Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2023

Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp với trận “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”

 

Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp với trận “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”

Trong chiến dịch “12 ngày đêm”, Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Phó cục trưởng Cục Tác chiến – Bộ Tổng Tham mưu (BTTM) là trợ lý tên lửa Cục Tác chiến, làm nhiệm vụ trực ban tác chiến phòng không tại Sở chỉ huy - BTTM, kể lại chuyện Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong những ngày lịch sử ấy.

Tôi còn nhớ như in sáng ngày 28-6-1972, tại Tổng hành dinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã làm việc với Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân (PKKQ) Lê Văn Tri. Tôi được phép tham dự. Sau khi nghe đầy đủ tình hình, Đại tướng nói rõ ý định tác chiến của ta sắp tới là phải tổ chức những trận đánh lớn. Đồng chí chỉ thị: "Sắp tới, không quân Mỹ sẽ đánh ác liệt hơn, kể cả B-52. Ta phải kiên quyết tổ chức những trận hiệp đồng nhiều binh chủng, đánh địch đau hơn nữa, nhất là vào những thời gian cao điểm…".

Sáu tháng sau, Quân ủy Trung ương ra Chỉ thị số 155/QU-TƯ ngày 25-11-1972 về tăng cường sẵn sàng chiến đấu:

"… Chúng sẽ liều lĩnh dùng máy bay B-52 đánh phá các trọng điểm Hà Nội, Hải Phòng, các chân hàng, các đầu mối giao thông, các vùng đông dân… Các đơn vị phải hết sức đề cao cảnh giác, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm đánh địch đạt hiệu quả cao nhất và giảm thiệt hại của ta đến mức thấp nhất, trong bất cứ tình huống nào". Sau này Đại tướng có viết: "Mặc dù vậy, do quán triệt quyết tâm chưa tốt, suy nghĩ lúc này vẫn nặng về khả năng địch dùng B-52 đánh phá vùng "cán soong", nên đầu tháng 12 đã có lệnh điều một trung đoàn tên lửa vào Khu 4, tiếp đó là điều thêm hàng trăm quả đạn tên lửa của phòng không Hà Nội theo!"(1). Trước tình hình diễn biến hết sức khẩn trương, ngày 15-12-1972, BTTM đồng ý với đề nghị của Bộ tư lệnh PK-KQ để trung đoàn tên lửa này ở lại bảo vệ Hà Nội.

Ngày 4-12-1972, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng báo cáo lên Bí thư Quân ủy Trung ương: "Quân chủng không để bị bất ngờ, sẽ đánh liên tục, đánh rơi tại chỗ máy bay địch, bắt sống nhiều giặc lái, kể cả máy bay B-52".

Tháng 12-1972, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và cơ quan Tổng hành dinh làm việc suốt ngày đêm ở trong Thành cổ. Hai ngày trước khi Mỹ giội bom, Bộ Tổng tư lệnh đã chuyển lực lượng vũ trang 3 thứ quân vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Bộ đội ra-đa phòng không và đơn vị trinh sát kỹ thuật Cục Quân báo - BTTM đã sớm phát hiện chính xác cuộc tập kích đường không chiến lược của địch.

Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp với trận “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, ngày 30-12-1972. Ảnh: TTXVN

19 giờ 10 phút ngày 18-12-1972, tôi gọi điện thoại (có chế độ ưu tiên số 1) báo cáo Đại tướng: "Thưa Thủ trưởng, B-52 đã cất cánh từ Gu-am và U-ta-pao… nhiều tốp bay dọc Mê-công lên phía bắc". Tôi nghe tiếng Đại tướng cao trong điềm tĩnh như mọi ngày: "Kiểm tra lại. Thông báo ngay cho Bộ tư lệnh PK-KQ. Cho Hà Nội, Hải Phòng báo động!". Tôi nói: "Xin tuân lệnh!".

Sau khi truyền lệnh cho người trực chỉ huy Quân chủng PK-KQ Nguyễn Quang Bích, tôi đến bên tường ấn nút kéo còi báo động liên hồi, lâu và gấp. Tiếng còi trên nóc nhà Quốc hội réo lên từng hồi dài. Một loạt còi khác do Sở chỉ huy Bộ tư lệnh Hà Nội phụ trách cũng vang rền khẩn cấp.

