Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2023

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tấm gương trọn đời vì nước, vì dân

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tấm gương trọn đời vì nước, vì dân

Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp bằng tài năng lỗi lạc đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Khi còn công tác hay về với đời thường, dù ở cương vị nào, Đại tướng cũng mang hết nhiệt huyết, đề xuất nhiều ý kiến quan trọng vào những vấn đề lớn của đất nước.

Nhân kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25-8-1911/25-8-2021), Báo Quân đội nhân dân Điện tử xin giới thiệu loạt bài: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tấm gương trọn đời vì nước, vì dân”, góp phần khắc họa thêm chân dung, bản lĩnh của một CON NGƯỜI tài ba lỗi lạc với trái tim chan chứa nhân văn. 

Bài 1: Đời riêng trong đời chung của đất nước

Là danh tướng lẫy lừng khiến kẻ thù phải kính nể, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại là người có trái tim chan chứa yêu thương, sâu nặng nghĩa tình. Trong cuộc đời Đại tướng, không có sự khác biệt giữa đời chung và đời riêng, cái riêng luôn nằm trong cái chung, kể cả niềm vui và nỗi buồn.

Nước mắt học trò bên dòng Kiến Giang

Nhà sử học người Anh, Đại tướng Peter Macdonal chọn cuốn sách “Tướng Giáp: Người chiến thắng ở Việt Nam” (Giap: The Victor in Vietnam), viết: Ba năm trước đại chiến thế giới, có một cậu bé đã chào đời ngày 25-8-1911, tại làng An Xá, Quảng Bình, gần vĩ tuyến 17. Trên thế giới này, hiếm có người có thể thay đổi dòng chảy lịch sử, nhưng cậu bé này là một trong số đó, lưu danh trên toàn cầu này với tư cách là một vị tướng, với một đội quân thô sơ mà đã chiến thắng hai cường quốc phương Tây. Đó là Võ Nguyên Giáp.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tấm gương trọn đời vì nước, vì dân
Ngôi nhà của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở làng An Xá, Lệ Thủy, Quảng Bình. Ảnh: qdnd.vn 

Theo cuốn Võ Nguyên Giáp hào khí trăm năm, Võ Nguyên Giáp sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, hiếu học. Ngay từ nhỏ, Võ Giáp đã được cha dạy chữ thánh hiền. Triết lý nhân văn về cách ứng xử, lý tưởng và đạo đức làm người trong Tam Tự Kinh, Ấu học tân thư. Rồi những câu chuyện tuổi ấu thơ nghe mẹ kể ông ngoại theo Văn Thân, làm đến chức Đề đốc coi đại đội tiền vệ, bà ngoại đi tiếp vận cho nghĩa quân Cần Vương chống Pháp. Mỗi lần giặc kéo đến, bà ngoại đặt các con hai đầu quang gánh chạy khỏi làng. Mẹ còn đọc cho nghe bài vè “Thất thủ kinh đô”… Những bài học khai tâm từ thuở vỡ lòng đã in đậm trong tâm trí Võ Giáp, đến mãi sau này, khi bước vào tuổi xưa nay hiếm, ông vẫn đọc lại cho con cháu nghe.   

“Tổ ta là Hồng Bàng

Triệu Thủy, Kính Dương Vương

Sự tích thời Bắc thuộc

Mối nhục cũ khó quên.

“Phong tuy độc, bất thích đồng quần/Hổ tuy bạo, bất thực đồng loại” (Ong tuy độc, không đốt cùng đàn/Hổ tuy ác, không ăn đồng loại)…

