Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2023

Phủ nhận giá trị văn nghệ kháng chiến cách mạng là có tội với lịch sử

 

Phủ nhận giá trị văn nghệ kháng chiến cách mạng là có tội với lịch sử

Những gì văn nghệ cách mạng đã làm được với đất nước, nhân dân trong cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc không hề cũ vì nó đã khơi dậy sự đồng lòng, tình yêu Tổ quốc, nhân dân; nó có mặt ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc chiến đấu sinh tử ấy. Nền văn nghệ cách mạng vẫn là một trong những điểm tựa cho ý thức dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới.

1. Thời gian qua, có một số người phê phán, thậm chí phủ nhận quan điểm “nghệ sĩ là chiến sĩ, văn nghệ là một bộ phận của công tác tư tưởng-văn hóa Đảng”, vì họ cho rằng do xuất phát từ quan niệm này mà Đảng đã giao cho văn nghệ nhiệm vụ phản ánh những vấn đề của đời sống theo chủ trương của Đảng, chủ trương này đã làm hạn chế, thậm chí tước bỏ sự phong phú, đa dạng của đời sống văn nghệ.

Cần phải hiểu đúng bản chất của quan điểm nêu trên. Chủ trương là thế, còn chất lượng phản ánh thế nào lại phụ thuộc vào tài năng và năng lực sáng tạo của nghệ sĩ, vì trên định hướng ấy, chất lượng sáng tạo của nghệ sĩ rất khác nhau, nó phụ thuộc vào trí tuệ, tài năng, tâm huyết của cá nhân mỗi người. Văn học hiện thực đề cao nguyên tắc phản ánh, tái hiện đời sống dưới góc độ “như bản thân đời sống” và nhiều nhà văn hiện thực đã để lại cho đời những tác phẩm sống mãi với thời gian, đã đụng đến những vấn đề mang tầm vóc nhân loại, được mọi xu hướng khác chủ nghĩa hiện thực coi là mẫu mực của sự phản ánh. Suốt đời L.Tolstoy coi cái thật là cái đẹp, ông tìm kiếm và thể hiện nó theo cách của mình. Văn học cách mạng đề cao phản ánh những tấm gương lao động, chiến đấu vì đất nước, cộng đồng. Cũng không có nghệ sĩ nào cho rằng phản ánh đồng nghĩa với thấy gì ghi nấy, tác phẩm chỉ là sự sao chép đời sống mà thực ra từ bản chất, khi lựa chọn cái gì và phản ánh nó thế nào đã chứa đựng sự đánh giá, lựa chọn. Nhưng chất lượng của sự phản ánh phụ thuộc vào tài năng của nghệ sĩ và yêu cầu phản ánh không hề làm mất đi sự sáng tạo của chủ thể. Vấn đề là ở chỗ, tài năng của nghệ sĩ có đủ sức để phản ánh điều đó sâu sắc, đa dạng, hấp dẫn hay không, chứ không phải ở vấn đề phản ánh.

Có nhà nghiên cứu văn hóa dân gian từng nói, văn học cách mạng ít vấn đề vì nó chỉ lo phản ánh những gì diễn ra trong thực tiễn; ít chiều sâu mở rộng ra các khía cạnh nằm ở tầng sâu dưới bề mặt cuộc sống nên đơn điệu. Ông đã dẫn chuyện “Bà bủ” của nhà thơ Tố Hữu chỉ là một bài thơ mô tả giản đơn một cuộc sống không có xung đột, không ẩn chứa những vấn đề mang ý nghĩa triết học, nhân sinh thì có gì để nghiên cứu?

Thực ra trong bài thơ rất giản dị này của Tố Hữu vẫn phản ánh được mạch ngầm đang diễn ra của đời sống dưới cái bề ngoài giản dị không phải ai cũng nhận thấy; chiều sâu của đời sống, nhận thức và tình cảm con người giấu đi trong những biểu hiện chân chất, bình dị của chính đời sống lúc đó. Nhà thơ không chủ đích nói ra những điều ở đằng sau nhân vật trữ tình có phần đơn giản này, nhưng chỉ riêng sự miêu tả rất đúng tâm trạng của bà mẹ có con đi bộ đội trong một đêm mất ngủ vì lo cho con cũng thấy được cuộc sống đang chuyển động, ý thức con người đang thay đổi. Cái lo của bà bủ bắt đầu từ thương con “đánh giặc đường xa”, rồi đến thương những đồng đội của con mình. Nằm trong nhà nghe gió lạnh thổi ngoài hiên, bà nghĩ ngay đến những thiếu thốn mà con bà và đồng đội của nó đang phải chịu đựng. Cái mưa lạnh từ “chiến khu về” trong ý thức của bà có lý ở chỗ ấy chứ không phải sự gán ghép chính trị. Rồi bà căm thù thằng Tây bởi vì nó mà mẹ con bà xa nhau. Rồi bà tin con bà sẽ trở về. Nếu nhìn từ góc độ ấy (mà đó là điều có thực trong bài thơ, không cần bất cứ sự thêm thắt nào), sẽ thấy rằng văn học kháng chiến đã ghi lại được sự chuyển mình trong nhận thức của những người dân bình thường, điều trước đó chưa có. Đó là chiều sâu giá trị bài thơ “Bà bủ” của Tố Hữu.

Cũng không ai có thể phủ nhận giá trị của bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi bởi những cảm xúc và cách viết mới mẻ, pha trộn giữa nhận thức về chiều sâu của truyền thống, lịch sử với những khát vọng của cả một dân tộc trong cuộc chiến đấu vì hạnh phúc làm người. Cảm hứng làm chủ, tư thế chủ nhân của hình tượng thơ xuyên suốt bài thơ là điểm tựa cho những suy nghĩ, cảm xúc khác về đất nước, dân tộc, con người: Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta/ Những cánh đồng thơm mát/ Những ngả đường bát ngát/ Những dòng sông đỏ nặng phù sa. Điệp khúc “của chúng ta” lần đầu tiên ngân lên với cảm hứng ấy trong thơ lại không mang những phẩm chất mới sao? Trong thơ lãng mạn trước đó vài năm, người ta chỉ thấy tâm trạng cô đơn, chán chường, bế tắc thì những cảm hứng mới này là một luồng sinh khí mới làm thay đổi mạch chủ đạo của thơ ca. Mới về cảm xúc, mới về tình cảm mà nếu không có cuộc cách mạng làm thay đổi địa vị của người dân mất nước thành người tự do thì nhà thơ khó mà viết được thế.

Một vài ví dụ kể trên đều là sự phản ánh, là minh họa cho lòng yêu nước, cho phẩm chất chiến sĩ của người nghệ sĩ. Họ đi sâu vào đời sống, phát hiện ra những nét mới trong đời sống và ghi lại bằng những cảm xúc của mình cho mọi người thấy; động viên, cổ vũ cả dân tộc đứng lên chống kẻ thù chung lại không phải là giá trị sao? Có bao nhiêu nhà văn ở những nền văn học khác ở vào tình trạng tương tự đã làm được điều này?

Phủ nhận giá trị văn nghệ kháng chiến cách mạng là có tội với lịch sử

Ảnh minh họa tiết mục văn nghệ kháng chiến cách mạng. Ảnh: qdnd.vn

2. Cùng với hiện thực kháng chiến, các văn nghệ sĩ đã làm một cuộc “lột xác” để về với nhân dân. Họ hiểu ra nhiều vấn đề bản chất của xã hội bất công bắt đầu từ thân phận nô lệ của người dân, từ địa vị mất nước. Họ đứng về phía đám đông một cách tự nguyện, đem ngòi bút của mình phụng sự cuộc kháng chiến kiến quốc theo đúng nghĩa của từ này. Họ hiểu rằng, vai trò chiến sĩ của mình là cần thiết cả ở trên trận tuyến chống quân thù lẫn trong cuộc cách mạng văn hóa là thay đổi ý thức dân tộc, nhận thức của cộng đồng là một sứ mệnh vẻ vang. Về bản chất, từ thời cổ đại, văn nghệ luôn động viên con người đấu tranh chống lại bất công, chống lại cái xấu, cái ác, đề cao những giá trị nhân đạo. Lớp nhà văn đi theo cách mạng nhận thấy giữa lý tưởng xã hội và mục tiêu của văn chương gặp nhau. Để làm tốt điều đó, họ không thể cứ “khép phòng văn hì hục viết” mà phải “từ chân trời một người” đến “chân trời của tất cả”. Đó là một thực tế không thể chối cãi và điều này về bản chất là một bước tiến để đưa văn nghệ về với công chúng, gắn bó văn nghệ với đời sống của đại chúng, đất nước, phụng sự số đông chứ không phải chỉ là thú riêng của một nhóm người sống tách ra khỏi những vấn đề sống còn của xã hội.

Nói như Xuân Diệu thì quãng thời gian để từ chỗ “không quan tâm, không chủ nghĩa” đến chỗ hiểu được rằng: Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi/ Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu;/ Tôi sống với cuộc đời chiến đấu/ Của triệu người yêu dấu gian lao là đoạn đường bỏ lại những “cái tôi riêng” nhỏ hẹp để đến với “cái ta chung” rộng lớn. Đó là một giá trị mà cuộc sống mới là nhân tố quan trọng thay đổi và đào luyện nên họ. Chính văn nghệ kháng chiến đã từ thực tế mà ghi lại được khoảnh khắc chân dung người lính đạt đến tầm vóc “tạc vào thế kỷ”, là “Dáng đứng Việt Nam” trong giai đoạn hào hùng nhất của lịch sử hiện đại.

3. Lại có người đã khoác cho quan niệm coi “nghệ sĩ là chiến sĩ đồng nghĩa với việc biến họ thành công cụ, thành kẻ phát ngôn cho quan điểm của Đảng, làm cho họ mất tự do, làm cho ngọn lửa sáng tạo trong họ mất đi”.

Nói thế rất võ đoán vì không có căn cứ, chưa nhìn thấy những quy luật sáng tạo đặc thù của văn nghệ; là đồng nhất định hướng tư tưởng chính trị với những quy luật sáng tạo đặc thù. Từ thời cổ đại, chưa bao giờ văn nghệ thoát ra khỏi những ràng buộc của hệ tư tưởng, thể chế. Họ là nghệ sĩ nhưng họ cũng là công dân. Cũng chưa từng có văn nghệ sĩ lớn nào tuyên bố rằng họ viết không bị câu thúc hay ràng buộc bởi các tư tưởng nào.

Đại văn hào H.Balzac (Pháp) từng nói: “Tôi viết dưới ánh sáng của hai chân lý vĩnh cửu: Chúa và nền quân chủ chuyên chế”. Nhà thờ Thiên Chúa giáo đã lập tòa và kết tội chết Galileo chỉ vì ông dám dùng khoa học chứng minh giáo lý về trái đất và sự ra đời của con người trái với những kết luận khoa học. Những nhà văn lớn khác như L.Tolstoy, F.Dostoevsky (Nga) lại không hơn một lần bị chính quyền gây phiền phức, thậm chí bắt bỏ tù vì những quan điểm chính trị, xã hội trái với quan điểm của nhà cầm quyền. Thế mà những người thổi phồng một cách sai lầm về chuyện tự sáng tạo của nghệ sĩ lại cố tình quên đi những sự thực ấy, họ chỉ vin vào một số hạn chế của văn nghệ thời kỳ kháng chiến rồi “kết tội chính quyền, hạ thấp uy tín nhà văn” là không thỏa đáng, trái với bản chất khoa học và cũng rất thiếu nhân văn.

Định hướng về vai trò chiến sĩ của người cầm bút không nên chỉ hiểu họ như một người lính chỉ biết phục tùng mệnh lệnh. Hiểu thế là thô thiển, sai lầm. Người nghệ sĩ thời nào cũng cần đứng ở tuyến đầu trong cuộc đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, trong sự động viên mọi người vươn tới những gì tốt đẹp nhất vì đó là sứ mệnh, thiên chức của họ. Đó là một đòi hỏi chính đáng, là một nhiệm vụ cao cả mà xã hội, bạn đọc giao cho họ và kỳ vọng ở họ. Về bản chất, văn nghệ chân chính phải thuộc loại hàng hóa cao cấp, thuộc giá trị tinh hoa mà từ xưa đến nay chỉ có giới tinh hoa mới có thể dẫn dắt xã hội. Ở thời đại nào cũng thế.

4. Chúng ta chiến thắng trong cuộc chiến tranh chống thực dân, đế quốc xâm lược không phải chỉ bằng phương tiện mà cái chính vẫn là con người, là tình yêu Tổ quốc, là sự yên ổn trong tâm hồn người lính, họ sẽ trở về vì ở hậu phương người thân của họ đang chờ. Cả hậu phương hướng ra tiền tuyến và ở tiền tuyến, mọi người cũng nghĩ đến hậu phương. Đó là điểm tựa tinh thần quan trọng, là niềm tin để họ chiến thắng. Văn nghệ kháng chiến đã làm được điều này và đó là một giá trị quốc gia, dân tộc, cộng đồng rất lớn, không mấy nền văn nghệ có được.

Cái không khí nhà nhà ra trận, người người ra trận như ở bài thơ “Đường ra mặt trận” của Chính Hữu là thế. Nó không hề giả tạo mà nó nói được cái khí thế cả nước đánh giặc của một thời. Thậm chí, ở một bài thơ về cuộc gặp gỡ tình cờ giữa rừng Trường Sơn của nhà thơ với cô gái trên đường ra trận trong cánh rừng lá đỏ ào ào rụng xuống, không đao to búa lớn gì nhưng người đọc vẫn cảm thấy cả quê hương cùng ra trận và điểm hẹn gặp nhau ở Sài Gòn là hoàn toàn tự nhiên vì đó là cái đích của cuộc chiến, ai ra trận cũng hiểu, ai cũng mong góp phần vào ngày tiến về giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Nói như Tố Hữu: “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận”, tư tưởng ấy thấm sâu vào mọi người dân, đạo đức xã hội lúc đó là hiểu thấu nghĩa vụ và trách nhiệm trước lịch sử.

Vì vậy, có thể khẳng định rằng, văn nghệ thời kháng chiến cách mạng đã làm rất tốt nghĩa vụ là một bộ phận của cuộc cách mạng và đội ngũ văn nghệ sĩ đã hoàn thành xuất sắc trách nhiệm công dân trước đất nước. Xét từ cơ sở xã hội, tư tưởng triết học đến những vấn đề về đạo đức xã hội hay mỹ học thì văn nghệ cách mạng đã tạo ra những hệ giá trị cho thời đại. Làm được như thế là một kỳ tích của văn nghệ cách mạng. Giá trị ấy không bao giờ cũ.

Hiện nay, chúng ta đang xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong giai đoạn phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc là mục tiêu phấn đấu của cả xã hội, nhưng những đường hướng đến đích cần phải được tất cả mọi người dân đồng lòng. Thực hiện nhiệm vụ này có vai trò to lớn của văn nghệ. Trách nhiệm xã hội và về bản chất của văn nghệ điều này chưa hề cũ.

Chúng ta xây dựng hệ giá trị mới là do yêu cầu của hiện tại và tương lai, nhưng cũng phải căn cứ vào truyền thống để hoạch định bước đi cho cả dân tộc. Có những giá trị chỉ có ý nghĩa trong những thời điểm cụ thể, nhưng cũng có những giá trị không thay đổi. Những gì văn nghệ cách mạng đã làm được với đất nước, với nhân dân trong cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc không hề cũ vì nó đã khơi dậy sự đồng lòng, tình yêu Tổ quốc, nhân dân; nó có mặt ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc chiến đấu sinh tử ấy thì không bao giờ cũ. Nền văn nghệ cách mạng vẫn là một trong những điểm tựa cho ý thức dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới.

Nhận diện và xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội

 

Nhận diện và xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong giai đoạn hiện nay, để tăng cường và không ngừng nâng cao hiệu quả công tác này, cần nhận diện rõ bối cảnh mới, những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, từ đó đề ra định hướng, giải pháp phù hợp.

Những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không ngừng củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác này được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu. 

Đặc biệt, nhờ có sự lãnh đạo nhạy bén, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán liên tiếp xảy ra. Đó là minh chứng hết sức sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ ta, truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta; càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản nổi, để xây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh, đất nước ta tiếp tục đi lên, dân tộc ta phát triển cường thịnh, trường tồn.

Tuy nhiên, đất nước ta càng đạt được những thành tựu phát triển to lớn, các thế lực thù địch, phản động lại càng hằn học tìm mọi cách để chống phá. Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo, tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đi vào chiều sâu đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn rất mới, trước đây chưa từng có, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị tăng cường chống phá chúng ta.

Chúng thay đổi phương thức, thủ đoạn chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng một cách tinh vi và xảo quyệt hơn. Hoạt động của chúng có lúc âm thầm, lẩn khuất, có lúc công khai, trắng trợn; thường tập trung vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự kiện đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, hoặc thời điểm xảy ra các vụ, việc phức tạp, nhạy cảm.

Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn này ở chỗ, chúng tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi, hoang mang, dao động, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm lung lay niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tạo tâm lý bức xúc, chống đối trong xã hội. Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ ý đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, luôn toan tính tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, lý luận trong đời sống chính trị - xã hội của nước ta, với âm mưu cơ bản, lâu dài và rất thâm độc là xoay chuyển quỹ đạo phát triển của đất nước ta đi chệch hướng XHCN.

Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội (Zalo, Facebook, TikTok…), các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”. Chúng tận dụng tối đa hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài, các kênh facebook, youtube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Chúng dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống như của Đài Truyền hình Việt Nam, Truyền hình Thông tấn và một số báo, đài chính thống để đưa tin. Mánh lới của chúng là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người.

Trong thời điểm tiến hành Đại hội đảng các cấp (năm 2020, 2021), các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị càng tăng cường, ra sức nhào nặn, bóp méo thông tin, xuyên tạc, chống phá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng tập trung công kích dự thảo các văn kiện trình Đại hội, xuyên tạc rằng các văn kiện lần này vẫn là “bổn cũ viết lại”, “sao chép theo lối mòn”, không có gì mới, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại; các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đưa ra trong dự thảo văn kiện là “bất khả thi”, “không có cơ sở để thực hiện”... Cùng với đó, chúng tấn công vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược; liên tục tung tin giả về thân thế, sự nghiệp, tài sản, “sai phạm” của lãnh đạo cấp cao; xuyên tạc công tác nhân sự của Trung ương, công tác phòng, chống tham nhũng,... hòng gây bất ổn chính trị - xã hội, gây ra những khó khăn, thách thức không nhỏ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Nhận diện và xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội
Trưng bày sách chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Ảnh: dangcongsan.vn 

Nhận diện để đấu tranh

Nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn, các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động tấn công vào nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có thể nói, nắm bắt những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị là nhiệm vụ đầu tiên để nhận diện rõ các đối tượng này, nhất là khi chúng là những kẻ thù giấu mặt, cơ hội chính trị, lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, để từ đó, chúng ta có đối sách, phương pháp đấu tranh phù hợp, đạt hiệu quả cao.

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Thủ đoạn mới của chúng là chuyển từ bôi nhọ bằng luận điệu “du nhập ngoại lai”, “nhập khẩu lý luận” sang đánh tráo, thay thế các khái niệm, thổi phồng cái gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, đối lập Chủ nghĩa Mác với Chủ nghĩa Lênin, kêu gọi dùng “Chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin mà cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên, rõ ràng rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Chúng trích dẫn một cách cắt xén, nửa vời những quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đan cài gài bẫy bằng những quan điểm giả danh mác-xít, làm cho người đọc mất phương hướng, lẫn lộn, không phân biệt được đúng, sai. Chúng rêu rao rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam, giới lý luận và các nhà khoa học của ta đã dịch sai, hiểu sai quan điểm của Mác, Ph.Ăng-ghen; đồng thời, chúng diễn giải lại theo cách hiểu xuyên tạc, méo mó, hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cùng với việc công kích trực tiếp vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xúy du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài, kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống chính trị và xã hội.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị XHCN bằng các luận điệu xuyên tạc như: Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng cầm quyền phi chính danh, không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng XHCN, đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định hướng XHCN”. Chúng còn cho rằng chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”, đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, thực hiện “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây, với âm mưu không gì khác ngoài việc chống phá sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta.

Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”, khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai, dịch Covid-19... nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thủ đoạn thường được chúng sử dụng là: Kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi thực hành tôn giáo trái pháp luật; kích động giáo dân, đồng bào dân tộc thiểu số tụ tập biểu tình. Chúng kích động, “hà hơi tiếp sức” cho những kẻ nhân danh “lòng yêu nước” để biểu tình gây rối trật tự, trị an. Đặc biệt, trong thời gian qua, các đối tượng chống đối triệt để lợi dụng các vụ án phức tạp, nhạy cảm để kích động, xuyên tạc, quy kết, vu cáo Đảng, Nhà nước yếu kém, đả kích các cơ quan tư pháp, kích động “bất tuân dân sự” trong xã hội.

Thứ tư, lợi dụng thông tin về những mặt hạn chế, bất cập của đất nước, các thế lực thù địch, phản động khoét sâu vào những điểm yếu kém trong thực thi công vụ của một số cơ quan, cán bộ lãnh đạo, quản lý, hòng chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, âm mưu cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, hướng lái tạo ra những tư tưởng, tâm lý nghi kỵ, hẹp hòi, hành động sai trái, chống đối, bạo lực và bạo động trong cộng đồng và xã hội. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng, quy kết những biểu hiện cá biệt, những khuyết điểm của một số tổ chức đảng và cá nhân đảng viên thành bản chất của Đảng cầm quyền, từ đó kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ, đảng viên.

Thứ năm, các thế lực thù địch, phản động tiến hành móc nối, xâm nhập vào nội bộ của ta, tìm cách phân hóa tổ chức, hòng dựng lên “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. Chúng không ngừng tìm kiếm những phần tử thoái hóa, biến chất trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tán phát tư tưởng phản động, chống phá Đảng, Nhà nước. Để tăng thêm sức lan tỏa, độ tin cậy của thông tin, chúng chú ý tập hợp, dẫn dụ những ý kiến, phát biểu gây “sốc” trái với đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước từ những đối tượng “dân túy”, tạo dựng ra cái gọi là chân dung “nhân sĩ, trí thức yêu nước”, “những cán bộ của nhân dân”... nhằm trực tiếp tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái.

Thứ sáu, các thế lực thù địch, phản động phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta với các chiêu bài, như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia, cổ xúy chủ nghĩa ly khai. Đáng chú ý, các đối tượng này triệt để lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để tung tin thất thiệt, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tổ chức tán phát các “thư ngỏ”, “tuyên bố”, “kiến nghị” để lôi kéo, kích động đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép đối với Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền.

Nhận diện và xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội
Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội luôn lợi dụng mạng xã hội làm công cụ để đẩy mạnh tuyên truyền quan điểm sai trái, xuyên tạc. Ảnh: tuyengiao.phuyen.gov.vn

Đề xuất một số giải pháp

Những âm mưu, thủ đoạn trên có thể nhận diện được nhưng để tạo sức mạnh đấu tranh có hiệu quả thì luôn cần có sự thông suốt, thống nhất tư tưởng, hành động trong toàn Đảng, tinh thần chiến đấu của từng đảng viên, sự thấu hiểu và ủng hộ của quần chúng nhân dân. Trong thời gian tới, để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp tục đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ta cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp như sau:

Một là, quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan Đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.   

Hai là, đặc biệt coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và mỗi tầng lớp nhân dân. Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo kịch bản chặt chẽ, tổ chức chiến dịch truyền thông thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền thông, báo chí, nhất là quản lý thông tin trên internet và mạng xã hội. Khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý các hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.

Ba là, tăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn tận “gốc” nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các trang mạng độc hại. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén, “chắc tay”, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế-xã hội của đất nước, của địa phương, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, từng bước giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận trên internet. Cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu gương sáng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, trước hết. Muốn đấu tranh, trước hết phải tránh xa cám dỗ, thói hư, tật xấu, xây dựng đạo đức thực thi công vụ trong sáng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; kiên trì, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu để định hình, thiết lập hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chú ý nhận diện những vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung chống phá để xây dựng luận cứ khoa học thuyết phục, phục vụ và trực tiếp đấu tranh phản bác. Tập trung bảo vệ và làm lan tỏa những nội dung mới, tầm nhìn, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận; trong đó, chú trọng bổ sung, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những vấn đề lý luận mới về: Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, quốc phòng, an ninh trong tình hình mới... Nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng thời, nghiên cứu sâu các vấn đề quốc tế, các sự kiện gây “sốc” trên thế giới, để “mở mắt” cho các thế lực thù địch, phản động - những kẻ thường xuyên viện dẫn một cách lệch lạc, khập khiễng các vấn đề bên ngoài để bôi xấu, chỉ trích, xuyên tạc tình hình trong nước.

Năm là, gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên, với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và xây dựng đơn vị trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc. Tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận có bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, phương pháp và kỹ năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, có nhiệt huyết và tầm cao về lý luận; xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, cán bộ trẻ. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm điều kiện làm việc để người tài chuyên tâm, nỗ lực đóng góp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực tìm kiếm, nhân rộng những mô hình hay, những cách làm đổi mới, sáng tạo, hiệu quả, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến; chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh; khen thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

BIỂN ĐẢO VIỆT NAM - BẢO VỆ KHÔNG GIAN SINH TỒN CỦA DÂN TỘC

 

Ngoài vùng biển rộng, nước ta còn có khoảng 2.773 đảo ven bờ và hai quần đảo xa bờ (Hoàng Sa, Trường Sa), nhiều khu vực địa lý quan trọng ở ven biển. Lợi thế “mặt tiền” hướng biển, thuận lợi cho giao thương và hội nhập kinh tế quốc tế nhưng cũng xung yếu về mặt an ninh quốc phòng.
Từ tiềm năng...
Biển Việt Nam là một bộ phận của biển Đông (khoảng 29% diện tích biển Đông), rộng gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền, bao gồm các vùng biển trong phạm vi 200 hải lý, thềm lục địa và 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Dáng hình phần đất liền của Việt Nam hẹp chiều ngang và trải dài theo hướng á kinh tuyến (không nơi nào cách biển >500 km). Cho nên, toàn bộ lãnh thổ đất liền của Việt Nam đều chịu ảnh hưởng của các “yếu tố biển”, bao gồm cả yếu tố tự nhiên và phát triển.
Biển là môi trường sống của các loài sinh vật thủy sinh, các loài chim nước, chim di cư, các loài động thực vật trên các đảo, thậm chí là môi trường sống lý tưởng của con người. Các vùng biển của Việt Nam có khoảng 12.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái (HST) điển hình, thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau với hơn 2.000 loài cá, 230 loài tôm biển và trên 1.300 loài trên hải đảo. Biển Việt Nam được xem là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học biển trên thế giới.
Yếu tố biển rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế lãnh thổ và kinh tế biển, chiếm vị trí trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế quốc dân trong thời gian tới. Với khoảng 5,3 triệu tấn cá biển và khả năng khai thác bền vững là 2,3 triệu tấn/năm, kinh tế thủy sản đóng góp lớn cho thị phần xuất khẩu của nước ta.
Trong vùng biển Việt Nam chứa khoảng 35 loại hình khoáng sản với quy mô trữ lượng khai thác khác nhau từ nhỏ đến lớn, thuộc các nhóm: nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý và bán quý, khoáng sản lỏng. Tiềm năng dầu khí phân bố trong 6 bồn trầm tích và hoạt động khai thác dầu khí được duy trì tại 11 mỏ ở thềm lục địa phía Nam. Dọc ven biển đã phát hiện được các sa khoáng khoáng vật nặng của các nguyên tố hiếm quý như titan, ziacon và xeri. Sản lượng khai thác inmênit (quặng titan) từ các sa khoáng ven biển cả nước là 220.000 tấn/năm và ziacôn 1.500 tấn/năm. Gần đây còn phát hiện được ở vùng bờ Nam Trung Bộ các sa khoáng nói trên với trữ lượng có thể đứng đầu thế giới. Đây là tiềm năng khai thác các nguyên tố hiếm - nguyên liệu rất quan trọng cho ngành công nghiệp quốc phòng và vũ trụ.Một sốmỏ cát vật liệu xây dựng dưới đáy biển ở Quảng Ninh và Hải Phòng với trữ lượng chừng trên 100 tỷ tấn.Cát thuỷ tinh nổi tiếng là mỏ Vân Hải (trữ lượng 7 tỷ tấn), Vĩnh Thực (20.000 tấn) và một dải cát thạch anh ngầm dưới đáy biển Quảng Ninh (gần 9 tỷ tấn).
Tiềm năng tài nguyên nước biển cũng rất lớn, bản thân nước biển là một hóa chất tổng hợp có thể chắt lọc ra phần lớn các nguyên tố có mặt trong Bảng tuần hoàn Mendeleev và còn được khai thác để sản xuất nước ngọt trong tương lai.Ở nước ta, nước biển thường được sử dụng cho các mục đích khác nhau; trước hết, để sảnxuất muối - một lĩnh vực kinh tế biển khá đặc thù.Hiện nay, làm muối ở Việt Nam không chỉ phục vụ cho nhu cầu sinhhoạt, mà còn cho các ngành công nghiệp và y học.Ngoài ra, nước biển để nuôi trồng thủy sản, để phát triển du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh. Thêm vào đó, các dạng năng lượng biển tiềm năng cần chú ý khai thác là: băng cháy đã phát hiện triển vọng, năng lượng thủy triều ở khu vực ven bờ Quảng Ninh - Hải Phòng, năng lượng sóng và dòng chảy ở miền Trung và năng lượng hạt nhân nước nặng (H2O2) từ nước biển.
Lợi thế về cảng biển luôn được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm chú trọng phát triển. Bờ biển dài và khúc khuỷu, cứ 20 km bờ biển có một cửa sông lớn (114 cửa sông) và khoảng52 vịnh nước sâu ven bờ miền Trung (vũng vịnh, đầm phá chiếm 60% chiều dài đường bờ biển), hơn 100 vị trí có thể xây dựng các cảng biển lớn. Giao thông đường biển có lợi thế gần tuyến đường hàng hải quốc tế và khu vực.
Biển là tiền đề và là nền tảng cho việc phát triển lâu dài một số ngành kinh tế biển như: du lịch, thuỷ sản, hàng hải, khai khoáng và y dược,…Không gian du lịch biển tập trung chủ yếu ở vùng ven biển và các đảo ven bờ, nơi tập trung nhiều di sản cấp toàn cầu và quốc gia với văn hóa biển độc đáo.
... đến thách thức
Bên cạnh vai trò to lớn mà biển đem lại, biển nước ta cũng đối mặt với nhiều thách thức. Trước hết là chất lượng nước biển diễn biến theo chiều hướng xấu, ngày càng nhiều chất thải không qua xử lý từ đất liền đổ vào biển; rác thải biển, đảo trở thành vấn đề nan giải; ô nhiễm nhận chìm có xu hướng tăng mạnh. Ngoài ô nhiễm biển, suy thoái các hệ sinh thái, nước ta còn đối mặt với tác động hiện hữu của biến đổi khí hậu và biến đổi đại dương, thiên tai và tai biến môi trường (sự cố tràn dầu, xói lở bờ biển, bồi tụ vùng cửa sông,…). Sự cố, thảm họa môi trường biển ngày càng gia tăng và biển bị đầu độc do khai thác theo cách hủy diệt của con người bằng mìn và hóa chất, thừa chất thải hữu cơ, khai thác cát biển, đổ thải bất hợp pháp,... Đặc biệt, gần đây Trung Quốc đã mở rộng, tôn tạo các bãi cạn rạn san hô ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thành đảo nhân tạo,… khiến cho môi trường rạn san hô ở đây bị phá hủy vĩnh viễn, làm tê liệt chức năng sinh thái vốn có của nó, nguồn lợi thủy sản suy thoái đến mức khó có thể phục hồi và nghề cá khu vực có nguy cơ “đổ vỡ”.
Biến đổi khí hậu và biến đổi đại dương trở thành thách thức toàn cầu, lớn nhất trong thế kỷ XI. Theo Ngân hàng thế giới (WB), nước biển dâng lên 5m thì Việt Nam mất 16% diện tích đất đai, đe dọa 35% dân số và 35% tổng sản phẩm quốc nội; các vùng đất thấp ven biển, các đảo san hô và hàng loạt hệ sinh thái, cơ sở hạ tầng bị phá hủy vì ngập dưới nước biển. Ngoài ra, nước ta còn chịu nhiều rủi ro thiên tai trên biển và các hiện tượng thời tiết cực đoan và hậu quả từ biến đổi khí hậu, như: bão, tố, nước dâng trong bão,...
Đứng trước những thách thức lớn đó, việc phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường: không để biển trở thành “thiên đường” của các dự án gây ô nhiễm. Tất cả hoạt động khai thác, sử dụng biển đều cần không gian biển riêng, gây mâuthuẫn lợi ích và xung đột không gian trong cùng một vùng biển.Vì vậy, phải phân vùng sử dụng không gian biển hợp lý, quản lý tổng hợp biển dựa vào hệ sinh thái, tiến tới thống nhất quản lý nhà nước về biển, đảo.
Một thách thức lớn nữa mà chúng ta không thể không nhắc tới đó chính là thách thức về chủ quyền biển, đảo. Đặc biệt là phải đối mặt với việc Trung Quốc theo đuổi ý đồ “độc chiếm Biển Đông” cùng với yêu sách phi lý về “đường chín đoạn”, triển khai sáng kiến “Nhất đới, nhất lộ” với “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XI” và “Chuỗi ngọc trai” trên biển.
“Con đường tơ lụa” trên biển không chỉ là mối đe dọa về an ninh và chủ quyền lãnh thổ đối với các nước láng giềng, nhất là các nước đang có tranh chấp biển, đảo với Trung Quốc ở Biển Đông mà còn đối với tự do, an ninh, an toàn hàng hải trên biển một khi Trung Quốc thiết lập một “luật chơi” riêng.
Bảo vệ không gian sinh tồn của dân tộc.
Biển được xem là không gian sinh tồn của dân tộc ta, đó là không gian phát triển và an ninh. Để bảo vệ, đầu tiên chúng ta cần cải thiện “sức khỏe” của biển thông qua việc phát triển và phục hồi các thảm thực vật dưới biển (thực vật phù du, rong tảo, cỏ biển) và ven biển (rừng ngập mặn) để tăng khả năng thu-giữ CO2, giảm thiểu biến đổi khí hậu. Chú trọng phát triển kinh tế biển xanh, tăng trưởng xanh một cách bền vững.
Rà soát lại chiến lược và kế hoạch phát triển biển, đảo phù hợp với tinh thần của Chương trình Nghị sự 21 về định hướng phát triển bền vững quốc gia, của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, của Mục tiêu phát triển bền vững biển đến 2030 (Mục tiêu 14) với việc tính đến các kịch bản rủi ro thiên tai và nhân tai, tính đến yêu cầu hội nhập quốc tế.
Tăng cường tính liên ngành trong phát triển và quản lý kinh tế biển vì lợi ích chung và lâu dài qua các công cụ chính sách, quy hoạch lồng ghép. Phối hợp thành lập và quản lý các khu bảo tồn ven biển và biển, đảo để bảo toàn chức năng sinh thái của vùng biển và nguồn vốn tự nhiên biển cho phát triển biển bền vững. Tăng cường nâng cao nhận thức về kinh tế biển bền vững, giảm thiểu các hành vi gây hại đối với môi trường và tài nguyên biển, cũng như cách ứng xử, đối phó với thiên tai, kiểm soát tốt nguồn thải, làm sạch bãi biển. Phát triển du lịch sinh thái với quy mô lớn hơn, lợi ích nhiều hơn và bền vững hơn.
Để duy trì “nồi cơm Thạch Sanh” cho các cộng đồng địa phương, cần xúc tiến quản lý biển theo cách tiếp cận tổng hợp nhằm giảm thiểu tác động từ các hoạt động của các ngành kinh tế khác đến chất lượng sản phẩm; và từ chính hoạt động kinh tế đến môi trường và tài nguyên biển. Quản lý thống nhất về mặt nhà nước đối với biển, đảo.
Tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam và củng cố bằng chứng đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong giải quyết các vấn đề tranh chấp biển, cần kiên định, linh hoạt, không để xảy ra xung đột quân sự; đẩy mạnh phát triển kinh tế biển để bảo đảm thực thi chủ quyền dân sự trên các vùng biển của Tổ quốc; gắn kinh tế với quốc phòng và thực hiện dân sự hóa.
Thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh: “biển bạc của ta do nhân dân ta làm chủ” và “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; trong đó, yếu tố bất biến là vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vạn biến là để bảo vệ chủ quyền cần sử dùng nhiều biện pháp linh hoạt, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, góp phần xây dựng một Biển Đông hòa bình và thịnh vượng./.
St

RANH GIỚI TỐT - XẤU, ĐÚNG - SAI LU MỜ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Nếu biên cương quốc gia là một thực thể hữu hình, được bảo vệ bởi chủ quyền quốc gia và công pháp quốc tế, khó bị xâm phạm, lấn chiếm thì “biên cương văn hóa” là ranh giới vô hình, mong manh, rất khó quản lý và ngăn chặn sự “xâm lăng” từ bên ngoài vào. Điều đó đang tác động thường xuyên, rất nguy hiểm, khó lường đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là trong giới trẻ.

Sự tôn sùng văn hóa ngoại lai lệch chuẩn, thích thưởng thức những “rác phẩm” trên không gian mạng... đã dần hình thành lối sống dị biệt, đi ngược với văn hóa truyền thống dân tộc ở một số người trẻ hiện nay. Hệ quả từ cuộc “xâm lăng văn hóa” thời đại kỷ nguyên số không còn là nguy cơ, mà trở thành thực tế không mong đợi đối với một bộ phận chủ nhân tương lai của đất nước.
“Rác phẩm” được tô hồng và trở nên cuốn hút
Liên tiếp trong tháng 5, tháng 6 vừa qua, cơ quan chức năng những tỉnh Bắc Kạn, Hà Giang, Bắc Ninh bắt giữ và khởi tố các bị can về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy. Điểm trùng hợp là tất cả bị can trên đều ở độ tuổi thanh niên, trong số đó có đối tượng thuê máy chủ và tên miền của những nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài để xây dựng, tạo lập website rồi phát tán và thu lợi từ các video “bẩn”. Đó cũng là thực tế đáng lo ngại khi trong số tội phạm truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, phần nhiều là người trẻ, sử dụng internet và mạng xã hội để phát tán nội dung xấu độc, lệch chuẩn. Nguyên nhân phạm tội-vì tiền thì đã rõ. Thế nhưng ngọn nguồn của hành vi bất chấp pháp luật, coi thường văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục dân tộc, chính là ở chỗ không ít khán thính giả trẻ tuổi đam mê thưởng thức những “rác phẩm” văn hóa đã vô tình tiếp tay cho các đối tượng đi tìm nguồn cung.
Quyền tự do lưu hành, quảng bá, phổ biến các sáng tạo văn hóa-nghệ thuật trên không gian mạng hiện nay dẫn tới tình trạng vàng thau lẫn lộn, tràn lan các sản phẩm độc hại. Văn học, phim, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn trên mạng; mỹ thuật, hội họa, nhiếp ảnh, trò chơi trực tuyến... đang tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhân cách thanh thiếu niên. Trong số đó, rất nhiều tác phẩm xứng đáng được gọi là “rác phẩm”: Những phim ngắn khai thác cảnh nóng, khiêu dâm, bạo lực, giang hồ xăm trổ, những MV âm nhạc chủ yếu để "câu view", "câu like". Nhan nhản clip có nội dung tục tĩu, phản cảm trên mạng xã hội thu hút hàng triệu lượt khán giả trẻ.
Nhiều chuyên gia lo lắng khi các bộ phim “đình đám” thu hút người trẻ trên mạng thường có mô típ “3S”: Sex-sốc-sến, hoặc công thức “giang hồ+bạo lực+hài nhảm”. Điều đó góp phần “nghiệp dư hóa”, “bình dân hóa” công việc sáng tạo văn hóa-nghệ thuật, ảnh hưởng đến sự phát triển đúng hướng và lành mạnh của văn hóa nước nhà, đồng thời tạo nên một thế hệ công chúng có gu thẩm mỹ nghèo nàn, què quặt, tầm thường, về lâu dài sẽ ảnh đến nền tảng tinh thần, tầm vóc của văn hóa dân tộc. Điều nguy hại nữa là ảnh hưởng đến lý tưởng, mục đích sống của thế hệ trẻ, khuyến khích một lối sống hưởng thụ, chạy theo vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần.
Một thực trạng hết sức lo ngại là các hành vi phản cảm, ứng xử vô văn hóa, hiện tượng ném đá hội đồng, anh hùng bàn phím... ngày càng phổ biến và thu hút một bộ phận người trẻ tham gia “like”, chia sẻ, hùa theo “comment bẩn”. Rồi ngôn ngữ mạng (ngôn ngữ thời @, ngôn ngữ tuổi teen, tiếng ta “đá” tiếng Tây...) đang ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiếng Việt. Một bộ phận thanh niên hấp thụ lối sống phương Tây một cách thái quá, chỉ chuộng nghe nhạc ngoại, phim ngoại và sính những trang phục nước ngoài. Có những bạn trẻ sống gấp, theo kiểu hưởng thụ, không muốn cống hiến, lao động nhưng lại đòi hỏi để thỏa mãn nhu cầu vật chất. Đáng buồn là một số thanh niên sau khi tiếp thu mớ kiến thức hỗn độn và văn hóa lai căng, nhố nhăng trên không gian mạng rồi quay lại chê bai mọi thứ của đất nước, các giá trị truyền thống của cha ông, của dân tộc, cho rằng những điều đó là lạc hậu, trì trệ.
Trong lĩnh vực giải trí, một số người trẻ bị cuốn hút và mải mê chạy theo những trào lưu du nhập từ nước ngoài, từ phim điện ảnh, phim truyền hình, các video ngắn, vlog, game streaming (chơi và tường thuật game trực tuyến), các video “chơi khăm” (prank), hình chế (meme)... Có bạn trẻ hùa theo những trào lưu độc dị khiến người khác không khỏi giật mình, như hát cùng dao kéo, chụp ảnh quái đản, “hot boy” giả gái, nuôi thú độc...
Trong xu thế hội nhập quốc tế, giới trẻ chủ động lựa chọn, tiếp thu tinh hoa văn hóa của các nước trên thế giới để làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy vậy, trong quá trình đó vẫn tồn tại hiện tượng tiếp nhận xô bồ mọi thứ gọi là “tân kỳ” của văn hóa ngoại lai mà không phân biệt hay-dở, tốt-xấu để đi đến chỗ lai căng, mất gốc về văn hóa. Sự thiếu chọn lọc thể hiện ở khía cạnh lạm dụng trong việc tiếp thu các sản phẩm văn hóa giải trí. Đó là sự lạm dụng trong các chương trình giải trí và quảng cáo trên những phương tiện truyền thông; lạm dụng hình thức biểu diễn của một số loại hình văn hóa đại chúng; lạm dụng việc tổ chức lễ hội; lạm dụng ca từ, hình ảnh trong những bài hát một cách sống sượng, phản cảm.
Trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Đảng ta từng cảnh báo: Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ... đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Đề cập đến hậu quả của các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai xâm nhập vào nước ta, Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 27-7-2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội” nêu vấn đề: Nhiều sản phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài đã xâm nhập vào nước ta bằng nhiều con đường, tác động rất xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thế hệ thanh thiếu niên; làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc.
Chúng ta hoàn toàn có thể coi không gian mạng là một môi trường văn hóa, bởi ở đó, các cá nhân thực hiện giao tiếp, thiết lập quan hệ, xây dựng những mạng lưới và tiến hành tương tác xã hội... Trên môi trường đó diễn ra những hoạt động văn hóa vô cùng sôi động với các tác phẩm văn hóa-nghệ thuật được phổ biến nhanh chóng, những hình thức hưởng thụ văn hóa rất cởi mở, đa dạng. Các sản phẩm văn hóa giải trí có xu hướng phát triển mạnh mẽ, thu hút nhu cầu tiếp nhận của cộng đồng, trong đó giới trẻ là đối tượng tiếp nhận chủ yếu. Đáng buồn là những sự méo mó, lệch chuẩn lại được tô hồng qua lăng kính nghệ thuật và trở nên cuốn hút với một bộ phận người trẻ. Càng làm những hành động phản văn hóa càng dễ kiếm tiền, càng thành công, càng được tung hô. Ranh giới tốt-xấu, đúng-sai bị lu mờ trên không gian mạng khi một số bạn trẻ chưa đủ nhận thức và bản lĩnh để phân biệt, hoặc cố tình phớt lờ điều đó.
"Idol" nhố nhăng dẫn dắt lối sống lệch chuẩn
Sự chi phối, ảnh hưởng của tư tưởng ngoại lai dẫn đến hiện tượng cuồng thần tượng của giới trẻ đã trở nên nhức nhối trong một thời gian dài. Từ việc hấp thụ sản phẩm, lối sống của những "Idol" (thần tượng) nhố nhăng khiến một bộ phận người trẻ không phân biệt được đâu là hay-dở, phi văn hóa.
Trong các nền tảng mạng xã hội thông dụng ở Việt Nam, có một điểm chung là việc sử dụng thuật toán phân phối để tạo nên nội dung xu hướng (chạy theo những thứ đang “hot”, được nhiều người quan tâm). Điều này dẫn đến những nội dung xu hướng độc hại phát tán đến giới trẻ rất nhanh và trên diện rộng. Các chuyên gia truyền thông cảnh báo, điều rất nghịch cảnh hiện nay là một bộ phận người trẻ không thích xem các vấn đề về lịch sử, xã hội, văn hóa, nhưng lại hứng thú và tung hô những người giỏi chửi bới, lừa đảo, nói xấu nhau trên mạng.
Hiện nay, trên các nền tảng mạng xã hội, ai có nhiều người theo dõi, nhiều lượt “thích” sẽ được đặt tên là “Idol”. Mạng xã hội tạo cơ hội để ai cũng có thể trở thành nhà sáng tạo nội dung, ai cũng có thể trở nên “nổi tiếng” và thành “KOL” (người có sức ảnh hưởng). Bản thân những người làm ở các công ty truyền thông, quản lý một số lượng lớn người làm nội dung số cũng thừa nhận đang có một bộ phận bạn trẻ chọn con đường trở nên nổi tiếng, thành “Idol”, thành “KOL” bằng cách tạo ra những nội dung độc hại. Vì lượt xem, lượt chia sẻ mà cuối cùng đều được quy thành tiền mà xuất hiện những bạn trẻ liên tục tạo nên các nội dung vô bổ, xu hướng độc hại để thu hút người dùng, từ nhảy múa khoe thân đến quảng cáo cờ bạc, phim ảnh dung tục; từ miệt thị người khác, kích động vùng miền đến tung hô những giá trị đi ngược lại với xã hội, thậm chí phản văn hóa, phi giáo dục. Có các nội dung còn khuyến khích con người làm những điều kỳ quặc, trái với lẽ thường, gây nguy hiểm đến tính mạng. Hiện tượng thanh niên Ngô Bá Khá (biệt danh là “Khá Bảnh”) dù đã bị kết án hơn 10 năm tù vì tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc nhưng đến nay vẫn được một số bạn trẻ nhắc đến như một thần tượng với những video clip quái dị trên mạng xã hội.
Có những “thần tượng” mạng được một số bạn trẻ phong là “thánh ăn” bởi dám “dũng cảm” từ bỏ quyền làm người khi tự nhốt mình trong chuồng và ăn giống như một con vật. Hay có những “giang hồ” mạng với lý lịch phức tạp, được biết đến với nhiều hành vi ngông cuồng, bạo lực, thậm chí từng có tiền án, tiền sự nhưng các buổi phát sóng trực tiếp của những người này lại thu hút đến vài trăm nghìn lượt theo dõi, bình luận, trở thành “KOL” trong một bộ phận người trẻ. Có cả những “thần tượng” dẫn dắt lối sống với quan điểm không cần đi học, đi làm, muốn kiếm tiền thì đơn giản là hẹn hò qua mạng để nhận người bao nuôi. Cụm từ “sugar baby” hàm ý nói về những cô gái được trả tiền để bao nuôi, lại được sáng tác thành sản phẩm âm nhạc và không ít bạn trẻ lan truyền trên mạng xã hội.
Những thần tượng nhố nhăng trên mạng ảo đang trở thành xu hướng dẫn tới nguy cơ bùng phát lối sống lệch chuẩn trong giới trẻ. Những thần tượng lệch chuẩn này là ai? Là những người tự xưng “Idol” mà chẳng cần thực lực chuyên môn; những “chiến thần chê bai” hay “thánh ăn”, “thánh chửi” với biểu hiện chung là ảo tưởng sức mạnh, “ngáo” quyền lực tự huyễn hoặc mình có quyền sinh quyền sát, là chuyên gia trong mọi lĩnh vực và có quyền đánh giá mọi thứ. Hay là những “KOL” tôn sùng cuộc sống vật chất mà bất chấp đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Những “Idol” đó còn có cả người nổi tiếng, hoạt động nghệ thuật sôi nổi nhưng lên mạng là chửi bới, đe dọa, xúc phạm, miệt thị, công kích lẫn nhau, thậm chí vi phạm pháp luật.
Lĩnh vực âm nhạc cũng chứng kiến nạn du nhập ồ ạt, thiếu chọn lọc. Một số nhóm nhạc nước ngoài gây “sốt” trong giới trẻ, đặc biệt là tuổi teen, chỉ bởi ngoại hình và vũ điệu đẹp mắt mà chẳng cần hiểu ca từ hay yếu tố nghệ thuật ra sao. Chính điều này đã cổ xúy cho xu hướng coi trọng yếu tố nhìn nhiều hơn nghe, đề cao tính giải trí hơn tính nghệ thuật trong lối cảm thụ âm nhạc của người trẻ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân xuất hiện một số người trẻ Việt Nam tự xưng là ca sĩ với những bài hát “nhạc chợ” nhảm nhí cùng màn biểu diễn khoe thân phản cảm. Sự tiếp nhận ồ ạt âm nhạc quốc tế vào thị trường Việt Nam của một bộ phận người trẻ phần nào làm méo mó đời sống âm nhạc trong nước, tạo nên lớp váng màu mè bắt mắt của những “Idol” mạng mà ẩn sau đó không biết bao nhiêu là sạn.
Từ thực trạng cuồng những thần tượng nhố nhăng khiến nhiều giá trị văn hóa truyền thống bị một bộ phận người trẻ coi thường, thậm chí chế giễu, thuần phong mỹ tục đứng trước nguy cơ bị chà đạp, đạo đức có nguy cơ băng hoại, tệ nạn xã hội gia tăng trong thanh thiếu niên.
Phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ những tồn tại: Tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại còn hạn chế; chưa coi trọng đúng mức và có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc; nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, không có chọn lọc (nói nặng ra là "vô văn hóa", "phản văn hóa")./.
St