Cuộc chiến đấu xảy ra quyết liệt. 20 giờ 20 phút, Phó tư lệnh PK-KQ Nguyễn Quang Bích báo cáo qua điện thoại lên Đại tướng: "Tiểu đoàn tên lửa 59, Trung đoàn 261, Sư đoàn Phòng không Hà Nội đã bắn rơi một B-52 tại Phủ Lỗ, Đông Anh". Tin chiến thắng xé toang bầu không khí căng thẳng. Đại tướng nhẹ nhàng bước ra khỏi phòng chỉ huy. Trời mưa bụi, rét đậm, lòng người lại ấm áp lạ thường! Trở vào, Đại tướng gọi điện thoại cho Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hà Nội Trần Văn Giang: "Bộ đội vừa qua đánh tốt, xứng đáng với lòng tin của Đảng, của nhân dân. Cần phát huy thành tích tiếp tục bắn rơi nhiều B-52 hơn nữa. Cả nước đang hướng về Hà Nội! Toàn thế giới đang hướng về Hà Nội! Từng giờ từng phút Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương theo dõi cuộc chiến đấu của Hà Nội. Vận mệnh của Tổ quốc đang nằm trong tay các đồng chí phòng không bảo vệ Hà Nội"(2).

Liền sau đó, Đại tướng chủ trì cuộc họp bất thường của Thường trực Quân ủy Trung ương, nhận định tình hình và xác định nhiệm vụ lãnh đạo tiếp theo: "Nhiệm vụ của lực lượng vũ trang ta, đặc biệt là bộ đội phòng không và không quân phải cùng toàn dân quyết tâm đánh bại bước leo thang rất nghiêm trọng này của địch; chỉ đạo trước mắt là kiên quyết đánh địch, triệt để sơ tán phòng tránh và tích cực bảo đảm giao thông vận tải"(3).

Sáng sớm hôm sau, tại Tổng hành dinh, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bộ Chính trị nhất trí hoàn toàn với nhận định tình hình và nhiệm vụ mà Quân ủy Trung ương đề ra, chuẩn y đề nghị về cuộc họp báo chiều nay. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói rõ thêm: "Cần đem số giặc lái đã bắt được và khuân ngay xác máy bay B-52 về cho các nhà báo xem".

Đại tướng Tổng tư lệnh thống nhất với Tổng Tham mưu trưởng chủ trương: "Từ nay bộ đội tên lửa hoàn toàn dành cho nhiệm vụ đánh B-52. Rút một số đơn vị cao xạ ở Đường số 1 (phía Nam) về để bảo vệ các tiểu đoàn tên lửa".

Trong những ngày tiếp theo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lần lượt đến các trận địa tên lửa, thăm và động viên cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 77, Tiểu đoàn 79, Trung đoàn 257…, giao nhiệm vụ tiếp tục chiến đấu đạt hiệu suất chiến đấu thật cao, góp phần tạo nên những trận then chốt quyết định.

Buổi chiều ngày 22-12, ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam đến hầm chỉ huy thu thanh bài diễn văn của Đại tướng nhân dịp kỷ niệm trọng đại này, đồng thời cũng để gián tiếp cải chính tin đồn của một hãng thông tấn phương Tây rằng Đại tướng bị tử thương vì bom B-52.

Sáng sớm ngày 23, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cùng Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đến trận địa Vân Đồn (bãi cát sông Hồng) thăm, khen ngợi, chụp ảnh với Đại đội tự vệ súng máy phòng không (14,5mm) vừa bắn rơi một chiếc máy bay F111A cánh cụp cánh xòe rất hiện đại của Mỹ.

Được biết Không quân ta đang gặp khó khăn trong cách đánh B-52, Đại tướng đã đến dự hội nghị rút kinh nghiệm của Quân chủng, góp ý kiến chỉ đạo và động viên: "Không quân anh hùng của chúng ta nhất định phải có tên trong danh sách những đơn vị đã bắn rơi B-52!". Đại tướng đã xúc động sâu sắc khi được tin đồng chí Vũ Xuân Thiều, phi công cảm tử lái Mic-21 vừa phóng tên lửa vừa lao vào một B-52 cháy rực trên bầu trời Sơn La giữa đêm 28-12.

Cả khu phố Khâm Thiên bị trúng bom B-52, thiệt hại nặng nề, Đại tướng đã đến hiện trường, căm giận quân xâm lược dã man, xót xa đồng cảm với nhân dân. Đại tướng đến thẳng Sở chỉ huy Quân chủng PK-KQ chỉ thị cho bộ đội đánh rơi thật nhiều B-52 để trả thù cho đồng bào! Bộ tư lệnh Quân chủng hứa với Đại tướng: Bộ đội Phòng không và Không quân quyết tâm sắt đá thực hiện những lời căn dặn sâu sắc, tâm huyết, trí tuệ của Đại tướng.

7 giờ ngày 30-12-1972, do thua đau trên bầu trời Hà Nội, Tổng thống Mỹ Ních-xơn phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra.

Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã duyệt và cho công bố bản thông cáo chiến thắng; ca ngợi chiến công oanh liệt của quân dân ta, tuyên dương công trạng các quân chủng, binh chủng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, công an nhân dân, dân quân tự vệ và đồng bào các địa phương, đặc biệt Thủ đô Hà Nội đã đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ, đánh rất giỏi, thắng rất to!

Ngày 22-2-1989, Thống chế Mehra, Tư lệnh các lực lượng phòng không, không quân nước Cộng hòa Ấn Độ, dẫn đầu đoàn cán bộ quân sự cấp cao sang thăm Việt Nam, đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã nói: "Khi Việt Nam đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân, bắn rơi nhiều pháo đài bay B-52, bắt sống nhiều phi công của đối phương, làm nên một "Điện Biên Phủ trên không" trên bầu trời Thủ đô của ngài, tôi thực sự kinh ngạc và vô cùng khâm phục. Tôi cho đây là một kỳ tích có một không hai của cuộc chiến tranh trên không trong thế kỷ XX. Ngài là một vị tướng của huyền thoại… Ngài sẽ mãi mãi là một vị tướng của huyền thoại"(4)­.

Thiếu tướng NGUYỄN VĂN NINH

Người góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Người góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng

Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là một trong những vị lãnh đạo cách mạng tiền bối, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có nhiều cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, dựng xây đất nước và với sự ra đời, xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cùng với đó, Đại tướng còn là một trong những người đi tiên phong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và góp phần đưa tư tưởng của Người cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đặc biệt, quan điểm “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh còn sống mãi” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành “Di sản” quý báu, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Người học trò trung thành, xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Từ một thanh niên yêu nước, một thầy giáo dạy lịch sử, Võ Nguyên Giáp bước vào con đường hoạt động cách mạng, trở thành một trong những người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, rèn luyện, học tập ý chí, tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh. Đặc biệt, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, góp phần đưa Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân với 34 chiến sĩ trong những ngày đầu thành lập (12-1944), đến năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam đã trở thành một quân đội hùng mạnh, có đầy đủ các quân chủng binh chủng, trong đó có những quân đoàn cơ động chiến lược, có đủ sức mạnh tác chiến độc lập trên một hướng chiến lược.  

Bài 3: Người góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng
 Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh tư liệu

Không những vậy, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về “đạo” của người làm tướng, Võ Nguyên Giáp đã hội tụ đầy đủ những phẩm chất, nhân cách và thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của người làm tướng. Trong buổi trao sắc phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Bác trao hàm Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ, làm tròn sứ mệnh mà Nhân dân phó thác cho”.

Tại Hội nghị quân sự lần thứ V (1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu về phẩm chất, tư cách, nhiệm vụ của người tướng lĩnh với 6 chữ: “Trí - Dũng - Nhân - Tín - Liêm - Trung”. Vì vậy, trong bất luận hoàn cảnh nào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng luôn quán triệt và làm theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, qua đó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân giao phó, xứng đáng là “Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam, đúng như khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta quen gọi Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là Anh Cả. Cách gọi thân ái ấy rất đúng với tinh thần và lịch sử của Quân đội ta”.

Đặc biệt, trong suốt cuộc đời mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn ghi nhớ và thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Làm cách mạng là phải “Dĩ công vi thượng”, tức là phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của Đảng, của nhân dân, đặt lợi ích chung lên trên hết, trước hết. Tại Hội thảo kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (2005), Đại tướng Võ Nguyên Giáp có bài tham luận với tựa đề: “Làm theo lời Bác - Dĩ công vi thượng”. Đại tướng nhấn mạnh: “Hơn 60 năm đã trôi qua, lời dạy ấy vẫn còn văng vẳng bên tai tôi. Bác chỉ nói ngắn gọn trong bốn chữ như vậy mà tôi nhớ mãi và phấn đấu làm theo lời Người suốt đời cho tới hôm nay”.

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp quán triệt và thực hiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đưa ông trở thành “Đại tướng của nhân dân”, “Người Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nói cách khác, được trực tiếp làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở bất cứ nơi đâu và bất luận trong hoàn cảnh nào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng luôn học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi thế, trọn đời Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, như ông từng có lần khẳng định: “Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó”.

Người đi tiên phong trong nghiên cứu và đưa tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng

Không chỉ noi gương người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam - Hồ Chí Minh, trong quá trình hoạt động cách mạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất coi trọng tổng kết thực tiễn và chính từ đó Đại tướng hiểu sâu sắc hơn tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đại tướng là một trong những người sớm nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và có nhiều đóng góp quan trọng trong việc đưa tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ngày 14-1-1991, Hội nghị quốc tế về “Hồ Chí Minh - Việt Nam - Hòa bình thế giới” được tổ chức tại Calcutta (Ấn Độ), Đại tướng Võ Nguyên Giáp tham dự và có bài tham luận với chủ đề “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh còn sống mãi”, khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo và thành công những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn đặc thù của xã hội Việt Nam…”. Đại tướng nhấn mạnh: “Đối với nhân dân Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh không những đã đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn trải qua một cuộc chiến đấu ròng rã 30 năm, mà ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng chúng tôi, còn tiếp tục được phát triển để tìm ra con đường đổi mới quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống hòa bình, văn minh và hạnh phúc cho toàn thể nhân dân Việt Nam, cho mỗi người dân Việt Nam”.

Bài 3: Người góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng
Ðại hội lần thứ VIII của Ðảng diễn ra từ ngày 28-6 đến 1-7-1996, tại Hội trường Ba Ðình, Hà Nội. Ảnh: tuyengiao.vn 

Năm 1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng được tổ chức. Đây là Đại hội có nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp đổi mới đất nước. Trong năm này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có hai bài viết quan trọng về tư tưởng Hồ Chí Minh trên Tạp chí Cộng sản. Trong bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh - Những luận điểm sáng tạo lớn” (Tạp chí Cộng sản, số 19/1996), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt vấn đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Gồm những nội dung cơ bản gì? Những tinh hoa tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần vào kho tàng tư tưởng chính trị - xã hội - nhân văn của thời đại? Tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong hệ tư tưởng Mác - Lênin - đỉnh cao của tư tưởng nhân loại, nhưng đã phát triển sáng tạo và làm phong phú thêm Chủ nghĩa Mác - Lênin ở những vấn đề nào,v.v…”.

Trên cơ sở đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đưa ra khái niệm: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và bước phát triển mới Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa, truyền thống văn hóa Việt Nam, tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây với Chủ nghĩa Mác - Lênin, được khái quát từ thực tiễn đấu tranh cách mạng Việt Nam và thế giới cuối thế kỷ XIX giữa thế kỷ XX”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là linh hồn, là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của Đảng ta, nhân dân ta”.

Góp phần làm rõ nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh

Cũng trong năm 1996, với bài viết “Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh” (Tạp chí Cộng sản, số 23), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã góp phần làm rõ nguồn gốc góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại tướng cho rằng: “Nên nghiên cứu nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh một cách toàn diện: ngoài nguồn gốc về lý luận - tư tưởng, nên chú trọng đến nguồn gốc thực tiễn, đến nhân cách Hồ Chí Minh”.

Về nguồn gốc lý luận - tư tưởng, trước hết phải nói đến chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa, nhân ái Việt Nam; tiếp đó là tinh hoa triết học và văn hóa phương Đông, phương Tây; nguồn gốc lý luận quyết định bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa Mác - Lênin.

Tuy nhiên, theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ngoài nguồn gốc lý luận còn phải đề cập đến cơ sở thực tiễn, tác động của thực tiễn đến sự hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi vì, chính từ trong hoạt động thực tiễn mà từng bước Hồ Chí Minh đã tìm ra quy luật, khái quát nhận thức thành lý luận. Lý luận ấy lại được Hồ Chí Minh vận dụng và kiểm nghiệm trong thực tiễn. Thực tiễn phong phú của thời đại và của bản thân cuộc sống mà Hồ Chí Minh đã từng trải qua là một nguồn gốc, một cơ sở có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành, phát triển và hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng ấy ngày càng nâng cao tính chất vừa cách mạng, vừa khoa học. Cuối cùng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng, nhân cách và phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh có tác động đến sự hình, phát triển tư tưởng của Người.

Đây là nghiên cứu hết sức quan trọng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, góp phần làm rõ hơn nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh và đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn cho Đảng.

Bên cạnh những bài viết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn có nhiều công trình góp phần nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh như: Hồ Chủ tịch - Nhà chiến lược thiên tài, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1970; Tư tưởng Bác Hồ soi sáng sự nghiệp đổi mới của chúng ta, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990; Tư tưởng Hồ Chí Minh - Quá trình hình thành và phát triển, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1993; Một số vấn đề về nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb QĐND, Hà Nội, 2004; Nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CAND, Hà Nội, 2006,v.v… Đặc biệt, cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam” ra đời trên cơ sở thành quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam” thuộc Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước. Đây là đề tài có quy mô rộng lớn, nội dung phong phú do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chủ nhiệm. Trong “Lời tựa” xuất bản lần thứ ba (2003), Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là niềm tin, là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là di sản tinh thần vô cùng quý báu Người để lại cho Đảng ta, dân tộc ta. Thế giới còn đổi thay, tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi… Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa, toàn diện hơn nữa về Hồ Chí Minh, cả về tư tưởng và sự nghiệp của Người đối với cách mạng nước ta”.

Bài 3: Người góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng
Bìa cuốn sách "Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp 

Như vậy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là người luôn quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng mà còn là người góp phần to lớn trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và đưa tư tưởng của Người cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên cơ sở đúc kết về mặt lý luận và thực tiễn, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991), Đảng ta nhấn mạnh: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”; đồng thời khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991), trong đó khẳng định: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”. Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động…”.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vừa qua tiếp tục chỉ ra: Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động nhanh, phức tạp, Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Từ đó, Đảng ta xác định quan điểm chỉ đạo là: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kỷ niệm 110 năm ngày sinh Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, cùng với việc tôn vinh những cống hiến xuất sắc của ông đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam, việc làm rõ những đóng góp, cống hiến của Đại tướng trong việc góp phần nghiên cứu và đưa tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng là đặc biệt quan trọng, điều đó càng quan trọng hơn khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đẩy mạnh học học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, phấn đấu xây dựng một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong đợi lúc sinh thời!

Đại tá, PGS, TS NGUYỄN VĂN SÁU, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Nhà chính trị vì dân

 

Nhà chính trị vì dân

Sinh thời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng có lần tâm sự: "Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó". Thật vậy, trọn đời phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng độc lập, tự do của dân tộc; ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, Đại tướng không chỉ là một nhà chỉ huy quân sự lỗi lạc trên chiến trường, ông còn là một nhà chính trị tiêu biểu – Nhà chính trị vì dân.

Bài 2: Nhà chính trị vì dân
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và người dân Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu 

Chiến lược hòa bình trong độc lập, tự do

Năm 2004, nhân kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp D.Ba-ri về chiến lược của Việt Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Chiến lược của chúng tôi là chiến lược hòa bình”. Cũng với câu hỏi tương tự khi trả lời Z.Brezinski, nguyên cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ trong một lần sang thăm Algeria, Đại tướng nói: Chiến lược của tôi là hòa bình, hòa bình trong độc lập tự do.

Thật vậy, hòa bình trong độc lập tự do, đó là lý tưởng mà Đại tướng đã phấn đấu, hy sinh để giành về cho đất nước. Ngược dòng thời gian về những ngày đầu chuẩn bị Toàn quốc kháng chiến, tháng 3-1946, nhằm tránh cho đất nước phải bước vào một cuộc chiến ngoài ý muốn, theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch, Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ ta xuống Hải Phòng để gặp viên Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp Leclerc. Nội dung cuộc gặp được Đại tá Trần Trọng Trung viết trong cuốn Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh: Sau cái bắt tay và mấy câu nghi lễ xã giao, Leclerc nói: “Tôi yêu nước Pháp. Tôi muốn bất kỳ ở đâu danh dự của nước Pháp cũng được tôn trọng”.

Đáp lại giọng điệu không lấy gì làm nhã nhặn đó của kẻ xâm lược, Võ Nguyên Giáp kiềm chế đáp: “Tôi là một người cộng sản chiến đấu cho độc lập của đất nước chúng tôi”.

Để chuẩn bị cho một cuộc điều đình giữa Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chính phủ Pháp tại Fontainebleau vào đầu tháng 7-1946, cả hai phía nhất trí cử đoàn đại biểu gặp nhau tại Đà Lạt. Võ Nguyên Giáp được cử làm Phó trưởng đoàn Chính phủ Liên hiệp.

Bài 2: Nhà chính trị vì dân
Các ông Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Tường Tam và phái đoàn Pháp tại Hội nghị trù bị Đà Lạt. Ảnh tư liệu  

Do nắm được vai trò của Võ Nguyên Giáp, nên một số thành viên Phái đoàn Pháp như Messmer, Bousquet và Salan rất để tâm “săn đón” ông. Salan đã từng quen biết Võ Nguyên Giáp qua những ngày đầu đàm phán ở Hà Nội. Tại hội nghị này, mỗi lần có bất đồng căng thẳng trong tranh luận, nhất là các vấn đề về quân sự, Salan thường đến gặp Võ Nguyên Giáp để dàn xếp, nhưng viên tướng Pháp thường vấp phải cái mà sau này trong hồi ký ông ta gọi là “những lập luận cứng rắn được che đậy bằng thái độ mềm mỏng lịch thiệp”.

Trong một cuộc họp của Tiểu ban Chính trị bàn về vấn đề đình chiến ở miền Nam, Võ Nguyên Giáp đặt vấn đề: Lúc này tiếng súng vẫn nổ ở trong Nam. Phía Pháp các ngài nói rằng đó là dẹp giặc. Xin hỏi, nếu nói quân đội chúng tôi ở miền Nam là giặc thì quân, du kích Pháp chiến đấu chống phát-xít Đức trong Thế chiến II cũng là giặc hay sao? Tiếp đó, trong một phiên toàn thể tranh luận về vấn đề Nam Bộ, Võ Nguyên Giáp khẳng định: Người ta không thể dùng những cuộc hành binh càn quét để buộc quân và dân yêu nước ở miền Nam Việt Nam hạ vũ khí. Khi lên án âm mưu Pháp về vấn đề Liên bang Đông Dương, Võ Nguyên Giáp nghiêm nghị nói: Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố kết liễu thời đại của các vị toàn quyền. Nếu Nam Bộ bị cắt khỏi Việt Nam thì tất cả tinh thần và nghị lực của dân tộc chúng tôi sẽ hướng vào cuộc đấu tranh để kéo Nam Bộ trở lại khối Việt Nam thống nhất.

Trong lúc không khí hội nghị rất căng thẳng, ngột ngạt, Võ Nguyên Giáp bỗng đứng phắt dậy dõng dạc tuyên bố: “Nếu các ông cố tình phá hoại cuộc thương thuyết để tiếp tục chiến tranh xâm lược thì chắc chắn Việt Nam sẽ trở thành mảnh đất buộc người Pháp các ông phải đền tội”. Nói xong ông cắp cặp bước ra khỏi phòng.

Hội nghị trù bị Đà Lạt không đạt được thỏa thuận nào, nhưng ta đã thể hiện một lập trường cứng rắn, gạt bỏ những điều không phù hợp với quyền lợi và ý nguyện của dân tộc. Mặc dù vẫn bám vào lập trường thực dân, nhưng người Pháp đã nhận thấy ý chí độc lập tự do của dân tộc Việt Nam toát lên từ lời nói và thái độ của vị Phó trưởng đoàn Võ Nguyên Giáp. Chính viên trưởng đoàn đám phán cũng phải thừa nhận Võ Nguyên Giáp là “một nhà biện lý đáng gờm, một nhà thương thuyết đáng kính nể”.

“Nhà biện lý đáng gờm” Võ Nguyên Giáp thay mặt Cụ Hồ đến hội nghị với mục đích sau cùng là tìm kiếm cơ hội hòa bình cho đất nước, tránh cuộc chiến tranh đổ máu, trong đó có cả nhân dân Pháp. Tiếc rằng, giới cầm quyền thực dân đã khước từ thiện chí đó.

Người đặt viên gạch đầu tiên cho nền hành chính vì dân

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu được thành lập. Võ Nguyên Giáp được giao đảm nhiệm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, với trọng trách tham mưu cho Chính phủ xây dựng và củng cố hệ thống chính quyền, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự trị an, theo dõi, điều hành công tác nội trị, ….Tuy thời gian làm bộ trưởng không lâu chỉ 06 tháng (từ ngày 28-8-1945 đến ngày 2-3-1946), nhưng Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã có công lao to lớn cho nhiệm vụ này.

Đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương, Bộ trưởng Bộ Nội vụ viết: “Trong khoảng thời gian ngắn này, Ông đã kịp tham mưu cho Chính phủ ban hành trên 100 sắc lệnh, trong đó có khoảng 30 sắc lệnh do chính Ông ký, có tính chất pháp quy hành chính trên nhiều ngành, lĩnh vực. Với khối lượng công việc đồ sộ trong khoảng thời gian ngắn mà đồng chí Võ Nguyên Giáp đã làm khi đó, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp chính là người đã tham gia đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng nền hành chính vì hạnh phúc của người dân Việt Nam!”

Ngày 2-9-1945, ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã có bài diễn văn quan trọng nêu lên tám vấn đề cấp bách của Chính phủ cách mạng lâm thời. Diễn văn nhấn mạnh: “... chỉ nay mai Chính phủ lâm thời sẽ ra sắc lệnh triệu tập Quốc hội theo nguyên tắc dân chủ. Các đại biểu của Quốc hội đều do dân bầu theo lối phổ thông đầu phiếu. Quốc hội sẽ đem lại cho chúng ta một Hiến pháp và một Chính phủ chính thức”.

Bài 2: Nhà chính trị vì dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thành viên của Chính phủ tuyên thệ nhậm chức tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I (2-3-1946). Ảnh: Tư liệu/TTXVN

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của Tổng tuyển cử, được sự tin cậy, giao phó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký ban hành Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 14 ngày 8-9-1945, trong đó nêu rõ trong một thời hạn hai tháng kể từ ngày ký sắc lệnh này sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội. Theo đó, tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường…

Sắc lệnh số 14 đã góp phần làm nên thành công của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta vào ngày 6-1-1946, đưa người dân thực sự trở thành chủ nhân của đất nước. Ngay sau đó, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I đã công nhận Chính phủ chính thức, qua đó mở đường cho việc xây dựng một nền hành chính dân chủ, vì dân - nền tảng để chăm lo cho cuộc sống ấm no về vật chất, đầy đủ về tinh thần, vì hạnh phúc của người dân Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phụ trách việc thành lập Ban dự thảo Hiến pháp. Chỉ trong một thời gian ngắn, với sự giúp đỡ của các chuyên gia giàu kinh nghiệm, Dự thảo Hiến pháp đã được trình lên Quốc hội khóa I thông qua. Trong tiến trình đó có công lao đóng góp to lớn của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp.

Lo cho dân những điều thiết yếu nhất

Sau Cách mạng Tháng Tám, thấu hiểu vấn đề cấp bách và nhu cầu trên hết của người dân lúc bấy giờ là cơm ăn, áo mặc. Để chống “giặc đói”, thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã ký ban hành Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 07 ngày 5-9-1945.

Sắc lệnh này đã góp phần tháo gỡ kịp thời những khó khăn trong việc vận chuyển, buôn bán thóc gạo, chống lại nạn đầu cơ, tích trữ lương thực trong bối cảnh nạn đói đang hoành hành dữ dội khi đó. Cũng nhờ đó, việc buôn bán, chuyên chở thóc gạo ở Bắc Bộ hoàn toàn được tự do, Chính phủ cần thóc gạo dùng vào việc công sẽ mua thẳng của tư gia. Còn đối với những người có hành vi đầu cơ, tích trữ gạo mà làm ảnh hưởng đến nền kinh tế thì sẽ bị nghiêm phạt theo luật và bị tịch thu gia sản.

Việc Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp kịp thời ký ban hành Sắc lệnh số 07 cũng chính là việc làm thiết thực, kịp thời của Chính phủ, phản ánh sinh động một thực tế rằng, nền hành chính dân chủ non trẻ buổi đầu ấy đã luôn biết đặt lợi ích, nhu cầu của người dân Việt Nam lên trên hết, biết vì hạnh phúc của người dân bắt đầu từ những điều dung dị nhất là cơm ăn, áo mặc.

Bên cạnh “giặc đói” là “giặc dốt”, phải giải quyết làm sao cho nhân dân được hưởng niềm hạnh phúc thực sự cả vật chất lẫn tinh thần, để làm được điều đó nhất thiết phải xóa nạn mù chữ. Ngay trong buổi họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ vào ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra sáu việc cấp bách, trong đó, việc chống nạn mù chữ xếp thứ hai, chỉ sau nạn đói. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ” (Hồ Chí Minh toàn tập).

Bài 2: Nhà chính trị vì dân
Một lớp Bình dân học vụ. Ảnh: baotanglichsu.vn 

Thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký ban hành liền ba Sắc lệnh số 17, số 19 và số 20. Từ những sắc lệnh này, phong trào Bình dân học vụ diễn ra rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, nhân dân đi học không phải mất tiền, thoát khỏi cảnh không thể viết tên mình.  

Chỉ trong một năm (từ tháng 8-1945 đến tháng 8-1946), phong trào Bình dân học vụ đã xóa mù chữ cho hơn 2,5 triệu người, phát triển được gần 96.000 giáo viên, mở được gần 75.000 lớp học. Sau 5 năm (đến ngày 30-6-1950), gần 12,2 triệu người biết chữ. 10 tỉnh với 80 huyện, hơn 1.400 xã và 7.200 thôn được công nhận thanh toán nạn mù chữ (Sách Việt Nam chống nạn thất học, NXB Giáo dục, 1980).

Thành công của cuộc chiến chống “giặc dốt” đã đặt nền móng quan trọng cho việc cải thiện, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân. Đây cũng là một trong những tiêu chí rất quan trọng của nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, vì hạnh phúc của người dân mà chúng ta đang xây dựng hiện nay. Như Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch... Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước”.

Những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của bậc trưởng lão

Nhớ lời Bác Hồ dạy rằng nước có độc lập mà dân không có tự do và cơm no áo thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho đến khi đã về với đời thường, bằng tâm huyết và trí tuệ của mình vẫn thường xuyên đề xuất với Đảng và Chính phủ vấn đề cần làm, cần tránh, sao cho chính phủ ta thực sự là chính phủ của dân, do dân, vì dân. Trong nỗi lo chung ấy, Đại tướng đặc biệt quan tâm tầng lớp nông dân nghèo, vốn chiếm 80% dân số.

Ngay từ năm 1937, khi cùng với đồng chí Trường Chinh viết cuốn “Vấn đề dân cày”, ông đã đề cập thực trạng về cuộc sống của người dân cày dưới chính sách phản động của đế quốc phong kiến, vị trí của họ trong cách mạng Việt Nam. Đến khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội, nhiều giải pháp được đặt ra trong “Vấn đề dân cày” đã được hiện thực hóa.

Khi trao đổi với báo chí, Đại tướng từng cảnh báo về những bất cập trong tiến trình công nghiệp hóa ở nông thôn, những thiếu sót, cho rằng chúng ta “có lỗi với người nông dân”. Đại tướng vui vì những chuyện xưa cũ như: Hằng năm, nhà thợ cày phải ăn đói đến bảy, tám tháng đã lùi về dĩ vãng nhưng lại trăn trở vì đời sống vật chất, tinh thần của nông dân vẫn còn nhiều hạn chế, thiệt thòi. Ông nhắc lại nghịch lý khi kiểm tra ở thủy điện Hòa Bình: Người dân hy sinh cả nhà cửa, ruộng vườn vì dòng điện của Tổ quốc nhưng nhà máy xây xong, có chỗ sát thủy điện mà lại không… có điện.

Bài 2: Nhà chính trị vì dân
Đại tướng Võ Nguyên Giáp một lần đến thăm vườn ươm cây giống của Anh hùng lao động Phạm Thị Nghèng ở Quảng Bình. Nguồn: quangbinh.gov.vn 

Một ví dụ khác nói lên sự thấu hiểu và trăn trở của Đại tướng về cuộc sống còn nhiều khó khăn vất vả của người nông dân, được ông Đinh Khắc Đính, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam chia sẻ trong một bài viết, như sau: Năm 2000, ngành thuế dự thảo chính sách dự kiến đưa đối tượng nông dân sản xuất kinh doanh giỏi (những hộ có thu nhập cao hàng trăm triệu đồng/năm trở lên) vào diện chịu thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước thường xuyên phải hứng chịu thiên tai, kinh doanh nông nghiệp của đại đa số nông dân, kể cả nông dân sản xuất giỏi vẫn phải chịu nhiều rủi ro, trong khi đó bảo hiểm nông nghiệp vẫn chưa được triển khai. Vì vậy Hội Nông dân Việt Nam đã lên tiếng kiến nghị ngành thuế chưa đưa nông dân vào diện đóng thuế thu nhập cá nhân để tạo điều kiện cho phong trào nông dân sản xuất giỏi phát triển mạnh hơn nữa. Biết được tin này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gọi điện, viết thư, đề nghị Đảng và Nhà nước chưa đánh thuế thu nhập đối với các hộ nông dân giỏi có thành công bước đầu. Sau đó, việc thu thuế thu nhập đối với các hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi đã không trở thành chính sách. Đại tướng là người góp tiếng nói chung để có kết quả này.

Năm 2000, tham gia cuộc Hội thảo về quá trình hình thành, phát triển và vai trò của Quốc hội, lấy tư cách là một người đã tham gia cuộc Tổng Tuyển cử đầu tiên, là đại biểu Quốc hội từ khóa I, Đại tướng phát biểu: “Chính phủ phải coi trọng dân sinh, lo cho dân mọi mặt, tôn trọng nhân tài. Phải nâng cao dân trí... Những người nào có tài đức phải được mời ra phục vụ đất nước…”  

Hay như có lần Đại tướng đã viết: “Tôi nghĩ rằng phải làm đúng tư tưởng của Bác Hồ, là có dựa vào nhân dân mới chống được tham nhũng. Phải định ra cơ chế để phát huy vai trò giám sát, kiểm soát của cơ quan dân cử: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và Mặt trận Tổ quốc các đoàn thể quần chúng đối với công tác chống tham nhũng. Phải định ra cơ chế, để nhân dân phát hiện, tố giác những người tham nhũng, tạo mọi điều kiện để phát huy hết trách nhiệm của các cơ quan pháp luật, cơ quan kiểm tra, thanh tra của Đảng và Nhà nước. Hết sức tránh lối làm việc vừa đá bóng vừa thổi còi, vì tự mình kiểm tra mình thì khó lòng chống được tham nhũng”.

Tất cả những suy nghĩ, trăn trở của Đại tướng xuất phát từ tấm lòng thiết tha với dân với nước, tin tưởng ở khả năng của Đảng và con đường đi lên của dân tộc. Đúng như cố Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã viết năm 2006, nhân mừng đại thọ tuổi 95 của Đại tướng: “Tuy là tuổi của lớp người trưởng lão, nhưng hàng ngày, Đại tướng vẫn rất chăm chú theo dõi tình hình đất nước và quốc tế. Những ý kiến đầy trách nhiệm và tâm huyết của Đại tướng gửi tới Đảng và nhà nước rất sâu sắc, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, trước kia đã vậy, nay cũng vậy”.

NGUYỄN VĂN DUYÊN