Ngày đi học ở trường tổng, gần chợp Hôm, có ty rượu do Sica do một tên thực dân Pháp làm chủ. Để mua vui cho bọn Pháp và lý trưởng, chánh tổng vào những ngày tết Tây, ngày quốc khánh của Pháp, thầy giáo trường tổng thường bắt bọn trẻ hát. Cậu Giáp tỏ ra rất khó chịu khi thầy giáo của mình khúm núm trước tên chủ ty rượu Pháp. Đến lớp 3, Võ Giáp rời làng, đi học ở trường huyện, phải đi đò dọc lên huyện Lệ Thủy và ở trọ nhà một người thân. Mẹ đưa cậu đi, trước lúc về còn dặn: Con ở lại đây, ngoan, học giỏi, mai mốt thím (mẹ) lên đón con! Cậu Giáp không cầm được nước mắt òa khóc nức nở, túm chặt áo mẹ nằng nặc đòi về, rồi chạy thẳng xuống đò. Về đến nhà, cậu không dám vào nhà ngay sợ thầy mắng. Cậu lủi thủi một mình sau vườn, không thấy thầy la gì lại thân mật gọi vào, thế rồi hôm sau cậu thuận lên trường trọ học.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tấm gương trọn đời vì nước, vì dân
Đại tướng Võ Nguyên Giáp với bố mẹ, con gái Hồng Anh (áo trắng) và các cháu năm 1946. Ảnh: quangbinh.gov.vn 

Thần tượng đầu đời trên Bến Ngự

Học xong lớp 3, Võ Giáp lên trường tỉnh học ở Đồng Hới. Ở đây, vốn tư chất thông minh, Võ Giáp luôn đứng đầu lớp, đến kỳ thi tốt nghiệp bậc sơ học, cậu đã đỗ đầu tỉnh. Mùa hè năm 1925, Võ Giáp thi đỗ vào trường Quốc học Huế. GS. Nguyễn Thúc Hào, bạn học của Võ Giáp, kể: “Anh Giáp hơn tôi một tuổi nhưng đã có những suy nghĩ người lớn, còn tôi lúc ấy chỉ là cậu bé chăm học, ngoan và dễ bảo thôi”.

Lúc này, phong trào đấu tranh đòi thực dân Pháp trả tự do cho nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu đang sôi sục. Với “những suy nghĩ người lớn”, Võ Giáp nhanh chóng hòa mình vào phong trào đấu tranh của quần chúng, cùng với những người anh như Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn (Hải Triều) đi vận động lấy chữ ký đòi trả tự do cho cụ Phan Bội Châu. Năm ấy, Võ Giáp mới 15 tuổi.   

Khi cụ Phan Bội Châu được trả tự do và bị giam lỏng ở Bến Ngự. “Ông già Bến Ngự” trở thành một biểu tượng có sức thu hút, thức tỉnh lòng người mạnh mẽ. Võ Giáp cùng các bạn học thường xuyên đến thăm và được cụ Phan giáo huấn. Những Hải ngoại huyết thưLưu Cầu huyết lệ tân thư như thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt tình yêu nước, thương nòi trong lòng cậu học trò Võ Giáp. Ông cùng những người bạn tiến bộ rủ nhau lên thượng nguồn sông Kiến Giang, tuyên thệ lập hội kín với mục đích đánh Tây. 

Sau này, trong bộ phim tài liệu: “Giọt nước giữa đại dương”, Đại tướng kể lại rằng: Cứ thứ 5 hằng tuần, chúng tôi đến thăm “Ông già Bến Ngự”, nghe cụ Phan hô hào thanh niên phải yêu nước, phải đứng lên. Những câu thơ “Dậy! Dậy! Dậy! Bên án một tiếng gà vừa gáy”, “Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”… khiến thanh niên chúng tôi bừng bừng lên như lửa. Học sinh mỗi người đều có một quyển vở đẹp nhất, ghi lại những bài thơ ca yêu nước, rồi bí mật đọc trong lớp hoặc ban đêm thắp đèn đọc trong ký túc xá.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tấm gương trọn đời vì nước, vì dân
Những tờ báo đầu tiên Võ Nguyên Giáp tham gia sáng lập và tổ chức. Ảnh: qdnd.vn 

Đầu năm 1927, Võ Giáp viết bài "Đả đảo tên tiểu bạo chúa trường Quốc học", đăng trên tờ báo tiếng Pháp L'Annam của luật sư Phan Văn Trường, tố cáo nền giáo dục ngu dân và quy chế cấm đọc sách báo yêu nước. Bài báo gây tiếng vang lớn ở Sài Gòn và Huế, từ đây cùng những hoạt động trước đó, Võ Giáp bị mật thám Pháp theo dõi sát sao.

Khi Nguyễn Chí Diểu bị nhà trường đối xử bất công, Võ Giáp đã dẫn đầu đoàn học sinh lên gặp Tổng giám thị Harter, đưa đơn phản đối nhưng không được chấp nhận. Võ Giáp bàn với Nguyễn Khoa Văn phát động bãi khóa. Cuộc bãi khóa khởi đầu từ trường Quốc học Huế nhanh chóng lan rộng ra các trường khác, thành một cuộc tổng bãi khóa toàn thành. Nhà cầm quyền phải trả tự do cho các học sinh bị bắt, nhưng Võ Giáp cùng nhiều người khác bị buộc thôi học và bị cấm thi cử trên toàn cõi Đông Dương trong vòng hai năm.

Mối tình đầu trong xà lim

Năm 1930, Võ Giáp thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế). Sau khi xét hỏi nhưng không thu được thông tin gì đặc biệt, chúng nhốt anh vào xà lim tối suốt 15 ngày liền, rồi cho ra buồng giam thường và tuyên án ba năm tù. Cũng tại đây, ông gặp lại người đồng chí, người vợ của mình sau này - bà Nguyễn Thị Quang Thái. Bà Quang Thái bị thực dân Pháp bắt, khi đó mới 16 tuổi, “gương mặt còn những nét ngây thơ nhưng tinh thần thì bất khuất”, nổi tiếng với câu nói dặn bạn tù: Không ai tố giác bạn, bạn đừng tố giác ai.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tấm gương trọn đời vì nước, vì dân
Năm 1930, Võ Giáp thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế). Ảnh tư liệu 

Trước đó, hai người đã có lần gặp mặt. Trong tập sách “Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ”, Trung tướng Phạm Hồng Cư kể:

Cô tìm anh để xuất trình giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng. Lúc ấy, anh Giáp ở trong một ngôi nhà khuất nẻo trong thành nội Huế. Từ cửa Đông Ba đi vào, rẽ trái, ngôi nhà nép sát thành Huế. Trong nhà treo la liệt các bức trướng phúng viếng cụ Phan Chu Trinh. Cô đi ngay vào nhà. Một cô học sinh xinh xắn, giọng nói nhẹ nhàng, âm ấm. Cô có dáng mảnh dẻ, hai con mắt to rất sáng.

“Đôi mắt này mình đã gặp ở đâu nhỉ?”. Anh Giáp thầm nghĩ. Xem thư giới thiệu, anh nhận ra: Đây là Quang Thái, em chị Minh Khai.

Anh Giáp nhớ lại hôm ở cơ quan Liên tỉnh ủy Nghệ - Tĩnh, cán bộ phụ trách cơ quan nói: “Chị Minh Khai có cô em đẹp người, đẹp nết, học giỏi, hoạt động cách mạng hăng hái không kém gì chị”. Lần đầu tiên anh Giáp nghe nói đến Quang Thái. Nhưng lúc đó, anh không chú ý.

Hôm đi từ Hà Nội về, anh gặp hai cô nữ sinh trên chuyến xe lửa Vinh-Huế. Anh quen cô Cầm, em chị Hoàng Thị Hải Đường, và qua cô Cầm biết người cùng đi với Cầm là Quang Thái…

Gặp Quang Thái lần đầu, anh Giáp có ngay mối cảm tình đặc biệt. Người thiếu nữ ấy có điều gì thu hút tâm hồn anh: dáng vẻ dịu hiền, điềm đạm nhưng không kém phần kiên định, khuôn mặt trái xoan, đặc biệt là hai con mắt rất thông minh. Chia tay, anh Giáp nhớ mãi hai con mắt ấy.

Hôm nay gặp lại, anh Giáp gần như sững sờ. “Đúng là con người ấy, người con gái gặp trên chuyến tàu” - anh thầm nghĩ…

Quang Thái vào Huế để đi học. Cô tìm bắt liên lạc với tổ chức để nhận công tác với đoàn thể. Anh Giáp giới thiệu Quang Thái với anh Lê Viết Lượng.

Anh Giáp biết là Quang Thái đã tham gia sinh hoạt Hội học sinh đỏ. Anh mong có dịp gặp lại….

Ở trong tù, Quang Thái làm thơ được lưu tuyền khắp nhà lao:

“Mười sáu xuân qua sống ở đời

Nhân tình nghĩ đến lệ đầy vơi

Trông phường đế quốc lòng ngao ngán

Thấy bạn cần lao dạ rối bời

Quyết chí hy sinh thây kệ chết

Đem lòng phấn đấu mặc đầu rơi

Ngọn cờ vô sản bao giờ phất

Chín suối hồn ta mỉm miệng cười.”

Bài thơ càng khiến Võ Nguyên Giáp thương mến, cảm phục Nguyễn Thị Quang Thái. Tình yêu của họ nảy nở từ lý tưởng chung về cách mạng. Cuối năm 1931, Võ Giáp được ra tù với điều kiện phải trở về quê và bị quản thúc. Chị Quang Thái cũng được trả tự do trong đợt này. Sau thời gian thư từ qua lại, hai người quyết định tổ chức đám cưới. Lúc đó chị Thái tròn 20 tuổi, anh Giáp 24 tuổi.  

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tấm gương trọn đời vì nước, vì dân
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và bà Nguyễn Thị Quang Thái. Ảnh tư liệu 

Tình yêu và lý tưởng

Năm 1940, một bước ngoặt lớn trong đời đã đến khi Võ Nguyên Giáp nhận chỉ thị của tổ chức sang Trung Quốc để gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tuy nhiên, lần thoát ly này ông phải vượt qua một tình cảm lớn: Để lại người vợ mới cưới và con gái Hồng Anh mới được hơn một tuổi.

Một buổi chiều thứ Sáu, tháng 5-1940, hai vợ chồng chia tay nhau ở đường Cổ Ngư. Thấy chồng phân vân, lo lắng, chị Thái động viên: “Đây là một thời cơ lớn, trên đã muốn anh thoát ly thì anh nên quyết tâm. Mẹ con em tự lo được mà. Chờ con lớn thêm chút nữa em gửi con cho ông bà nuôi, em sẽ đi sau”.

Sau này, khi kể về người cha của mình, nhà khoa học Võ Hồng Anh chia sẻ:… Khi Ba tôi chia tay hai mẹ con để sang Trung Quốc thì tôi còn quá bé, chưa biết gì. Người đầu tiên gợi lại hình ảnh của người cha trong tôi là bà nội. Điều bà nói nhiều nhất về Ba với tôi là: từ lúc Ba tôi còn bé cho đến lúc đi hoạt động cách mạng, bà luôn tin những điều Ba tôi làm… Vì thế trong suốt thời gian xa cách, tôi luôn nghĩ về Ba với niềm tự hào thơ trẻ và tình cảm tin yêu gần gũi. Thế nhưng, năm 1946 – khi tôi được gặp Ba lần đầu trong dịp Ba ghé thăm ông bà nội và tôi ở Đồng Hới – trên đường đi kinh lý Nam Bộ - thì tôi lại ngậm thinh, nhất định không chịu nói một lời nào, kể cả khi ông bế tôi ra chỗ vắng, chỉ với một câu hỏi: Có nhớ, có thương bà không? (Võ Nguyên Giáp hào khí trăm năm, NXB Trẻ)

Anh Giáp lên đường, hẹn ngày trở về hai người lại sẽ cùng hoạt động, nhưng không ngờ đó là cuộc chia ly vĩnh viễn của đôi vợ chồng trẻ-hai người đồng chí. Trong tập Hồi ký Từ nhân dân mà ra, Đại tướng nhớ lại:

Một buổi chiều, vào đầu tháng 5 năm 1940.

Đến giờ đi dạy học, ra khỏi nhà một quãng, tôi ngoái lại nhìn ngôi nhà nhỏ, biết còn lâu mới quay trở về đây, khi đó chắc có nhiều sự thay đổi rồi.

Hôm đó là thứ Sáu. Tôi đã sắp xếp dạy dồn cả chương trình ngày thứ bảy vào thứ năm và thứ sáu, để có được một khoảng cách hai ngày, thứ bảy và chủ nhật, không phải đến trường.

Năm giờ chiều, tan học. Tôi lững thững đi về phía Hồ Tây như một người dạo mát…

Đến đường Cổ Ngư, qua chùa Trấn Võ, thấy chị Thái ẵm cháu Hồng Anh đã đứng đợi ở gốc cây vắng người. Chị Thái rơm rớm nước mắt, thỉnh thoảng lại quay về phía hồ để mọi người khỏi chú ý. Tôi nói với chị Thái, ở nhà giữ liên lạc với các anh, tiếp tục công tác, cố gửi gắm Hồng Anh để đi bí mật. Chị Thái nhắc tôi, hết sức giữ gìn sức khỏe và cẩn thận trong khi hoạt động, gắng tìm cách cho nhà biết tin.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tấm gương trọn đời vì nước, vì dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tạm nghỉ trên đường tới Chiến dịch Biên giới 1950. Ảnh: quangbinh.gov.vn 

Sau khi ông đi thoát ly, bà Quang Thái gửi con về quê chồng ở Quảng Bình để tiếp tục hoạt động cách mạng, làm nhiệm vụ vận động phong trào phụ nữ, trí thức, công thương ở Hà Nội và các vùng lân cận, đồng thời làm liên lạc cho Trung ương. Năm 1942, bà bị bắt, bọn mật thám tra tấn để truy tìm đầu mối liên lạc với đồng chí Hoàng Văn Thụ. Bà kiên quyết không khai một lời, rồi hy sinh trong tù khi không kịp gặp con gái lần cuối. Đến tận tháng 4-1945, sau khi về nước và dự Hội nghị Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ, Võ Nguyên Giáp mới biết vợ mình đã hy sinh.

Đại tướng kể lại trong hồi ký:

“Từ ngày lên đường đi họp, tôi hy vọng về đây gặp các anh, sẽ được biết tin nhà. Mấy năm qua không được tin gì về gia đình. Tôi có đôi lần gửi thư về nhà, nhưng không rõ có đến nơi hay không. Tôi cảm thấy ngày chúng tôi gặp nhau không còn xa nữa... Tôi đang ngồi nghe các anh kể lại chuyện địch khủng bố gắt gao dưới xuôi, thì anh Trường Chinh nói:

- Chị Thái chỉ vì gửi cháu chưa được, chưa kịp đi bí mật thì bị chúng bắt. Cũng không ngờ chị lại mất ở trong tù.

Tôi lặng người đi. Lát sau tôi hỏi: Anh nói sao? Thái mất rồi ư?

Anh Trường Chinh có vẻ ngạc nhiên, hỏi lại: Anh chưa biết tin à?

Khi ở Cao Bằng, các anh cũng đã có lần nghe tin đâu như Thái bị bắt, nhưng vẫn giấu, chưa muốn cho tôi biết. Tôi bàng hoàng đi vào buồng bên, vẫn chưa tin hẳn điều các anh nói là sự thật.

Tôi nằm nhớ lại ngày chúng tôi mới gặp nhau ở Huế trong khi cùng hoạt động bí mật, nhớ đến những lời hứa hẹn sẽ cùng nhau phấn đấu trọn đời cho chủ nghĩa cộng sản, nhớ lại những điều đã dặn dò nhau khi chia tay, nghĩ đến Hồng Anh...

Nợ nước, thù nhà, oán hờn giai cấp, đối với người đảng viên cộng sản chỉ có thể trả bằng cách: vượt lên những khó khăn, đau thương, kiên quyết tiến lên trên con đường Đảng đã chỉ rõ, dốc hết sức mình chiến đấu tiêu diệt quân thù, hy sinh tất cả cho sự nghiệp của Đảng, của nhân dân, của dân tộc”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tấm gương trọn đời vì nước, vì dân
 Gia đình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với người vợ Đặng Bích Hà cùng các con năm 1963. Ảnh tư liệu

Việc nước, việc dân lại cuốn ông đi, đến khi Tổng khởi nghĩa thành công, ông mới có tổ ấm riêng với PGS Đặng Bích Hà, con gái GS Đặng Thai Mai. Trong suốt hai cuộc trường chinh kháng chiến rồi những năm tháng về già, phu nhân Bích Hà trở thành chỗ dựa bình yên, hạnh phúc cho ông. Nhưng chỉ một năm sau (1947) nỗi đau mất người thân lại ập đến khi cha ông - cụ Võ Quang Nghiêm, bị địch bắt và thủ tiêu vì có con đi làm cách mạng. Mãi đến sau ngày giải phóng miền Nam, gia đình mới đưa được phần mộ cụ về an táng ở quê nhà. Cụ Võ Quang Nghiêm được Nhà nước suy tôn truy tặng danh hiệu liệt sỹ chống Pháp và bằng Tổ quốc ghi công. Giống như hàng triệu người khác, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở thành "Con liệt sỹ" từ đó.

Một đêm giao thừa của mùa Xuân năm 1976, người ta thấy Đại tướng trong bộ trang phục giản dị, khoác tay con gái Hồng Anh đi giữa dòng người hân hoan, náo nức ở công viên Thống Nhất. Một hình ảnh rất đỗi bình dị nhưng mang ý nghĩa lớn lao về cuộc đời một con người huyền thoại mà mọi niềm vui, nỗi buồn luôn gắn liền với dòng chảy lịch sử của dân tộc.

NGUYỄN VĂN DUYÊN 

Bài 3: Người góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Bài 3: Người góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng

Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là một trong những vị lãnh đạo cách mạng tiền bối, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có nhiều cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, dựng xây đất nước và với sự ra đời, xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cùng với đó, Đại tướng còn là một trong những người đi tiên phong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và góp phần đưa tư tưởng của Người cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đặc biệt, quan điểm “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh còn sống mãi” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành “Di sản” quý báu, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Người học trò trung thành, xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Từ một thanh niên yêu nước, một thầy giáo dạy lịch sử, Võ Nguyên Giáp bước vào con đường hoạt động cách mạng, trở thành một trong những người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, rèn luyện, học tập ý chí, tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh. Đặc biệt, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, góp phần đưa Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân với 34 chiến sĩ trong những ngày đầu thành lập (12-1944), đến năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam đã trở thành một quân đội hùng mạnh, có đầy đủ các quân chủng binh chủng, trong đó có những quân đoàn cơ động chiến lược, có đủ sức mạnh tác chiến độc lập trên một hướng chiến lược.  

Bài 3: Người góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng
 Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh tư liệu

Không những vậy, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về “đạo” của người làm tướng, Võ Nguyên Giáp đã hội tụ đầy đủ những phẩm chất, nhân cách và thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của người làm tướng. Trong buổi trao sắc phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Bác trao hàm Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ, làm tròn sứ mệnh mà Nhân dân phó thác cho”.

Tại Hội nghị quân sự lần thứ V (1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu về phẩm chất, tư cách, nhiệm vụ của người tướng lĩnh với 6 chữ: “Trí - Dũng - Nhân - Tín - Liêm - Trung”. Vì vậy, trong bất luận hoàn cảnh nào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng luôn quán triệt và làm theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, qua đó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân giao phó, xứng đáng là “Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam, đúng như khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta quen gọi Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là Anh Cả. Cách gọi thân ái ấy rất đúng với tinh thần và lịch sử của Quân đội ta”.

Đặc biệt, trong suốt cuộc đời mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn ghi nhớ và thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Làm cách mạng là phải “Dĩ công vi thượng”, tức là phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của Đảng, của nhân dân, đặt lợi ích chung lên trên hết, trước hết. Tại Hội thảo kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (2005), Đại tướng Võ Nguyên Giáp có bài tham luận với tựa đề: “Làm theo lời Bác - Dĩ công vi thượng”. Đại tướng nhấn mạnh: “Hơn 60 năm đã trôi qua, lời dạy ấy vẫn còn văng vẳng bên tai tôi. Bác chỉ nói ngắn gọn trong bốn chữ như vậy mà tôi nhớ mãi và phấn đấu làm theo lời Người suốt đời cho tới hôm nay”.

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp quán triệt và thực hiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đưa ông trở thành “Đại tướng của nhân dân”, “Người Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nói cách khác, được trực tiếp làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở bất cứ nơi đâu và bất luận trong hoàn cảnh nào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng luôn học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi thế, trọn đời Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, như ông từng có lần khẳng định: “Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó”.

Người đi tiên phong trong nghiên cứu và đưa tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng

Không chỉ noi gương người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam - Hồ Chí Minh, trong quá trình hoạt động cách mạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất coi trọng tổng kết thực tiễn và chính từ đó Đại tướng hiểu sâu sắc hơn tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đại tướng là một trong những người sớm nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và có nhiều đóng góp quan trọng trong việc đưa tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ngày 14-1-1991, Hội nghị quốc tế về “Hồ Chí Minh - Việt Nam - Hòa bình thế giới” được tổ chức tại Calcutta (Ấn Độ), Đại tướng Võ Nguyên Giáp tham dự và có bài tham luận với chủ đề “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh còn sống mãi”, khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo và thành công những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn đặc thù của xã hội Việt Nam…”. Đại tướng nhấn mạnh: “Đối với nhân dân Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh không những đã đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn trải qua một cuộc chiến đấu ròng rã 30 năm, mà ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng chúng tôi, còn tiếp tục được phát triển để tìm ra con đường đổi mới quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống hòa bình, văn minh và hạnh phúc cho toàn thể nhân dân Việt Nam, cho mỗi người dân Việt Nam”.

Bài 3: Người góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng
Ðại hội lần thứ VIII của Ðảng diễn ra từ ngày 28-6 đến 1-7-1996, tại Hội trường Ba Ðình, Hà Nội. Ảnh: tuyengiao.vn 

Năm 1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng được tổ chức. Đây là Đại hội có nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp đổi mới đất nước. Trong năm này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có hai bài viết quan trọng về tư tưởng Hồ Chí Minh trên Tạp chí Cộng sản. Trong bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh - Những luận điểm sáng tạo lớn” (Tạp chí Cộng sản, số 19/1996), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt vấn đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Gồm những nội dung cơ bản gì? Những tinh hoa tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần vào kho tàng tư tưởng chính trị - xã hội - nhân văn của thời đại? Tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong hệ tư tưởng Mác - Lênin - đỉnh cao của tư tưởng nhân loại, nhưng đã phát triển sáng tạo và làm phong phú thêm Chủ nghĩa Mác - Lênin ở những vấn đề nào,v.v…”.

Trên cơ sở đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đưa ra khái niệm: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và bước phát triển mới Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa, truyền thống văn hóa Việt Nam, tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây với Chủ nghĩa Mác - Lênin, được khái quát từ thực tiễn đấu tranh cách mạng Việt Nam và thế giới cuối thế kỷ XIX giữa thế kỷ XX”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là linh hồn, là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của Đảng ta, nhân dân ta”.

Góp phần làm rõ nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh

Cũng trong năm 1996, với bài viết “Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh” (Tạp chí Cộng sản, số 23), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã góp phần làm rõ nguồn gốc góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại tướng cho rằng: “Nên nghiên cứu nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh một cách toàn diện: ngoài nguồn gốc về lý luận - tư tưởng, nên chú trọng đến nguồn gốc thực tiễn, đến nhân cách Hồ Chí Minh”.

Về nguồn gốc lý luận - tư tưởng, trước hết phải nói đến chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa, nhân ái Việt Nam; tiếp đó là tinh hoa triết học và văn hóa phương Đông, phương Tây; nguồn gốc lý luận quyết định bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa Mác - Lênin.

Tuy nhiên, theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ngoài nguồn gốc lý luận còn phải đề cập đến cơ sở thực tiễn, tác động của thực tiễn đến sự hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi vì, chính từ trong hoạt động thực tiễn mà từng bước Hồ Chí Minh đã tìm ra quy luật, khái quát nhận thức thành lý luận. Lý luận ấy lại được Hồ Chí Minh vận dụng và kiểm nghiệm trong thực tiễn. Thực tiễn phong phú của thời đại và của bản thân cuộc sống mà Hồ Chí Minh đã từng trải qua là một nguồn gốc, một cơ sở có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành, phát triển và hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng ấy ngày càng nâng cao tính chất vừa cách mạng, vừa khoa học. Cuối cùng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng, nhân cách và phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh có tác động đến sự hình, phát triển tư tưởng của Người.

Đây là nghiên cứu hết sức quan trọng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, góp phần làm rõ hơn nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh và đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn cho Đảng.

Bên cạnh những bài viết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn có nhiều công trình góp phần nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh như: Hồ Chủ tịch - Nhà chiến lược thiên tài, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1970; Tư tưởng Bác Hồ soi sáng sự nghiệp đổi mới của chúng ta, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990; Tư tưởng Hồ Chí Minh - Quá trình hình thành và phát triển, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1993; Một số vấn đề về nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb QĐND, Hà Nội, 2004; Nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CAND, Hà Nội, 2006,v.v… Đặc biệt, cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam” ra đời trên cơ sở thành quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam” thuộc Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước. Đây là đề tài có quy mô rộng lớn, nội dung phong phú do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chủ nhiệm. Trong “Lời tựa” xuất bản lần thứ ba (2003), Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là niềm tin, là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là di sản tinh thần vô cùng quý báu Người để lại cho Đảng ta, dân tộc ta. Thế giới còn đổi thay, tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi… Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa, toàn diện hơn nữa về Hồ Chí Minh, cả về tư tưởng và sự nghiệp của Người đối với cách mạng nước ta”.

Bài 3: Người góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng
Bìa cuốn sách "Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp 

Như vậy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là người luôn quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng mà còn là người góp phần to lớn trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và đưa tư tưởng của Người cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên cơ sở đúc kết về mặt lý luận và thực tiễn, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991), Đảng ta nhấn mạnh: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”; đồng thời khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991), trong đó khẳng định: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”. Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động…”.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vừa qua tiếp tục chỉ ra: Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động nhanh, phức tạp, Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Từ đó, Đảng ta xác định quan điểm chỉ đạo là: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kỷ niệm 110 năm ngày sinh Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, cùng với việc tôn vinh những cống hiến xuất sắc của ông đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam, việc làm rõ những đóng góp, cống hiến của Đại tướng trong việc góp phần nghiên cứu và đưa tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng là đặc biệt quan trọng, điều đó càng quan trọng hơn khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đẩy mạnh học học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, phấn đấu xây dựng một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong đợi lúc sinh thời!

Đại tá, PGS, TS NGUYỄN VĂN SÁU, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam