ thể của từng quốc gia - dân tộc. Bài học về sự sụp đổ chế độ XHCN ở các nước Liên Xô và Đông Âu trước đây vẫn luôn mới mẻ đối với người cách mạng. Bất kỳ ở đâu, thời điểm nào, nếu coi nhẹ hoặc không đếm xỉa đến tính phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội,... thì cách mạng sẽ phải trả giá đắt. Học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị./.

TẠI SAO LẠI CỨ THỜ Ơ, VÔ CẢM TRƯỚC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

             Có lẽ cần phải nhắc lại câu nói này của đồng chí Võ Văn Thưởng, khi đồng chí ấy đang là UVBCT, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, để mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta tự soi lại mình, tự suy ngẫm xem mình đã làm được như lời đồng chí Võ Văn Thưởng mong muốn chưa?

Tôi nghĩ, nếu tất cả đảng viên đều làm được như lời đồng chí Võ Văn Thưởng nói thì mỗi ngày sẽ có hàng triệu thông tin tốt, đè bẹp những thông tin xấu. Và như vậy là chúng ta đã thực hiện được việc "ăn cây nào rào cây ấy" chứ không chỉ biết hưởng thụ mà thờ ơ, vô cảm, sợ hãi vu vơ; và như vậy cũng là góp phần tích cực vào việc "phủ xanh" thông tin tốt trên mạng xã hội, "lấy cái đẹp dẹp cái xấu", "lấy cái tích cực dẹp cái tiêu cực". Nếu mỗi cán bộ, đảng viên không làm được như vậy thì thử hỏi quần chúng, nhân dân sẽ thế nào?

Sự tồn vong của chế độ phụ thuộc vào thái độ, trách nhiệm, việc làm của mỗi đảng viên. Thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, thấy thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ Đảng, Nhà nước mà vẫn thờ ơ, vô cảm, không dám bày tỏ thái độ thì rõ ràng là ích kỷ cá nhân, là biểu hiện suy thoái; là không góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng ta có được như bây giờ là nhờ chế độ này, vậy chúng ta phải làm thế nào để bảo vệ chế độ đó chứ./.

KHÔNG THỂ TÁCH RỜI MỐI QUAN HỆ MẬT THIẾT, GẮN BÓ MÁU THỊT GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN VÀ QUÂN ĐỘI

 

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Nhân tố có tính quyết định để Quân đội ta trưởng thành ngày càng lớn mạnh, đánh thắng nhiều đế quốc giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà; góp phần đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chính là sự lãnh đạo của Đảng, sự yêu thương đùm bọc che chở và giúp đỡ của Nhân dân.

Thực tiễn đã khẳng định, Quân đội ta ngày càng trưởng thành trước hết là nhờ có sự tổ chức và lãnh đạo của Đảng. Cùng với đó để Quân đội ta ngày càng lớn mạnh không thể không nói tới sự đóng góp sức người và sức của của Nhân dân. Cơ sở để chúng ta bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân đó chính là xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng trưởng thành, vững mạnh. Chính vì lẽ ấy mà không thể chia cắt mối liên hệ mật thiết, sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân và Quân đội.

Trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII mục tiêu tổng quát được Đảng ta xác định là: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đề ra chủ trương đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó khẳng định rõ vai trò, nâng cao sức mạnh lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước; phát huy cao nhất nguồn lực, sức mạnh và quyền làm chủ của nhân dân, kết hợp với đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hợp tác quốc tế để xây dựng, phát triển đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, tạo sức mạnh bảo vệ vững chắc chế độ và Tổ quốc XHCN trong thời kỳ mới.

Tuy vậy, các thế lực thù địch, phản động không bao giờ từ bỏ âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng chúng càng ráo riết đẩy mạnh và có sự điều chỉnh về thủ đoạn ngày càng thâm độc, tinh vi, nguy hiểm hơn. Đặc biệt, chúng khoét sâu những tồn tại và yếu kém của ta trong thời gian qua, để gia tăng tuyên truyền xuyên tạc, kích động, tập hợp lực lượng chống phá. Từ lâu chúng vẫn mưu toan đòi đòi đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập. Họ coi đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập là điều kiện để làm phai nhạt đường lối, sai lệch mục tiêu lý tưởng, con đường xây dựng, phát triển đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Từ đó, chúng tìm đủ mọi cách nhằm làm mất vị trí, hạ thấp vai trò, làm giảm sức mạnh, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Để thực hiện mục đích và ý đồ nêu trên, chúng ra sức chống phá, luôn công kích, phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Chúng cho rằng, Quân đội là của quốc gia, trung lập, không chịu sự lãnh đạo và chi phối của bất kỳ đảng phái nào; chúng tìm cách chia rẽ mối quan hệ mật thiết, gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân và Quân đội… Thực chất đây là mưu đồ nhằm tách rời Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân Đảng và Quân đội; chia rẽ làm suy giảm sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân…

Chính vì vậy, Hiến pháp năm 2013, tại Điều 4 đã tiếp tục khẳng định rõ vị trí và vai trò lãnh đạo của Đảng: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Đồng thời, Điều 65 của Hiến pháp năm 2013 cũng chỉ rõ: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”. Riêng đối với Quân đội, Điều 66, Hiến pháp năm 2013 hiến định: “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.”

Để đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, trước hết, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền. Công tác tuyên truyền phải tập trung vạch trần, lật tẩy rõ âm mưu, thủ đoạn và ý đồ chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, thù địch. Cùng với đó cần tăng cường xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững vai trò lãnh đạo, mối liên hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân và Quân đội. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt gắn với tăng cường sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội phải thường xuyên được giữ vững và thực hiện hiệu quả.

Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Đây cũng là cơ sở để Quân đội ta luôn giữ vững bản chất đội quân cách mạng, gắn bó máu thịt với nhân dân, giữ vững truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tạo sức mạnh bảo vệ vững chắc chế độ và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, cần quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, cần tập trung khắc phục triệt để những tồn tại, hạn chế, yếu kém, dân chủ, công khai để toàn dân biết. Đây là phương cách tốt nhất để ý Đảng hợp lòng dân, nâng cao niềm tin của nhân dân và Đảng, chế độ và Quân đội, không để các thế lực thù địch lợi dụng bóp méo, xuyên tạc kích động, chống phá. Hệ thống pháp luật, trong đó có luật về: Tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang, cần được biên soạn, chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện... Đó là yếu tố căn bản để giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý và điều hành của Nhà nước, sự gắn bó chặt chẽ giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội. Đó cũng là yếu tố quyết định để tăng cường sức mạnh chiến đấu của Quân đội, hạn chế những tồn tại yếu kém về xây dựng, quản lý, sử dụng lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân nói riêng, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng và Quân đội, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới.

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

             Thời đại ngày nay, mọi quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng pháp luật và các quốc gia hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tình hình, đặc điểm, điều kiện cụ thể. Điều đó thể hiện sự tiến bộ, văn minh của loài người.

Thế nhưng, hiện một số người, nhất là số cơ hội chính trị có quan hệ với các tổ chức thù địch, đối tượng phản động lưu vong, chống phá Nhà nước từ bên ngoài đang tìm cách đi ngược lại sự văn minh, tiến bộ xã hội. Các đối tượng tìm kiếm sự can thiệp từ bên ngoài nhằm kêu gọi xóa bỏ một số điều luật với các mục đích chính trị xấu.

Chẳng hạn, các đối tượng kêu gọi xóa bỏ một số điều luật được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017), bao gồm một số điều luật thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia như: Điều 109 "Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân"; Điều 117 "Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam". Hay như Điều 331 "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" thuộc Chương XXII về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính...

Thực chất, việc kêu gọi xóa bỏ các điều luật này xuất phát từ các đối tượng có âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Vậy, mục đích của các đối tượng kêu gọi xóa bỏ các điều luật này là gì?

Thứ nhất, các đối tượng đang muốn đưa mình thoát khỏi “vùng cấm” của luật pháp, muốn đứng ngoài vòng pháp luật để dễ bề hoạt động chống phá mà không bị chế tài pháp luật xử lý. Các đối tượng đang cố gắng tạo cho mình một vành đai an toàn, nằm trong “nhóm lợi ích” vượt ra ngoài sự quản lý của pháp luật để tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước như: Tuyên truyền chống Nhà nước; thành lập các tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam… mà không bị pháp luật cấm đoán.

Thứ hai, các đối tượng muốn gây sự chú ý từ bên trong lẫn bên ngoài, thông qua các hoạt động tuyên truyền kêu gọi, tẩy chay, đòi xóa bỏ các điều luật nhằm gây sự chú ý cho dư luận trong nước cũng như cộng đồng quốc tế, nhất là các tổ chức theo dõi nhân quyền, các cơ quan truyền thông thiếu thiện chí, thường xuyên có các bài viết chống phá Việt Nam như đài RFA, RFI... Các hoạt động kêu gọi nhằm đánh lạc hướng dư luận để tạo suy nghĩ rằng môi trường chính trị của Việt Nam đang “rối ren”; tâm lý người dân bất ổn, hoang mang, qua đó hòng tạo áp lực dư luận để đòi hỏi phải thay đổi các quy định hoặc xóa bỏ các điều luật này.

Thứ ba, tất cả các hoạt động kêu gọi xóa bỏ các quy định của điều luật trên không nằm ngoài âm mưu tạo ra môi trường thuận lợi để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, mục đích hướng đến là thay đổi nhận thức của đông đảo quần chúng toàn xã hội, tiến tới xóa bỏ, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc kêu gọi xóa bỏ một số điều luật trong Bộ luật Hình sự Việt Nam nhằm xuyên tạc, vu khống, hạ bệ hình ảnh Việt Nam, cho rằng chúng ta vi phạm dân chủ, nhân quyền; vu cáo nhà nước sử dụng các điều luật này để “bóp nghẹt” quyền tự do dân chủ, các quyền căn bản của công dân được Hiến định.

Các đối tượng chống phá muốn xóa bỏ các điều luật nói trên đều nằm trong âm mưu, ý đồ hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia và đây không phải là thủ đoạn mới. Các Bộ luật Hình sự trước đây khi ban hành và thực thi thì các tổ chức, cá nhân thù địch, phản động cũng tìm cách đả phá, đòi huỷ bỏ những điều luật mà họ cho rằng “lạc hậu”, “trói cột”, “bịt miệng”…

Thời gian qua, đã có nhiều đối tượng phạm tội, bị truy tố theo các tội danh quy định tại Điều 109, Điều 117, Điều 331, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Trong đó, phạm tội quy định tại Điều 117 “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” có thể kể đến các đối tượng như: Nguyễn Đình Thành (SN 1991, trú tại xã Hội Nghĩa, thị xã Tân Uyên, Bình Dương), Nguyễn Năng Tĩnh (SN 1976, trú tại xóm 11, xã Quỳnh Hưng, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An), Nguyễn Đức Hùng (trú tại phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh)… Các đối tượng này đều có hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Việt Nam. Những hành vi này ảnh hưởng đến an ninh trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, tác động đến đời sống tinh thần và sự thống nhất về nền tảng tư tưởng chính trị, làm ảnh hưởng đến niềm tin của quần chúng nhân dân vào hệ thống chính trị… Hành vi phạm tội của các đối tượng đều bị truy tố, xử lý theo tội danh, điều khoản tương ứng, đúng quy định pháp luật.

Thực tế, không phải vì nhận thức thiếu hiểu biết dẫn tới phạm pháp mà hầu hết các đối tượng đều hiểu rõ những hành động của mình là trái với quy định của pháp luật, là phạm tội, nhưng với các động cơ khác nhau, họ vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Thậm chí không ít đối tượng dù bị cơ quan chức năng nhiều lần cảnh cáo, nhắc nhở hay xử phạt hành chính, xử lý hình sự nhưng sau đó vẫn bất chấp, cố tình thực hiện hành vi, thách thức pháp luật. Do đó, việc xử phạt với các điều khoản tương ứng hành vi, tính chất phạm tội là việc làm đương nhiên của cơ quan bảo vệ pháp luật. Điều đó càng cho thấy sự nghiêm minh của pháp luật và việc xử lý đó được cộng đồng xã hội đồng tình ủng hộ (ngoại trừ các phần tử tham gia các tổ chức phản động, chống phá Nhà nước).

Một nguyên tắc trong xây dựng nhà nước pháp quyền là phải thượng tôn pháp luật, không ai có thể đứng ngoài pháp luật. Dù là ai, vị trí nào, gia thế ra sao thì khi vi phạm đều xử lý bình đẳng và pháp luật hình sự cũng quy định rõ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Theo đó, những ai chủ mưu, cầm đầu, cố tình thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, phạm tội nhiều lần, tái phạm nguy hiểm… thì sẽ bị tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngược lại, những ai vì nhận thức thấp kém, phạm tội do bị rủ rê, lôi kéo; biết ăn năn, hối lỗi, thành khẩn khai báo… thì được giảm nhẹ hình phạt. Khi xét xử, luận tội, toà án xem xét công và tội rõ ràng, công minh.

Việc điều tra, truy tố, xét xử các bị can, bị cáo tuân thủ theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình xét xử đảm bảo việc tranh tụng dân chủ trước toà. Các vụ án xét xử bị cáo theo các tội danh mà các đối tượng thường xuyên có hoạt động kêu gọi xóa bỏ như Điều 109, Điều 117, Điều 331 Bộ luật Hình sự cũng đảm bảo theo quy định, nguyên tắc đó. Các hoạt động tố tụng đều thực hiện theo các trình tự, thủ tục được luật pháp quy định, thể hiện sự công khai, minh bạch, trách nhiệm trong các hoạt động công tố và các bản án được xem xét khách quan, người dân ủng hộ, điều này cũng góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Ổn định chính trị - xã hội là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Bài học từ một số quốc gia vùng Trung Đông, Bắc Phi, Nam Mỹ… cho thấy, khi xã hội bất ổn, rối ren, hậu quả khủng hoảng đến với người dân là không thể lường, sự bất ổn đó tác động trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, làm đảo lộn đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Và một trong những nguyên do dẫn tới sự bất ổn đó là có bàn tay chống phá của các thế lực xấu, sự bào mòn các giá trị căn bản của luật pháp và xã hội.

Do đó, bảo vệ sự ổn định chính trị - xã hội, tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật là yếu tố căn bản, góp phần tạo nên một xã hội công bằng, bền vững, loại trừ các nguy cơ can thiệp, chống phá, lật đổ chính quyền nhân dân, đó là mục tiêu tối thượng trong công cuộc bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Việc đòi bỏ điều luật này, điều luật kia dưới vỏ bọc dân chủ, nhân quyền chỉ là chiêu trò, thủ đoạn của các thế lực chống phá nhằm gây rối ren, bất ổn xã hội.

CẦN CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG ÂM MƯU KÍCH ĐỘNG KỲ THỊ DÂN TỘC PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 

Kỳ thị thường gắn liền với phân biệt đối xử. Kỳ thị, phân biệt đối xử là một khái niệm giao thoa giữa chính trị - văn hóa và xã hội. Kỳ thị dân tộc, chủng tộc là sự nhìn nhận, đánh giá làm giảm giá trị đối với một một dân tộc, một chủng tộc từ một quan niệm chính trị, văn hóa hoặc xã hội nào đó.

Ở Việt Nam, kể từ khi bắt đầu xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách chia để trị và chia cắt nước ta thành ba miền (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với những chính sách khác nhau trên các lĩnh vực chính trị, xã hội và kinh tế nhằm tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa ba miền với âm mưu chia cắt vĩnh viễn. Thay chân thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai cũng từng thực hiện chiến lược chia cắt lâu dài hai miền Nam, Bắc hòng tiến đến xóa bỏ chế độ xã hội XHCN và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Khi chủ nghĩa thực dân cũ và mới bị đánh đổ tại Việt Nam, tàn dư của tư tưởng kỳ thị, phân biệt đối xử dân tộc, chủng tộc đã không còn hiện hữu nữa. Nhưng nhen nhóm sự kỳ thị dân tộc vẫn được các thế lực thù địch tuyên truyền, kích động hướng đến tư tưởng dân tộc cực đoan trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hòng làm rạn nứt, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và bạo loạn, lật đổ, đưa dân tộc ta sang con đường lệ thuộc nước ngoài.

Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu cho thấy, các thế lực thù địch triệt để sử dụng con bài kỳ thị chủng tộc đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan để đòi quyền dân tộc tự quyết. Các thế lực thù địch không chỉ áp dụng thủ đoạn này đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc trong vấn đề Tây Tạng, Nam Tư trong vấn đề Kosovo...

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với những đặc điểm riêng mà nhiều quốc gia khác không có. Với 54 dân tộc anh em, dân số giữa các dân tộc rất khác nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái... nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như Pu Péo, Rơ-măm, Brâu... Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư. Các dân tộc Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số thường ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Khác với nhiều quốc gia đa dân tộc, các dân tộc thiểu số Việt Nam không có khu vực lãnh thổ riêng mà sống xen kẽ với nhau.

Trọng tâm hoạt động kích động kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc của các thế lực thù địch hướng đến các địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, vùng có đông đồng bào theo đạo. Để kích động, chia rẽ người Kinh với đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch đã sử dụng tổ chức FULRO tuyên truyền, xuyên tạc rằng “Tây Nguyên là của người Thượng”, “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”...

Ở Tây Bắc, chúng dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông” để làm cái cớ chia rẽ đồng bào các dân tộc anh em. Chúng vận động đồng bào người Mông về “một miền đất hứa” mọi người sẽ được “ban sức khỏe, hạnh phúc, không làm cũng có ăn, sự giàu sang và phú quý”; “những người Mông đến đây sẽ được chúa trời giáng trần cứu thế”… Từ đó, chúng lôi kéo người dân tụ tập, kích động phá rối gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Ở Tây Nam Bộ, chúng tập trung tuyên truyền tư tưởng “ly khai tự trị”, đòi thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm độc lập”. Lợi dụng tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại, vấn đề dân sinh, dân chủ để kích động, tập hợp lực lượng, móc nối lôi kéo, tạo dựng ngọn cờ, thực hiện ý đồ biểu tình, bạo loạn lật đổ; lừa bịp, xúi giục người vượt biên, gây sức ép xin tổ chức UNHCR lập trại tỵ nạn; vu cáo, xuyên tạc Việt Nam có kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, vi phạm dân chủ, nhân quyền. Âm mưu trước mắt và lâu dài của chúng nhằm gây mất ổn định chính trị để “quốc tế hóa” vấn đề “Khơme Krôm”, thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm tự trị”...

Ngày nay, việc cấm phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, sắc tộc đã được quy định trong nhiều điều ước quốc tế và tạo thành yếu tố quan trọng trong pháp luật của nhiều quốc gia. Trong đó, quan trọng nhất là Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, có hiệu lực từ năm 1969 và đến nay đã được 170 nước trên thế giới phê chuẩn. Tại Việt Nam, với chính sách và pháp luật thể hiện tinh thần tiến bộ, bình đẳng, công bằng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở cả trên bình diện quốc tế và quốc gia.

Ngày 9/6/1981, Việt Nam chính thức gia nhập Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD), với bốn lần đệ trình báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000 và 2012. Đặc biệt, Ủy ban Dân tộc đảm nhận là cơ quan đầu mối phụ trách Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc và chuẩn bị Báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số như: Xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội… Trong đó, nhấn mạnh đến những thành tựu trong việc đảm bảo quyền cho người dân tộc thiểu số như: Hệ thống pháp luật, các quy định đảm bảo quyền con người, các chính sách cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội...

Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam đã luôn chứng tỏ với cộng đồng quốc tế là một dân tộc có truyền thống lịch sử lâu đời về tinh thần đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau. Ngày nay, các nguyên tắc và quy định về bình đẳng và không phân biệt chủng tộc liên quan đến thành phần dân tộc không những được ghi trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong các luật, văn bản dưới luật khác có liên quan và được triển khai thực hiện trong thực tiễn, thông qua nhiều chính sách, chương trình quốc gia, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm DTTS có điều kiện phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

             Gần đây tại các khu vực có đồng bào dân tộc thiểu số, một số đối tượng xấu thường xuyên lợi dụng vấn đề ngôn ngữ các dân tộc thiểu số để tung tin giả, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động sắc tộc, chia rẽ vùng, miền, gây mất ổn định trật tự-an toàn xã hội... Vì vậy chúng ta cần hết sức cảnh giác, nhận diện rõ vấn đề này một cách kịp thời và đưa ra phương pháp đấu tranh, phòng chống hiệu quả...

Thời gian qua, bên cạnh việc bịa đặt, vu khống về tình hình tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta, một số cá nhân, tổ chức phản động, cực đoan, thiếu thiện chí còn thường xuyên lợi dụng và đẩy mạnh việc chính trị hóa, quốc tế hóa các vấn đề dân tộc nhằm tạo cớ gây sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Trong đó chúng lợi dụng những bất cập trong vấn đề bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các tộc người ở một vài địa phương, kêu gọi việc cần phải tổ chức hội thảo quốc tế về người dân tộc thiểu số nhằm khơi gợi, kích động tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và ly khai tự trị ở một số tộc người. Nhiều nội dung xuyên tạc đã được chúng đăng tải trên một số tạp chí hải ngoại, mạng xã hội để kêu gọi dư luận quốc tế “lên tiếng” về vấn đề người dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

Chẳng hạn, các đối tượng phản động đã đứng ra thành lập những hội nhóm trái pháp luật với khẩu hiệu “bảo tồn và phát triển lịch sử, tôn giáo và văn hóa người Khmer” nhưng thực chất hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với người Kinh, bôi nhọ, hạ thấp uy tín những chức sắc, sư sãi yêu nước, tiến bộ, từ đó kích động ly khai, kêu gọi người dân tham gia đấu tranh thành lập cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”...

Hay thông qua các chương trình về tiếng nói và chữ viết của người dân tộc thiểu số tại khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên, một số đối tượng chống đối đã thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” bằng việc bóp méo, xuyên tạc tình hình bảo tồn văn hóa của người dân tộc; xuyên tạc những vấn đề lịch sử để chia rẽ người dân tộc với người Kinh. Thâm độc hơn, chúng còn thường xuyên dùng các thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo người có uy tín trong đồng bào dân tộc để qua đó tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng chính tiếng nói của họ.

Đặc biệt, một số đối tượng được hậu thuẫn bởi các tổ chức phản động ở nước ngoài đã sử dụng các đài phát thanh bằng tiếng dân tộc ở hải ngoại, in ấn phát hành các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc nhằm truyền đạo và lan truyền thông tin chống đối Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng khai thác các hiện tượng riêng lẻ về vấn đề dân tộc như tiếng nói, chữ viết hay bảo tồn văn hóa của các tộc người thiểu số rồi thổi phồng lên thành mâu thuẫn dân tộc và kêu gọi cần phải có biện pháp “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số”... để kích động, dẫn dắt một số người nhẹ dạ, cả tin hoặc thiếu hiểu biết.

Thực tế, từ khi thành lập nước đến nay, chính sách về bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước luôn nhất quán trong công tác chỉ đạo và thực hiện. Tại Điều 15, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (năm 1946) nêu rõ: “Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp”.

Điều này được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ. Tại khoản 3 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.

Năm 1980, Hội đồng Bộ trưởng đưa ra chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số trong Quyết định số 53-CP ngày 22/2/1980, trong đó xác định: “Tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước. Ở các vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ phổ thông”. Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 cũng quy định rõ các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học.

Trong Luật Giáo dục được ban hành sau đó vào các năm 1998 và 2019 đều khẳng định Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, qua đó phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần tạo ra giá trị văn hóa đa màu sắc của dân tộc Việt Nam.

Hiệu quả của các chính sách trên đã phát huy trên thực tế. Nếu như trước đây, chỉ có một số dân tộc như Chăm, Khmer,... có sẵn tiếng nói và chữ viết riêng, còn lại hầu hết các dân tộc thiểu số khác chỉ có tiếng nói mà chưa có chữ viết riêng của mình thì đến nay việc La-tinh hóa cách phát âm ngôn ngữ của một số dân tộc chỉ có tiếng nói, không có chữ viết như H’Mông, Ê Đê, Jrai... và hệ thống hóa ký tự của người Tày, Dao, Thái... đã được triển khai. Qua đó, các tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số được bảo tồn và truyền lại cho thế hệ mai sau.

Số liệu thống kê cho thấy, đến năm 2020, tại Việt Nam, hơn 90% hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nghe các chương trình Đài Tiếng nói Việt Nam và trên 80% số hộ được xem truyền hình. Các chương trình phát thanh và kênh truyền hình từ trung ương đến địa phương được phát sóng với 26 thứ tiếng dân tộc đã đến được với bản làng xa xôi.

Chỉ tính riêng Đài Tiếng nói Việt Nam đã có 6 chương trình tiếng Việt chuyên sâu về đề tài dân tộc thiểu số; 13 chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số phủ sóng tại các vùng tập trung đông đồng bào dân tộc ít người tại Tây Bắc, Đông Bắc, miền trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ; hơn 400 chương trình phát thanh (giai đoạn từ 2011-2021) để tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu số về Chương trình 135, cải thiện sinh kế, nâng cao nhận thức của đồng bào về vấn đề quyền con người...

Hiện nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700 trường học tiếng dân tộc thiểu số; phát hành 8 chương trình tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, Ê Đê, H’Mông, M’Nông, Thái); và 6 bộ sách giáo khoa tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, H’Mông, Ê Đê); 23 tỉnh, thành phố thực hiện dạy học tiếng dân tộc trong trường phổ thông... Trong đó, nổi bật là việc dạy tiếng Khmer (có khoảng 1,3 triệu người Khmer, chiếm 7% dân số). Việc truyền bá thông tin bằng tiếng dân tộc, đưa tiếng dân tộc vào chương trình giáo dục vừa giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số duy trì nét văn hóa của mình, vừa bảo đảm sự bình đẳng trong việc hưởng thụ các giá trị văn hóa và giáo dục.

Bên cạnh đó, phong trào “cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc, cùng nói tiếng dân tộc” được triển khai rộng rãi. Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2009 đề ra yêu cầu: “Dạy tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo yêu cầu công việc”.

Thực tế cho thấy việc hiểu được ngôn ngữ, tiếng nói của người dân tộc thiểu số vừa giúp cho công tác phát hiện, nắm tình hình địa bàn, kịp thời đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; vừa hỗ trợ công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động để đồng bào dân tộc thiểu số hiểu đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới.

Ngoài ra, để bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số được sử dụng tiếng nói của mình khi tham gia tố tụng, pháp luật Việt Nam quy định về việc cho phép người tham gia tố tụng dân sự, hình sự và hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. Theo đó trong các trường hợp cần thiết, Tòa án sẽ mời người phiên dịch đến để hỗ trợ. Quy định này vừa mang ý nghĩa chính trị-xã hội, thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc, vừa bảo đảm công tác xét xử được chính xác, minh bạch.

Thời gian tới, để tiếp tục phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với việc lợi dụng vấn đề dân tộc thực hiện âm mưu chống phá của các tổ chức, đối tượng phản động, thù địch, mỗi người dân chúng ta cần không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.

Bên cạnh việc chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, các cấp ủy đảng và chính quyền cần tập trung xây dựng và bảo đảm đội ngũ cán bộ công tác tại các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số am hiểu ngôn ngữ, tiếng nói và văn hóa của đồng bào, từ đó góp phần tạo sự đồng thuận, niềm tin của người dân.

Chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền đường đối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, không để đồng bào bị các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng và kích động. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách dân tộc, từng bước nâng cao đời sống kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển vùng, miền; đồng thời thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo tồn, phát triển văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO, TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

Từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người cũng như các tôn giáo hoạt động và tham gia đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tinh thần “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp các tôn giáo, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật.

Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện tư duy lý luận về tôn giáo và quản lý đất nước trong lĩnh vực tôn giáo. Nghị quyết 24 (1990) của Bộ Chính trị khóa VI về công tác tôn giáo trong tình hình mới và Nghị quyết 25 (2003) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo đã có những bước đổi mới, đột phá, thừa nhận “tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” và “tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Đây là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, thể hiện đường lối, quan điểm một cách rõ ràng, minh bạch nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, không chỉ khẳng định sự “tồn tại lâu dài” của tôn giáo, mà còn phát triển mức cao hơn, làm rõ mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và CNXH ở nước ta.

Với quan điểm nhất quán đó, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng đã được minh định theo hướng “vừa giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo” và “công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị”. Cũng xuất phát từ quan điểm đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đều được luật hóa trong các bản Hiến pháp và các bộ luật liên quan trên các mặt công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm, “mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật... Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo... Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Điều 24, Hiến pháp 2013).

Ngày nay, các tôn giáo đều xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc như: “Hộ quốc an dân” của Phật giáo, “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Công giáo, “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” của Tin Lành; hoặc “Nước vinh đạo sáng” của Cao Đài… Những đường hướng này phù hợp với giáo lý, với truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, phù hợp với lợi ích của đất nước và lợi ích của Giáo hội.

Tuy nhiên, thế lực thù địch và một số tổ chức phản động đội lốt tôn giáo chưa từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình” để chống phá Việt Nam. Chúng tìm mọi cách chống phá, tuyên truyền những luận điệu sai trái, cho rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo, “đàn áp tôn giáo”, xuyên tạc trắng trợn về tình hình tôn giáo ở nước ta, phá hoại khối đoàn kết tôn giáo. Qua theo dõi, trong 5 năm từ 2017-2022, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vẫn định kỳ ra báo cáo thường niên về tự do tôn giáo toàn cầu. Họ tự cho mình có quyền đánh giá, “phán xét” về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam và một số quốc gia khác.

Họ sử dụng thông tin, do những tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cực đoan, chống đối trong tôn giáo ở trong và ngoài nước, bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước làm căn cứ, cơ sở báo cáo đánh giá, nhận định thiếu khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam; qua đó, khuyến khích, cổ vũ cho các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ”, mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, đi ngược lại lợi ích của tôn giáo và xã hội, gây bức xúc trong nhân dân.

Với âm mưu muốn giáo dân chống đối chính quyền, chúng kích động với luận điệu như: “Quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do tôn giáo” của người dân bị xâm phạm; “chính quyền can thiệp vào nội bộ của tổ chức tôn giáo”; “các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận pháp nhân là tổ chức tôn giáo quốc doanh”; đồng thời lợi dụng mạng xã hội xuyên tạc Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo”, “không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”…

Họ kiến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại “Danh sách nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo” (CPC) và “gây sức ép và hối thúc Việt Nam cho phép tất cả các nhóm, phái tôn giáo chưa được công nhận hoạt động một cách tự do không cần đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung theo quy định tại Điều 16, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không cần đăng ký để được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo theo quy định tại các Điều 17, 18, 19 và 20 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; giảm can thiệp của chính quyền vào các công việc nội bộ của các nhóm tôn giáo đã được công nhận”…

Phải khẳng định ngay rằng, những thông tin, luận điệu sai lệch, xuyên tạc nêu trên là hết sức phi lý, với ý đồ, mục đích xấu xa nhằm tác động đến suy nghĩ, tình cảm của chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, nhằm tạo sự hoài nghi về chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Vậy tiêu chí, tiêu chuẩn của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là gì? Họ đại diện cho ai để phê phán, đánh giá về tự do tôn giáo của Việt Nam, khi mà các phê phán, đánh giá của họ chỉ là sự lạc lõng, thiếu khách quan không được chức sắc tôn giáo tiến bộ trong và ngoài nước ủng hộ.

Song dù các thế lực thù địch có cố tình, xuyên tạc chống phá thế nào chăng nữa cũng không thể chia rẽ chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo. Những năm qua, tuyệt đại đa số chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo trong nước luôn đồng hành gắn bó với dân tộc, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo.

Các thế lực thù địch, cơ hội cực đoan lợi dụng vấn đề dịch Covid-19 thời gian qua để xuyên tạc rằng, Việt Nam lợi dụng công tác phòng, chống dịch để thực hiện các vấn đề vi phạm dân chủ, nhân quyền. Vu cáo Đảng và Nhà nước ta không chăm lo cho đời sống của đồng bào dân tộc, tôn giáo, không cho họ tổ chức lễ hội truyền thống...

Tuy nhiên, để củng cố niềm tin trong bối cảnh dịch bệnh lúc bấy giờ, Nhà nước đã khuyến khích các tổ chức tôn giáo tham gia phòng, chống dịch Covid-19, tổ chức sinh hoạt tôn giáo bằng hình thức trực tuyến… vẫn thể hiện được niềm tin tôn giáo ngay tại tư gia. Chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo đã tình nguyện tham gia nơi tuyến đầu chống dịch, làm tốt công tác an sinh xã hội trong thời gian chống dịch, góp phần đẩy lùi dịch Covid-19, đưa cuộc sống người dân và sinh hoạt tôn giáo trở lại bình thường, thích ứng với điều kiện phòng, chống dịch Covid-19 trong trạng thái bình thường mới.

Để ngăn chặn, không để thế lực xấu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo, các cơ quan chức năng cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo Hiến pháp năm 2013; thể chế quan điểm Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Chính quyền các cấp quan tâm, giải quyết nhu cầu tôn giáo chính đáng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo của nhân dân. Chính các chức sắc tôn giáo phải vững vàng trước những luận điệu xấu độc để ra sức cùng Đảng và Nhà nước vận động đồng bào nhân dân nâng cao cảnh giác, không tin, không nghe luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch.

Cùng với đó, nâng cao đổi mới hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền; không để thế lực xấu lợi dụng xuyên tạc vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân trên các kênh thông tin đại chúng trong và ngoài nước. Lan tỏa những tấm gương “người tốt, việc tốt”, sống “tốt đời, đẹp đạo”; các hoạt động chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào theo đạo nổi bật của các cấp ủy, chính quyền địa phương, “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, góp phần hình thành tư tưởng tích cực trong cán bộ, đảng viên, định hướng dư luận củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với đời sống tôn giáo.

Tại các diễn đàn song phương, đa phương, các tổ chức tôn giáo Việt Nam cần thể hiện rõ tinh thần yêu chuộng hòa bình và lòng tự hào dân tộc, tích cực ủng hộ và đóng góp sáng kiến vào các tuyên bố chung, góp phần xây dựng thế giới hòa bình, giảm xung đột, bạo lực và chiến tranh vì lý do tôn giáo, sắc tộc. Vận động các tôn giáo đồng đạo trên thế giới ủng hộ Việt Nam xây dựng, phát triển đất nước, khẳng định truyền thống đoàn kết, yêu nước của đồng bào tôn giáo luôn được vun bồi, phát huy và tỏa sáng trong lòng dân tộc Việt Nam.

VẠCH TRẦN ÂM MƯU CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG VỤ VIỆC KHỦNG BỐ TẠI ĐẮK LẮK

             Vụ việc nhóm đối tượng dùng vũ khí tấn công trụ sở UBND hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xảy ra vào rạng sáng 11/6/2023, được đánh giá là hoạt động khủng bố có tổ chức nhằm chống phá chính quyền Nhân dân, gây hậu quả nghiêm trọng. Cả hệ thống chính trị tỉnh Đắk Lắk đã tích cực tuyên truyền thủ đoạn lôi kéo, âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của thế lực thù địch, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới và đẩy mạnh các giải pháp dân vận ở cơ sở, chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.

Vạch trần thủ đoạn

Sau hơn 1 tháng xảy ra vụ việc, bộ mặt thật của các đối tượng khủng bố đã bị vạch trần. Nhân dân cả nước đã thấy được âm mưu, thủ đoạn của những tổ chức phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo giật dây, kích động chống phá chính quyền, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo ra cái cớ để các thế lực bên ngoài can thiệp, thực hiện mưu đồ chống phá Việt Nam. Theo đó, lực lượng chức năng nhanh chóng vào cuộc, quyết liệt đấu tranh, truy bắt nhiều đối tượng. Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên kịch liệt lên án những hành động dã man của các đối tượng.

Theo báo cáo, đến nay, Cơ quan an ninh điều tra, Công an tỉnh Đắk Lắk quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can 90 đối tượng về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền Nhân dân”, “Không tố giác tội phạm”, “Che giấu tội phạm” và “Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép”, trong đó, đang phát lệnh truy nã đặc biệt 6 đối tượng.

Qua điều tra và lấy lời khai các đối tượng, lực lượng chức năng xác định, đây là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền Nhân dân gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 Đây là hoạt động do các tổ chức phản động lưu vong người Việt, các phần tử theo chủ nghĩa cực đoan lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo trú chân tại một số quốc gia thiết lập cơ sở, tổ chức huấn luyện cho các đối tượng trong nước và cử người xâm nhập vào Việt Nam chỉ đạo thực hiện hành động khủng bố. Trong các đối tượng tham gia khủng bố, có một số đối tượng là thành viên tổ chức nước ngoài nhận lệnh chỉ đạo xâm nhập vào Việt Nam dàn dựng vụ tấn công.

Vô hiệu hóa âm mưu

Vụ việc xảy ra bất ngờ, khiến người dân Đắk Lắk không khỏi có chút hoang mang, trong khi đó các thế lực thù địch lại mượn cớ vụ tấn công để bêu xấu chính quyền với những luận điệu xảo trá. Song sức mạnh đoàn kết dân tộc của chính quyền và Nhân dân Việt Nam nói chung, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng đã vô hiệu quá âm mưu đó.

Người dân Cư Kuin không những tích cực hợp tác, cung cấp thông tin cho chính quyền, lực lượng chức năng, mà còn trực tiếp tham gia vây bắt những tên khủng bố, liều mình cứu cán bộ bị trọng thương. Điển hình như tấm gương ông Trần Đình Thuận (SN 1958) ở xã Ea Ktur, huyện Cư Kuin, dù tuổi cao và biết rõ các đối tượng có vũ khí nguy hiểm, hành động hung hãn, nhưng ông vẫn tìm mọi cách vượt qua sự truy sát của các đối tượng để đưa Đại úy Lê Kiên Cường, cán bộ Công an xã Ea Ktur bị trọng thương đi cấp cứu.

Ông Võ Ngọc Phương, Trưởng phòng Dân tộc huyện Cư Kuin cho biết: Người dân địa phương rất hợp tác, tích cực trong công tác phối hợp, hỗ trợ lực lượng chức năng truy bắt đối tượng, trong đó có nhiều người DTTS. Rất nhiều người còn sẵn sàng tham gia vây bắt khi thấy đối tượng lạ mặt vào rẫy mà không có vũ khí và đã trực tiếp bắt được một số đối tượng. Người dân huy động sức người, sức của nấu ăn hỗ trợ lực lượng truy quét.

Huyện cũng có những văn bản yêu cầu người dân không kỳ thị, động viên đồng bào DTTS không tự ti, không để đối tượng xấu lợi dụng làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc. Nhờ đó chỉ sau vài ngày, tình hình an ninh trật tự đã ổn định, người dân lên nương rẫy và trở lại sinh hoạt bình thường. Điều đó thể hiện tinh thần đoàn kết các dân tộc trên địa bàn, đoàn kết quân dân.

Từ tinh thần đoàn kết của Nhân dân các dân tộc, của người dân với chính quyền, lực lượng chức năng đã vô hiệu hóa âm mưu của các thế lực thù địch, phản động. Tuy nhiên, qua vụ việc lần này, cũng gióng lên hồi chuông cảnh báo tình trạng các thế lực thù địch vẫn âm thầm hoạt động, tìm mọi cách để lợi dụng chống phá chính quyền.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC MỘT SỐ DỰ ÁN VỀ LUẬT AN NINH, TRẬT TỰ


             Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và quá trình hội nhập quốc tế, việc bảo đảm công khai, minh bạch, dân chủ trong xây dựng các dự án luật là yêu cầu khách quan.

Theo đó, trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan nhà nước cần phải lấy ý kiến, lắng nghe ý kiến của người dân để bàn bạc, nghiên cứu tiếp thu, đảm bảo các chính sách được đề xuất sau khi luật hóa sẽ phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, sát dân, gần dân, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, góp phần bảo đảm hài hòa các quyền, lợi ích trong xã hội.

Thông qua việc lấy ý kiến của người dân, người hoạch định chính sách sẽ có thông tin thực tế cuộc sống để đưa ra được những quy định phù hợp với các điều kiện xã hội hiện có. Từ đó, văn bản pháp luật sẽ có tính khả thi cao, phù hợp với tâm tư nguyện vọng, lợi ích của đa số quần chúng nhân dân thì văn bản sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống, niềm tin của nhân dân đối với chính quyền sẽ được củng cố. Việc lấy ý kiến người dân cũng là hình thức tuyên truyền mang tính tích cực, chủ động để tổ chức, cá nhân nghiên cứu, thảo luận, tiếp cận trước một bước với văn bản pháp luật, tạo thuận lợi để văn bản đi vào cuộc sống khi được chính thức ban hành.                    

Âm mưu phía sau những luận điệu xuyên tạc

Thực hiện kế hoạch của Chính phủ, Bộ Công an được giao chủ trì soạn thảo các dự án luật quan trọng gồm: Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) ở cơ sở; Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật CAND; Luật Căn cước; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cảnh vệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, với âm mưu chống phá, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và các tổ chức phản động lợi dụng quá trình Bộ Công an triển khai lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật nêu trên để đưa ra đủ luận điệu xuyên tạc, vu cáo. Các đối tượng cho rằng, Việt Nam muốn hạn chế các quyền tự do dân chủ rồi ban hành luật để trói buộc, gò ép người dân, thậm chí chúng còn lôi kéo, kích động người dân phản đối các dự luật khi đưa ra lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của nhân dân.

Lướt qua các mạng xã hội Facebook, Youtube… hay các phương tiện truyền thông nước ngoài như đài BBC tiếng Việt, RFA, VOA cho thấy những chiêu trò chống phá khi liên tiếp đăng tải, phát tán các bài viết có nội dung xuyên tạc các dự án luật. Chẳng hạn, khi nói về dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, các đối tượng tung ra bài viết cho rằng, Nhà nước muốn tạo ra một mạng lưới chân rết quần chúng sát với từng người dân để nắm được từng chân tơ kẽ tóc, mọi hoạt động của dân, rồi hạch sách, nhũng nhiễu… gây nguy hại cho dân; nếu hình thành một lực lượng như thế thì gần như là lực lượng bán vũ trang, rồi chi phí dụng cụ hành nghề, thậm chí có thể là vũ khí nóng gây bất an cho dân... Từ đó hướng lái vấn đề “lực lượng này dù có hợp nhất hay không cũng sẽ không giữ được ANTT như mong muốn của nhà cầm quyền cộng sản khi soạn luật mà nó sẽ làm mất ANTT và xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”...

Ngay sau đó, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong liền đăng tải các bài viết nhằm bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và kích động người dân. Đây là những luận điệu xuyên tạc nhằm dẫn dắt, hướng lái dư luận, tạo ra nhận thức lệch lạc, thái độ phản đối, chống phá đối với dự án luật. Từ việc xuyên tạc nội dung trong dự án luật, các đối tượng hướng đến bôi nhọ hình ảnh lực lượng vũ trang, bôi nhọ chính sách quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cho rằng cách làm như vậy là sai lầm, làm mất vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế! Cùng với việc vu khống, bôi nhọ cán bộ, đảng viên, các đối tượng tìm cách tâng bốc những người bất mãn, cơ hội chính trị, coi những đối tượng hoạt động tuyên truyền, chống phá nhà nước bị pháp luật xử lý là những “nhà dân chủ”; cổ vũ tư tưởng dân tộc cực đoan, kích động "lòng yêu nước" để tụ tập, biểu tình chống đối nhằm tới mục tiêu "cách mạng đường phố", "cách mạng màu" để thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Cần nhận thức đầy đủ ý nghĩa, sự cần thiết ban hành các dự án luật

Trái ngược với những luận điệu xuyên tạc, phá hoại nói trên, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, đại biểu Quốc hội và người dân ở các tỉnh, thành phố qua quá trình nghiên cứu, thảo luận đã khẳng định, việc ban hành các dự án luật do Bộ Công an chủ trì soạn thảo nói trên là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan. Điều này xuất phát từ sự đa dạng, phức tạp của công tác bảo đảm ANTT, luôn có sự biến động, thay đổi, đòi hỏi các quy định pháp luật phải được bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Với những vấn đề mới khi đưa ra thảo luận, đóng góp ý kiến, có những ý kiến đồng tình hoặc chưa tán thành nội dụng, vấn đề nào đó là điều hết sức bình thường. Tuy nhiên, cần tỉnh táo trước những luận điệu lợi dụng việc góp ý để xuyên tạc nhằm tạo ra nhận thức lệch lạc, suy giảm niềm tin, kích động tâm lý, thái độ chống đối, phá hoại dự thảo luật, sâu xa hơn là chống phá chế độ, Đảng và Nhà nước.

Các dự án luật trên có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; tăng cường quản lý nhà nước và bảo đảm quyền lợi của công dân; nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng CAND. Tạo cơ sở vững chắc giúp lực lượng Công an chủ động trong công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, chính sách về bảo đảm an ninh trật tự, triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và xây dựng lực lượng CAND thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị.

Đối với dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động gây tâm lý hoài nghi, dao động, ảnh hưởng đến mục tiêu giữ vững sự ổn định và bảo đảm ANTT ngay từ cấp cơ sở. Do vậy, chúng ta cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn để có cách thức đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái.

Cần thấy rằng, việc xây dựng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là sự cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, trong đó CAND là lực lượng nòng cốt, bảo vệ ANTT từ xa, từ sớm, từ cơ sở. Việc xây dựng dự thảo, lấy ý kiến các nhà khoa học, các cơ quan chức năng trước khi hoàn thiện để Chính phủ trình Quốc hội thảo luận, thông qua nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảm bảo ANTT tại địa bàn cơ sở.

Hiện nay, cùng với lực lượng Công an, trên địa bàn cấp xã có sự tham gia bảo vệ ANTT của các lực lượng: Bảo vệ dân phố, dân phòng, Công an xã bán chuyên trách đã kết thúc nhiệm vụ được tiếp tục sử dụng. Các lực lượng này được gọi chung là lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Đây là lực lượng quần chúng do UBND cấp xã thành lập, quản lý, duy trì hoạt động, hỗ trợ lực lượng Công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở địa bàn cấp xã. Mặc dù vậy, hiện nay mỗi nơi từ tên gọi đến tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng khác nhau, không rõ ràng. Từ đó một số nơi gặp khó khăn trong chỉ đạo, tổ chức, thực hiện, do vậy đòi hỏi cần phải được chuẩn hóa, đưa vào luật.

Thực tiễn tổ chức và hoạt động của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở thời gian qua đã bộc lộ nhiều vướng mắc bất cập, nhất là về chính sách, pháp luật. Các quy định hiện hành về tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành. Mặt khác, các quy định về thẩm quyền thực hiện một số nhiệm vụ bảo vệ ANTT, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ bị chồng lấn giữa các lực lượng. Quy định về chế độ, chính sách; điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, trang, thiết bị hoạt động của các lực lượng này còn thiếu, chưa thống nhất.

 “Lấy dân làm gốc” là nguyên tắc cơ bản, mục tiêu xuyên suốt của dự thảo luật và phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Theo cơ quan soạn thảo, việc xây dựng, tổ chức lại lực lượng tham gia bảo vệ ANTT không làm tăng biên chế, tăng ngân sách nhà nước. Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là cánh tay nối dài, sâu sát với nhân dân, hỗ trợ cấp ủy, chính quyền, hỗ trợ lực lượng nòng cốt là Công an chính quy trong việc đảm bảo ANTT tại cơ sở, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã phát huy tích cực thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ bảo đảm ANTT địa bàn dân cư, sát dân, hiểu, nắm được tâm tư nguyện vọng nhân dân, góp phần tham gia tổ chức, thực hiện phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Rõ ràng, với mục tiêu, ý nghĩa như trên, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là thực sự cần thiết và đáp ứng yêu cầu thực tiễn khách quan, có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng, củng cố các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, phục vụ hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân và phục vụ đắc lực nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Do đó, những quan điểm, luận điệu lệch lạc, sai trái, chống phá việc nghiên cứu, xây dựng và trình Quốc hội ban hành dự luật cần phải được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời.